Thursday, April 2, 2026

TRUNG QUỐC ĐANG QUÁ TỰ TIN TRONG QUAN HỆ VỚI HOA KỲ? (Thomas J. Christensen – Foreign Affairs)

 



Trung Quốc đang quá tự tin trong quan hệ với Mỹ?

Thomas J. Christensen  -  Foreign Affairs

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch   -   Nghiên Cứu Quốc Tế  

12/03/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/03/12/trung-quoc-dang-qua-tu-tin-trong-quan-he-voi-my/

 

Sự tự tin của Bắc Kinh có thể làm xáo trộn thượng đỉnh Trump-Tập như thế nào?

 

Cuối tháng này, Tổng thống Mỹ Donald Trump dự kiến sẽ đến thăm Trung Quốc để tham dự một hội nghị thượng đỉnh quan trọng với nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình, cuộc gặp đầu tiên trong số có thể lên tới bốn cuộc gặp giữa hai nhà lãnh đạo vào năm 2026. Hội nghị thượng đỉnh kéo dài ba ngày được lên kế hoạch ngay sau các cuộc thảo luận giữa hai nhà lãnh đạo vào tháng 10/2025 bên lề Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) tại Busan, Hàn Quốc, nơi họ đạt được một thỏa thuận đình chiến mong manh nhằm xoa dịu căng thẳng kinh tế ngày càng leo thang trong quan hệ Mỹ-Trung. Cụ thể, Trump và Tập đã đồng ý từ bỏ, trong vòng một năm, nhiều biện pháp hà khắc mà hai nước đã áp đặt hoặc đe dọa áp đặt lên nhau trong những tháng trước đó. Mỹ lùi bước trước lời đe dọa áp thuế cao ngất ngưởng và đình chỉ việc mở rộng đáng kể số lượng các công ty Trung Quốc trong Danh sách Thực thể của Bộ Thương mại Mỹ, vốn giới hạn quyền tiếp cận của họ với các doanh nghiệp Mỹ vì lý do an ninh quốc gia hoặc chính sách đối ngoại. Về phần mình, Trung Quốc đã đảo ngược việc từ chối mua nông sản của Mỹ và dỡ bỏ các hạn chế sâu rộng đối với xuất khẩu khoáng sản thiết yếu mà Mỹ cùng nhiều nền kinh tế công nghiệp khác đang phụ thuộc vào. Nói ngắn gọn, thỏa thuận đưa hai nước trở lại khá gần với điểm xuất phát trước khi xung đột kinh tế bắt đầu vào đầu năm 2025.

 

Các quốc gia khác và thị trường chứng khoán toàn cầu hoan nghênh kết quả này vì nếu không, sự leo thang thương chiến sẽ tồi tệ hơn nhiều. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã bỏ ngỏ nhiều vấn đề kinh tế cực kỳ quan trọng – bao gồm mức thuế trung chuyển mà Mỹ đe dọa áp đặt lên các quốc gia nhập khẩu sản phẩm trung gian từ Trung Quốc để sử dụng trong các sản phẩm hoàn chỉnh mà họ xuất khẩu sang Mỹ. Cũng không có thỏa thuận dài hạn nào liên quan đến các hạn chế xuất khẩu các nguyên tố đất hiếm từ Trung Quốc hoặc chất bán dẫn cao cấp từ Mỹ. Hơn nữa, độ bền vững của thỏa thuận đình chiến này bị đe dọa bởi những rạn nứt dai dẳng trong các lĩnh vực cạnh tranh khác giữa Mỹ và Trung Quốc, bao gồm xu hướng của mỗi nước trong việc sử dụng các lệnh trừng phạt kinh tế như một phương tiện cưỡng ép đối với các vấn đề phi kinh tế, cùng với phản ứng gay gắt mỗi khi các hình phạt như vậy được nhắm vào họ.

 

Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất sẽ định hình các cuộc gặp Trump-Tập sắp tới sẽ là nhận thức của Bắc Kinh về thành công rõ ràng của chính họ trong năm 2025 khi đáp trả các mối đe dọa của Mỹ bằng những đòn phản công kiên quyết. Quá trình leo thang và xuống thang dẫn đến thỏa thuận đình chiến ở Busan đã củng cố niềm tin của giới tinh hoa Trung Quốc về sức mạnh và đòn bẩy ngày càng tăng của đất nước họ. Nhiều chuyên gia Trung Quốc tin rằng Bắc Kinh, không giống như các thủ đô khác phải chịu sự đe dọa của Trump, đã dồn được Washington vào chân tường, và kết quả này báo hiệu sự vươn lên của Trung Quốc như một cường quốc toàn cầu ngang hàng với Mỹ. Học giả quan hệ quốc tế nổi tiếng của Trung Quốc, Kim Xán Vinh, tuyên bố rằng kết quả của thượng đỉnh Busan chứng minh rằng Trung Quốc và Mỹ đã trở thành “các cường quốc ngang hàng.” Suy cho cùng, ngay từ trước cuộc gặp, Trump đã củng cố sự tự tin của Bắc Kinh khi gọi các cuộc đàm phán sắp tới trên mạng xã hội là cuộc họp của “G2” – một thuật ngữ mà giới chức Mỹ từ lâu đã tránh sử dụng vì họ không muốn đối xử với Trung Quốc như một cường quốc ngang hàng, và vì các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ lo sợ một khuôn khổ như vậy sẽ cho phép Bắc Kinh và Washington đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến lợi ích của các quốc gia đó mà không có mặt họ. Nhà khoa học chính trị Trịnh Vĩnh Niên viết rằng việc Trump sử dụng ngôn từ G2 ngay trước thềm hội nghị đã “ngầm thừa nhận vị thế toàn cầu then chốt của Trung Quốc” – nói cách khác, là sự xuất hiện của nước này như một quốc gia ngang hàng với Mỹ. Một số chuyên gia Mỹ cũng đã củng cố nhận thức này. Rush Doshi, cựu quan chức chính quyền Biden, gọi những gì diễn ra ở Busan là “minh chứng rõ ràng rằng Trung Quốc giờ đây có thể đối mặt với nước Mỹ như một đối thủ thực sự ngang tầm.”

 

Những kết luận này đã bị thổi phồng. Không nghi ngờ gì, Trung Quốc là một cường quốc và từ lâu họ đã có khả năng gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho Mỹ và các đối tác của nước này, cả về quân sự lẫn kinh tế. Đòn bẩy này chỉ đang tăng lên khi sức mạnh quân sự, kinh tế, và công nghệ của Trung Quốc tiếp tục phát triển – một quỹ đạo cần được xem xét nghiêm túc. Nhưng Trung Quốc vẫn chưa phải là đối thủ toàn cầu ngang tầm với Mỹ. Việc các nỗ lực của Mỹ nhằm ép buộc Trung Quốc vào đầu năm 2025 được lên kế hoạch kém cỏi và do đó thất bại trong việc tạo ra kết quả tích cực không có nghĩa là Trung Quốc có thể sánh ngang với Mỹ về sức mạnh quốc gia toàn diện. Bất kỳ nhận thức nào của Trung Quốc đi ngược lại điều này đều có thể dẫn đến việc Bắc Kinh áp dụng các chính sách quyết đoán và có khả năng gây mất ổn định ở châu Á.

 

VẪN Ở THẾ THƯỢNG PHONG

 

Mỹ có nhiều lợi thế đa dạng so với Trung Quốc. Đáng chú ý nhất trong số đó là một mạng lưới độc nhất gồm hơn 60 đồng minh và đối tác an ninh của Washington, bao gồm gần như tất cả các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới. Trong khi đó, các đối tác an ninh của Trung Quốc chủ yếu là các quốc gia bất hảo. Nga đang bị kìm hãm bởi cuộc chiến tiêu hao phần lớn không thành công ở Ukraine; Iran đã bị suy yếu nghiêm trọng do bất ổn trong nước, các lệnh trừng phạt kinh tế, và các cuộc tấn công quân sự của Mỹ và Israel; và Triều Tiên tuy khó đoán nhưng kiên quyết, đang gây ra nhiều rắc rối cho chính sách đối ngoại của Bắc Kinh – cụ thể là cho quan hệ của nước này với Nhật Bản và Hàn Quốc – hơn là mang lại giải pháp cho các thách thức chiến lược của Trung Quốc.

 

Trung Quốc đã hiện đại hóa quân đội và phát triển các năng lực quân sự đáng chú ý mà họ có thể triển khai trong một cuộc xung đột tiềm tàng ở Tây Thái Bình Dương, nhưng họ vẫn chỉ ngang tầm với Mỹ trong các đánh giá về xung đột tiềm tàng ở các khu vực lân cận thuộc Châu Á-Thái Bình Dương. Ví dụ, các báo cáo về các cuộc tập trận mô phỏng trong đó lực lượng Trung Quốc đánh bại quân đội Mỹ luôn dựa trên các kịch bản gần Đài Loan, ngay trước cửa ngõ của Trung Quốc, chứ không phải Puerto Rico, Greenland, hay Trung Đông. Bất chấp quá trình hiện đại hóa quân sự ấn tượng, Trung Quốc thiếu khả năng triển khai sức mạnh thông thường cần thiết để thách thức bá quyền của Mỹ hoặc đồng minh ở bất kỳ đâu ngoài khu vực lân cận trực tiếp với họ.

 

Về mặt kinh tế cũng vậy, Mỹ có nhiều đòn bẩy đối với Trung Quốc hơn là chiều ngược lại. Trung Quốc độc quyền về đất hiếm và dược chất (API), và điều này gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho Mỹ. Nhưng giờ đây, khi thực tế này đã thu hút sự chú ý của mọi người, các nhà hoạch định chính sách ở nhiều quốc gia đã hiểu ra rằng họ phải hành động để đảm bảo rằng độc quyền chuỗi cung ứng sẽ không phải là tài sản vĩnh viễn của Bắc Kinh. Hơn nữa, như nhà khoa học chính trị Victor Cha mới đây đã lưu ý trên tờ Foreign Affairs, nền kinh tế Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào các nguyên liệu công nghiệp đầu vào từ Mỹ cũng như các đồng minh và đối tác trong khu vực. Bất chấp những nỗ lực đáng kể để đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, Bắc Kinh vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu bằng đường biển từ Trung Đông, Châu Phi, hoặc Mỹ Latinh cho phần lớn nhu cầu dầu mỏ của mình. Và vì cầu trong nước đối với hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc vẫn còn yếu, nên khả năng tiếp cận các thị trường xuất khẩu của nước này ngày càng trở nên quan trọng để đảm bảo tăng trưởng liên tục. Thặng dư thương mại của Trung Quốc đã tăng vọt lên mức lịch sử đối với bất kỳ quốc gia nào, đạt gần 1.000 tỷ USD vào năm 2024 và thậm chí vượt qua con số đó vào năm 2025. Tôi nghi ngờ việc các thị trường nước ngoài sẽ tiếp tục hấp thụ các sản phẩm của Trung Quốc với tốc độ này, nhưng cho đến khi Bắc Kinh có thể xây dựng nền tảng kinh tế của mình vững chắc hơn nhờ tiêu dùng nội địa, họ sẽ vẫn phụ thuộc vào thị trường nước ngoài cho tăng trưởng trong tương lai.

 

Tiếp đến là một thứ tương đương với vũ khí hạt nhân trong đòn bẩy kinh tế của Mỹ: sự phụ thuộc của các tổ chức tài chính nước ngoài vào việc tiếp cận đồng đô la. Trong trường hợp khó xảy ra nhưng vẫn có thể xảy ra, là Washington áp dụng các lệnh trừng phạt tài chính sâu rộng đối với các ngân hàng nhà nước lớn và các công ty Trung Quốc, các tổ chức này sẽ nhận ra rất khó để hoạt động trên phạm vi quốc tế. Bất chấp những nỗ lực của Trung Quốc nhằm phòng bị bằng cách quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, đồng đô la sẽ vẫn là đồng tiền dự trữ của thế giới rất lâu sau khi sự kìm kẹp của Trung Quốc đối với đất hiếm và dược chất – vũ khí kinh tế chính của nước này – bị phá vỡ. Giống như hầu hết các quốc gia, Trung Quốc vẫn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thực hiện các giao dịch tài chính bằng đô la Mỹ và có lẽ sẽ tiếp tục làm như vậy trong nhiều năm tới.

 

TRỞ VỀ TƯƠNG LAI?

 

Dù vậy, những điểm yếu còn lại của Trung Quốc không nên làm người Mỹ tự mãn. Bắc Kinh có nhiều cách để phản kháng lại một nước Mỹ hùng mạnh hơn. Hơn nữa, như học giả quan hệ quốc tế Robert Jervis đã lập luận, nhận thức ít nhất cũng quan trọng như thực tế trong chính trị toàn cầu. Nhận thức của nhiều thành viên trong tầng lớp tinh hoa Trung Quốc rằng Bắc Kinh đã giành chiến thắng trong quá trình leo thang và xuống thang sau đó trong cuộc xung đột kinh tế với Washington vào năm 2025 nhiều khả năng sẽ mang lại những hậu quả trong thế giới thực.

 

Lần cuối cùng Trung Quốc trở nên quá tự tin về sức mạnh đang lên của mình là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, khi nền kinh tế nước này ít bị thiệt hại hơn và phục hồi nhanh hơn so với Mỹ cùng các đồng minh và đối tác. Niềm tin thái quá của Bắc Kinh vào sức mạnh quốc gia tương đối của họ đã tạo ra một xu hướng tiêu cực trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Như tôi đã chỉ ra trong một bài viết năm 2011 cho tờ Foreign Affairs, việc Bắc Kinh áp dụng tư thế chính sách đối ngoại kiêu ngạo và bất hợp tác vào năm 2010 đối với Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc ,và các thành viên của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á đã phá hủy thiện chí ngoại giao mà họ dày công bồi đắp trong khu vực kể từ giữa những năm 1990. Đến cuối năm 2010, Trung Quốc đã thành công trong việc tự cô lập mình với hầu hết các nước láng giềng ngoại trừ Nga.

 

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện nay có thể đang lặp lại xu hướng tiêu cực của sự quá tự tin và quyết đoán này. Bắc Kinh đã áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế lên Nhật Bản sau lời gợi ý công khai của Thủ tướng Sanae Takaichi rằng Nhật Bản có thể đóng một vai trò nào đó trong một cuộc xung đột tiềm tàng ở Eo biển Đài Loan (dù các lệnh trừng phạt chỉ làm tăng thêm sự ủng hộ ở trong nước dành cho Takaichi). Sau khi Trump công bố bán gói vũ khí trị giá 11 tỷ USD của Mỹ cho Đài Loan vào cuối năm 2025, quân đội Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tập trận quy mô lớn và bố trí lực lượng gần đảo chính của Đài Loan hơn so với trước đây. Trung Quốc cũng tăng cường sự hiện diện của quân đội và lực lượng bán quân sự ở các khu vực tranh chấp trên Biển Đông, và còn đang xây dựng các cấu trúc vật lý bất chấp sự phản đối của Seoul bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Hàn Quốc ở Biển Hoàng Hải, nơi ngăn cách hai nước. Tóm lại, năm 2026 đang bắt đầu trông rất giống năm 2010.

 

Những nguyên nhân tiềm tàng cho rạn nứt sâu hơn trong quan hệ Mỹ-Trung cũng tồn tại ở Châu Âu, Trung Đông, và Mỹ Latinh. Có thể đoán trước một Bắc Kinh tự tin sẽ phản ứng mạnh mẽ trước bất kỳ biện pháp trừng phạt nào của Mỹ nhắm vào Trung Quốc do những khác biệt của họ ở các khu vực đó, lấy cảm hứng từ những hậu quả hạn chế mà họ phải đối mặt sau những hành động leo thang tương tự trong những tháng trước thỏa thuận đình chiến ở Busan. Ở Châu Âu, căng thẳng gia tăng có thể xuất hiện trong bối cảnh cuộc chiến ở Ukraine. Trump có thể sẽ thất vọng với thái độ chần chừ đàm phán hiệp ước hòa bình một cách thiện chí của Tổng thống Nga Vladimir Putin nhằm chấm dứt chiến tranh. Nếu Trump muốn gia tăng áp lực kinh tế hiện tại lên Moscow, việc đe dọa các lệnh trừng phạt thứ cấp đối với Trung Quốc – nhà hỗ trợ kinh tế lớn nhất của Nga cho đến nay – sẽ là một hướng đi hợp lý. Và đó cũng là con đường mà Trump đã thực hiện với Ấn Độ để đáp trả việc nước này mua dầu của Nga trong chiến tranh.

 

Những mối nguy tương tự cũng hiện diện ở Iran, quốc gia có đối tác kinh tế lớn nhất tính đến nay là Trung Quốc. Trước khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran bắt đầu vào tuần trước, Trung Quốc vẫn đang mua phần lớn lượng dầu xuất khẩu của Iran, dù là thông qua các tuyến đường qua các nước thứ ba như Malaysia, làm giảm khả năng bị Mỹ trừng phạt. Bắc Kinh không muốn chứng kiến sự thay đổi chế độ ở Tehran, đặc biệt là dưới áp lực của nước ngoài, và do đó có thể sẽ cố gắng hết sức để giúp củng cố bất kỳ lãnh đạo chống Mỹ nào nổi lên ở nước này sau cái chết của Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei. Cũng có khả năng Trung Quốc sẽ cố gắng cung cấp cho Iran các hàng hóa liên quan đến quân sự, để giúp họ xây dựng lại một số năng lực quân sự thông thường, đồng thời cố vấn cho Tehran về cách tốt nhất để giám sát xã hội và dập tắt các cuộc biểu tình chống chế độ. Giờ đây, khi Trump đã cam kết quân sự cho một sự thay đổi chế độ nào đó ở Iran, ông rất có thể sẽ sử dụng mối đe dọa thuế quan hoặc các lệnh trừng phạt kinh tế khác nhắm vào Trung Quốc vì sự ủng hộ của nước này đối với chế độ Iran. Một Tập Cận Bình không hề nao núng có thể sẽ đáp trả các mối đe dọa kinh tế của Mỹ bằng các biện pháp leo thang của riêng mình, nhiều khả năng bao gồm các hạn chế xuất khẩu đất hiếm và lệnh cấm nhập khẩu nông sản.

 

Ở Mỹ Latinh, Bắc Kinh hẳn là không hài lòng với việc quân đội Mỹ lật đổ Nicolás Maduro khỏi quyền lực ở Venezuela, đặc biệt là vì sự kiện này diễn ra chỉ một ngày sau khi một phái đoàn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đến thăm Maduro tại Caracas. Trung Quốc có quan hệ kinh tế và ngoại giao chặt chẽ với Venezuela dưới thời Maduro, đổ nhiều khoản đầu tư lớn vào lĩnh vực dầu mỏ của nước này. Tập có thể phần nào yên tâm khi chính quyền Trump chọn không kích động một cuộc cách mạng ủng hộ dân chủ ở Venezuela. Nhưng một vấn đề tiềm ẩn còn lại đối với Bắc Kinh là ý tưởng cho rằng động thái táo bạo của Washington ở Caracas có thể là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn nhằm giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc ở Mỹ Latinh, như Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2025 của Trump đã gợi ý. Ngay từ cuối tháng 2, Bộ Ngoại giao Mỹ đã áp đặt lệnh cấm đi lại đối với các quan chức Chile đang soạn thảo thỏa thuận xây dựng cáp viễn thông ngầm dưới biển giữa Chile và Hong Kong. Những hành động như vậy, nếu tiếp diễn, sẽ gây ra rạn nứt lớn hơn với Bắc Kinh, vốn là bên có lợi ích kinh tế khổng lồ trên khắp Nam Mỹ. Trong 25 năm qua, Trung Quốc đã thay thế Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của khu vực và thực hiện các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng khổng lồ tại đây, bao gồm việc phát triển một cảng lớn ở Peru nhằm tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa sang Châu Á.

 

Dù một phán quyết gần đây của Tối cao Pháp viện Mỹ đã ngăn cản Trump phê chuẩn một số mức thuế trừng phạt nhất định theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế, ông vẫn nắm giữ nhiều công cụ đe dọa khác trong tay – đặc biệt là khi nói đến Trung Quốc, quốc gia mà chính phủ Mỹ cho là có tội do một loạt các vi phạm về chuẩn mực thương mại công bằng và bảo vệ sở hữu trí tuệ. Chính quyền Mỹ vẫn có thể tăng thuế đối với một lượng lớn hàng nhập khẩu của Trung Quốc theo các ủy quyền hiện hành của Quốc hội, chẳng hạn như Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, cho phép Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ áp đặt các hình phạt đối với các quốc gia mà họ cho là đã vi phạm các hiệp định thương mại, mà không vướng phải rủi ro bị các tòa án Mỹ cản trở.

 

CÓ GÌ SAI KHI TA TỰ TIN?

 

Những áp lực bên ngoài lên thỏa thuận đình chiến năm 2025 không phải là mối nguy duy nhất đối với độ bền vững của nó; chúng chỉ bổ sung thêm vào những điểm yếu của chính bản thân thỏa thuận này. Không có tuyên bố chính thức nào về các cuộc họp tại Busan thừa nhận vấn đề hóc búa về mức thuế trung chuyển mà Washington đã đe dọa áp đặt lên các nước thứ ba nhập khẩu hàng hóa trung gian của Trung Quốc để sử dụng trong các sản phẩm hoàn chỉnh xuất khẩu sang Mỹ. Chẳng hạn, Mỹ đã gây áp lực kinh tế theo hướng này lên Mexico, sau đó Mexico đành áp thuế 50% đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào đầu tháng 1 để tránh mức thuế cao hơn của Mỹ. Vài tuần sau, Trump tiếp tục đưa ra những lời đe dọa ép buộc tương tự đối với Canada sau khi nước này đàm phán một thỏa thuận thương mại với Bắc Kinh. Nếu những mối đe dọa đó tiếp diễn, một Trung Quốc tự tin hơn có thể trả đũa các quốc gia đã khuất phục trước áp lực của Mỹ, hoặc nhắm vào chính nước Mỹ. Những biện pháp phản pháo này – mà khả năng xảy ra của chúng chưa được thỏa thuận đình chiến Busan tính đến – có thể dễ dàng thổi bùng lại những căng thẳng kinh tế mà thỏa thuận đình chiến này đã tạm thời dập tắt.

 

Các vấn đề cũng có thể phát sinh xoay quanh đất hiếm và fentanyl. Dù Bắc Kinh đã đồng ý nối lại xuất khẩu đất hiếm và thắt chặt các hạn chế đối với xuất khẩu tiền chất fentanyl như một phần của thỏa thuận đình chiến ở Busan, hai nước đã không chỉ định mốc thời gian chính xác hoặc các tiêu chí rõ ràng cho tiến trình này. Vì thế, chính quyền Trump có thể thất vọng trước dòng chảy nhỏ giọt của đất hiếm, hoặc dòng chảy ồ ạt của tiền chất fentanyl từ Trung Quốc, theo đó kích hoạt việc khôi phục mức thuế cao hơn của Mỹ đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.

 

Về phần mình, Bắc Kinh có thể thất vọng vì Washington không sẵn lòng bán cho Trung Quốc nhiều chất bán dẫn cao cấp và thiết bị sản xuất chất bán dẫn hơn. Chính quyền Trump có thể đã kích thích sự thèm muốn của một Trung Quốc quá tự tin bằng cách sử dụng chất bán dẫn làm con bài mặc cả trong các cuộc đàm phán thương mại trước đây. Hồi đầu năm 2025, chính quyền Trump đã hạn chế xuất khẩu sang Trung Quốc chip H20 của Nvidia, vốn được công ty này thiết kế đặc biệt dành riêng cho thị trường Trung Quốc nhằm tuân thủ các lệnh hạn chế an ninh quốc gia trước đó đối với các công nghệ bán dẫn cao cấp hơn do chính quyền Biden ban hành – chỉ để rồi đảo ngược các biện pháp kiểm soát đó vào cuối năm 2025, nhằm đổi lấy cam kết của Bắc Kinh về việc tăng xuất khẩu nam châm đất hiếm sang Mỹ. Chính quyền Trump do đó cũng làm mờ đi ranh giới giữa các lệnh cấm xuất khẩu liên quan đến an ninh và các công cụ kinh tế để thiết lập đòn bẩy trong các cuộc đàm phán thương mại như thuế quan. Ranh giới này thậm chí còn trở nên mơ hồ hơn khi, vào tháng 12, họ đã đồng ý bán một số lượng hạn chế các chip H200 tiên tiến hơn nhiều cho Trung Quốc. Nếu Washington dập tắt kỳ vọng của Bắc Kinh về nhiều nhượng bộ công nghệ hơn trong các cuộc đàm phán trong tương lai, Trung Quốc có thể sẽ ít sẵn lòng thực hiện cam kết một cách trung thực hoặc gia hạn các cam kết về đất hiếm và fentanyl mà họ đã đưa ra ở Busan.

 

Cuối cùng, cuộc gặp ở Busan đã không giải quyết được những khác biệt kéo dài giữa Bắc Kinh và Washington về vấn đề Đài Loan. Trung Quốc đã nói rõ rằng họ muốn thảo luận về Đài Loan trong hội nghị thượng đỉnh sắp tới. Theo bản tóm tắt chính thức của Trung Quốc về cuộc điện đàm ngày 04/02 giữa Trump và Tập, nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh rằng Đài Loan là “vấn đề quan trọng nhất trong quan hệ Trung-Mỹ.” Tập có thể thúc đẩy Trump sửa đổi cách diễn đạt chính sách chính thức của Mỹ về quan hệ giữa hai bờ eo biển theo cách có thể làm suy yếu tinh thần của Đài Loan, và ông chắc chắn sẽ thúc giục Trump hạn chế bán vũ khí và các hình thức hợp tác an ninh khác của Mỹ với hòn đảo này. Nhưng khả năng có một cam kết bán vũ khí mới, quy mô lớn của Mỹ cho Đài Loan là rất cao trong năm 2026.

 

Bên cạnh các nguyên nhân tiềm tàng khác gây căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đã nêu ở trên, quyết định bán vũ khí hoặc hợp tác sâu rộng hơn của Mỹ trong việc củng cố khả năng sẵn sàng phòng thủ của Đài Loan có thể cung cấp thêm một động lực nữa để Bắc Kinh hạn chế xuất khẩu đất hiếm và giảm hợp tác thực thi pháp luật chống ma túy. Những gì hai bên đạt được trong năm 2025 là một bước quan trọng trong việc tái thiết quan hệ Mỹ-Trung, nhưng những gì bị bỏ ngỏ chưa giải quyết có thể làm trật bánh những thành quả của thỏa thuận Busan và gây leo thang căng thẳng song phương.

 

--------------------------------

Thomas J. Christensen là Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Trường Quan hệ Quốc tế và Các vấn đề Công thuộc Đại học Columbia và là Giám đốc tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược. Từ năm 2006 đến năm 2008, ông giữ chức Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các Vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương.

 

Nguồn: Thomas J. Christensen, “Will China Overplay Its Hand?,” Foreign Affairs, 06/03/2026

 







THẾ GIỚI HÔM NAY : 31/03/2026 (The Economist)

 



THẾ GIỚI HÔM NAY : 31/03/2026

The Economist 

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch  -  Nghiên Cứu Quốc Tế  

31/03/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/03/31/the-gioi-hom-nay-31-03-2026/

 

Một máy bay không người lái của Iran tấn công một tàu chở dầu khổng lồ của Kuwait ngoài khơi Dubai, dẫn đến những cảnh báo về sự cố tràn dầu và đẩy giá dầu thô Brent tăng lên trong thời gian ngắn. Giá dầu sau đó đã giảm xuống còn khoảng 107 đô la/thùng sau khi tờ Wall Street Journal đưa tin Donald Trump đã nói với các trợ lý rằng ông sẵn sàng kết thúc chiến tranh ngay cả khi Eo biển Hormuz phần lớn vẫn bị phong tỏa. Trước đó, Trump đã đe dọa sẽ “xóa sổ hoàn toàn” cơ sở hạ tầng năng lượng của Iran.

 

Tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelensky, ca ngợi các thỏa thuận an ninh “mang tính lịch sử” mà nước ông đạt được với Ả Rập Saudi, Qatar, và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Ông cho biết Ukraine đang thảo luận về các thỏa thuận tương tự với một số quốc gia Trung Đông khác. Trong một chuyến công du gần đây tới khu vực này, Zelensky đã đưa ra lời khuyên về cách chống lại các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran. Trước đó, Nga đã triển khai các máy bay không người lái do Iran thiết kế để chống lại Ukraine.

 

Thổ Nhĩ Kỳ cho biết một tên lửa đạn đạo bắn từ Iran đã đi vào không phận nước này và bị hệ thống phòng thủ của NATO bắn hạ. Đây là sự cố thứ tư như vậy kể từ khi cuộc chiến Iran bắt đầu. Iran phủ nhận việc phóng tên lửa vào nước láng giềng. Sự việc này càng làm nổi bật nguy cơ xung đột lan sang lãnh thổ thuộc NATO. Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang tìm cách hòa giải và đã tham gia các cuộc đàm phán để mở cửa trở lại Eo biển Hormuz.

 

Đặc phái viên Thương mại Mỹ, Jamieson Greer, tuyên bố Tổ chức Thương mại Thế giới sẽ chỉ đóng một “vai trò hạn chế” trong việc xác định chính sách toàn cầu, sau khi các cuộc đàm phán nhằm cải tổ cơ quan này đổ vỡ vào Chủ nhật. Các cuộc thảo luận bị đình trệ một phần do những bất đồng về thuế quan thương mại điện tử. Mỹ muốn gia hạn vô thời hạn việc hoãn thu thuế đối với các giao dịch điện tử, trong khi Brazil phản đối biện pháp này.

 

Quốc hội Israel thông qua một đạo luật xem án tử hình là hình phạt mặc định tại các tòa án quân sự chuyên xét xử người Palestine ở Bờ Tây bị chiếm đóng vì các cuộc tấn công gây chết người. Biện pháp này đáp ứng một yêu cầu quan trọng từ các đồng minh cực hữu của Netanyahu. Dù đạo luật này cũng cho phép áp dụng án tử hình tại các tòa án dân sự, nhưng nó chỉ áp dụng đối với những tội ác được cho là đe dọa đến sự tồn vong của Israel. Các nhà phê bình cho rằng trên thực tế, luật này sẽ nhắm vào người Palestine chứ không phải những kẻ cực đoan gốc Do Thái.

 

Một tàu chở dầu của Nga mang theo khoảng 100.000 tấn dầu thô đã đến Cuba, chuyến giao hàng đầu tiên sau ba tháng, giữa bối cảnh hòn đảo này đang phải vật lộn với tình trạng thiếu hụt nhiên liệu và mất điện nghiêm trọng. Giới chức Mỹ đã cho phép con tàu đi qua, dù họ vẫn có các tàu ở gần đó đủ khả năng đánh chặn, đồng thời cũng ngó lơ những lời đe dọa trước đó của Trump về việc trừng phạt các quốc gia xuất khẩu dầu sang Cuba sau khi thắt chặt các lệnh trừng phạt đối với Venezuela.

 

Michael Rousseau tuyên bố từ chức Tổng Giám đốc Air Canada sau một vụ lùm xùm liên quan đến lời chia buồn thiếu tế nhị. Ông bị chỉ trích vì chỉ đưa ra thông điệp bằng tiếng Anh, một trong hai ngôn ngữ chính thức của Canada, sau vụ va chạm trên đường băng ở New York vào ngày 22/03 khiến hai phi công của Air Canada thiệt mạng. Hãng hàng không cho biết người thay thế Rousseau sẽ được lựa chọn dựa trên nhiều tiêu chí, và một trong số đó là “khả năng giao tiếp bằng tiếng Pháp.”

 

Con số trong ngày: 35%, là tỷ lệ các nhà phê bình yêu thích bộ phim “Dhurandhar.”

 

 

TIÊU ĐIỂM

 

Liệu cuộc chiến Iran có biến thành một cuộc tấn công trên bộ?

“Có thể chúng ta sẽ chiếm Đảo Kharg, cũng có thể không,” Donald Trump phát biểu vào Chủ nhật. Mỹ đã đe dọa sẽ biến dải đất ở Vùng Vịnh – nơi Iran sử dụng để xuất khẩu 90% lượng dầu của mình – thành địa điểm cho một cuộc tấn công trên bộ tiềm năng. Nhưng liệu Mỹ có đưa bộ binh tham chiến? Một đơn vị gồm vài nghìn lính Thủy quân Lục chiến đã có mặt ở Trung Đông, và một đơn vị khác đã lên đường từ California vào ngày 18/03, nhưng khó có thể đến nơi trong khoảng hai tuần tới. Một lực lượng bổ sung gồm 2.000 quân từ Sư đoàn Dù 82 được cho là đã bắt đầu đến khu vực này vào cuối tuần qua.

 

Việc xâm lược Đảo Kharg có thể cản trở hoạt động xuất khẩu dầu mỏ béo bở của Iran, nhưng cái giá mà Mỹ có thể phải trả là rất đắt: giá xăng thậm chí còn tăng cao hơn và thương vong về quân sự. Nếu quân đội Mỹ tiến vào, các cuộc đột kích hạn chế trong đất liền nhắm vào các bệ phóng và kho chứa sẽ dễ xảy ra hơn là chiếm đóng lãnh thổ. Trump cũng phải cân nhắc rủi ro chính trị, trong khi các nhà lãnh đạo Iran thì không có cuộc bầu cử giữa kỳ nào để phải bận tâm.

 

Đế chế dầu mỏ của Iran

Khác với các nước láng giềng, số tiền mà Iran kiếm được mỗi ngày từ việc bán dầu nhiều gần gấp đôi so với trước chiến tranh. Một nguồn tin tiết lộ với Economist rằng nước này đang xuất khẩu khoảng 2,4 triệu – 2,8 triệu thùng dầu và các sản phẩm hóa dầu mỗi ngày, trong đó hơn một nửa là dầu thô – mức tương đương hoặc cao hơn mức trung bình của năm ngoái, nhưng với giá cao hơn nhiều. Gần như toàn bộ lượng dầu này đều đi qua Đảo Kharg.

Trung Quốc tiêu thụ hơn 90% lượng dầu của Iran, chủ yếu thông qua hơn 100 nhà máy lọc dầu “ấm trà” quy mô nhỏ, mà trên lý thuyết là độc lập với các gã khổng lồ thuộc sở hữu nhà nước (còn thực tế thì mờ ám hơn). Phần lớn số tiền thu được đi qua một hệ thống thanh toán ngầm gồm các công ty bình phong và các tài khoản liên kết với Iran, cuối cùng mang lại lợi ích cho chính quyền nước này. Các quan chức Iran dường như đang chuẩn bị để bảo vệ Kharg, và cũng tích trữ thêm tại các bến cảng nhỏ hơn của họ. Nhưng những bến cảng này sẽ chỉ xử lý được khoảng một phần tư lượng dầu xuất khẩu hiện tại của Iran, trong trường hợp Kharg bị phá hủy.

 

Emmanuel Macron lên đường đến Nhật Bản

Hôm nay, Tổng thống Pháp sẽ đến Nhật Bản trong chuyến thăm chính thức lần thứ tư của mình. Emmanuel Macron mang theo một phi cơ chở đầy các lãnh đạo doanh nghiệp Pháp, bao gồm cả những ông chủ từ các công ty khởi nghiệp về AI, lượng tử, và không gian. Dù vậy, cuộc khủng hoảng địa chính trị ở Vùng Vịnh có lẽ sẽ là chủ đề chi phối chuyến thăm.

Nhật Bản phụ thuộc rất nhiều vào lượng dầu nhập khẩu đi qua Eo biển Hormuz, nơi phần lớn đang bị phong tỏa. Quốc gia này – cùng với Canada, Pháp, và các nước khác – đã nhất trí về sự “sẵn sàng đóng góp” cho các nỗ lực nhằm đảm bảo việc lưu thông an toàn qua eo biển (dù không phải là để phá vỡ thế phong tỏa).

 

Nhật Bản cũng là thành viên của “liên minh tự nguyện,” một nỗ lực Pháp-Anh nhằm lên kế hoạch cho an ninh thời hậu chiến của Ukraine. Để chuẩn bị cho hội nghị G7 tại Pháp vào tháng 6, Macron dự kiến sẽ tìm kiếm sự ủng hộ của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae trong việc điều chỉnh những “sự mất cân bằng kinh tế toàn cầu” vốn đang mang lại lợi ích đặc biệt cho Trung Quốc. Chuyến thăm của Macron có thể mang nét Nhật Bản – ông sẽ ghé thăm Hoàng Cung bên cạnh việc tham dự hội nghị thượng đỉnh ở Tokyo – nhưng chương trình nghị sự chắc chắn sẽ mang tầm vóc toàn cầu.

 

Bê bối kiểm soát lũ lụt của Philippines

Những trận mưa như trút nước là điều thường thấy ở Philippines. Nhưng quốc gia thường xuyên hứng chịu thiên tai này hiện đang phải đương đầu với một kiểu giông bão khác: vụ bê bối tham nhũng liên quan đến hàng trăm triệu đô la tiền công quỹ bị đánh cắp, vốn là tiền dành cho các dự án kiểm soát lũ lụt. Hôm nay, một ủy ban đang tiến hành cuộc điều tra về vụ biển thủ này sẽ giải tán. Những phát hiện của họ cho thấy có sự dính líu của các nghị sĩ, công chức, và các nhà thầu bị cáo buộc bỏ túi những khoản tiền được phân bổ cho các dự án đã thất bại hoặc chưa bao giờ được hoàn thành (thậm chí còn chưa được khởi công).

 

Tổng thống Ferdinand “Bongbong” Marcos, người ra lệnh điều tra, đã tự nhận công lao trong việc phanh phui vụ bê bối. Là con trai của cố tổng thống Ferdinand Marcos Sr., ông mong muốn khôi phục lại danh tiếng của gia tộc mình, vốn đã bị hoen ố bởi nạn tham nhũng nảy sinh dưới thời người cha độc đoán của ông. Nhưng chừng nào những nhân vật nổi cộm còn chưa bị kết án và trừng phạt, thì những người hoài nghi sẽ chẳng thể tin rằng bất kỳ chính trị gia nào thuộc gia tộc Marcos – dù trong quá khứ, hiện tại, hay tương lai – có thể phá vỡ được vòng xoáy tham nhũng này.

 

Lực lượng theo chủ nghĩa Mao ở Ấn Độ đã tàn lụi?

Hôm nay, Ấn Độ sẽ thoát khỏi cuộc nổi dậy theo chủ nghĩa Mao kéo dài nhất thế giới – chí ít là theo lời hứa của Amit Shah, Bộ trưởng Nội vụ nước này. Trên thực tế, vẫn còn những phần tử theo Mao đang lẩn trốn trong các khu rừng ở Ấn Độ. Nhưng nước này thực sự đã ở ngưỡng cửa của việc triệt phá cái gọi là Phong trào Naxalite, vốn đã gây nhức nhối cho đất nước kể từ năm 1967.

 

Từng được xem là mối đe dọa an ninh nội bộ lớn nhất của Ấn Độ, nhóm du kích này bao gồm khoảng 20.000 tay súng sống rải rác khắp hơn 200 quận vào cuối những năm 2000. Ngày nay, lực lượng này chỉ còn hoạt động ở bảy quận. Với việc gần như toàn bộ ủy ban trung ương bị xóa sổ, tinh thần chiến đấu cũng sụp đổ, và binh lính cấp thấp đã đầu hàng hàng loạt. Việc đưa các nhóm bộ lạc – những người từ lâu đã chiếm đa số trong lực lượng theo chủ nghĩa Mao – vào hàng ngũ lực lượng an ninh Ấn Độ đã cung cấp những thông tin tình báo vô giá về phong trào này.

 

Tuy nhiên, những rắc rối từng thổi bùng lên phong trào này vẫn còn đó. Người dân địa phương lo rằng cuộc đàn áp lực lượng nổi dậy chỉ là bước đệm để các gã khổng lồ khai khoáng chiếm đoạt những vùng đất bộ lạc giàu khoáng sản, tiếp diễn vòng lặp của các cuộc di dời hàng loạt.

 

 

HỘI THẢO CÙNG GIÁO SƯ VŨ TƯỜNG TẠI PARIS   

Tường An cùng với Nguyễn Tiến Trung và 9 người khác

11-3-2026  07:59   

https://www.facebook.com/tuong.an.5/posts/pfbid0HaMYMmC2AW6QjFfNEexjtbTwHiJhYxjfBLBRwzV6wzLbh26qxvCC7oqcUVsVMi7Tl

 

HỘI THẢO CÙNG GIÁO SƯ VŨ TƯỜNG TẠI PARIS.

 

Ngày thứ bảy vừa qua, khi thời tiết đang chuẩn bị chuyển mùa, gió đã bớt lạnh, nắng xuân chiếu xuyên cành lá và tiếng bồ câu ríu rít đón Xuân về. Người Việt tại Paris đã lắng nghe giáo sư Vũ Tường chia sẻ về ký ức chiến tranh Việt Nam, các thể chế của chính quyền Việt Nam trong quá khứ để nhìn về một Việt Nam ngày nay.

 

Đôi nét về giáo sư Vũ Tường:

 

Giáo sư Vũ Tường là người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Việt–Mỹ tại Đại học Oregon, một cơ sở học thuật chuyên nghiên cứu về Việt Nam đương thời, quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam và cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Trung tâm trực thuộc Global Studies Institute.

 

Ông từng có thời gian nghiên cứu và giảng dạy tại Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Princeton, Đại học Quốc gia Singapore và Trường Cao học Hải quân Hoa Kỳ.

 

Ông là tác giả kiêm đồng chủ biên của chín cuốn sách cùng nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành, tham gia ban biên tập của nhiều tạp chí và thường xuyên được các cơ quan truyền quốc tế tham vấn về tình hình chính trị Việt Nam.

 

Một số nhà hoạt động Việt Nam cũng từng làm học trò của ông.

 

Trong buổi hội thảo, một đoạn trong cuốn phim " Chiến tranh Việt Nam , những chuyện chưa kể" của nhà làm phim Phạm Văn Nam cũng được trình chiếu.

 

Suốt 4 tiếng đồng hồ, lịch sử Việt Nam được kể lại, những ký ức được nhắc nhở, những vùng tối của lịch sử được soi rọi đồng thời cũng mở ra nhiều chi tiết mới để học hỏi.

 

Một buổi hội thảo vô cùng hữu ích.

 

-----------------------

youtube.com

Buổi Hội thảo cùng Giáo sư Vũ Tường tại Paris

SBTNOfficial

Mar 30, 2026

https://www.youtube.com/watch?v=n3i_n3Gwb0s

.

346 views Mar 30, 2026 #SBTN #SBTNgo #sbtnpscd

Ngày thứ bảy 28 tháng 3 vừa qua, người Việt tại Paris và vùng phụ cận đã có dịp lắng nghe giáo sư Vũ Tường (đến từ Hoa Kỳ) trình bày về ký ức chiến tranh Việt Nam, chế độ VNCH và cộng sản cũng như cái nhìn về VN hôm nay, đồng thời chiếu phim "Việt Nam, những chuyện chưa kể" của nhà làm phim Nam Phạm. Từ Paris, phóng viên Tường An gửi về nội dung của buổi hội thảo cũng như ý kiến của khách tham dự.

 

Quý vị hãy ủng hộ SBTN bằng cách liên lạc với các hãng Cable địa phương hoặc Directv ở số 1 866 687 7109 để bắt đài SBTN hoặc có thể xem SBTN qua hệ thống SBTN GO với giá $9.99 một tháng hoặc $99.99 một năm. Xin hãy vào trang nhà WWW.SBTNGO.COM để biết thêm chi tiết. Quý vị có thể download SBTN Go App trên Iphone, Ipad, Android phone, Chromecast, Apple TV, Android TV, Amazon Fire TV, Roku TV và Xbox One.

 

Những sản phẩm lưu niệm của SBTN. quý vị có thể mua ủng hộ để chúng tôi tiếp tục gìn giữ và bảo tồn văn hóa Việt Nam tại hải ngoại. www.sbtnhomeshopping.com  https://teespring.com/stores/sbtn

 

#SBTN #SBTNgo #sbtnpscd

 

 

SBTNOfficial

502K subscribers

 

 

 

 

 

 

 

 


CUỘC TRANH LUẬN 'NGA CÓ THUỘC CHÂU ÂU HAY KHÔNG' ĐÃ KÉO DÀI 3 THẾ KỶ (Alexey Gromyko, Khương Phong | Guancha)

 



Cuộc tranh luận 'Nga có thuộc Châu Âu hay không?' đã kéo dài ba thế kỷ

Alexey Gromyko, Khương Phong锋对话阿列克谢·罗米柯:欧盟外长称俄罗斯为地区大国这是不专业的宣传Guancha

Lê Thị Thanh Loan, biên dịch

30/03/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/03/30/cuoc-tranh-luan-nga-co-thuoc-chau-au-hay-khong-da-keo-dai-ba-the-ky/

 

Tháng 3/2026, bối cảnh an ninh châu Âu trải qua biến động sâu sắc nhất kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Khi cuộc khủng hoảng Ukraine bước sang năm thứ tư, sự đối đầu trực diện giữa NATO và Nga tiếp tục leo thang, trong khi đề xuất của Pháp về việc mở rộng “ô bảo hộ hạt nhân” càng khiến vấn đề tự chủ quốc phòng của châu Âu trở nên phức tạp và khó lường. Trong bối cảnh này, việc làm thế nào để vượt lên trên các xung đột địa chính trị ngắn hạn và xem xét lại mối quan hệ lịch sử phức tạp kéo dài hàng thế kỷ giữa Nga và lục địa châu Âu đã trở thành một vấn đề then chốt liên quan đến sự ổn định toàn cầu trong tương lai.


Cuộc tranh luận 'Nga có thuộc châu Âu hay không?' đã kéo dài ba thế kỷ

https://www.youtube.com/watch?v=fJgY_Ei46W4

 

Liên quan đến các vấn đề cốt lõi như tiến trình lịch sử của bản sắc Nga và châu Âu, những thách thức nội bộ và bên ngoài mà châu Âu hiện đang phải đối mặt, triển vọng chấm dứt cuộc khủng hoảng Ukraine, cũng như trách nhiệm của các cường quốc trong việc ngăn thế giới rơi vào tình trạng hỗn loạn, Giáo sư Khương Phong – chuyên gia khách mời của Đối thoại Bắc Kinh, Chủ tịch Hội đồng Viện Nghiên cứu Quản trị Toàn cầu và Khu vực (Thượng Hải) – đã có cuộc trao đổi chuyên sâu cùng ông Alexey Gromyko – Viện trưởng Viện nghiên cứu châu Âu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga – trong khuôn khổ “Đối thoại Tam Á Trung Quốc – Nga 2026” tại Hải Nam.

 

Cuộc tranh luận “Nga có thuộc Châu Âu hay không?” đã kéo dài suốt ba thế kỷ

 

Khương Phong: Tôi rất hân hạnh được trao đổi với ông Gromyko nhân dịp “Đối thoại Tam Á Trung Quốc – Nga 2026”. Xin ông chia sẻ quan điểm về tình hình quốc tế hiện nay, đặc biệt là tình hình ở châu Âu.

 

Liên quan đến châu Âu, tôi muốn đề cập tới cuộc tranh luận giữa các nước trong Liên minh châu Âu (EU) về việc liệu Nga có thuộc châu Âu hay không. Theo quan điểm của nhiều học giả Trung Quốc, đây là cuộc tranh luận lịch sử trong nội bộ châu Âu mà đã nổi lên trở lại trong những năm gần đây và mang tính chủ quan rõ nét. Trước năm 2022, quan điểm chủ lưu ở châu Âu cho rằng Nga chắc chắn là một phần của châu Âu; Tổng thống Pháp Macron từng tuyên bố Nga và châu Âu cùng chia sẻ lịch sử và di sản văn học. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng Ukraine, quan điểm chủ lưu ở châu Âu đã thay đổi, và nhiều người hiện cho rằng Nga không thuộc châu Âu. Ông có quan điểm ra sao về vấn đề này?

 

Gromyko: Trước hết, tôi rất vinh dự được trò chuyện với ông, cũng như có cơ hội tham gia “Đối thoại Tam Á Trung Quốc – Nga” lần thứ ba cùng với rất nhiều chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quan hệ quốc tế.

 

Thứ hai, vấn đề giữa Nga và châu Âu quả thực là mối bận tâm cốt lõi của nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia chính trị Nga trong lĩnh vực quan hệ quốc tế và bản sắc dân tộc.

 

Cuộc tranh luận hay thảo luận xoay quanh bản sắc Nga và châu Âu đã có lịch sử kéo dài hơn hai thế kỷ. Nguồn gốc của nó có thể được truy ngược về quá khứ xa xưa, khi Peter Đại đế[1] đưa Nga trở thành một trong những trung tâm quyền lực ở châu Âu. Trước đó, tuy lãnh thổ nằm một phần ở châu Âu và một phần ở châu Á, nhưng Nga không được nhìn nhận như một cường quốc châu Âu. Kể từ khi Peter Đại đế đánh bại Đế quốc Thụy Điển trong Chiến tranh phương Bắc, Nga bắt đầu tiến trình hội nhập sâu rộng vào châu Âu. Do đó, cuộc tranh luận này đã kéo dài trong suốt ba thế kỷ. Cốt lõi của nó nằm ở chỗ, Nga là một quốc gia rất độc đáo, với bản sắc, văn hóa và văn minh mang dấu ấn riêng biệt so với hầu hết các quốc gia châu Âu khác.

 

Nếu được đặt ở trung tâm châu Âu hoặc vùng ngoại vi của nó, vấn đề bản sắc sẽ đơn giản hơn nhiều. Thế nhưng, ở Nga tồn tại hai truyền thống triết học và lịch sử lâu đời, cùng hai trường phái tư tưởng tương ứng, đó là phái Slav và phái phương Tây.

 

Tuy vậy, nếu lấy Anh hoặc Tây Ban Nha làm ví dụ, bản sắc của họ cũng không hoàn toàn thuần túy là châu Âu. Chẳng hạn, ở Anh vẫn luôn tồn tại tranh luận về việc quốc gia này – xét trên phương diện văn hóa và xã hội – gần gũi với lục địa châu Âu hay với Mỹ hơn. Một ví dụ khác là Tây Ban Nha – quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Hồi giáo trong thời Trung cổ. Ở Ý, sự khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam cũng rất đáng kể. Có thể tìm thấy những khác biệt nội tại tương tự ở nhiều quốc gia châu Âu khác.

 

Tuy nhiên, trường hợp của Nga lại có tính đặc thù hơn: Về mặt địa lý, nước này mang đặc điểm của cả châu Âu và châu Á; điều tương tự cũng đúng với truyền thống văn hóa và tôn giáo, cũng như các mối liên hệ lịch sử với phương Đông và phương Nam.

 

*

Khương Phong: Xét từ góc độ lịch sử, Đức và Nga có mối quan hệ rất mật thiết. Nữ hoàng Catherine II[2] vốn là người gốc Đức, và dưới sự trị vì của bà, Nga đã mở rộng lãnh thổ và củng cố vị thế cường quốc châu Âu. Heinrich Karl vom und zum Stein – Thủ tướng nổi tiếng của Phổ – cũng từng phục vụ Sa hoàng Alexander I. Trong nhật ký của mình, ông đề cập rằng trong quân đội Nga có rất nhiều sĩ quan là người Đức, đồng thời ca ngợi chiến thắng của Nga trước Napoleon năm 1812 là động lực quyết định trong việc giải phóng châu Âu và cứu vãn tự do cho lục địa. Có nhận định cho rằng, vào khoảng năm 1812, gần một nửa sĩ quan của Nga là người Đức. Xin ông chia sẻ quan điểm của mình về khía cạnh lịch sử này.

 

Gromyko: Đúng vậy, hàng chục nghìn người Tây Âu đã phục vụ trong quân đội Nga hoặc các lĩnh vực nghề nghiệp khác. Từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19, trong các nhóm người nước ngoài phục vụ các Sa hoàng và Hoàng đế Nga, đông nhất là người Đức, người Scotland và người Pháp. Trong một thời gian dài, giới tinh hoa Nga sử dụng thông thạo tiếng Đức. Vào thế kỷ 19, tiếng Pháp là ngôn ngữ nước ngoài phổ biến nhất trong giới thượng lưu Nga. Chẳng hạn, những trang đầu tiên của tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của Leo Tolstoy được viết bằng tiếng Pháp.

 

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, đối với những người Nga thông thạo tiếng Đức hoặc tiếng Pháp vào thế kỷ 18 và 19, và tiếng Anh vào thế kỷ 20, việc sử dụng những ngôn ngữ này không đồng nghĩa với việc lệ thuộc vào các quốc gia và nền văn hóa ngoại lai. Điều này phản ánh tính cởi mở và phổ quát của văn hóa và văn minh Nga – một trong những chủ đề yêu thích của Fyodor Dostoevsky. Thế nhưng ngày nay, chúng ta thấy châu Âu – nơi từng là một trong những khu vực cởi mở nhất thế giới – ngày càng tự coi mình như một “pháo đài” bị kẻ địch bao vây tứ phía. Đây là một sự thay đổi căn bản. Nếu xem xét hành vi địa chính trị của phương Tây châu Âu ngày nay, tình hình khá đáng quan ngại.

 

“Phương Tây châu Âu” mà tôi đề cập đến hiện coi Nga là mối đe dọa chính, đồng thời cũng coi Trung Quốc là mối đe dọa, và giờ đây thậm chí cả Mỹ cũng bị nhìn nhận theo cách tương tự.

 

Đây là một hiện tượng kỳ lạ ở châu Âu. Có lẽ nó là một hiện tượng tự nhiên. Khi xã hội đối mặt với tình trạng trì trệ và tăng trưởng kinh tế chậm, dòng người nhập cư lại không ngừng đổ về cùng vô số vấn đề nội bộ, thì việc quy trách nhiệm cho thế giới bên ngoài để che giấu điểm yếu của chính mình thường trở thành lựa chọn thuận tiện về mặt chính trị. Lịch sử đầy rẫy những ví dụ về sự biến đổi này, và thật không may, đây chính xác là những gì chúng ta đang chứng kiến ​​ở phương Tây châu Âu hiện nay.

 

Giá trị quan bị ý thức hệ hóa và chính trị hóa là thách thức nội bộ chủ yếu của châu Âu

 

*

Khương Phong: Xin ông phân tích thêm về những thách thức nội bộ và bên ngoài mà châu Âu hiện đang phải đối mặt.

 

Gromyko: Thông thường, các vấn đề nội bộ bắt nguồn từ chính mô hình phát triển sai lầm. Cần cải thiện chính bản thân mình để giải quyết những vấn đề này. Tuy nhiên, nếu không muốn thay đổi, bước tiếp theo thường là quy kết nguyên nhân cho các thế lực bên ngoài, rồi sau đó là bắt đầu tìm kiếm kẻ địch, đổ lỗi cho các quốc gia, tổ chức khác, hoặc thậm chí là cho cả những mối đe dọa tưởng tượng. Đó là lý do tại sao Nga, và đôi khi là Trung Quốc hoặc Mỹ, bị cáo buộc là gốc rễ của các vấn đề nội bộ của châu Âu. Tuy nhiên, các vấn đề chủ yếu lại bắt nguồn từ nội tại.

 

*

Khương Phong: Vậy, những thách thức nội bộ chính mà châu Âu hiện đang phải đối mặt là gì?

 

Gromyko: Có rất nhiều thách thức. Thứ nhất, trong 10 đến 15 năm qua, châu Âu ngày càng “an ninh hóa” và “địa chính trị hóa” mô hình phát triển của mình. Sau năm 1945, Tây Âu đạt được thịnh vượng nhờ mô hình nhà nước phúc lợi, nền kinh tế thị trường xã hội và thương mại toàn cầu. Thế nhưng ngày nay, tư duy này phần lớn đã bị lãng quên. Hiện nay, nhiều chính trị gia cho rằng, an ninh, chứ không phải chất lượng cuộc sống, mới là điều quan trọng nhất. Ngay cả khi điều đó dẫn tới sự suy giảm mức sống, người dân vẫn phải chấp nhận. Đây là một logic hết sức sai lệch.

 

Thứ hai, châu Âu đã áp dụng chính sách mang tính tự do cực đoan đối với vấn đề nhập cư. Thứ ba, họ đã có cách tiếp cận quá cấp tiến đối với cái gọi là chuyển đổi xanh. Kinh tế xanh là một ý tưởng hay, nhưng họ đã chọn cách thức thực thi nhanh chóng và cấp tiến quá mức. Đồng thời, họ đã cắt đứt quan hệ kinh tế với Nga, mặc dù Nga là nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy trong hơn 50 năm và có thể hỗ trợ cho sự thành công của quá trình chuyển đổi xanh. Đường ống dẫn khí Nord Stream đã bị phá hoại, nhưng phía châu Âu lại tỏ ra không rõ thủ phạm, ngoài việc quy trách nhiệm cho một vài người Ukraine “ngoài tầm kiểm soát”. Một vấn đề khác là xu hướng ngày càng gia tăng trong việc sử dụng các giá trị quan mang tính ý thức hệ hóa và chính trị hóa trong quan hệ với các quốc gia khác.

 

*

Khương Phong: Những giá trị quan đã bị an ninh hóa này cũng đang được áp dụng vào chính xã hội châu Âu.

 

Gromyko: Đúng vậy. Trong nhiều thế kỷ, châu Âu từng là hình mẫu của những nguyên tắc thiêng liêng về thị trường tự do, thương mại tự do và quyền sở hữu tư nhân.

 

Nhưng hiện nay, những nguyên tắc này đang bị xói mòn. Khi một quốc gia khác trở nên cạnh tranh hơn, phương Tây châu Âu thường đáp trả bằng các biện pháp trừng phạt thay vì cạnh tranh công bằng.

 

*

Khương Phong: Họ đang nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng này. Hiện nay, cục diện chính trị ở châu Âu có xu hướng phân mảnh rõ rệt và sự chia rẽ xã hội là một vấn đề lớn. Chúng ta hãy bàn luận về an ninh châu Âu. Ông nội của ông – Andrei Gromyko – một nhà ngoại giao và lý thuyết gia kiệt xuất – là người rất coi trọng châu Âu và có ảnh hưởng đáng kể đến chính sách châu Âu và cấu trúc an ninh châu Âu của Liên Xô. Ông cho rằng ba đóng góp chủ yếu của Andrei Gromyko đối với cấu trúc an ninh châu Âu là gì?

 

Gromyko: Andrei Gromyko quả đúng là một trong những kiến ​​trúc sư của chính sách đối ngoại Liên Xô trong nửa cuối thế kỷ 20. Ông gia nhập Bộ Ngoại giao Liên Xô năm 1939 và từ chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1985. Dựa trên những cuộc trò chuyện trong gia đình, các bài phát biểu và hồi ký của ông, tôi có thể nêu ra ba đóng góp quan trọng sau:

 

Đầu tiên, Liên Xô đã bình thường hóa quan hệ với hầu hết các quốc gia châu Âu và thừa nhận các đường biên giới sau chiến tranh, với đỉnh cao là việc ký kết Định ước cuối cùng Helsinki năm 1975.

 

Thứ hai, việc thiết lập quan hệ kinh tế và chính trị có lợi với các nước phương Tây không chỉ dừng ở việc công nhận đường biên giới, mà còn là việc vun đắp các mối quan hệ thực dụng, cân bằng và tôn trọng lẫn nhau với các quốc gia như Mỹ, Tây Đức, Anh, Pháp và Ý. Năm 1970, Liên Xô và Tây Đức đã ký “Hợp đồng thế kỷ”[3] đầu tiên – thỏa thuận “đổi khí đốt lấy đường ống”. Hơn 50 năm kể từ đó, Nga luôn là nhà cung cấp đáng tin cậy nhất về dầu mỏ, khí đốt tự nhiên và nhiều sản phẩm khác cho Đức và cả phần lớn châu Âu.

 

Cần nhắc lại rằng, kim ngạch thương mại của Nga với Trung Quốc hiện vào khoảng 230 đến 240 tỷ USD, trong khi ngay từ năm 2013, kim ngạch thương mại của Nga với một thị trường châu Âu duy nhất là EU đã gần 400 tỷ Euro, gần gấp đôi so với kim ngạch thương mại hiện nay với Trung Quốc. Điều này phản ánh rõ nét mối quan hệ đan xen sâu sắc giữa Nga và phương Tây châu Âu. Nó không chỉ đơn thuần là quan hệ phụ thuộc với một bên bán và một bên mua tài nguyên thiên nhiên, mà là sự phụ thuộc lẫn nhau ở mức độ cao trong nhiều lĩnh vực. Giờ đây, tất cả những điều này đã bị phá vỡ.

 

Thứ ba, thành tựu chủ yếu của Andrei Gromyko nằm trong lĩnh vực an ninh theo nghĩa rộng hơn. Chẳng hạn, trong việc thành lập Liên Hợp Quốc, “bộ ba quyền lực”[4] – các nhà lãnh đạo của Liên Xô, Mỹ và Anh – đã quyết định phần lớn hệ tư tưởng và cấu trúc của tổ chức này. Stalin, Roosevelt và Churchill đã gặp nhau tại Tehran năm 1943 và tại Yalta năm 1945. Cùng năm đó, lãnh đạo ba nước (Stalin, Truman và Churchill) lại gặp nhau tại Potsdam (trong thời gian hội nghị, Churchill được thay thế bởi Clement Attlee). Họ không chỉ thảo luận về cách giành chiến thắng trong chiến tranh, mà còn đề ra các thỏa thuận cho trật tự hậu chiến. Liên Hợp Quốc, cùng với Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an, đã được thành lập, và Hội đồng Bảo an có 5 thành viên thường trực.

 

Nhân tiện, ngay từ đầu, khu vực châu Âu đã nắm giữ đa số ghế trong Hội đồng Bảo an: Anh, Pháp và Liên Xô (nay là Nga) đều là thành viên thường trực.

 

Tiếp đó, dưới sự lãnh đạo của Gromyko, Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thực hiện cái gọi là chính sách “cùng tồn tại hòa bình”. Moscow cùng Mỹ thiết lập một hệ thống ổn định chiến lược, trong đó châu Âu giữ vai trò then chốt. Từ những năm 1960 đến những năm 1990, một loạt cơ chế kiểm soát vũ khí đã được thiết lập trên toàn cầu và ở châu Âu. Đáng tiếc là trong 25 năm qua, Mỹ và các nước châu Âu đã dần dỡ bỏ các cơ chế này.

 

Do đó, xét về quan hệ giữa Liên Xô/Nga và châu Âu trong nửa sau thế kỷ 20, những thành tựu quan trọng nhất của Andrei Gromyko với tư cách là một chính trị gia Liên Xô bao gồm việc công nhận đường biên giới, học thuyết chung sống hòa bình, quan hệ kinh tế cùng có lợi và hệ thống kiểm soát vũ khí.

 

Cấu trúc an ninh của châu Âu chỉ có thể được thiết lập cùng với Nga

 

*

Khương Phong: Đó đều là những đóng góp tuyệt vời. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng ngay cả hiện nay, an ninh chung vẫn là nền tảng bảo đảm cho hòa bình và thịnh vượng. Tuy nhiên, tình hình ở châu Âu đang thay đổi: An ninh không còn được đảm bảo và sự chung sống hòa bình ngày càng trở nên khó khăn. Vài ngày trước, tại Hội nghị An ninh Munich, tôi đã nghe Đại diện cấp cao phụ trách chính sách đối ngoại và an ninh của EU – bà Kaja Kallas – nói rằng Nga không còn là siêu cường và nền kinh tế của nước này đang sụp đổ. Điều này có hàm ý rằng Nga chỉ là một cường quốc khu vực mà châu Âu có thể đối phó được. Trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị An ninh Munich, Thủ tướng Đức Merz cũng đề cập rằng GDP của EU gấp 10 lần GDP của Nga, vì vậy châu Âu có thể đối phó được với Nga. Ông đánh giá như thế nào về những nhận định này?

 

Gromyko: Nếu Nga là một cường quốc khu vực, thì trớ trêu thay, theo logic thì phương Tây châu Âu có lẽ chỉ là một lực lượng “cận khu vực”. Vì vậy, đây là tuyên truyền, chứ không phải là đánh giá ​​chuyên môn. Mười năm trước họ nói một kiểu, giờ lại tuyên bố một kiểu khác, điều này thiếu tính chuyên nghiệp. Ở Nga, từ cấp độ lãnh đạo cao nhất đến giới học thuật, chúng tôi chưa từng hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá đến mức như vậy.

 

Ngay cả lập trường chính thức của Nga hiện nay cũng là Moscow sẵn sàng nối lại quan hệ với các quốc gia và thể chế châu Âu ở mức độ cần thiết, cũng như khôi phục thương mại và giao lưu. Ví dụ, không phải Nga đóng cửa không phận đối với người châu Âu, mà chính EU đã đóng cửa không phận dân dụng của mình đối với Nga. Đồng thời, họ cũng ngày càng vi phạm quyền sở hữu tư nhân của công dân Nga. Ở nhiều quốc gia châu Âu, trong đó có Phần Lan, họ có thể tịch thu tài sản của người Nga với lý do an ninh, điều này về bản chất là hành vi chiếm đoạt.

 

Những phát biểu của Kallas không cho thấy sự khôn ngoan hay tính chuyên nghiệp. Nhân tiện, đây cũng là một trong những vấn đề ở phương Tây châu Âu: Nhiều cá nhân thăng tiến trong bộ máy hiện nay không thực sự đáp ứng yêu cầu năng lực. Họ thường được bổ nhiệm không phải nhờ khả năng chuyên môn, mà là kết quả ngẫu nhiên khi những ứng viên mạnh hơn không nhận được sự ủng hộ của toàn bộ các quốc gia thành viên EU. Vì vậy, lựa chọn cuối cùng lại là những cá nhân thiếu năng lực, bản lĩnh và tính độc lập.

 

*

Khương Phong: Một số chuyên gia nghiên cứu về EU cho rằng, đây là một vấn đề mang tính thể chế trong cơ chế lựa chọn lãnh đạo của EU.

 

Gromyko: Những phát ngôn của Kaja Kallas không chỉ mâu thuẫn với Nga mà còn đi ngược lại lợi ích của chính châu Âu. Nga là một cường quốc xuyên khu vực và toàn cầu, là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, quốc gia có diện tích lãnh thổ lớn nhất thế giới, một trong những cường quốc quân sự và không gian hàng đầu, đồng thời sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú bậc nhất. Do đó, xét một cách khách quan, việc duy trì quan hệ với Nga sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho phương Tây châu Âu. Việc cắt đứt quan hệ với Nga chẳng khác nào tự bắn vào chân mình.

 

*

Khương Phong: Điều này dẫn tới một câu hỏi khác của tôi. Một số chính trị gia châu Âu cho rằng, cấu trúc an ninh của châu Âu nên được xây dựng để đối phó với Nga, chứ không phải hợp tác với Nga. Ông có quan điểm ra sao về vấn đề này?

 

Gromyko: Trong lịch sử, mỗi khi các quốc gia châu Âu cố gắng thực hiện điều này, những nỗ lực đó hoặc là thất bại thảm hại, hoặc là dẫn đến bạo lực và xung đột nghiêm trọng. Ví dụ, trong thập niên 1930, Liên Xô từng nỗ lực thuyết phục các nước như Pháp và Anh thiết lập một hệ thống an ninh tập thể tại châu Âu nhằm đảm bảo Đức Quốc xã và Ý phát xít sẽ không gây ra mối đe dọa đáng kể. Thế nhưng các nỗ lực đó đã thất bại: Họ quyết định thiết lập an ninh mà không cần Liên Xô, và chúng ta đều biết kết cục sau đó.

 

Trong một thời gian dài sau năm 1945, Tây Âu và Mỹ đã coi Liên Xô là kẻ địch, thay vì là đối tác. Tiến trình cùng Liên Xô xây dựng các quy tắc chung về kiểm soát vũ khí, chẳng hạn như làm thế nào để hạn chế vũ khí và tránh một cuộc chạy đua vũ trang, diễn ra rất chậm. Trên phương diện này, Liên Xô luôn duy trì thái độ tích cực trong suốt các thập niên 1950 và 60, cho đến các thập niên 1970, 80 và 90, bao gồm cả hợp tác trong khuôn khổ Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE). Hai bên đã cùng nhau đạt được nhiều thành tựu, và tình hình an ninh ở châu Âu về cơ bản đã được bình thường hóa, với điều kiện tiền đề là sự tham gia của Liên Xô.

 

Ngày nay, các nước Tây Âu đang lặp lại những sai lầm trong quá khứ: Tìm cách gạt Nga ra bên lề và xây dựng một cấu trúc an ninh mới mà không có Nga – điều mà không hề khả thi. Tuy vậy, họ vẫn coi Nga là nguồn đe dọa chủ yếu. Cuối cùng, điều này sẽ chỉ dẫn đến một “cơn ác mộng an ninh” do chính Tây Âu tự tạo ra – một sản phẩm của định kiến lịch sử, nhận thức chủ quan méo mó và tuyên truyền. Tuy nhiên, tôi cho rằng theo thời gian, sẽ có ngày càng nhiều người quay trở lại với lý trí. Điều này sẽ không diễn ra ngay lập tức, nhưng trong 5 hoặc 10 năm tới, những nguyên tắc từng mang lại lợi ích to lớn cho Nga và các quốc gia châu Âu khác sẽ được nhìn nhận lại.

 

*

Khương Phong: Vậy ý ông là cần quay trở lại với cấu trúc an ninh chung của châu Âu?

 

Gromyko: Hoàn toàn chính xác.

 

*

Khương Phong: Cựu Thủ tướng Đức Gerhard Schröder cho rằng, an ninh châu Âu chỉ có thể được xây dựng cùng với Nga, chứ không phải chống lại Nga. Ông nhận định rằng, cuộc chiến ở Ukraine phản ánh sự thất bại của chính trị châu Âu trong việc thiết lập một cấu trúc an ninh hợp lý sau Chiến tranh Lạnh. Trước năm 2022, Tổng thống Pháp Macron và Tổng thống Đức Steinmeier cũng từng ủng hộ việc xây dựng an ninh châu Âu trên cơ sở hợp tác với Nga, dù sau đó đã có sự điều chỉnh. Ông đánh giá thế nào về điều này?

 

Gromyko: Đúng là Schröder và một số người khác tin vào điều này. Họ kế thừa di sản tư tưởng của nhiều chính khách như Willy Brandt, Charles de Gaulle, Harold Wilson, Olof Palme, Mauno Koivisto, Richard Nixon, Henry Kissinger và Aldo Moro[5].

 

Xung đột Nga – Ukraine có thể kết thúc trong năm nay, nhưng tiến trình hòa bình sẽ cần thêm thời gian

 

*

Khương Phong: Ông cho rằng cuộc xung đột Ukraine có thể kết thúc trong năm nay. Tại sao ông lại lạc quan như vậy?

 

Gromyko: Lịch sử đã chứng minh rằng, mọi cuộc xung đột sớm muộn đều sẽ kết thúc. Vấn đề là không nên kéo dài xung đột một cách không cần thiết. Khi xung đột bước vào giai đoạn quân sự, tất cả các bên cần nỗ lực tối đa để rút ngắn giai đoạn này.

 

*

Khương Phong: Theo ông, bên nào sẽ thắng trong cuộc chiến này?

 

Gromyko: Đây là một chủ đề nóng ở châu Âu. Ở Tây Âu, nhiều người vẫn cho rằng Nga có thể bị đánh bại trên chiến trường. Tuy nhiên, việc đánh bại một quốc gia hạt nhân là điều không khả thi, huống hồ là một siêu cường hạt nhân như Nga. Trong lịch sử, phần lớn các cuộc chiến không kết thúc bằng thắng lợi tuyệt đối của một bên, mà thường bằng các thỏa hiệp có thể chấp nhận được đối với tất cả các bên liên quan.

 

*

Khương Phong: Vậy theo ông, sự thỏa hiệp đó có bao gồm vấn đề lãnh thổ không?

 

Gromyko: Nếu chỉ xem đây là vấn đề lãnh thổ thì sẽ là một sự đơn giản hóa quá mức. Thực tế phức tạp hơn nhiều, lãnh thổ chỉ là một yếu tố trong đó. Từ thời Gorbachev và Yeltsin, đến Putin và Medvedev, rồi tiếp tục dưới thời Putin, mối bận tâm cốt lõi về an ninh của Nga luôn là sự mở rộng của NATO. Cuộc xung đột ở Ukraine không phải là một cuộc chiến song phương thuần túy giữa Moscow và Kyiv, mà là một cuộc chiến ủy nhiệm, với hàng chục quốc gia đứng về một phía chống lại Nga. Cuộc chiến này không thể được giải quyết chỉ trên cơ sở song phương. Nó có ba quỹ đạo, và cả ba quỹ đạo này đều cần được giải quyết:

 

Thứ nhất, quan hệ giữa Nga và Ukraine.

 

Thứ hai, quan hệ giữa Nga và phương Tây châu Âu, cụ thể là khu vực Tây Âu.

 

Thứ ba, quan hệ giữa Nga và Mỹ.

 

Đó là lý do tại sao việc giải quyết xung đột trở nên khó khăn: Nó rất phức tạp. Tuy nhiên, tôi cho rằng giai đoạn quân sự có khả năng kết thúc vào cuối năm nay.

 

*

Khương Phong: Đúng vậy, ông đã đề cập đến điểm này. Xin ông nói cụ thể hơn, mục tiêu của Nga là gì?

 

Gromyko: Trước đây, đã có các cuộc đàm phán, đầu tiên là tại Belarus, sau đó là tại Istanbul vào năm 2022. Trong năm qua, cũng đã diễn ra nhiều vòng đàm phán, bao gồm ở Istanbul, Abu Dhabi và gần đây nhất là Geneva. Trong các cuộc đàm phán này, Nga đã trình bày rõ những mục tiêu mà mình theo đuổi cũng như phương thức để đạt được chúng. Một số vấn đề vẫn còn tồn tại bao gồm: Quyền lợi của cộng đồng nói tiếng Nga ở Ukraine, vị thế của Chính thống giáo Ukraine, nhu cầu của Ukraine trong việc khôi phục trạng thái trung lập về quân sự, và việc Nga kiên định đòi công nhận đường biên giới mới của mình. Nếu có ý chí chính trị, và nếu châu Âu không liên tục tìm cách cản trở tiến trình đàm phán, thì có khả năng đạt được một giải pháp giai đoạn đầu vào cuối năm nay. Tuy nhiên, toàn bộ tiến trình hòa bình sẽ cần nhiều thời gian hơn, có thể bắt đầu trong năm nay nhưng sẽ kéo dài nhiều tháng, thậm chí trong suốt năm sau.

 

*

Khương Phong: Chúng ta hãy cùng hy vọng cuộc chiến này sẽ kết thúc trong năm nay. Một câu hỏi khác: Một số chính trị gia châu Âu, chẳng hạn như Thủ tướng Đức Merz, đã tuyên bố trước chuyến thăm Trung Quốc gần đây rằng, Trung Quốc đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình ngừng bắn này. Một số chính trị gia châu Âu thậm chí còn cho rằng, nếu Bắc Kinh gọi cho Moscow, thì Moscow sẽ ngừng chiến vì Nga không thể tiếp tục nếu không có sự hỗ trợ của Trung Quốc. Ông có đồng ý với nhận định này không?

 

Gromyko: Cách nói như vậy là thiếu thận trọng. Đó là biểu hiện của chủ nghĩa dân túy, thậm chí mang tính kích động, bởi một xung đột phức tạp như vậy không thể chấm dứt chỉ bằng một cuộc điện thoại. Mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Moscow không phải là kiểu mà một bên ra lệnh qua điện thoại, rồi mọi việc được hoàn tất ngay ngày hôm sau. Tuy nhiên, Trung Quốc luôn hiện diện, và tôi cho rằng nước này sẽ tiếp tục đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết xung đột.

 

Đồng thời, tôi muốn nhắc lại rằng, đây không chỉ đơn thuần là một cuộc xung đột song phương giữa Nga và Ukraine. Tôi cho rằng Nga và Trung Quốc đều là những cường quốc quan trọng trên thế giới, và thông qua việc thúc đẩy giải quyết xung đột Ukraine, hai nước nên góp phần làm dịu căng thẳng, từ đó tiến tới bình thường hóa quan hệ với phương Tây châu Âu, cũng như với Mỹ.

 

*

Khương Phong: Câu hỏi cuối cùng: Châu Âu hiện đang thảo luận về chiến tranh hạt nhân. Pháp, Anh, Đức và Ba Lan đã bắt đầu thảo luận về khả năng xây dựng năng lực răn đe hạt nhân chung. Họ tỏ ra đặc biệt lo ngại rằng Nga sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân. Ông nghĩ sao về điều này?

 

Gromyko: Đây là một dạng tuyên truyền khuếch đại. Tổng thống Vladimir Putin, Ngoại trưởng Sergey Lavrov, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng và toàn bộ các nhà hoạch định trong lĩnh vực quân sự – chính trị của Nga chưa từng tuyên bố sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân tại Ukraine. Điều đó chỉ có thể xảy ra trong những tình huống cực đoan về mặt lý thuyết: Hoặc một cuộc xâm lược thông thường của NATO vào Nga, hoặc một cuộc tấn công hạt nhân vào Nga và các đồng minh của nước này. Nhân tiện, ngưỡng sử dụng vũ khí hạt nhân được quy định trong học thuyết hạt nhân của Nga cao hơn ngưỡng do Mỹ đặt ra.

 

Châu Âu đang làm gì trong lĩnh vực quân sự hạt nhân? Pháp hy vọng sẽ tăng cường hợp tác hạt nhân với Anh và cũng muốn lôi kéo Đức tham gia – đây là quá trình mang tính hai chiều. Mặt khác, Ba Lan cũng bày tỏ mong muốn triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình. Đây đều là những động thái rất nguy hiểm bởi những tuyên bố như vậy đang làm suy yếu Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) và Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT). Nhiều quốc gia trên thế giới đang theo dõi chặt chẽ lời nói và hành động của các cường quốc hạt nhân. Hiện nay trên toàn cầu có 9 cường quốc hạt nhân, cũng như các quốc gia đang ở ngưỡng sở hữu vũ khí hạt nhân như Hàn Quốc, Nhật Bản và Úc, cùng Đài Loan (Trung Quốc). Tại châu Âu, một số quốc gia như Đức và Thụy Điển sở hữu đủ năng lực công nghệ để chế tạo vũ khí hạt nhân, nếu không có sự kiềm chế từ Mỹ, Nga và luật pháp quốc tế.

 

Cái gọi là “mối đe dọa từ Nga” hiện đã trở thành cái cớ để các nước phương Tây châu Âu hành động thiếu kiềm chế, thậm chí đến mức có khả năng dẫn đến nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân. Đồng thời, họ cũng lo ngại rằng mình không còn có thể dựa vào khả năng răn đe mở rộng của Mỹ, tức là ô bảo trợ hạt nhân của Mỹ.

 

Mới đây, Macron tuyên bố Pháp sẽ tăng số lượng đầu đạn hạt nhân, đồng thời sử dụng khái niệm “triển khai tiền tuyến”. Điều này ngụ ý rằng, ông không chỉ cân nhắc việc tăng quy mô kho vũ khí hạt nhân của Pháp, mà còn có ý định triển khai một phần vũ khí đó đến các quốc gia châu Âu khác. Điều này sẽ làm thay đổi căn bản cục diện an ninh hiện tại của châu Âu và giáng một đòn nặng nề vào hệ thống không phổ biến vũ khí hạt nhân. Do đó, ba cường quốc lớn hiện nay là Nga, Mỹ và Trung Quốc cần đóng vai trò dẫn dắt trong việc ngăn thế giới rơi vào tình trạng hỗn loạn lan rộng, đặc biệt là trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí và ổn định chiến lược.

 

*

Khương Phong: Xin cảm ơn ông về những chia sẻ và thời gian dành cho cuộc trao đổi.

 

Gromyko: Thật vinh hạnh khi có một cuộc đối thoại sâu sắc như vậy.

 

—————–

 

[1] Chỉ Peter I (9/6/1672 – 8/2/1725), người đã thông qua các cuộc cải cách mạnh mẽ và mở rộng quân sự, đánh bại Thụy Điển trong Chiến tranh phương Bắc kéo dài 21 năm, giành được quyền kiểm soát Biển Baltic và đăng quang Hoàng đế năm 1721, từ đó khai sinh ra Đế quốc Nga. Đồng thời, ông cũng dời đô đến St. Petersburg, mở thông các tuyến đường bộ và đường biển đến châu Âu, đưa Nga gia nhập hàng ngũ các cường quốc châu Âu và đặt nền móng cho vị thế cường quốc của nước Nga hiện đại.

 

[2] Catherine II (21/4/1729 – 6/11/1796): Nữ hoàng Nga, trị vì từ năm 1762 đến năm 1796. Bà kế thừa và phát triển sâu rộng các cuộc cải cách của Peter Đại đế, giúp nước Nga trở nên hùng mạnh và mở rộng lãnh thổ đáng kể, được tôn xưng là “Đại đế”.

 

[3] “Hợp đồng thế kỷ” đề cập đến thỏa thuận dài hạn được ký kết năm 1970 giữa Liên Xô và Cộng hòa Liên bang Đức về “đổi khí đốt lấy đường ống”. Đây là một sự hợp tác mang tính bước ngoặt, đánh dấu tiến trình hòa giải Đông – Tây trong thời Chiến tranh Lạnh. Liên Xô cung cấp khí đốt tự nhiên, trong khi Tây Đức cung cấp ống thép, thiết bị và các khoản vay, sử dụng thương mại năng lượng để thúc đẩy “Chính sách phương Đông” của Brandt. Thỏa thuận này đã tạo ra sự bổ sung lẫn nhau giữa tài nguyên của Liên Xô và công nghệ, vốn của Tây Đức, ràng buộc mối quan hệ kinh tế giữa hai nước và trở thành mô hình hợp tác kinh tế và thương mại Đông – Tây trong thời Chiến tranh Lạnh. Nó cũng đặt nền móng cho hợp tác năng lượng giữa Nga và Đức trong hàng thập kỷ sau.

 

[4] “Bộ ba quyền lực” chỉ lãnh đạo của ba cường quốc thuộc liên minh chống phát xít trong Thế chiến thứ hai: Roosevelt, Churchill và Stalin. Ba nhà lãnh đạo này lần lượt dẫn dắt các hội nghị quan trọng như Hội nghị Tehran năm 1943, Hội nghị Yalta năm 1945 và Hội nghị Potsdam năm 1945, qua đó quyết định cục diện của cuộc chiến và trật tự quốc tế thời hậu chiến, bao gồm cả việc thúc đẩy thành lập hệ thống Liên Hợp Quốc.

 

[5] Willy Brandt: Thủ tướng Tây Đức (1969-1974), theo đuổi Chính sách phương Đông mới, chủ trương xoa dịu quan hệ với Đông Âu và Liên Xô; Charles de Gaulle: Tổng thống Pháp (1958-1969), kiên định bảo vệ sự độc lập tự chủ của châu Âu và phản đối sự phụ thuộc vào Mỹ; Harold Wilson: Thủ tướng Anh (1964-1970, 1974-1976), chủ trương hòa giải châu Âu và ngoại giao thực dụng; Olof Palme: Thủ tướng Thụy Điển (1969-1976, 1982-1986), chủ trương trung lập, giải trừ quân bị và hòa bình ở châu Âu; Mauro Koivisto: Tổng thống Phần Lan (1982-1994), theo đuổi chính sách trung lập, láng giềng hòa thuận và duy trì sự ổn định ở Bắc Âu và châu Âu; Richard Nixon: Tổng thống Mỹ (1969-1977), thúc đẩy hòa giải Đông – Tây và ổn định an ninh châu Âu; Henry Kissinger: Ngoại trưởng Mỹ (1973-1977), theo đuổi chính sách ngoại giao cân bằng quyền lực và thúc đẩy sự hòa giải giữa Mỹ, Liên Xô và châu Âu; Aldo Moro: Thủ tướng Ý (1963-1968, 1974-1976), ủng hộ hội nhập châu Âu và ổn định nội bộ.

 

-------------------

Nguồn: Alexey Gromyko, Khương Phong, 锋对话阿列克谢·罗米柯:欧盟外长称俄罗斯为地区大国这是不专业的宣传Guancha, 23/03/2026.