Monday, November 29, 2021

ĐỒNG HOÁ VĂN HOÁ BẰNG PHIM ẢNH TRÊN TRUYỀN HÌNH (Nguyễn Ngọc Chu)

 


 

ĐỒNG HOÁ VĂN HOÁ BẰNG PHIM ẢNH TRÊN TRUYỀN HÌNH   

Nguyễn Ngọc Chu

29/11/2021  05:26   

https://www.facebook.com/chu.nguyenngoc/posts/2512586568874758

 

“Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta”.

Triệu Thị Trinh (225-248)

 

ĐỒNG HOÁ VĂN HOÁ BẰNG PHIM ẢNH TRÊN TRUYỀN HÌNH

 

Ngày 24/11/2021, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII theo hình thức trực tuyến. Tổng Bí thư (TBT) Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Trong phần mở đầu TBT Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh 3 lý do làm Ông hào hứng đến dự, mà 2 lý do đầu tiên được nêu là:

“- Vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa: Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn...

- 75 năm nay (từ ngày 24-11-1946), hôm nay mới lại có Hội nghị toàn quốc về văn hóa với quy mô lớn thế này”

(http://hanoimoi.com.vn/.../toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi...).

 

“Văn hóa còn thì dân tộc còn…”. Xin nêu một nguy cơ to lớn hiển hiện về “Văn hoá mất…”

 

1. HẬU QUẢ CỦA BỊ ĐỒNG HOÁ HOÁ VĂN HOÁ

 

Lịch sử Trung Quốc là lịch sử xâm lược văn hoá. Người Hán, lớn mạnh ở vùng Thiểm Tây nước Tần, rồi bành trướng dần, đồng hoá toàn bộ các bộ tộc ở vùng Hoa hạ ở giữa 2 sông Hoàng Hà và Trường Giang. Tiến xuống phía Nam mà đồng hoá các bộ tộc Bách Việt ở Nam sông Trường Giang.

 

Người Hán bị người Khiết Đan (Liêu), người Tây Hạ, người Kim, người Mông Cổ, người Mãn Châu ở phía Bắc và phía Tây thay nhau cai trị trong khoảng thời gian kéo dài suốt từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 20. Người Khiết Đan cai trị người Hán 218 năm (907-1125). Người Tây Hạ cai trị người Hán 189 năm (1038-1227). Người Kim thống trị người Hán 108 năm (1126-1234). Người Mông Cổ thống trị người Hán 97 năm (1271-1368). Cuối cùng là người Mãn Châu thống trị người Hán ròng rã 276 năm (1636-1912). Nhưng cuối cùng thì người Hán đã đồng hoá tất cả. Hiện giờ người Hán đang bành trướng sự đồng hoá lên toàn bộ các khu tự trị rộng lớn, bao gồm Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Thanh Hải – chiếm xấp xỉ ½ diện tích của Trung Quốc hiện đại. Phổ cập văn hoá Hán, mạnh hơn nữa là truy bức người thiểu số và thúc đẩy sinh con giữa trai Hán với gái các bộ tộc thiểu số Duy Ngô Nhĩ, Tạng…tất cả đều nằm trong sách lược Hán hoá

 

Xâm lược đất đai bằng sức mạnh chiến tranh, cuối cùng không thôn tính nổi một quốc gia, nhưng đồng hoá văn hoá sau ngàn năm sẽ xoá sổ một dân tộc. Đó là sự nguy hiểm không so sánh của “vũ khí văn hoá”.

 

2. XÂM LƯỢC VĂN HOÁ QUA PHIM ẢNH TRÊN TRUYỀN HÌNH

 

Truyền hình là phương tiện truyền bá văn hoá gần như không có đối thủ. Mỗi giờ phát sóng của truyền hình có thể có từ hàng chục triệu, hàng trăm triệu cho đến cả hàng tỷ người theo dõi. Đối với Việt Nam, mỗi giờ phát sóng của đài truyền hình sẽ tác động lên nhận thức của toàn bộ gần 100 triệu người dân.

 

Để thấm thía hơn nguy cơ “mất văn hoá” từ phương thức xâm lược văn hoá trên truyền hình, xin điểm qua vài thống kê phim Trung Quốc trên khung giờ vàng trên kênh truyền hình VTV2 và VTV3 trong thời gian gần đây.

 

VTV2, khung giờ 19h-19h45:

1/. Độc thân không phải ế (TQ), 24 tập. Chiếu từ 29/6/2021-22/7/2021.

2/. Dương lăng truyện (TQ), 40 tập. Chiếu từ 23/7/2021- 31/8/2021.

3/. Thuỷ hử (TQ), 86 tập. Chiếu từ 01/9/2021 - 25/11/2021.

4/. Chu Phỉ (TQ), 51 tập. Chiếu từ 26/11/2021- 15/1/2022.

 

VTV2, khung giờ 19h45-20h15:

1/. Ỷ thiên đồ long ký (TQ), 86 tập. Chiếu từ 25/2/2020 -20/5/2020.

2/. Địch Nhân Kiệt (TQ), 79 tập. Chiếu từ 21/5/2020-08/8/2020.

3/. Truyền thuyết phi đao (TQ), 69 tập. Chiếu từ 09/8/2020-21/10/2020.

4/.Phượng hoàng vô song (TQ), 92 tập. Chiếu từ ngày 22/10/2020-31/01/2021.

5/. Hoa mẫu thiên, 108 tập (TQ). Chiếu từ 01/02/2021-23/5/2021.

6/. Liệt như ca (TQ), 85 tập. Chiếu từ 24/5/2021- 17/8/2021.

7/. Phượng hoàng truyện (TQ), 88 tập. Chiếu từ 18/8/2021 - 13/11/2021.

8/. Tân tiếu ngạo giang hồ (TQ), 62 tập. Chiếu từ 14/11/2021 -14/1/2022 (Tiếu ngạo giang hồ,40 tập, 2001; Tân tiếu ngạo giang hồ, 50 tập, 2013).

 

VTV3, khung giờ 18h10-19h:

1/. Tô mạt như truyền kỳ (TQ), 40 tập. Chiếu từ 24/7/2021-01/9/2021.

2/. Nha môn bí ẩn (TQ), 28 tập. Chiếu từ 02/9/2021-29/9/2021.

3/. Nắm tay nhau trọn đời (TQ), 60 tập. Chiếu từ 30/9/2021- 28/11/2021.

4/. Thái cố thần vương (TQ), 52 tập. Chiếu từ 29/11/2021 – 19/1/2022.

 

Từ thống kê trên có thể thấy :

 

-  khung giờ vàng từ 19h45-20h15 của VTV2 liên tục trong suốt 2 năm từ 25/2/2020 - 14/1/2022 chỉ dành riêng để chiếu phim Trung Quốc.

 

- Khung giờ vàng 19h-19h45 của VTV2 từ 29/6/2021 – 15/1/2022 cũng liên tục chỉ có phim Trung Quốc.

 

- Khung giờ vàng của VTV3 lúc 18h10 -19h liên tục từ 24/7/2021 – 19/1/2022 cũng chỉ dành riêng cho phim Trung Quốc.

 

3. TAI SAO HỌC SINH VIỆT NAM KHÔNG NHỚ SỬ VIỆT NAM?

 

Trong phiên trả lời chất vấn của ĐBQH ngày 11/11/2021 về vấn đề học sinh không thích học môn lịch sử, điểm thi môn lịch sử thấp, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn đã tự đặt câu hỏi:

 

"Đất nước chúng ta lịch sử hào hùng, có nhiều điều mà thế hệ sau tự hào, nhưng tại sao học sinh không hứng thú, điểm thi thì thấp?" (https://thanhnien.vn/bo-truong-giao-duc-ly-giai-viec-hoc...).

 

Nếu mỗi giờ dạy học trên lớp chỉ có tác động trong phạm vi một lớp học 30-50 người, thì mỗi giờ chiếu phim trên truyền hình có tác động đến hàng triệu, hàng chục triệu người. Nếu mỗi giờ dạy học lịch sử trên lớp chỉ nói về được một bộ môn lịch sử, thì một giờ chiếu phim trên truyền hình là một giờ giảng dạy vô cùng hiệu quả về lịch sử, về địa lý, về văn hoá, về con người…

 

Các triều đại của Trung Quốc, từ Nghiêu Thuấn, Hạ, Thương, Chu, qua Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, đến Tần, Hán, Tấn, Nam –Bắc Triều, rồi Tuỳ, Đường, Tống Nguyên, Minh, Thanh – không sót một triều đại nào – tất cả đều xuất hiện nhiều lần trên các kênh của VTV. Có quá nhiều vua chúa và quan tướng Trung Quốc được các kênh của VTV chiếu đi chiếu lại nhiều lần vào các khung giờ vàng. Trình chiếu trong khung giờ vàng có lượng người xem nhiều lần đông hơn các khung giờ khác.

 

Trong khi đó thì các triều đại của Việt Nam, các anh hùng hào kiệt của Việt Nam, từ thời Thánh Gióng phá giặc Ân, qua Văn Lang, Âu Lạc, đến Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Ngô Quyền, rồi đến Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn - không được lên khung giờ vàng 18h-20h trên các kênh truyền hình chính của VTV liên tục ngày này qua tháng khác như các triều đại Trung Quốc.

 

Cho nên, xin thưa với Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn! Trong các nguyên nhân làm cho học sinh Việt Nam có điểm lịch sử thấp, thì có nguyên nhân là truyền hình chiếu quá nhiều phim Trung Quốc, làm cho học sinh Việt Nam hàng ngày tai nghe mắt thấy lịch sử Trung Quốc, nhớ lâu lịch sử Trung Quốc, còn ít bộ nhớ cho lịch sử Việt Nam, nhãng quên lịch sử Việt Nam. Mà đáng ra, học theo lời cụ Hồ “Dân ta phải biết sử ta”, thì phải dành nhiều thời gian khung giờ vàng cho lịch sử Việt Nam.

 

4. TỰ NGUYỆN THÌ BIẾT TRÁCH AI?

 

Đồng hoá văn hoá bằng phim ảnh trên truyền hình là một hình thức xâm lược vô cùng nguy hiểm. Nguy hiểm ở chỗ bị xâm lược mà không biết bị xâm lược. Học theo văn hoá thì sẽ học theo kinh tế và chính trị.

 

Giao lưu và trao đổi văn hoá là hiển nhiên. Giao lưu và trao đổi văn hoá mỗi ngày sẽ có phạm vi và cường độ mạnh hơn - tỷ lệ thuận với mức độ toàn cầu hoá. Nhưng giao lưu và trao đổi văn hoá khác xa với xâm lăng văn hoá và bị lấn át văn hoá.

 

Hai thập niên gần đây, Việt Nam đang hứng chịu những cuộc xâm lăng văn hoá với cường độ mỗi ngày một tăng. Chua xót thay, có người, không chỉ thuần phục, mà còn tự nguyện đón rước.

 

Những điều gì cần phải hành động sau Hội nghị Văn hoá lớn nhất kể từ năm 1946?

 

Dẫu chưa thấy đề cập trong Hội nghị Văn hoá ngày 24/11/2021, thì một trong những nhiệm vụ mang tính sống còn của Văn hoá Việt là chống lại sự đồng hoá của văn hoá nước ngoài để “Văn hoá còn thì dân tộc còn…”

 

.

383 BÌNH LUẬN   





[VỀ "TIÊN HỌC LỄ..."] : RẤT THÔNG CẢM và QUÝ TRỌNG CÁC VỊ, CÁC BẠN, NHƯNG. . . (Nguyễn Đình Cống)

 


Rất thông cảm và quý trọng các vị, các bạn, nhưng…

Nguyễn Đình Cống

29/11/2021

https://baotiengdan.com/2021/11/29/rat-thong-cam-va-quy-trong-cac-vi-cac-ban-nhung/

 

Đó là các vị, các bạn đang ra sức bênh vực cho khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”.

 

Tôi rất thông cảm với các vị, các bạn vì trong nhiều năm tôi đã từng bênh vực khẩu hiệu đó. Nhưng rồi tôi ngộ ra rằng, thực hành nó sẽ có lợi nhỏ mà mang lại cái hại lớn hơn. Lợi hại như thế nào đã có nhiều phân tích. Riêng tôi ngộ ra được là nhờ đã học, dạy và viết sách về Phương pháp luận nghiên cứu và sáng tạo, nghiên cứu và viết sách Học làm phản biện.

 

Khi chưa có những hiểu biết sâu sắc và thực hành về sáng tạo, về phản biện thì rất dễ chấp nhận khẩu hiệu “Tiên học lễ” vì thấy ở đó những cái lợi trước mắt. Nhưng thấy rồi thì xin suy nghĩ sâu hơn về hai câu sau.

 

Câu thứ nhất là của người đề lên rất cao việc học và thực hành lễ, đó là Khổng Tử. Ngài nói: “Kiến lợi tư nghĩa”. Tôi giải thích như sau: Thấy điều lợi thì chưa nên vội làm ngay mà phải nghĩ đến nghĩa, xem làm như vậy có hợp đạo nghĩa không, có gây ra tác hại nào không. Rõ ràng việc đề cao khẩu hiệu “Tiên học lễ” có vài điều lợi nào đó, nhưng cái hại nó kéo theo khá nhiều. Một số người có thể dựa vào nó mà huấn luyện trẻ con trở thành những kẻ chỉ biết vâng lời, mà chống lại những người dám phản biện.

 

Câu thứ hai là của người Ba Tư cổ đại, rằng: “Khi định làm điều gì thì phải thấy cho hết những điều hại mà nó có thể đem lại”. Tôi xin thuyết minh: Định làm điều gì vì thấy nó cần, nó mang lại một lợi ích nào đó. Nhưng xin chớ vội để điều lợi làm mờ mắt, làm rối trí. Hãy tìm và thấy cho hết những điều hại không mong muốn đi kèm theo. Những người đề nghị bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ” vì họ đã thấy rõ những điều hại kèm theo là lớn hơn vài điều lợi trước mắt.

 

Tôi quý trọng các vị, các bạn, vì tấm lòng tốt, vì nghĩ đến việc chấn hưng đạo đức. Tôi cũng rất mong muốn như vậy. Sau năm 1975, khi biết được trẻ em, học sinh ở Miền Nam rất ngoan ngoãn, rất lễ phép, tôi ao ước làm sao để trẻ em trên khắp cả nước đều ngoan như vậy. Nhưng rồi tôi ngộ ra rằng, sự lễ phép và ngoan ngoãn ấy là những bông hoa đẹp, thể hiện ra bên ngoài. Cái đẹp ấy phải dựa vào gốc rễ vững chắc thì mới lâu dài, còn khi không có gốc rễ vững chắc thì đó chỉ là trò dối trá và nhanh chóng lụi tàn. Gốc rễ là tình thương yêu và tôn trọng con người. Phải dạy, phải làm gương (bằng thân giáo) về tình thương yêu và tôn trọng đó trước khi dạy lễ phép.

 

Các vị, các bạn rất thiết tha với việc chấn hưng đạo đức, không những cho trẻ em, cho học sinh mà cho cả dân tộc. Đó là điều quý giá, rất đáng trân trọng.

 

Nhưng… dùng biện pháp “Tiên học lễ” thì tuy có một chút tác dụng mà không giải quyết được gốc rễ. Sự xuống cấp đạo đức trong trường học và trong xã hội không phải do nhà trường không thực hành khẩu hiệu “Tiên học lễ” mà là do nhiều nguyên nhân khác quan trọng hơn, cơ bản hơn, (xin bàn ở nơi khác). Khi những nguyên nhân này vẫn còn tác dụng mạnh mẽ thì dù cho có đề cao khẩu hiệu “Tiên học lễ” đến bao nhiêu, ngay cả mỗi buổi sáng bắt tất cả học sinh hô to khẩu hiệu đó, ngay cả trước khi hướng dẫn học sinh học bài mới, thầy cô hô khẩu hiệu đó rồi học sinh hô theo, thì khẩu hiệu vẫn chỉ là khẩu hiệu, đạo đức cứ xuống cấp không ngăn lại được.

 

Tôi thông cảm và quý trong các vị, các bạn, nhưng tôi không tán thành cách các vị, các bạn dùng những xảo thuật ngụy biện để bảo vệ khẩu hiệu đã lỗi thời. Ngụy biện cơ bản của các vị, các bạn là đánh tráo khái niệm, cho rằng cơ bản của lễ là đạo đức làm người. Trong ‘lễ’ có một chút là đạo đức làm người, đó là do các vị thêm vào, còn cơ bản của ‘lễ’ là sự phục tùng, là các quy định khắt khe về giao tiếp.

 

Trên một tấm áo cũ nát có ai gắn vào một bông hoa thì hãy cắt rời bông hoa đó để gắn vào chiếc áo mới, còn đưa chiếc áo rách nát ấy vào nơi cất giữ nếu cần. Không nên vì bông hoa mà vui sướng khi mặc cả chiếc áo cũ nát, hôi hám.

 

Thế bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ” thì nền giáo dục sẽ dựa vào khẩu hiệu gì. Không cần khẩu hiệu gì cả mà theo phương châm giáo dục với 4 trụ cột như Liên Hiệp Quốc đã khuyến cáo.




NHO GIÁO và CHỮ "LỄ" CÓ TRÓI BUỘC CON NGƯỜI? (Nguyễn Văn Nghệ)

 


 

Nho giáo và chữ “Lễ” có trói buộc con người?

Nguyễn Văn Nghệ

29/11/2021

https://baotiengdan.com/2021/11/29/nho-giao-va-chu-le-co-troi-buoc-con-nguoi/

 

Năm 2016 GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm khẳng định: “Giáo dục hỏng chính là do triết lý giáo dục sai lầm”. Ông phân tích: “Chính là do ảnh hưởng của triết lý giáo dục ‘con ngoan trò giỏi’ mà chúng ta đã khôi phục khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở khắp nơi, cứ tưởng rằng xã hội lộn xộn thì chỉ cần gò trẻ em vào lễ là xong. Nề nếp do lễ mang lại ở đâu chưa thấy, trong khi ai cũng biết rằng, Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người, không cho sáng tạo thì rất rõ. Không sáng tạo làm sao có phát triển?

 

Ngày 21/11/2021 tại Hội thảo giáo dục chủ đề “Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới Giáo dục – Đào tạo” do Ủy Ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội tổ chức, ông Trần Ngọc Thêm đã đề nghị “Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu ‘Tiên học lễ. hậu học văn’ để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”.

 

Nho giáo và chữ Lễ có trói buộc con người, không cho sáng tạo như nhận định của ông Trần Ngọc Thêm không?

 

Tác dụng của Lễ trong cuộc sống

 

Ý nghĩa của chữ “Lễ” rất là rộng, không chỉ gói gọn trong lễ nghi, lễ giáo. Nếu ai đã đọc qua phần khái quát chữ Lễ trong tác phẩm Nho giáo của cụ Trần Trọng Kim thì mới thấy chữ Lễ rất là thâm thúy. Lễ đã làm cho tất cả sinh hoạt trong xã hội đều có quy củ: “Đạo đức nhân nghĩa, không có lễ không thành; dạy bảo, sửa đổi phong tục, không có lễ không đủ; xử việc phân tranh kiện tụng, không có lễ không quyết; vua tôi, trên dưới,cha con, anh em, không có lễ không định; học làm quan, thờ thầy, không có lễ không thân; xếp đặt thứ vị trong triều, cai trị quân lính, đi làm quan, thi hành pháp lệnh không có lễ không uy nghiêm; cầu khấn tế tự, cung cấp quỷ thần, không có lễ không thành kính, không trang chính. Bởi thế cho nên quân tử dung mạo phải cung, trong bụng phải kính, giữ gìn pháp độ, thoái nhượng, để làm sáng rõ lễ”. (Lễ ký: Khúc lễ thượng).

 

Lễ khiến cho sự hành vi của con người có chừng mực, để lúc nào cũng hợp với đạo trung: “Cung kính mà không có lễ thì phiền, cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ hãi, dũng mà không lễ thì loạn, trực mà không có lễ thành ra vội vã”. (Luận ngữ: Thái Bá, XIII).

 

Nếu không có lễ, lấy gì mà phân biệt nghĩa vua tôi, trên dưới cho có đạo lý? “Trong những cái của dân cậy mà sinh hoạt thì lễ là to hơn cả. Không có lễ thì không phân biệt ngôi vua tôi, trên dưới , lớn bé; không có lễ thì không có thể phân biệt cái lòng thân của trai gái, cha con, anh em, sự giao tiếp về hôn nhân về người thân hay người sơ”. (Lễ ký: Ai công vấn, XXVII).

 

Những cái tình của con người thì ẩn khuất ở trong lòng không sao biết được, chỉ có Lễ mới ngăn giữ mà thôi:  “Cái đại dục của người ta là ở việc ăn uống, trai gái, bao giờ cũng có, cái đại ố của người ta là ở sự chết mất, nghèo khổ , bao giờ cũng có. Cho nên dục, ố là cái mối lớn của tâm vậy, người ta giấu kín cái tâm không thể dò xét được; cái hay cái dở đều ở trong tâm, không hiển hiện ra ngoài. Nếu muốn tóm lại làm một để biết cho cùng mà bỏ Lễ (xả lễ) thì lấy gì mà biết được”. (Lễ ký: Lễ vận, IX).

 

Lễ giống như con đê ngăn lũ: “Phù lễ cấm loạn chi sở do sinh, do phường chỉ thủy chi tự lai dã”. (Lễ là sự cấm loạn sinh ra, như đường đê giữ nước không đến vậy – Lễ ký: Kinh giải, XXVI).

 

Tác dụng của lễ thật là quảng đại, thật là tinh vi, đủ chứng là tâm lý học của Nho giáo sâu xa vô cùng. Tác phẩm “Trung Quốc triết học sử” ghi lời nhận xét của Hồ Thích: “Trong cái nghĩa rộng chữ Lễ có hàm cái tính chất pháp luật, nhưng lễ thì thiên trọng về cái quy củ tích cực, mà pháp luật thì thiên trọng về cái cấm chế tiêu cực. Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì và không nên làm điều gì; pháp luật thì cấm không cho làm những việc gì, hễ làm thì phải tội. Người làm điều trái Lễ thì chỉ bị người quân tử chỉ nghị chê cười, chứ người làm trái pháp luật thì có hình pháp xét xử”.

 

Dùng Lễ có lợi hơn là có thể ngăn cấm được việc chưa xảy ra, mà dùng pháp luật thì chỉ để trị cái việc đã có rồi, bởi vậy thánh nhân chỉ trọng Lễ, chứ không trọng hình: “Phàm cái biết của người ta chỉ biết được cái đã có rồi, không biết được cái sắp có. Lễ là để cấm trước cái sắp có, pháp luật là để cấm sau cái đã có rồi… Lễ vậy, lễ vậy, lễ quý là dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm ra, dấy lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, để cho dân ngày ngày đến gần điều thiện, xa điều tội, mà tự mình không biết”. (Đại đái Lễ ký: Lễ tế).

 

Người xưa dùng đức trị, Lễ trị chứ không muốn dùng pháp chế:Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách”. (Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng, chuyên dùng hình phạt mà trị dân, thì dân sợ mà chẳng dám phạm phép thôi, chớ họ chẳng biết hổ ngươi. Vậy muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh, muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng Lễ tiết, thì chẳng những dân biết hổ ngươi, họ lại còn cảm hóa và trở nên tốt lành – Luận ngữ: Vi chính, II)

 

Nho giáo và chữ Lễ không hề trói buộc con người

 

Ông Trần Ngọc Thêm bảo: “Trong khi ai cũng biết rằng, Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người…” có vẻ như võ đoán. Theo tôi không phải “ai cũng biết rằng…”, chỉ có những người nghiên cứu Nho giáo một cách hời hợt và bị ảnh hưởng cách giáo dục theo đường lối cộng sản mới có kết luận về Nho giáo như vậy.

 

Nhiều người nghiên cứu về Nho giáo một cách hời hợt bảo rằng: Người Âu Mỹ nào có “tiên học lễ” mà vẫn văn minh! Xin thưa là quốc gia, dân tộc nào cũng đều có hấp thụ chữ Lễ cả, nhưng cách thể hiện Lễ thì mỗi nơi mỗi khác. Nếu không có Lễ thì làm sao trong quốc gia của họ lại có tôn ti trật tự được?

 

Có những học thuyết mới ra đời chỉ mươi năm mà đã bộc lộ những sai lầm một cách rõ rệt, huống chi học thuyết Nho giáo xuất hiện đã hơn hai ngàn năm thì làm sao tránh khỏi những khiếm khuyết! Khi tiếp thu văn hóa, ta đón nhận những cái tinh hoa, còn những gì lạc hậu, lỗi thời thì ta loại bỏ. Nhà nghiên cứu Will Durant đã nhận xét về Nho giáo: “Không nên trách Khổng tử về tất cả những nhược điểm ấy. Không ai lại đòi một triết gia phải suy tư cho hai chục thế kỷ. Trong một đời người làm sao có thể tìm được con đường đưa tới tri thức cho hết thảy các đời sau. Mà rất ít người làm nhiệm vụ ấy một cách đầy đủ như Khổng tử. Càng hiểu rõ ông, chúng ta càng ngạc nhiên rằng chỉ có một phần nhỏ trong đạo của ông là không hợp với khoa học, với những sự biến đổi do thời gian. Khi ta nhận thấy rằng ngay ở thời đại chúng ta, ông vẫn còn là người chỉ đường chắc chắn cho chúng ta, thì chúng ta quên những lời đôi khi hơi nhàm của ông và đức độ quá hoàn toàn của ông làm cho ta có lúc chịu không nổi”.

 

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, cựu Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã luyến tiếc cho truyền thống Nho giáo đã “bị đứt gãy” ở Việt Nam: “Với đội ngũ hành chính – công vụ ở các nước Đông Bắc Á, tôi thấy truyền thống Nho giáo sâu xa đã giữ gìn được sự liêm sỉ đích thực.

Ở các nước ấy truyền thống Nho giáo liền mạch, chứ không bị đứt gãy như ở Việt Nam. Thời phong kiến xưa, ở Việt Nam ta từng có những ông quan sẵn sàng xây dựng kênh rạch tưới tiêu xuyên qua đất của mình. Có liêm chính, có tinh thần phụng sự quốc gia, những người này sẳn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích quốc gia, chứ tuyệt đối không nắn chỉnh kênh rạch thành một ‘đường cong mềm mại’.

 

Tất nhiên vào những thời suy, quan lại phong kiến tha hóa, xấu xa không phải là không có, nhưng vào những thời thịnh, số lượng quan thanh liêm là rất nhiều. Sự thịnh trị có được chính là nhờ vào đội ngũ quan lại thanh liêm như vậy.

 

  Bây giờ chúng ta phải tìm cách khơi gợi, nuôi dưỡng trở lại cái tinh thần bị đứt gãy ấy. Lương bổng là cần, nhưng lương bổng chỉ là một nửa của vấn đề. Một nửa còn lại chính là tinh thần, đạo đức, cốt cách và sự liêm sỉ”.

 

Cách nhận định về Nho giáo của ông Trần Ngọc Thêm rất là hời hợt. Trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của ông có 13 trang viết về Nho giáo và Văn hóa Việt Nam, ông đã đưa ra nhiều dẫn chứng sai lạc về Nho giáo. Ông đã cố ca ngợi ông Hồ Chí Minh: Chính vì đặt nước lên trên mà một người xuất thân từ dòng dõi Nho gia như Hồ Chí Minh dám đi ngược lại giáo huấn của Nho giáo: Dám bỏ lại cha già để đi tìm đường cứu nước tại trời Tây xa xôi (theo Nho giáo thì “phụ mẫu tại bất viễn du” – cha mẹ còn, con không được đi xa).

 

Cách giải thích như vậy chúng tôi gọi là giải thích theo kiểu “tắc tử”, “nửa vời”. Nho giáo nào cấm khi cha mẹ còn, con không được đi xa. Sách Luận ngữ, ở thiên Lý nhân ghi rõ ràng: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương”. (Trong khi cha mẹ còn sanh tiền, phận làm con chớ có đi chơi xa, như có đi chơi xa thì thưa trước cho cha mẹ biết để cha mẹ an tâm).

Trong câu ấy gồm hai vế, nhưng ông Trần Ngọc Thêm chỉ lấy vế đầu giải thích để đạt được mục đích là cố ca ngợi ông Hồ Chí Minh, để rồi quy kết “Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người”!

 

Ông Trần Ngọc Thêm nghiên cứu về Nho giáo một cách hời hợt “Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ là sản phẩm của nền giáo dục Nho giáo, phục vụ cho mục tiêu đào tạo người thừa hành, coi việc đòi hỏi người dưới phải phục tùng và giữ “lễ” với người trên là yêu cầu số 1”. Có phải “Tiên học lễ đòi hỏi quan hệ một chiều” không?

 

Vua Định công nước Lỗ hỏi Khổng tử: “Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua phải như thế nào?” Khổng tử đáp: “Vua lấy Lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua” – (Luận ngữ: Bát dật, 19). Hoặc Mạnh tử bảo với Tề Tuyên vương: “Vua xem bề tôi như tay chân, thì bề tôi xem vua như bụng như lòng. Vua xem bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi xem vua như người lạ trong nước. Vua xem bề tôi như đất như cỏ, thì bề tôi xem vua như giặc như thù”. (Mạnh tử: Ly lâu, Chương cú hạ 3). Như vậy quan hệ về Lễ trong Nho giáo là quan hệ hai chiều chứ không phải như nhận định của ông Trần Ngọc Thêm!

 

Do nghiên cứu hời hợt nên ông Trần Ngọc Thêm khẳng định: “Chừng nào còn đề cao chữ ‘Lễ’ thì người học còn bị trói buộc trong quan hệ kính trọng một chiều. chấm dứt sử dụng khẩu hiệu ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ sẽ là điều kiện cần để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”.

 

Tác giả Lê Học Lãnh Vân không quan niệm như ông Trần Ngọc Thêm: “Tư duy phản biện không bị trói buộc bởi quan niệm ‘Tiên học lễ’. Nó bị trói buộc bởi cả một cách tổ chức xã hội, trong đó ngôn luận không được tự do. Khi không có tự do báo chí, thì rõ ràng không có tự do ngôn luận. Khi luật pháp có thể bỏ tù người dân vì ý nghĩ trong đầu của họ thì rõ ràng không có tự do tư tưởng rồi”. Tự do sẽ là chìa khóa cho sự Khai phóng!

 

Hậu quả của việc bỏ cũ theo mới ở Việt Nam hiện nay

 

Trong thời gian trước đây, những ai sinh ra và lớn lên được giáo dục dưới mái trường xã hội chủ nghĩa đều bị nhồi nhét tư tưởng cho rằng “Nho giáo là bảo thủ lỗi thời và kiềm hãm sự phát triển của xã hội”. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” là “tàn dư tệ hại của Khổng giáo” cho nên “chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo và hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó” và “chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lãnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy!

 

Dân tộc Việt Nam đã trải qua một thời gian dài chịu ảnh hưởng Nho giáo. Khi những người cộng sản Việt Nam nắm chính quyền ở miền Bắc thì quyết tâm phá bỏ nền văn hóa cũ để xây dựng một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Về đạo đức chỉ dạy “đạo đức cách mạng”. Riêng ở Miền Nam, vào năm 1958, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh thành lập Hội Khổng học trên tất cả các tỉnh thành để tiếp tục duy trì quảng bá đạo đức cương thường của tổ tiên. Về triết lý giáo dục dựa trên nền tảng: Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng.

 

Việc bỏ cũ theo mới được cụ Trần Trọng Kim nhận xét trong “lời phát đoan” của tác phẩm Nho giáo: “Xét ra cho kỹ, sự bỏ cũ theo mới của ta hiện thời bây giờ không phải là không cần cấp, nhưng vì người mình nông nổi, không suy nghĩ cho chín, chưa gì đã đem phá hoại cả đi, thành thử cái xấu, cái dở của mình thì vị tất đã bỏ đi được, mà lại làm hỏng mất cái phần tinh túy đã giữ cho xã hội của ta được vững bền hàng mấy nghìn năm nay. Phàm người ta muốn bỏ cái cũ đã hẩm nát, tất là phải có cái mới tốt hơn, đẹp hơn để thay vào. Nay ta chưa có cái mới mà đã vội vàng bỏ cái cũ đi, thành ra đổ nát cả, mà không có cái gì thay vào được. Ấy là cái tình trạng nước ta ngày nay là thế, khác nào như chiếc thuyền đi ra giữa biển, đánh mất địa bàn chỉ nam, không biết phương hướng nào mà đi cho phải đường, cứ lênh đênh mãi, không khéo lại bị sóng gió va vào đá vỡ tan mất cả. Đó là điều ta nên biết để tìm cách mà chữa lại được chút nào chăng”.

 

Chính do những người cộng sản chủ trương đoạn tuyệt với nền luân lý đạo đức duy lý nhã nhặn mà tổ tiên ta đã hấp thụ qua biết bao nhiêu thế hệ, để chạy theo học thuyết duy lý hung hăng của Đức, Nga mà hậu quả theo kết quả điều tra ở Việt Nam vào năm 2006 cho thấy: Tỷ lệ nói dối cha mẹ ở học sinh cấp Tiểu học là 22%, cấp Trung học Cơ sở là 50%, cấp Trung học Phổ thông là 64%, Sinh viên là 80%.

 

Chữ Lễ không hề trói buộc con người như lập luận của ông Trần Ngọc Thêm. Người Việt Nam ai cũng sợ mang tiếng là “đồ vô lễ”. Con người mà “vô lễ” thì sẽ không từ bỏ bất cứ hành động gian ác nào.

 

Để ngày càng hoàn thiện trên con đường đạo đức, mỗi người phải luôn tu thân tức là “khắc kỷ phục lễ” (chế thắng lòng tư dục của mình và theo về lễ tiết – Luận ngữ: Nhan Uyên, XII), phải “ước ngã dĩ lễ” (dùng lễ tiết mà ước thúc thân tâm ta – Luận ngữ: Tử Hãn, IX). Tu thân không miễn trừ một ai (Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân nhất thị giai dĩ tu thân vi bản). Sau khi đã “khắc kỷ phục lễ” thì mọi người sẽ: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (không phải lễ thì chớ trông, không phải lễ thì chớ nghe, không phải lễ thì chớ làm – Luận ngữ: Nhan Uyên, XII).

 

Người giàu sang biết Lễ thì không dâm tàn, không kiêu căng; người bần tiện biết Lễ thì không nản chí, không làm bậy; cán bộ, viên chức mà biết Lễ thì biết cách lo cho dân, cho nước.

 

Nếu như cán bộ quan chức trong bộ máy đảng và chính quyền nước ta hiện nay biết “khắc kỷ phục lễ”, biết “ước ngã dĩ lễ” thì đâu đến nỗi bà cựu Phó Chủ tịch Nguyễn Thị Doan phải thốt lên trước bàn dân thiên hạ: “Cái liều vacxin tiêm cho một cháu lại san ra tiêm cho hai cháu ngay tại Hà Nội. Tôi càng đi càng thấy buồn, ‘ăn’ của dân không từ một cái gì”. Nói theo ngôn ngữ dân gian thì quan tham “ăn tận đáy quần chúng”.

 

Những gì là tinh hoa văn hóa của nhân loại (không cần phân biệt là “sản phẩm của Nho giáo” hoặc Phật giáo hoặc Ki tô giáo…) thì chúng ta sẵn sàng tiếp nhận để làm cho nền văn hóa của dân tộc ta ngày càng thêm phong phú!

 

Nguyễn Văn Nghệ, Diên Khánh – Khánh Hòa




TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN : ĐẠO LÝ HAY TIÊU CỰC (Trần Kiêm Đoàn)

 


TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN : ĐẠO LÝ HAY TIÊU CỰC   

Trần Kiêm Đoàn

28/11/2021  12:27  

https://www.facebook.com/TranKiemDoan/posts/2053427728143581

 

https://www.facebook.com/photo/?fbid=2053427584810262&set=pcb.2053427728143581

Hình minh họa

 

Mấy hôm nay đọc báo trên các mạng lưới trực tuyến xã hội tiếng Việt, người Việt khắp nơi trong cũng như ngoài nước, được nghe một nguồn dư luận mới xôn xao về việc nên giữ hay bỏ một câu khẩu hiệu đã trở thành quá quen thuộc trong tất cả các hệ thống trường học Việt Nam từ xưa tới nay. Đó là câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” thường được dán ngay trên tường trước mặt học sinh trong lớp học. Vì đã quá quen thuộc và mặc nhiên được coi đây là một đạo lý đương nhiên kết hợp giữa tinh thần tôn sư trọng đạo và rèn luyện nhân cách nên qua nhiều thế hệ, câu khẩu hiệu này đã trở thành một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà nghiêm cẩn chuyên chở giá trị nhân văn đào tạo thế hệ trẻ. Đây không phải là một câu khẩu hiệu thời trang để trang trí lớp học mà là một châm ngôn rèn luyện nhân cách trong đời sống học trò. Bởi vậy, chẳng có thầy giáo hay học sinh nào còn bận tâm đặt câu hỏi là nên hay không nên treo câu khẩu hiệu mang nội dung “nguyên lý giáo dục” hay đạo lý trồng người nầy. (Chữ Lễ trong bài này xin được viết hoa khi nhấn mạnh đó là tiêu đề của toàn bài và viết thường khi hiểu theo nghĩa quy ước.)

 

Bối cảnh làm nền cho cuộc… đảo chánh khẩu hiệu nầy được giới truyền thông đưa tin như sau:

 

Tại hội thảo Giáo dục Việt Nam chủ đề “Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo” do Ủy ban Văn hóa, giáo dục của Quốc hội tổ chức ngày 21/11, GS Trần Ngọc Thêm trình bày quan điểm trên trong tham luận: “Xây dựng Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo”.

 

GS Trần Ngọc Thêm kiến nghị: “Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”.

 

“Chừng nào còn đề cao chữ Lễ để ràng buộc người học, còn đề cao quá mức vai trò của người thầy, của đáp án thì tư duy phản biện sẽ không thể phát triển, không thể có xã hội phát triển”, ông nhấn mạnh thêm.

 

– Trước đó, năm 2016, tại hội thảo “Xây dựng môi trường văn hóa trường học” do Bộ GD-ĐT tổ chức, nhiều đại biểu cho rằng, hệ thống khẩu hiệu trường học đã đáp ứng đúng tôn chỉ mục đích. Tuy nhiên, việc treo khẩu hiệu còn bất cập, mỗi nơi làm một phách và chưa phù hợp nên kiến nghị xem lại khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở trường tiểu học.(Tin Mới)

 

Là một thầy giáo xuất thân được đào tạo dạy môn Việt Văn cấp 3 từ trường Văn Khoa và Sư Phạm Huế (1966-1970) nhưng vì hoàn cảnh và thời thế tôi phải dạy học tại nhiều trường, phụ trách các môn học khác nhau và phục vụ nhiều nơi với hoàn cảnh khác nhau như: Việt Nam trước và sau 1975, Phi Luật Tân, Mỹ. Mãi cho đến khi đứng trên bục giảng của nhà trường Mỹ, nhìn sinh viên vừa vào lớp miệng vừa bỏm bẻm nhai kẹo cao su hay ngồi gác chân lên ghế trong lớp, tôi mới nhận ra cái đạo lý lớp học phải như thế nào mới phải “đạo” bởi tôi vốn đã coi cái trật tự truyền thừa “tiên học lễ, hâu học văn” là nề nếp mặc nhiên trong văn hóa học đường Việt Nam.

 

Truyền thống văn hóa và giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm và lâu đời về khái niệm chữ Lễ của văn hóa Trung Quốc. Trong Ngũ Kinh có Lễ Kinh và vai trò của Lễ được đức Khổng Tử xác định: “Không học Lễ thì không biết cách đi đứng ứng xử ở đời.” Và năm đức tính căn bản làm người là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín thì Lễ đứng giữa để làm trung gian, bởi vì nhân không trí là tốt mã, thương hại; nghĩa không tín là tuỳ hứng, giang hồ. Cho nên khái niệm cổ điển về Lễ là sự phân định vai trò và cương lĩnh rõ ràng: Hai nước giữ lễ là không xâm hại nhau, hai nhà giữ lễ là không gây phiền oán cho nhau, hai người giữ lễ là tôn trọng lẫn nhau và thầy trò giữ lễ là làm tốt vị trí của mình. Lễ tự nguyên nghĩa là luân thường đạo lý, là trật tự xã hội, là tôn trọng lẫn nhau. Ý nghĩa của chữ Lễ trong quá trình truyền thừa và ứng dụng vào văn hóa giáo dục Việt Nam là tôn sư trọng đạo, học trò xem thầy như cha và thầy xem trò như đứa con tinh thần kế thừa và phát huy tâm nguyện cùng lý tưởng giúp đời và giữ đạo làm người nghiêm cẩn của mình để sống, ứng xử hay có khi chỉ trong mơ ước. Với một khái niệm về Lễ như thế thì bất cứ một nền giáo dục hay một xã hội nào đều ứng hợp với vai trò giáo dục là nhằm đào tạo thế hệ tương lai tài năng và đạo hạnh.

 

Tuy nhiên, xã hội Việt Nam từ xưa đến nay đã vô tình hay cố ý diễn dịch ý nghĩa của nội hàm chữ Lễ một cách cực đoan và phiến diện trong nhiều trường hợp giáo dục bị biến thành phương tiện đầy khắt khe, áp bức để phục vụ cho tinh thần bảo thủ, quyền lực tôn giáo, giai cấp thống trị đè đầu cỡi cổ dân lành, hay thủ đoạn chính trị... Do đó, đã có nhiều trường hợp cái “Lễ” đã bị lạm dụng khi các thầy đồ, thầy giáo, cô giáo, cơ sở giáo dục… sử dụng hình thức “lễ trị” bằng roi vọt, bạo lực, uy quyền… để đánh đập, mạ lỵ, trừng phạt, vùi dập học sinh một cách thô bạo và… vô lễ! Và hệ quả đương nhiên, với phản ứng tâm lý và thể lý phản hồi có điều kiện, học sinh bị tha hóa vì sợ hãi, căm tức hay chán ngán môi trường học tập với thầy giáo đã hành hạ mình dẫn đến tình trạng cũng đành, thụ động và “thủ tiêu phản biện” như ý kiến của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm. Tuy nhiên, đây không phải là trường hợp phổ biến mà chỉ là khía cạnh cực đoan trong truyền thống giáo dục Việt Nam. Riêng về mặt tâm lý tương tác với xã hội, một học sinh hay sinh viên thiếu khả năng phản biện không phải vì “giữ lễ” hay bị ép lễ mà thường là do thiếu thông tin, thiếu kiến thức và thiếu không khí hay môi trường thích hợp.

 

Thật ra, câu “Tiên học lễ, hậu học văn” tuy là một câu văn Hán Việt nhưng thường được xem như đã trở thành thuần Việt vì văn phong nhẹ nhàng, ngữ điệu cân đối và nội dung rất dễ hiểu về tinh thần đạo lý và trật tự xã hội rất dễ ứng dụng cho mọi người thuộc mọi trình độ, kể cả hai thế hệ thầy và trò. Đã nhiều lần tôi vừa nhớ, vừa trân trọng cái câu khẩu hiệu đơn giản và nhỏ nhắn nhưng đầy ý nghĩa nầy khi bước vào dạy lớp học Mỹ chẳng thấy ai đứng dậy hay biểu hiện cử chỉ chào kính nào hoặc nhìn thái độ có vẻ thiếu cung kính khi hỏi hay phát biểu với thầy giáo. “Tiên không học lễ rồi chăng?” Tôi tự hỏi. Nhưng càng đi sâu vào khái niệm của “cái Lễ” tôi càng nhận thấy rõ ràng rằng, nội dung của Lễ nếu được hiểu theo một nghĩa tích cực hơn thì học trò, sinh viên Mỹ còn trọng Lễ hơn cả Việt Nam vì trong quá trình học tập rất ít nói dối, hiếm khi gian lận hay ích kỷ và thủ lợi như sinh viên của nhiều nước châu Á xem Lễ như một chiêu thức đóng kịch giả vờ làm vui lòng thầy giáo, miễn sao có lợi cho cá nhân mình.

 

“Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”! Đọc câu nầy của GS. Trần Ngọc Thêm, tôi thật tình chưa hiểu hết tôn ý của GS. Cái gọi là “tư duy phản biện” sao lại bị cột trói vào một trật tự tinh thần và phẩm chất đạo lý của một con đường khiêm cung, quang minh chính đạo như Lễ (lễ độ, lễ phép, lễ nghi, lễ giáo, lễ bái…). Muốn khai mở tư duy phản biện thì chỉ cần ba yếu tố chính là kiến thức vững vàng, phương pháp luận chặt chẽ và khung cảnh thích hợp. Cả một nền triết lý Đông phương, kiến thức khoa học kỹ thuật và phương tiện truyền thông hiện đại là cốt lõi của tư duy phản biện. Lễ không đóng vai trò chướng ngại hay tiêu cực nào cho mọi hình thức phản biện. Không có một thầy giáo nghiêm túc nào lại cấm đoán học sinh mình nêu ý kiến phản biện; nếu không muốn nói là còn hài lòng, ngầm sung sướng vì sự thông minh, lập luận rạch ròi của học sinh mình trong phản biện cả. Thêm nữa, khi nói đến cụm từ “giải phóng sức sáng tạo” thì phải tìm tới những trở ngại kìm hãm sức sáng tạo. Đó là do sự thiếu khả năng, thiếu nhân tài, thiếu điều kiện, thiếu hoàn cảnh… chứ hoàn toàn không do một hình thức “Lễ” nào tác động để làm mất đi khả năng sáng tạo cả. Muốn “giải phóng sức sáng tạo” thì phải cần quy tụ nhân tài, tôn trọng tự do, đánh giá công minh và đãi ngộ xứng đáng là bốn “tiêu chuẩn vàng” của tinh thần phát huy sáng tạo Đông cũng như Tây. “Lễ” chẳng đóng một vai trò nào mang tính quyết định chung cuộc trong sáng tạo nghệ thuật, khoa học và nhân văn cả. Do vậy, kiến nghị của GS về việc cần chấm dứt việc sử dụng một câu TÂM NGÔN hay ho như thế thì rất mong GS định tâm suy nghĩ và cân nhắc cẩn trọng hơn; cũng như cần uốn lưỡi nhiều lần trước khi phát biểu.

 

Nhà trường Mỹ cũng có các câu khẩu hiệu được sử dụng luân lưu trong hệ thống trường học cả nước nhưng hẩu hiệu trong nhà trường Mỹ thường không nhắc nhở về phương thức và thái độ học tập mà nói về ý nghĩa và mục đích của quá trình học tập. Sau đây là một dẫn chứng về 200 câu khẩu hiệu trong nhà trường Mỹ đủ các cấp học (https://sloganshub.org/school-slogans/). Có thể nói là gần như không có một câu nói lên một nhân vật thần thánh nào khác hơn là chính bản thân người học trò phải chủ động và chịu trách nhiệm cho hướng đi và mục đích mình vươn tới. Nếu có chăng một vài câu nói về “lễ” thì cũng đề ra phong cách ứng xử do chính bản thân người học trò chủ động như “Hãy kính trọng người khác để được người khác kính trọng” (Respect others and they’ll respect you). Trong lúc đó thì cách thủ lễ của Việt Nam ta là cần phải làm theo lời khuyên và đương nhiên chấp nhận giá trị của các bậc cao nhân tiền bối.

 

Thử khách quan để đưa ra một vài nét so sánh về khái niệm, nội dung và tác dụng của cái “đức” và “lễ” theo hai khuynh hướng:

 

- Việt Nam: Thầy giáo và xã hội chủ động dạy dỗ học trò và con em phải làm những điều hay lẽ phải đã được quy định.

 

- Mỹ: Thầy giáo và xã hội chỉ đóng vai trò trình bày, giới thiệu hệ thống giá trị đạo lý để cho học trò và con em tự quyết định có nên áp dụng những nguyên tắc và giá trị đó cho mình hay không.

 

Như thế, dẫu là trong bối cảnh văn hóa của Mỹ, Việt Nam hay bất cứ quốc gia, xã hội nào thì đức hạnh vẫn được bảo vệ và tôn trọng. Tiêu chí của hệ thống giá trị và đức hạnh tuy không giống nhau nhưng vẫn có điểm chung, đó là trật tự xã hội và cung cách đối tác hay ứng xử với nhau. Đó chính là cái Lễ đã trở thành cái biết, cái học đầu tiên cần phải có. Hình thức và phương tiện ứng dụng cái Lễ trong môi trường giáo dục cần phải có sự mềm dẽo, thích ứng tùy theo thời đại, văn hóa xã hội và đáp ứng được nhu cầu cụ thể.

 

Kẻ đang viết những dòng nầy rất chia sẻ thiện ý và công tâm của GS. Trần Ngọc Thêm cũng như lời phản biện rất thuyết phục của PGS.TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT khi ông cho rằng: “… với mỗi một con người, ‘đức’ là cái gốc cơ bản . Ở đây có thể hiểu “lễ” tức là đức hạnh. Trong cuộc sống hay ở gia đình , cơ quan, nhà trường… đức rất quan trọng.”

 

Nay giữa hai khuynh hướng trái chiều là nên bỏ hay nên giữ câu châm ngôn “Tiên học lễ, hậu học văn” trong môi trường giáo dục, tuy mới nghe qua thì đây chỉ mới là một hoặc vài ba ý kiến chống hay thuận theo quan điểm cá nhân; nhưng đứng trên bình diện giáo dục và luân lý đạo đức của một xã hội, một quốc gia thì đây cũng có thể coi như một bước đột phá của những nhà giáo, trí thức dân tộc trước những thách thức của thời đại mới. Sự xét lại để điều chỉnh cập nhật những giá trị tinh thần và đạo đức “xưa bày nay làm” trong nhiều lĩnh vực mà đặc biệt trong môi trường và nhu cầu cải cách giáo dục là những đóng góp cần thiết trước muôn vàn chướng ngại đang diễn ra trước mắt. Tuy nhiên, việc kiến nghị hủy bỏ câu “Tiên học lễ, hậu học văn” thì hoàn toàn không nên thực hiện vì nó vừa thiếu cơ sở về đạo đức cũng như lý luận; vừa không thuyết phục trên căn bản nguyên lý giáo dục và đạo lý dân tộc.

 

Trong mọi công cuộc cải cách và đổi mới cần xác định một cách khách quan và khoa học rằng, không hề có một nguyên nhân đơn lẻ nào có đủ tầm vóc quyết định huống hồ đây chỉ là một câu nói mang tính tục ngữ, châm ngôn lâu đời chứ không phải là khẩu hiệu nhất thời. Học lễ trước để chuẩn bị những điều kiện sẵn sàng cho bước học văn tiếp theo là một trình tự diễn tiến rất “lôgich” không bao giờ lỗi thời hay phai cũ.

 

Sacramento Thanksgiving 2021

Trần Kiêm Đoàn, Ph.D., MSW.

 

.

163 BÌNH LUẬN





CHÚNG TA CÓ CẦN "TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN" HAY KHÔNG? (Đào Tăng Dực)

 


Chúng ta có cần “Tiên Học Lễ Hậu Học Văn” hay không?   

Đào Tăng Dực

29/11/2021  05:59   

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=3055238244793072&id=100009207787077

 

I. Dẫn nhập:

 

Theo trang mạng BaoQuocTe.VN ngày 24 tháng 11, 2021:

 

“Tại hội thảo Giáo dục Việt Nam chủ đề "Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo" do Ủy ban Văn hóa, giáo dục của Quốc hội tổ chức vừa qua, GS Trần Ngọc Thêm (Trường ĐH Khoa học xã hội & nhân văn - ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) trình bày quan điểm trên trong tham luận: "Xây dựng Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo".

 

Ông khẳng định, sáng tạo thuộc về tài năng trong khi xã hội Việt Nam truyền thống hướng đến ổn định nên không hướng đến tài năng mà đề cao chữ lễ, "tiên học lễ hậu học văn", đề cao sự phục tùng. Trong khi đó, để có con người sáng tạo, cần thực hiện dân chủ trong giáo dục, cần thay đổi quan niệm về người thầy từ việc truyền thụ kiến thức sang việc hướng dẫn người học sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về sự sáng tạo của mình.

 

GS Trần Ngọc Thêm kiến nghị: "Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu 'Tiên học lễ, hậu học văn' để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo".

 

"Chừng nào còn đề cao chữ Lễ để ràng buộc người học, còn đề cao quá mức vai trò của người thầy, của đáp án thì tư duy phản biện sẽ không thể phát triển, không thể có xã hội phát triển", ông Thêm nhấn mạnh.”

 

Câu thành ngữ “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” là một khái niệm giáo dục truyền thống lâu đời của dân tộc Việt nói riêng và của nền văn hóa Đống Á nói chung, bao gồm những quốc gia chịu ảnh hưởng của Nho Giáo như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

 

Trong một nền dân chủ chân chính, sự phản biện dĩ nhiên rất quan trọng và đúng như GS Trần Ngọc Thêm quan niệm là cần thiết cho sự tiến bộ.

 

II. Tại sao GS Thêm đề xuất như trên:

 

Khi GS Thêm đề xuất như trên, chúng ta không ngạc nhiên vì Ông là một nhà trí thức Cộng Sản và người cộng sản thuần túy chủ trương tiêu diệt tất cả các tư tưởng “suy đồi” tiền cộng sản. Tại Âu Châu thì các tư tưởng Thiên Chúa Giáo, tại Á Đông thì các tư tưởng Nho Giáo, vì các hệ tư tưởng này là nguyên nhân lẫn hậu quả của nhiều thế hệ nhân loại “đồi trụy”, trước khi ánh sáng huy hoàng của tư tưởng Mác Lê được khai sinh.

 

Tuy nhiên, câu “Tiên Học Lễ, Hậu học Văn” từ từ được phục hoạt dưới chế độ cộng sản vì sau nhiều thập niên thất bại, hàng ngũ đảng viên thoái hóa.

 

Đề xuất của GS Thêm chỉ là phản ứng mang tính bản năng của một bệnh nhân hấp hối trước khi trút hơi thở cuối cùng.

 

Tuy nhiên một vấn đề quan trọng đã được đặt ra. Chúng ta cần trả lời nghiêm chỉnh. Muốn thế, chúng ta cần nhận diện chính xác vị trí của chữ “Lễ” và chữ “Văn” trong nền văn hóa Nho Giáo.

 

III. Phân tích các khái niệm nền tảng:

 

Vì sự quan trọng của chữ “Lễ”, chúng ta sẽ giải thích chữ này thật chi tiết sau. Bây giờ phải hiểu ngắn gọn chữ “Văn” trước. Chữ Văn không có nghĩa thuần túy là văn chương, mà bao gồm sự trau dồi trí tuệ, hầu người quân tử có thể trị quốc bình thiên hạ. Chữ Văn này đồng nghĩa với chữ Trí trong Ngũ Thường như sẽ giải thích sau.

 

Chữ Lễ là một trong Ngũ Thường tức năm đức tính trọng yếu của người Quân Tử là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín.

 

1. Ý nghĩa chữ Nhân (Humanity hay Love):

 

Một cách tổng quát thì Nhân có nghĩa là lòng nhân ái, thương yêu đồng loại. Chữ Nhân cũng bao gồm một quan niệm nền tảng của Nho Giáo về con người (Nhân) như là “linh ư vạn vật” tức có vị trí vượt lên trên muôn loài trong hoàn vũ.

 

Ở điểm nền tảng này thì Nho Giáo hoàn toàn tương đồng với Thiên Chúa Giáo bao gồm mọi hệ phái từ Tin Lành đến Công Giáo và Chính Thống Giáo. Các tôn giáo Tây Phương quan niệm lòng nhân ái (love) cũng giả định con người có vị trí vượt trội trên muôn ngàn sinh vật khác vì được Thượng Đế tạo ra theo hình tượng của Ngài.

 

2. Ý nghĩa chữ Nghĩa (proper conduct):

 

Chữ Nghĩa là một sự thể hiện trực tiếp của chữ Nhân qua phương thức hành xử của người quân tử. Tóm lại, trong hành động của mình, người quân tử sẽ không bao giờ hành xử đi ngược với lòng Nhân Ái, thể hiện qua luân thường đạo lý trong xã hội.

 

3. Ý nghĩa chữ Trí (Knowledge hay Wisdom):

 

Chữ Trí được khai triển rõ rệt hơn trong câu châm ngôn “Thành ý chính tâm, cách vật trí tri, tu thân tề gia, trị quốc bình thiên hạ”. Nho Giáo không phải thuần là một tôn giáo căn bản trên niềm tin đơn thuần mà có một cơ sở tư tưởng sâu xa. Câu này có nghĩa là muốn nhận thức các hiện tượng trong vũ trụ khách quan thì tâm phải chính và ý phải thành, có nghĩa là phải thành thật với chính mình.

 

TBT Nguyễn Phú Trọng và Tô Lâm dĩ nhiên không thỏa mãn được đòi hỏi đầu tiên này vì Ông Trọng biết là Xã Hội Chủ Nghĩa là vô vọng mà vẫn hô hào xây dựng XHCN cho dân Việt. Còn Ông Lâm thì miệng hô hào cần kiệm liêm chính nhưng cũng chính cái miệng đó “đớp” thịt bò dát vàng không do dự.

 

Chỉ sau khi thành ý chính tâm mới thực sự có khả năng phân tích sự kiện (cách vật) và đạt đến sự hiểu biết trí tuệ chân chính (trí tri). Sau cùng trên nền tảng trí tuệ chân chính đó mới kiện toàn bản thân, gia đình êm ấm và dấn thân vì quốc gia dân tộc (Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) được.

 

4. Ý nghĩa chữ Tín (Trust hay honour):

Chữ Tín một cách nôm na là giữ lời hứa. Tuy nhiên nền tảng của nó cũng là Nhân, Nghĩa, Trí và Lễ. Đơn giản mà nói chúng ta phải giữ chữ Tín không những vì lòng nhân với đối tượng mà cũng vì chữ Tín hợp với luân thường đạo lý, vì một người có trí tuệ biết được hậu quả lâu dài của sự bội tín và vì chữ Lễ như sẽ giải thích ở đoạn sau không cho phép chúng ta làm điều thất tín.

 

Dĩ nhiên chữ Tín cũng giả định sự kính trọng của người quân tử đối với nhân phẩm của mọi người.

 

Nói cho cùng thì cả 5 khái niệm trong Ngũ Thường đều bao gồm lẫn nhau, bổ sung cho nhau, tương sinh và tương tùy.

 

5. Ý nghĩa chữ Lễ (Civility hay respect):

 

Chữ Lễ theo Wikipedia là “Lễ bao gồm việc thờ cúng, lễ bái thánh thần, trời Phật và cả những quy định có tính chất pháp luật, những phong tục, tập quán và kỷ luật tinh thần của cá nhân”.

 

Tuy nhiên theo quan điểm của tôi, định nghĩa như thế là chỉ định nghĩa về các hình thức khác nhau của Lễ. Tinh thần của chữ Lễ nằm nơi sự “kính trọng nhân phẩm của từng cá nhân thành phần nhân loại” (respect for each member of the human family) đối tượng của chúng ta vì tất cả mọi thành phần của nhân loại đều là “linh ư vạn vật”. Chính vì thế, khi chữ Lễ được áp dụng triệt để thì không những con kính trọng cha, vợ kính trọng chồng, trò kính trọng thầy, dân kính trọng vua, trẻ kính trọng già, mà các mệnh đề ngược lại cũng đúng y chang.

 

Khi hiểu được như thế, chúng ta mới ý thức rằng, sự “tương kính” (mutual respect) giữa các cá nhân không những là nền tảng của chữ Lễ, mà còn là nền tảng của cả 4 ý niệm còn lại trong Ngũ Thường là Nhân, Nghĩa, Trí và Tín nữa.

 

Khi suy nghĩ sâu xa, chúng ta mới ý thức được vai trò nền tảng của khái niệm “tương kính” (mutual respect) xuyên thấu cả 5 ý niệm nền tảng của Ngũ Thường.

 

Nếu chữ Nhân được hiểu là lòng nhân ái, sự thương yêu là đứng đầu và nền tảng của Ngũ Thường, thì chúng ta sẽ đi đến các kết luận vững chãi như sau:

 

a. Cha mẹ không thể yêu thương con cái thật sự nếu không “tương kính” tức tôn trọng nhân phẩm của con mình và ngược lại.

 

b. Chồng không thể thương yêu vợ nếu không tôn trọng nhân phẩm của vợ và ngược lại.

 

c. Thầy không thể thương yêu trò nếu không tôn trọng nhân phẩm của trò và ngược lại

 

d. Vua không thể thương yêu dân nếu không tôn trọng nhân phẩm của dân và ngược lại.

 

e. Già không thể yêu thương trẻ nếu không tôn trọng nhân phẩm của trẻ và ngược lại.

 

Rộng hơn nữa: Trên bình diện trị quốc bình thiên hạ thì một chính quyền không thể thương yêu nhân dân nếu không tôn trọng nhân phẩm của người dân.

 

IV. Nếu sự tương kính (mutual respect) là trọng yếu thì chính quyền yêu dân phải tôn trọng những gì nơi nhân dân?

 

Câu hỏi quan trọng kế tiếp của chúng ta là: nếu sự tôn trọng nhân phẩm của người dân là nền tảng nghệ thuật trị quốc bình thiên hạ, thì chính quyền phải tôn trọng điều gì nơi nhân dân?

 

Nơi đây, các tư tưởng gia Tây Âu và Đông Phương lại gặp nhau một lần nữa vì sự tương đồng giữa 2 khái niệm nền tảng của Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Đó là các khái niệm “Nhân Trị” và “Nhân Quyền”. Tuy có những dị biệt hình thức vì hoàn cảnh xã hội, thể chế chính trị và đà tiến hóa khác nhau, nhưng tựu trung cũng phát xuất từ sự tôn vinh con người như sinh vật vượt trội trên muôn loài trong hoàn vũ.

 

Thật vậy, vì con người là trọng tâm vũ trụ, từ đông sang tây, nếu thật sự yêu dân, một chính quyền phải tôn trọng bật nhất, 2 điều thiết yếu của con người: đó là mạng sống và trí tuệ của người dân.

 

Một bên là thể xác. Một bên là tinh thần.

 

Bản tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của LHQ năm 1948 chi tiết hóa cụ thể cả 2 điều nêu trên.

 

Ngoài những vi phạm trắng trợn về thể xác nhân dân Việt Nam, đảng CSVN còn trắng trợn khinh thường trí tuệ và sự thông minh của cả dân tộc qua trò đảng cử dân bầu cố hữu, sau cuộc cướp chính quyền xảo trá năm 1945.

 

Nếu giả tỷ Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đều chấp nhận mệnh đề của Nho Giáo là “tiên học lễ, hậu học văn” thì đã không có những thảm sát hằng trăm triệu người tại Liên Xô, Trung Quốc dưới bàn tay các đảng CS liên hệ và hằng triệu người đã không bỏ mạng tại Việt Nam vì Cuộc Cải Cách Ruộng Đất từ thập niên 50, cuộc di cư vĩ đại vào Nam 1954, cuộc vượt biên vĩ đại 1975 và các trại tập trung cải tạo cùng thời.

 

Dĩ nhiên nếu mệnh đề của Nho Giáo này được chấp nhận thì đảng CSVN đã không tiếp tục bám víu trò đảng cử dân bầu thô bỉ này đến tận hôm nay.

 

Thêm vào đó, tại Đông Á, Nho Giáo không phải là hệ tư tưởng thống trị tuyệt đối. Một luồng tư tưởng khác cũng ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Thật vậy trong tư tưởng Phật Gia, khái niệm tình thương không còn giới hạn nơi nhân loại mà bao gồm lòng từ bi lân mẫn cho mọi chúng sinh trong hoàn vũ. Lòng tương kính nêu trên, theo nhà Phật, còn phải nới rộng để bao trùm mọi chúng sinh trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới và bao gồm cả 2 hình thức sống thấp hơn nhân loại lẫn cao hơn nhân loại.

 

Sự tôn trọng phẩm giá của từng chúng sinh càng rõ rệt hơn khi Phật Gia quan niệm mọi chúng sinh đều có Phật tính và cũng sẽ đạt đến chánh đẳng chánh giác trong tương lai.

Cũng vì quan điểm Từ Bi vô lượng của Chư Phật và sự Tôn Kính Phật Tính trong bản chất của từng chúng sinh trong hoàn vũ, Phật Giáo trong bản chất là phản đề hùng mạnh nhất bác bỏ chủ nghĩa Mác Lê.

 

Chính vì thế, khi GS Thêm đề xuất hủy bỏ câu châm ngôn “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” là ông chủ trương phục hồi lại quan điểm Mác Lê nguyên thủy. Hậu quả là đảng CSVN hoàn toàn danh chánh ngôn thuận, theo lý luận Mác Lê, có thể tiếp tục trị quốc bình thiên hạ mà không cần tôn trọng thể xác và trí tuệ của nhân dân.

 

Dĩ nhiên điều này hoàn toàn vi phạm những khái niệm nhân ái của người Tây Phương trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lẫn cốt lũy các tôn giáo truyền thống của nhân dân Việt Nam.

 

Đề xuất của GS Thêm chỉ là tiếng kêu gào vô vọng của một trí thức cộng sản thuần túy trong một thế giới không còn chỗ đứng cho độc tài đảng trị.

 

.

4 BÌNH LUẬN