Triển
vọng u ám của kinh tế Việt Nam
6 tháng 10, 2021
https://saigonnhonews.com/thoi-su/van-de-hom-nay/trien-vong-u-am-cua-kinh-te-viet-nam/
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2021/10/16-Hang-van-nguoi-keo-nhau-ve-que-3-1.jpg
Hàng vạn công nhân
tha hương quyết định rời bỏ thành phố sẽ gây sụp đổ guồng máy sản xuất công
nghiệp. Lỗi không phải ở họ – Ảnh: Phong Anh/VietnamNet
Xã hội Việt Nam trong những ngày tới sẽ không chỉ
tang thương vì dịch bệnh, vì thất nghiệp, vì thiếu đói – hậu quả của việc chống
dịch COVID theo cách ngu xuẩn và độc ác của nhà cầm quyền – mà còn rất ngột ngạt,
bức bối như trước một cơn bão lớn!
Sự kiện nóng trong nước suốt mấy ngày qua là
hàng chục ngàn người dân bồng bế nhau rời Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai trở về
quê nhà ở miền Tây, miền Trung, miền Bắc. Phần lớn họ đi xe gắn máy; nhiều người
đi xe đạp hoặc lếch thếch đi bộ, vượt hàng trăm hàng ngàn cây số, dưới mưa,
trong nắng, màn trời chiếu đất trông rất thảm. Khổ nạn của những gia đình “nhập
cư” phải rời bỏ miền đất hứa đã được miêu tả – nhiều khi rất cảm động – trên
các trang mạng xã hội và cả trên báo chính thống của nhà nước.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chu, một trí thức trong nước,
viết trên Facebook: “Trong mấy ngày qua đã có hàng vạn người bằng mọi
cách kiên quyết về quê. Đến nỗi 500 người đã quyết định đi bộ từ Bình Dương qua
Đắk Nông để về Hà Giang xa những 1,800 km. Trong đó có cả phụ nữ mang thai. Chứng
tỏ người dân đã ở bước đường cùng.”
Vì người dân đã ở bước đường cùng nên cuộc
tháo chạy của họ khỏi thành phố – thậm chí họ phải quỳ giữa đường lạy sống bọn
công an, dân phòng của chế độ để được đi về, có nơi xảy ra xô xát – là hoàn
toàn cảm thông được, người dân ở cạnh quốc lộ đã đem cơm nước, xăng dầu ra đặt ở
ven đường để hỗ trợ người di tản.
Nhưng cuộc chuyển dịch của hàng chục ngàn người
cũng đặt ra nhiều hậu quả đáng lo: dịch bệnh sẽ theo chân người về phát tán ra
các địa bàn nông thôn, còn các trung tâm công nghiệp sẽ rơi vào cảnh thiếu lao
động trầm trọng mà báo chí trong nước gọi một cách hoa mỹ là “đứt gãy thị trường
lao động”. Báo Vietnamnet của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam đăng bài
báo động: “Hàng vạn người kéo nhau về quê, lấy ai cứu doanh nghiệp” (!)
Tuy không lý giải được gốc rễ của vấn đề người lao động bỏ về quê, bài báo đã
nêu lên một thực tế bế tắc ở các tỉnh được coi là trung tâm công nghiệp của Việt
Nam, gồm Sài Gòn, Đồng Nai, Bình Dương và Long An.
Bộ Công an Việt Nam, không rõ lấy số liệu ở
đâu, nói rằng hiện có 3.5 triệu người dân các địa phương cả nước làm việc tại bốn
tỉnh thành nói trên, trong đó 2.1 triệu người muốn về quê. Việc hàng triệu lao
động đồng loạt bỏ việc chắc chắn sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng trầm trọng, thậm
chí có thể dẫn tới một vụ sụp đổ bi thảm của guồng máy kinh tế Việt Nam trong
những tháng tới.
Sở dĩ như vậy vì nền kinh tế Việt Nam dựa trên
sức lao động của người công nhân tha hương, kết hợp với vốn liếng, kỹ thuật và
quản trị thị trường của các ông chủ nước ngoài. Bây giờ nguồn lao động giá rẻ
không còn, hoặc thiếu hụt trầm trọng, thì nền kinh tế đó sẽ khó mà vận hành được.
Từ khi thực hiện cái gọi là “đổi mới” từ năm
1985 đến nay, nhà cầm quyền Việt Nam “trải thảm đỏ” để mời gọi vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (foreign direct investment – FDI). Các nhà tư bản nước ngoài lũ
lượt kéo tới Việt Nam mở nhà máy sản xuất đủ loại mặt hàng bán ra thị trường thế
giới, tận dụng lực lượng lao động đông đảo, trẻ tuổi và đồng lương thấp để thu
lợi tối đa. Sự bùng nổ của khu vực kinh tế FDI góp phần đưa Việt Nam trở thành
nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, kéo dài, có lẽ chỉ kém Trung Quốc và một
vài nước khác.
Đến nay, khu vực FDI đã chiếm tới hơn hai phần
ba quy mô kinh tế của Việt Nam; và Việt Nam đã có những sản phẩm quan trọng như
máy điện thoại thông minh Samsung, máy in Canon, chip bán dẫn Intel, tai nghe
Airpod và nhiều mặt hàng dệt may, giày dép của các thương hiệu nổi tiếng. Số liệu
thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam chứng minh thực tế đó: trong sáu tháng
đầu năm 2021, Việt Nam xuất nhập cảng $288.68 tỷ hàng hóa; trong đó các công ty
FDI có trị giá $200.18 tỷ, chiếm 70% tổng giá trị thương mại của cả nước. Đó là
số liệu trước khi nhà cầm quyền ban hành lệnh phong tỏa các thành phố để chống
dịch, làm tê liệt cả guồng máy sản xuất và kinh doanh ở “vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam” như hiện nay.
Trong khu vực FDI, phần lớn lợi nhuận rơi vào
túi các ông chủ tư bản, hầu hết là người Singapore, Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản
và Trung Quốc, người lao động Việt Nam chỉ nhận được phần ít ỏi cho công sức của
mình. Tuy vậy, sự bùng nổ FDI cũng giúp người lao động trong nước có được công
việc làm; hàng triệu người từ nông thôn đã kéo lên thành phố, sống chen chúc
trong các khu nhà trọ chật hẹp, ẩm thấp, chấp nhận làm việc cật lực với đồng
lương bèo bọt chỉ mong dành dụm được chút tiền gửi về nhà phụng dưỡng cha mẹ
già, lo cho con cái đi học.
Có thể nói không sợ quá lời rằng sự “phồn
vinh” của các đô thị Việt Nam hiện nay được xây dựng chủ yếu trên mồ hôi nước mắt
của hàng triệu công nhân tha hương trong các nhà máy FDI và hàng triệu nông dân
trồng lúa, nuôi cá ở các vùng đất nước.
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2021/10/16-Hang-van-nguoi-keo-nhau-ve-que-2-1.jpg
Nếu mở cửa hoạt động
trở lại các nhà máy cũng không kiếm đâu ra công nhân làm việc. Làn sóng phả sản
đã xuất hiện – Minh họa: VietnamNet.
Chiến lược chống dịch COVID-19 “như chống giặc”
ngu xuẩn của nhà cầm quyền Việt Nam trong mấy tháng qua đã phá nát sự phồn vinh
giả tạo đó. Chống dịch nhưng chỉ dựa vào dây thép gai, dùi cui và súng AK47, dựa
vào một đám sai nha đông đúc, ngu dốt và độc ác, nhà cầm quyền Việt Nam phong tỏa
chặt từng khu nhà, từng hẻm phố, cấm ngặt mọi sự di chuyển suốt bốn tháng qua.
Cách chống dịch đó đã đẩy hàng ngàn công ty, nhà máy tới chỗ ngừng hoạt động,
người lao động mất việc làm, mất thu nhập.
Trong thời gian phong tỏa các công ty phải thực
hiện “ba tại chỗ”, sắp xếp để công nhân làm việc, ăn ngủ ngay tại nhà máy, xa
cách cộng đồng cư dân bên ngoài, phải thực hiện xét nghiệm tìm virus cho công
nhân mỗi tuần. Không thể đáp ứng yêu cầu quái đản này của nhà cầm quyền, nhiều
công ty quyết định đóng cửa hoặc chỉ hoạt động cầm chừng; nhiều công ty FDI quyết
định chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi Việt Nam, sang các nước láng giềng hoặc quay
trở lại Trung Quốc – nước mà họ mới rời đi để đa dạng hóa nguồn cung và tránh
cuộc thương chiến Mỹ-Trung bắt đầu từ thời Tổng thống Donald Trump.
Công ty Nike Inc. chẳng hạn, sản xuất khoảng một
nửa số giày dép của mình tại Việt Nam qua các nhà thầu và mạng lưới nhà máy sử
dụng hàng trăm ngàn công nhân. Tuần trước đại diện của Nike cho biết họ đã mất
10 tuần sản xuất do đóng cửa vì lệnh phong tỏa, nghĩa là khoảng 100 triệu đôi
giày Nike đã không được xuất xưởng; nguồn cung giày Nike sẽ thiếu hụt trầm trọng
trong tám tháng tới. Matt Friend, Giám đốc tài chính của Nike, nói công ty đang
tối đa hóa năng lực sản xuất giày dép ở các nước khác và chuyển hoạt động sản
xuất hàng may mặc ra khỏi Việt Nam sang những nơi như Trung Quốc. Một cuộc khảo
sát do Phòng Thương mại Mỹ (AmCham) tại Việt Nam thực hiện hồi cuối Tháng Tám với
gần 100 đại diện của các công ty trong lĩnh vực sản xuất cho thấy một phần năm
đã chuyển hoạt động sản xuất ra khỏi Việt Nam. Cuộc tháo chạy khỏi Việt Nam của
các nhà đầu tư gần đây đã trở thành tin nóng trên các tờ báo kinh doanh nổi tiếng
thế giới như Financial Times, Bloomberg, Nikkei
Asia Review và Wall Street Journal.
Khi biện pháp phong tỏa được nới lỏng từ ngày
1 tháng Mười, một số nhà máy rục rịch mở cửa trở lại nhưng phải đối mặt với vô
vàn trở ngại: thiếu thợ, thiếu nguồn cung cấp nguyên liệu và đơn đặt hàng đã
chuyển đi nơi khác trong thời gian họ đóng cửa. “Việc mở cửa trở lại và
tăng trở lại quy mô sản xuất đầy đủ sẽ mất nhiều thời gian,” ông Matt
Friend của Nike cho biết. Với những công ty đã chuyển đi nước khác, mời gọi họ
quay lại hầu như là điều không thể.
Người lao động bỏ về quê sau hơn bốn tháng vật
vã trong vòng vây phong tỏa ở đô thị, không việc làm, không thu nhập chắc cũng
sẽ không sớm tính tới chuyện quay trở lại thành phố sống cuộc sống bần hàn và bấp
bênh của người tha phương cầu thực. Nhìn từ phía chủ hay phía thợ, triển vọng của
việc làm ăn ở Việt Nam đều bế tắc.
Xem ra, nỗ lực suốt ba chục năm mời gọi đầu tư
nước ngoài để phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động đã bị
chính phủ của ông Phạm Minh Chính hủy hoại chỉ trong vài tháng do những quyết định
chống dịch sai lầm và thiên về bạo lực. Thay vì dành số vaccine ít ỏi mà quốc tế
viện trợ tiêm chủng cho những người lao động đang nắm mạch máu kinh tế của đất
nước, chế độ Hà Nội đã ưu tiên cho công an, quân đội, nhà báo và quan chức – những
kẻ bảo vệ quyền lực của họ – để rồi bây giờ phải chứng kiến một tương lai tối
tăm, kinh tế đình trệ, nhà máy ngừng hoạt động, người dân thất nghiệp và đói,
không biết đến bao giờ và bằng cách nào để khôi phục trở lại.
Chính quyền cộng sản ở Việt Nam thường xuyên
ca ngợi thành tích kinh tế, coi mức tăng trưởng GDP là yếu tố biện minh cho sự
độc quyền chính trị của họ. Bây giờ, với nền kinh tế ngấp nghé bờ vực sụp đổ, đời
sống người dân ngấp nghé bờ vực thiếu đói, nói gì người dân cũng không tin thì
nhà cầm quyền Hà Nội không còn căn cứ nào để tuyên truyền, chắc chắn họ sẽ gia
tăng bạo lực, đàn áp thẳng tay những ý kiến đối lập, những tâm trạng bất mãn,
những mầm mống phản kháng.
Xã hội Việt Nam trong những ngày tới sẽ không
chỉ tang thương vì dịch bệnh, vì thất nghiệp, vì thiếu đói mà còn rất ngột ngạt,
bức bối như trước một cơn bão lớn!
----------------
Đọc thêm:
·
Việt
Nam chống dịch hỗn loạn: Nhà đầu tư nước ngoài tháo chạy!
·
Chống
dịch thất bại, Hà Nội muốn gì?
·
Chống
COVID-19, CSVN bất tài, bất lực, tham lam và độc ác!
·
Thế
giới nhìn cách Việt Nam chống dịch: “Đói khổ là hình ảnh thấy rõ”
No comments:
Post a Comment