Thursday, October 15, 2026

TIN & BÀI NGÀY 14/10/2026

 



 

 

14/10/2026

NHỮNG CUỘC CHIẾN MỚI TẠI KHU VỰC BIỂN ĐỎ (Alan Boswell – Foreign Affairs)

NHỮNG DIỄN BIẾN MỚI BẤT LỢI CHO UKRAINE (Phan Thế Hải / Báo Tiếng Dân)

CHỐNG CHIẾN TRANH HỖN HỢP : CHÂU ÂU THIẾU CƠ CHẾ hay THIẾU QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG? (Thùy Dương / RFI)

PHẢI GIẢI GIỚI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO! (Phạm Hồng Lam / Báo Tiếng Dân)

“THUYẾT CHIẾN THẮNG”, CHIẾN LƯỢC RĂN ĐE NGA CỦA NATO (Anh Vũ / RFI)

VÔ ƠN, BẤT NGHĨA và QUYỀN ĐƯỢC TIẾC THƯƠNG (Trân Văn / Người Việt)

THẾ GIỚI HÔM NAY : 14/10/2026 (The Economist)

NGƯỜI VIỆT ONLINE – NGÀY 14/10/2026

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt – NGÀY 14/10/2026

ĐÀI PHÁT THANH QUỐC TẾ PHÁP – RFI | NGÀY 14/10/2026

BBC NEWS TIẾNG VIỆT – NGÀY 14 THÁNG 10 NĂM 2026

BÀI MỚI NGÀY 14/10/2026 (Bauxite Việt Nam)

BÀI MỚI NGÀY 14/10/2026 (Báo Tiếng Dân)

TIN & BÀI NGÀY 13/10/2026






NHỮNG CUỘC CHIẾN MỚI TẠI KHU VỰC BIỂN ĐỎ (Alan Boswell – Foreign Affairs)

 



Những cuộc chiến mới tại khu vực Biển Đỏ

Alan Boswell   -  Foreign Affairs

Viên Đăng Huy, biên dịch  -  Nghiên Cứu Quốc Tế  

14/10/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/10/14/nhung-cuoc-chien-moi-tai-khu-vuc-bien-do/

 

Ngày 3 tháng Sáu, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio nói với Quốc hội rằng cuộc xung đột đã hoành hành suốt ba năm tại Sudan giờ đây là một “cuộc chiến ủy nhiệm”, đồng thời đổ lỗi cho Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) vì cản trở những nỗ lực của Mỹ nhằm chấm dứt chiến sự. Rubio đã nói ra điều mà nhiều nhà quan sát từ lâu đã nhận thấy: những gì khởi đầu như một cuộc tranh giành quyền lực trong nước đã biến thành một cuộc chiến khu vực rộng lớn hơn, lôi kéo các cường quốc bên ngoài và lan qua biên giới Sudan.

 

Sự lan rộng của cuộc xung đột tại Sudan là một phần của một chuyển dịch địa chính trị lớn hơn. Trong phần lớn thế kỷ qua, các nhà hoạch định chính sách coi vùng Sừng châu Phi và bán đảo Ả Rập là hai không gian chiến lược tách biệt, bị ngăn cách bởi Biển Đỏ. Sự phân biệt đó giờ đây đang mất dần ý nghĩa. Các cuộc chiến ở một bên Biển Đỏ ngày càng tác động đến những tính toán quân sự ở bờ bên kia. Sự đan xen này càng sâu sắc hơn sau quyết định của Mỹ và Israel hồi tháng Hai phát động chiến tranh với Iran, diễn biến làm rạn nứt thêm quan hệ vốn đã bất hòa giữa Abu Dhabi và Riyadh, làm suy yếu trật tự an ninh khu vực do Mỹ làm trụ cột, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an toàn cho Biển Đỏ đối với hoạt động vận tải biển.

 

Trong thập kỷ qua, UAE là quốc gia bên ngoài can dự quyết liệt nhất vào vùng Sừng châu Phi, thiết lập các cảng và căn cứ quân sự, cung cấp những gói tài chính lớn cho các đồng minh chủ chốt và can dự sâu vào cuộc nội chiến Sudan. Nhưng cuộc chiến gần đây với Iran, cùng với sự tan vỡ của quan hệ đối tác an ninh giữa UAE và Ả Rập Saudi tại Yemen hồi tháng Mười hai năm ngoái, đã khiến Riyadh bớt tin tưởng vào sự bảo vệ của Washington, lo ngại hơn về quan hệ an ninh giữa UAE và Israel, đồng thời quyết tâm hơn trong việc định hình cục diện an ninh Biển Đỏ. Vì vậy, khi Ả Rập Saudi nghiêng về một liên minh với Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan, nước này cũng đưa liên minh đó vào việc củng cố các quan hệ đối tác chủ chốt tại vùng Sừng. Riyadh đang tìm cách đối trọng với các phe phái tại đây được UAE hoặc Israel hậu thuẫn, ngay cả khi vẫn phải đối phó với các mối đe dọa từ Iran và các đồng minh của nước này, trong đó có lực lượng Houthi đang kiểm soát bờ biển Biển Đỏ của Yemen.

 

Đồng thời, nguy cơ xung đột đang gia tăng giữa Lực lượng Vũ trang Sudan (SAF), được Ả Rập Saudi và các đồng minh hậu thuẫn, với Ethiopia, một đồng minh của UAE, cũng như khả năng một cuộc chiến trực tiếp khác có thể nổ ra giữa Ethiopia và Eritrea. Một cuộc chiến mới giữa Ethiopia và Eritrea trên Biển Đỏ nhiều khả năng sẽ biến thành một cuộc xung đột khu vực, chồng lấn với cuộc chiến tại Sudan. Nó không chỉ bị làm trầm trọng thêm bởi rạn nứt hiện nay giữa UAE và Ả Rập Saudi, mà còn có thể khoét sâu thêm sự chia rẽ đó.

 

Một số chính phủ Trung Đông từng coi vùng Sừng châu Phi là một chiến trường ít rủi ro, nơi họ có thể cạnh tranh ảnh hưởng với chi phí tương đối thấp. Nhưng khi các cuộc chiến ở Trung Đông và vùng Sừng ngày càng gắn bó không thể tách rời, một không gian an ninh thống nhất đang hình thành. Trừ khi các nhà lãnh đạo ở cả Trung Đông lẫn vùng Sừng nhận ra những thế lưỡng nan an ninh của họ đã đan xen đến mức nào, bất ổn sẽ tiếp tục dội qua dội lại theo cả hai hướng, khiến những xung đột và tranh chấp chồng lấn ngày càng khó giải quyết.

 

SỰ PHÂN TÁCH QUYỀN LỰC

 

Ở một số khía cạnh, sự đan xen ngày càng sâu giữa vùng Sừng châu Phi và Trung Đông là sự trở lại với một trạng thái từng phổ biến trong lịch sử. Suốt hàng thiên niên kỷ, Biển Đỏ đã kết nối những vùng đất ngày nay là Djibouti, Eritrea, Ethiopia và Yemen, với con người, hàng hóa và các dòng ảnh hưởng văn hóa thường xuyên qua lại giữa hai bờ. Tiếng Amharic, ngôn ngữ chủ đạo của Ethiopia, và tiếng Tigrinya, được sử dụng rộng rãi ở Eritrea và miền bắc Ethiopia, đều thuộc nhóm ngôn ngữ Semit. Kitô giáo cũng lan truyền sớm tới khu vực nay là miền bắc Ethiopia, biến nơi đây thành quê hương của một trong những truyền thống Chính thống giáo lâu đời nhất thế giới.

 

Vào thế kỷ thứ sáu, một vị vua của Aksum, thuộc Ethiopia ngày nay, đã có thời gian ngắn chinh phục một phần lãnh thổ Yemen. Không lâu sau đó, Nhà tiên tri Muhammad cử một số tín đồ đầu tiên của mình vượt Biển Đỏ tới lánh nạn dưới sự bảo hộ của một vị vua Aksum theo Kitô giáo. Hồi giáo sau đó lan truyền qua biển và dọc theo bờ biển Ấn Độ Dương của châu Phi. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20, Đế quốc Ottoman cai trị lãnh thổ ở cả hai bên Biển Đỏ, còn các nhà cai trị Oman xây dựng một đế quốc nối bán đảo Ả Rập với phần lớn bờ biển Đông Phi, cuối cùng chuyển thủ đô từ Muscat sang Zanzibar. Những mối liên kết này kéo dài đến tận thời hiện đại. Khi vương quốc Ả Rập Saudi chinh phục vùng Hejaz ở phía tây bán đảo Ả Rập vào đầu thế kỷ 20, giới tinh hoa tại thành phố cảng Jeddah đã đưa gia đình vượt Biển Đỏ tới Cảng Sudan để lánh nạn. Và vào tháng Tư năm 2023, khi chiến tranh bùng nổ ở Khartoum, nhiều người Sudan đã tìm nơi trú ẩn tại Jeddah.

 

Tuy nhiên, từ thế kỷ 20, một sự tách biệt dần hình thành giữa hai bờ Biển Đỏ, khi chủ nghĩa thực dân châu Âu và các phong trào dân tộc chủ nghĩa cắt đứt những mối liên kết quản trị xuyên Biển Đỏ và Vịnh Aden. Các kết nối vẫn tồn tại: chẳng hạn, sau cú bùng nổ dầu mỏ những năm 1970 làm thay đổi các nền kinh tế vùng Vịnh, nguồn vốn từ Vịnh Ba Tư chảy sang các nước châu Phi lân cận, trong khi lao động và hàng hóa châu Phi đi theo chiều ngược lại; các nước Trung Đông cũng đóng vai trò đáng kể trong cuộc chiến giữa Ethiopia và Somalia trong thập kỷ đó. Nhưng khoảng cách chính trị giữa bờ Ả Rập và bờ châu Phi của Biển Đỏ càng mở rộng sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1990–1991 đã làm đảo lộn Trung Đông và mở rộng hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực, giúp các nước vùng Vịnh giảm bớt gánh nặng phải tự quản lý môi trường an ninh lân cận. Cũng vào khoảng thời gian đó, các thực thể chính trị ở vùng Sừng châu Phi bắt đầu phân mảnh. Sự sụp đổ của Somalia khiến Somaliland, một cựu thuộc địa của Anh dọc Vịnh Aden, tuyên bố độc lập năm 1991. Thay đổi chế độ ở Ethiopia dẫn đến việc Eritrea ly khai năm 1993, còn cuộc nội chiến ngày càng nghiêm trọng tại Sudan cuối cùng dẫn tới việc Nam Sudan tách ra năm 2011.

 

Mỹ đã thực hiện nhiều nỗ lực khó khăn và thường phản tác dụng nhằm xử lý những biến động này tại vùng Sừng châu Phi. Tuy nhiên, Washington hiếm khi coi vùng Sừng châu Phi và Trung Đông, hay vai trò của mình tại hai khu vực, là những vấn đề có liên hệ với nhau. Trong khi các nước vùng Vịnh tập trung vào những mối đe dọa từ Iran và Levant, vùng Sừng châu Phi lại chủ yếu bị chi phối bởi các cuộc nội chiến.

 

Các nhà lãnh đạo khu vực cũng không coi hai không gian này gắn bó mật thiết với nhau. Những nhà lãnh đạo Đông Phi như Tổng thống Ethiopia Meles Zenawi chủ yếu tìm kiếm ảnh hưởng trên lục địa châu Phi hơn là ở bên kia Biển Đỏ, đồng thời ủng hộ các thể chế như Liên minh châu Phi. Giới tinh hoa Kitô giáo có ảnh hưởng tại Ethiopia và Kenya, hai quốc gia mạnh nhất ở vùng Sừng châu Phi, ít gắn bó với thế giới Ả Rập. Quyền lực chính trị tại khu vực Vịnh Ba Tư tập trung ở Riyadh và các thủ đô vùng Vịnh như Abu Dhabi và Doha, chứ không phải dọc bờ Biển Đỏ. Khi Sudan chia tách, tiến trình này do Liên minh châu Phi dẫn dắt với sự hậu thuẫn của Mỹ và châu Âu, trong khi thế giới Ả Rập phần lớn đứng bên lề.

 

VÙNG SỪNG CHÂU PHI QUAY TRỞ LẠI

 

Trong những biến động của Mùa xuân Ả Rập, vùng Sừng châu Phi bắt đầu bị kéo trở lại phạm vi ảnh hưởng của Trung Đông. Một bước ngoặt quan trọng diễn ra vào năm 2011, khi Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ trở thành nhà lãnh đạo ngoài châu Phi đầu tiên tới thăm Mogadishu, thủ đô Somalia, trong gần 20 năm, trong nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ tại khu vực. Các cuộc nổi dậy cũng làm Yemen bất ổn và dẫn đến việc lực lượng Houthi chiếm phần lớn đất nước vào năm 2014. Quyết định của Ả Rập Saudi và UAE can thiệp quân sự chống lại Houthi năm 2015 càng làm tăng tầm quan trọng chiến lược của vùng Sừng châu Phi, bởi các nước vùng Vịnh cần các căn cứ quân sự và nhân lực để duy trì chiến dịch chống nhóm nổi dậy này. UAE đã mở một căn cứ quân sự trên bờ biển Eritrea, trong khi chế độ Omar al-Bashir ở Sudan đưa hàng chục nghìn binh sĩ thuộc Lực lượng Hỗ trợ Nhanh (RSF) bán quân sự sang Yemen để hỗ trợ nỗ lực của Ả Rập Saudi và UAE tại đây.

 

Cùng lúc đó, các nước Trung Đông bắt đầu nghi ngờ những cam kết an ninh của Mỹ đối với khu vực trong bối cảnh chính sách “xoay trục sang châu Á” được chính quyền Obama công khai thúc đẩy và hoạt động ngoại giao với Iran, khiến họ lao vào cuộc đua nhằm tự bảo đảm lợi ích của mình trên một không gian rộng lớn hơn. Các chính phủ Trung Đông trở nên bất an hơn và sự cạnh tranh giữa họ ngày càng gay gắt. Cuộc khủng hoảng nội bộ vùng Vịnh năm 2017, lên đến đỉnh điểm khi các nước láng giềng phong tỏa Qatar, đã nhanh chóng lan sang châu Phi, khi những khối bảo trợ lỏng lẻo cạnh tranh ảnh hưởng và Ả Rập Saudi cùng UAE gây sức ép buộc các nhà lãnh đạo vùng Sừng châu Phi phải chọn phe. UAE bắt đầu tiến hành những can thiệp chính trị ngày càng tham vọng trong khu vực: chẳng hạn, nước này đặt cược lớn vào nhà lãnh đạo Ethiopia Abiy Ahmed, người lên nắm quyền năm 2018, bằng cách hỗ trợ chính quyền của ông với khoản rót vốn ban đầu 3 tỷ USD và cung cấp viện trợ quân sự quan trọng khi ông phải đối mặt với cuộc nổi dậy ở vùng Tigray.

 

Cuộc chiến thảm khốc tại Sudan càng thúc đẩy quá trình hội nhập giữa vùng Sừng châu Phi và Trung Đông. Khi các cuộc biểu tình lớn năm 2019 đe dọa lật đổ chế độ Bashir ở Khartoum, Abu Dhabi và Riyadh đã hậu thuẫn một chính quyền quân sự lên nắm quyền. Sau khi hai nhà lãnh đạo của chính quyền quân sự quay sang đối đầu nhau năm 2023, UAE nổi lên như nhà bảo trợ chính của RSF, dù Abu Dhabi chính thức phủ nhận mức độ can dự của mình. Ả Rập Saudi cũng có quan hệ lịch sử với RSF và ban đầu tìm cách hòa giải giữa hai bên, nhưng mức độ can thiệp của UAE cuối cùng đã khiến Riyadh chuyển sang ủng hộ SAF một cách dứt khoát hơn. Ả Rập Saudi đã trở thành đồng minh quan trọng nhất của quân đội Sudan.

 

Trong năm qua, những tranh chấp tại vùng Sừng châu Phi bắt đầu lan ngược trở lại qua Biển Đỏ. Căng thẳng giữa Abu Dhabi và Riyadh về cuộc chiến Sudan dường như góp phần làm tan vỡ quan hệ đối tác giữa UAE và Ả Rập Saudi nhằm chống lại lực lượng Houthi. Vào tháng 12/2025, Ả Rập Saudi và chính phủ Yemen yêu cầu UAE rút khỏi nước này sau một cuộc tấn công bất ngờ gần biên giới Saudi của các lực lượng ly khai do UAE hậu thuẫn. Cũng trong tháng đó, Israel trở thành quốc gia đầu tiên công nhận nền độc lập của Somaliland. Ai Cập, Ả Rập Saudi, Thổ Nhĩ Kỳ cùng nhiều nước khác ở châu Phi và Trung Đông kịch liệt phản đối động thái này, trong khi UAE giữ im lặng, làm sâu sắc thêm căng thẳng trong nội bộ vùng Vịnh.

 

Rạn nứt giữa UAE và Ả Rập Saudi, vốn càng trầm trọng thêm bởi chính trị vùng Sừng châu Phi, đã cản trở một phản ứng tập thể của các nước vùng Vịnh sau khi Mỹ và Israel phát động chiến tranh với Iran hồi tháng Hai. Bản thân cuộc chiến này lại khiến vùng Sừng châu Phi và Trung Đông gắn kết chặt chẽ hơn. Ả Rập Saudi tìm cách tự bảo vệ mình thông qua các hiệp ước an ninh khu vực mới và những liên minh ngoại giao, trong khi UAE tăng cường quan hệ đối tác an ninh với Mỹ và Israel. Dù cả hai phía đều cố hạ thấp mức độ rạn nứt trước công chúng, tác động của nó vẫn lan sang bờ bên kia Biển Đỏ.

 

Ả Rập Saudi đã đẩy mạnh can dự vào cả Sudan lẫn Somalia, phối hợp với Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ. Sự hỗ trợ này dường như đã góp phần thúc đẩy những bước tiến gần đây của SAF trên chiến trường và khiến các nhà lãnh đạo SAF thêm cứng rắn trong việc tiếp tục bác bỏ các đề xuất đình chiến của Mỹ. Trong khi đó, chính phủ Somalia đang mở rộng quan hệ đối tác với những đồng minh chủ chốt của Ả Rập Saudi, trong đó có Pakistan. Ả Rập Saudi và Ai Cập cũng phản đối nỗ lực của Ethiopia nhằm giành lại một cảng biển có chủ quyền và thiết lập sự hiện diện hải quân trên Biển Đỏ, đồng thời tăng cường quan hệ với các nước láng giềng ven biển của Ethiopia. Mong muốn kiểm soát an ninh hàng hải tại Biển Đỏ của Ả Rập Saudi càng trở nên cấp bách sau khi cuộc tấn công của Mỹ và Israel khiến Iran bóp nghẹt eo biển Hormuz, buộc Riyadh phải chuyển phần lớn lượng dầu xuất khẩu qua eo biển Bab el-Mandeb.

 

Sự can dự ngày càng sâu của các nước Trung Đông vào vùng Sừng châu Phi làm gia tăng nguy cơ những xung đột nội bộ tại Ethiopia và Sudan hợp nhất thành một vùng chiến sự khu vực rộng lớn hơn. Việc UAE hỗ trợ quân sự cho RSF thông qua Ethiopia đã góp phần làm dấy lên sự ngờ vực giữa Khartoum và Addis Ababa. Trong khi đó, Ethiopia cáo buộc SAF cho hàng nghìn chiến binh trung thành với Mặt trận Giải phóng Nhân dân Tigray (TPLF) trú ẩn an toàn, lực lượng mà hồi tháng Tư đã trên thực tế hủy bỏ thỏa thuận hòa bình năm 2022 và giành lại quyền kiểm soát vùng Tigray của Ethiopia. Cuối tháng 9, với sự hậu thuẫn kín đáo từ Eritrea, TPLF phát động các cuộc tấn công quy mô lớn nhằm vào quân đội Ethiopia, đẩy khu vực trở lại chiến tranh. Đến đầu tháng 10, quân đội Ethiopia đã tái chiếm thủ phủ vùng Tigray, một động thái có thể chỉ khiến giao tranh dịch chuyển lên phía bắc, về hướng biên giới Eritrea – Ethiopia. Một cuộc chiến mới giữa Eritrea và Ethiopia trên thực tế sẽ đặt Ai Cập và Ả Rập Saudi đối đầu với UAE.

 

Trong khi đó, tại Somalia, những cuộc đấu tranh chính trị lâu đời ngày càng bị cuốn vào các xung đột an ninh đang mở rộng của Trung Đông. Việc Israel công nhận Somaliland, nằm gần eo biển Bab el-Mandeb ở Vịnh Aden, đã gây lo ngại sâu sắc tại Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ả Rập Saudi. Đáp lại, đầu năm 2026, Mogadishu ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng chính thức với Riyadh và hủy bỏ các thỏa thuận an ninh và kinh tế hiện có với Abu Dhabi.

 

UAE từ lâu đã gắn bó với Somaliland thông qua việc xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự quan trọng tại đây và cải tạo một cảng lớn ở Berbera; nước này cũng thiết lập một tiền đồn quân sự và tiếp quản cảng Bosaso ở vùng bán tự trị Puntland lân cận, nơi đã bất hòa với chính quyền liên bang Somalia trong nhiều năm. Khi lực lượng Houthi ở Yemen mở rộng hoạt động quanh eo biển Bab el-Mandeb và nối lại các cuộc tấn công nhằm vào Ả Rập Saudi, họ cũng được cho là đã tìm cách xây dựng những đầu mối riêng tại vùng Sừng, đặc biệt với nhóm nổi dậy Hồi giáo al-Shabab, lực lượng kiểm soát nhiều khu vực rộng lớn ở miền nam Somalia. Lực lượng Houthi đã đe dọa tấn công Somaliland nếu Israel thiết lập sự hiện diện tại đây, và các quan chức Mỹ khẳng định rằng nhóm này đã gửi vũ khí cho al-Shabab.

 

MỘT LIÊN MINH HOÀN THIỆN HƠN

 

Ở một mức độ nào đó, sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Đông vào vùng Sừng châu Phi đang lấp đầy khoảng trống do các bên khác để lại. Việc Mỹ nói chung rút lui khỏi hoạt động ngoại giao và viện trợ tại châu Phi đã khuyến khích các nhà lãnh đạo vùng Sừng tìm kiếm quan hệ đối tác ở nơi khác. Họ cũng cần bù đắp cho những sự rút lui cụ thể. Chẳng hạn, trong hơn 15 năm, Liên Hợp Quốc đã cung cấp hỗ trợ hậu cần cho một lực lượng quân sự của Liên minh châu Phi tại Somalia nhằm chống lại al-Shabab. Sứ mệnh này đã thành công trong việc giúp chiếm và giữ lãnh thổ. Nhưng vào tháng Bảy, chính quyền Trump tuyên bố sẽ ngăn Liên Hợp Quốc tiếp tục cung cấp hỗ trợ hậu cần cho sứ mệnh. Động thái này nhiều khả năng sẽ thúc đẩy sự can dự lớn hơn nữa của Thổ Nhĩ Kỳ, bên bảo trợ hàng đầu của chính phủ Somalia, cùng các nước đồng minh khác.

 

Việc vùng Sừng châu Phi tái hội nhập với Đại Trung Đông về bản chất không phải là một xu hướng tiêu cực. Các nhà lãnh đạo vùng Sừng có lý khi muốn đa dạng hóa đồng minh. Các khoản đầu tư từ những nền kinh tế do nhà nước dẫn dắt ở vùng Vịnh đã mang lại cho các nước vùng Sừng châu Phi một nguồn hỗ trợ kinh tế quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng. Các thủ đô Trung Đông cũng có thể đóng vai trò là những trung tâm then chốt cho hoạt động hòa giải xung đột. Chẳng hạn, năm 2024, Erdogan đã làm trung gian cho một thỏa thuận hòa hoãn giữa Ethiopia và Somalia.

 

Nhưng hiện nay, những lợi ích đó đang bị lấn át bởi thực tế rằng quá trình hội nhập giữa hai khu vực chủ yếu diễn ra thông qua chiến tranh ủy nhiệm và vũ khí. Vốn dĩ khó có khả năng vùng Sừng châu Phi và Trung Đông tiếp tục tách biệt như trong thế kỷ 20. Trong phần lớn lịch sử, Biển Đỏ đã kết nối các xã hội ở hai bên bờ, và ngày nay địa lý đang một lần nữa khẳng định vai trò của nó. Mối nguy lớn nhất sẽ xuất hiện nếu một số chính phủ Trung Đông tiếp tục hành xử như thể họ có thể hậu thuẫn các phe tham chiến khác nhau ở vùng Sừng châu Phi mà không phải gánh chịu hậu quả, và nếu các chính phủ vùng Sừng chủ yếu tìm kiếm sự bảo trợ từ Trung Đông để tự trang bị vũ khí chống lại các đối thủ địa phương.

 

Để chặn đứng quỹ đạo này, Ả Rập Saudi và UAE cần nhất trí cùng nhau hạ nhiệt các cuộc xung đột tại vùng Sừng châu Phi trước khi một cuộc chiến khu vực mới bùng nổ. Đối với Sudan, hai nước nên lùi lại khỏi những yêu sách tối đa và gây sức ép buộc các bên tham chiến mà mình hậu thuẫn chấp nhận một lệnh ngừng bắn và một chính phủ chuyển tiếp. Ả Rập Saudi và UAE cũng cần phối hợp để ngăn chặn một cuộc chiến xuyên biên giới mới liên quan đến Ethiopia: Abu Dhabi cần can ngăn mọi nỗ lực của Ethiopia nhằm mở rộng cuộc chiến với TPLF sang Eritrea và tới tận bờ Biển Đỏ, trong khi Riyadh nên ngăn các đồng minh chủ chốt của mình là Ai Cập, Eritrea và Sudan can thiệp vào nội bộ Ethiopia. Hai nước cũng có thể cùng nhau khởi động lại các cuộc đàm phán kín giữa chính phủ Somalia ở Mogadishu và chính quyền Somaliland tại Hargeisa về tranh chấp kéo dài giữa hai bên. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo tại chính vùng Sừng châu Phi có kinh nghiệm quản lý những mối quan hệ thù địch giữa các quốc gia để chúng âm ỉ thay vì bùng phát thành xung đột khu vực công khai. Họ nên ngay lập tức triệu tập một hội nghị thượng đỉnh khu vực giữa các nguyên thủ vùng Sừng châu Phi, đồng thời khuyến khích các đồng minh Trung Đông của mình áp dụng một cách tiếp cận tập thể hơn đối với an ninh khu vực.

 

Một phiên bản hội nhập khác, tồi tệ hơn, cũng hoàn toàn có thể xảy ra. UAE và Ả Rập Saudi có thể tiếp tục củng cố những vị thế riêng tại vùng Sừng châu Phi ngay cả khi hai thủ đô hàn gắn được một số bất đồng. Những cạnh tranh khác giữa các cường quốc Trung Đông, chẳng hạn giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar ở một phía với Israel và UAE ở phía kia, cũng có thể làm sâu sắc thêm các đường đứt gãy nội bộ của vùng Sừng. Bằng cách này hay cách khác, việc vùng Sừng châu Phi quay trở lại vũng lầy xung đột của Trung Đông nhiều khả năng là không thể đảo ngược. Câu hỏi giờ đây là liệu các cường quốc khác nhau có thể tìm được cách quản lý những lợi ích khác biệt để xoa dịu xung đột hay không, hay liệu, hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, họ sẽ tiếp tục nhận ra rằng những xung đột phát động ở một bên Biển Đỏ không còn bị giới hạn tại đó nữa, khiến hàng triệu dân thường trên khắp vùng Sừng châu Phi phải trả giá.

 

--------------------------

ALAN BOSWELL là Giám đốc Dự án phụ trách vùng Sừng châu Phi tại Tổ chức Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group) và là người dẫn chương trình The Horn, một trong các podcast của tổ chức này.

 

Nguồn: Alan Boswell, “The New Red Sea Wars”, Foreign Affairs, 06/10/2026

 

 

 

 


NHỮNG DIỄN BIẾN MỚI BẤT LỢI CHO UKRAINE (Phan Thế Hải / Báo Tiếng Dân)

 



Những diễn biến mới bất lợi cho Ukraine!

Phan Thế Hải 

13/10/2026

https://baotiengdan.com/2026/10/13/nhung-dien-bien-moi-bat-loi-cho-ukraine/

.

Đất nước Ukraine nhỏ bé, xinh đẹp và tội nghiệp đang phải hứng chịu cuộc chiến không cân sức với người khổng lồ hung hãn ấy là Nga. Gần như ngay lập tức, cả thế giới đứng về phía Ukraine, không chỉ bằng lời nói suông mà còn bằng tiền bạc, vũ khí và cả những thông tin tình báo quý giá.

 

Mỹ là một trong những quốc gia tiên phong trong việc tập hợp lực lượng ủng hộ Ukraine. Nhưng rồi, từ khi Trump bước vào Nhà Trắng nhiệm kỳ hai, mọi chuyện đã khác. Thoạt tiên là sự vô duyên, nhạt nhẽo trong những phát ngôn của người đứng đầu Nhà Trắng, bày tỏ sự đồng cảm với kẻ gây chiến.

 

Đặc biệt, gần đây, các sự kiện ngày 9–12/10/2026 cho thấy những rủi ro trên không còn chỉ là giả định. Ngày 9 & 10/10, Trump và Putin trao đổi về thỏa thuận cung cấp dầu diesel của Nga cho thị trường Mỹ và quốc tế; Mỹ nới lỏng một số hạn chế đối với nhiên liệu Nga. Động thái này gây phản ứng từ Ukraine và một số nghị sĩ Mỹ.

 

Ngày 10/10, Trump công khai kêu gọi Ukraine thay thế Tổng thống Volodymyr Zelensky, làm gia tăng căng thẳng giữa Washington và Kyiv. Sau đó Đức tái khẳng định sự ủng hộ đối với Zelensky.

 

Ngày 11–12/10, Trump tuyên bố có một thỏa thuận ngừng tấn công các cơ sở năng lượng. Tuy nhiên, Ukraine cho biết các cuộc tấn công của Nga vẫn tiếp diễn và yêu cầu Washington bảo đảm Moscow tuân thủ. Vì vậy, chưa thể coi tuyên bố này là một lệnh ngừng bắn đã được thực hiện hiệu quả.

 

Điểm đáng chú ý là Mỹ có thể vừa đóng vai trò trung gian hòa giải, vừa tạo ra sức ép đáng kể lên Ukraine. Trong khi đó, Putin vẫn có thể tận dụng các cuộc tiếp xúc với Trump để tìm kiếm lợi ích kinh tế và ngoại giao mà chưa cần đưa ra những nhượng bộ quân sự tương xứng.

 

Nếu xu hướng xích lại gần nhau giữa Trump và Putin tiếp tục, Nga có thể theo đuổi bốn mục tiêu chiến lược:

 

Thứ nhất, Nga giảm cô lập ngoại giao, khôi phục đối thoại cấp cao và từng bước bình thường hóa quan hệ với Mỹ.

 

Thứ hai, nới lỏng trừng phạt, tạo thêm nguồn thu từ năng lượng và giảm áp lực đối với nền kinh tế Nga vốn đang khốn đốn, bế tắc.

 

Thứ ba, đóng băng chiến tuyến theo điều kiện có lợi, giữ quyền kiểm soát thực tế đối với những vùng lãnh thổ đang chiếm giữ, nếu thỏa thuận không yêu cầu rút quân.

 

Thứ tư, làm suy yếu sự thống nhất của phương Tây, khiến Ukraine phải thương lượng trong bối cảnh Mỹ và châu Âu không hoàn toàn đồng thuận.

 

Đây là những lợi ích Nga có thể tìm kiếm, và những động thái của Trump đang tiếp tay cho việc theo đuổi những lợi ích đó. Tuy nhiên, trên thực tế, EU vẫn đang mở rộng các biện pháp trừng phạt nhằm vào công nghiệp quốc phòng Nga trong tháng 10/2026.

 

Ukraine còn có những cơ hội nào?

 

Thứ nhất, châu Âu vẫn có thể bù đắp phần hỗ trợ của Mỹ. Ukraine tăng cường hợp tác với Anh, Pháp, Đức, Ba Lan và các nước Bắc Âu; mở rộng sản xuất máy bay không người lái, đạn dược và hệ thống phòng không trong nước. Hạn chế là châu Âu cần thời gian, ngân sách và năng lực công nghiệp để thay thế những năng lực mà Mỹ đang cung cấp.

 

Thứ hai, Ukraine phải chấp nhận ngừng bắn có điều kiện. Kyiv có thể chấp nhận ngừng bắn mà không chính thức công nhận việc Nga sáp nhập lãnh thổ Ukraine. Đổi lại, Ukraine cần có cơ chế giám sát, cam kết hỗ trợ quân sự và biện pháp xử lý nếu Nga tái tấn công.

 

Thứ ba, không loại trừ khả năng tiếp tục chiến tranh tiêu hao. Ukraine duy trì phòng thủ, tăng khả năng tự sản xuất vũ khí và đánh vào các mục tiêu quân sự, hậu cần của Nga. Phương án này giúp Kyiv giữ quyền tự quyết nhưng đòi hỏi nguồn nhân lực, tài chính và viện trợ bền bỉ.

 

Thật xót xa cho một dân tộc phải trả giá quá đắt trong cuộc cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn. Nhưng điều khiến câu chuyện Ukraine trở nên đáng suy ngẫm không chỉ là sự bất cân xứng về sức mạnh, mà còn là câu hỏi: Một quốc gia có chủ quyền thực sự được tự quyết định vận mệnh của mình đến đâu khi lợi ích của các cường quốc va chạm?

 

Về lý thuyết, mọi quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền, nhưng khả năng bảo vệ chủ quyền rất khác nhau, tùy thuộc vào sức mạnh quốc gia. Hơn thế nữa, còn là sự khôn ngoan của những người đứng đầu.

 

 





CHỐNG CHIẾN TRANH HỖN HỢP : CHÂU ÂU THIẾU CƠ CHẾ hay THIẾU QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG? (Thùy Dương / RFI)

 



Chống chiến tranh hỗn hợp : Châu Âu thiếu cơ chế hay thiếu quyết tâm hành động ?

Thùy Dương  -  RFI

Đăng ngày: 13/10/2026 - 12:09

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20261013-ch%E1%BB%91ng-chi%E1%BA%BFn-tranh-h%E1%BB%97n-h%E1%BB%A3p-ch%C3%A2u-%C3%A2u-thi%E1%BA%BFu-c%C6%A1-ch%E1%BA%BF-hay-thi%E1%BA%BFu-quy%E1%BA%BFt-t%C3%A2m-h%C3%A0nh-%C4%91%E1%BB%99ng

 

Các vụ phá hoại, tấn công mạng, tung tin sai lệch và những hành động gây sức ép khó quy trách nhiệm chính thức đang đặt châu Âu trước thách thức an ninh ngày càng phức tạp. Trước nguy cơ « chiến tranh hỗn hợp », Liên Hiệp Châu Âu muốn tăng cường phối hợp ứng phó, nhưng vẫn phải giải quyết những bất đồng với NATO về phạm vi trách nhiệm và cách thức hành động.

 

https://s.rfi.fr/media/display/d0d52b20-a778-11f1-a558-005056bfb2b6/w:1024/p:16x9/AP26245403686411.webp

(Ảnh minh họa) - Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen và tổng thư ký NATO Mark Rutte tại Bruxelles, Bỉ, ngày 02/09/2026. AP Photo/Virginia Mayo - Virginia Mayo

 

Nhưng cụ thể, chiến tranh hỗn hợp là gì ?

 

Thực ra chiến tranh hỗn hợp không phải khái niệm mới có từ vài năm trở lại đây. Thuật ngữ này xuất hiện trong các nghiên cứu chiến lược từ cách nay 20 năm, lần đầu tiên được sử dụng chính thức tại Pháp là trong Sách trắng về quốc phòng và an ninh quốc gia năm 2013.

 

Theo giải thích của Thomas Gomart, giám đốc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), trong cuốn Guerres invisibles (Những cuộc chiến vô hình, Tallandier, 2021), được báo Pháp Le Monde trích dẫn, khái niệm chiến tranh hỗn hợp kết hợp « sự đe dọa chiến lược từ các quốc gia sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, các chiến dịch phối hợp giữa nhiều quân chủng, có sự tham gia của cả lực lượng đặc nhiệm và lính đánh thuê, cùng những hoạt động tung tin sai lệch trên quy mô lớn ».

 

Các chiến lược hỗn hợp kết hợp những phương thức hành động quân sự và phi quân sự, trực tiếp và gián tiếp, thường khó xác định được người đứng sau, đồng thời luôn được thiết kế để duy trì dưới ngưỡng mà đối phương có thể coi là đủ để đáp trả hoặc dẫn đến một cuộc xung đột công khai. Chiến tranh hỗn hợp cũng không nhất thiết bao gồm việc sử dụng vũ khí. Các hoạt động loan tin sai lệch, tấn công mạng và thao túng kinh tế cũng là một phần. Công nghệ dân sự và công nghệ quân sự không còn thực sự phân tách. Mọi bộ máy của Nhà nước đều có thể được huy động.

 

Elie Tenenbaum, nhà nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), đồng tác giả cuốn La Guerre de vingt ans (Cuộc chiến hai mươi năm, Robert Laffont, 2021) cùng Marc Hecker, trong Revue Défense nationale (Tạp chí Quốc phòng), cũng được Le Monde trích dẫn, giải thích rằng chiến tranh hỗn hợp từng được mô tả là « phi quy ước », « bất đối xứng », có « cường độ thấp » hoặc thuộc « thế hệ thứ tư ». 

 

Tuy nhiên, nhìn chung cho đến nay, khái niệm « chiến tranh hỗn hợp » dường như còn mơ hồ, bao hàm rất nhiều hiện tượng khác nhau : từ quân sự, ngoại giao, thông tin, không gian, đến kinh tế hay pháp lý …

 

 

Sự gia tăng các cuộc tấn công được xem là mang tính « hỗn hợp » thời gian qua nhắm vào nhiều nước châu Âu đã khiến Liên Hiệp Châu Âu thúc đẩy kế hoạch đối phó ra sao ?

Đúng vậy. Sự gia tăng các vụ việc này buộc Bruxelles đẩy nhanh một kế hoạch từng được chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen đề cập trong bài phát biểu về tình hình Liên Hiệp Châu Âu ngày 16/09. Bà đề xuất thành lập một « cơ chế an ninh khẩn cấp », theo kiểu Điều 4 của Hiệp ước NATO. Theo đó, khi một quốc gia thành viên yêu cầu, cơ chế này sẽ cho phép triệu tập 27 nước thành viên để phối hợp phản ứng trước một cuộc tấn công vẫn ở dưới ngưỡng cuộc xâm lược quân sự trực tiếp.

Tuy nhiên, những công tác chuẩn bị mà trang tin địa chính trị Politico tiết lộ cũng cho thấy sự bất đồng giữa các thành viên Liên Âu. Một số nước đặt câu hỏi về tính hữu ích của việc phát triển các cơ chế mới ở cấp độ châu Âu, trong khi Liên Minh Bắc Đại Tây Dương, mà đa phần các nước thuộc Liên Âu, cũng là thành viên, thì đã có sẵn các cơ chế tham vấn và phòng thủ.

 

 

NATO đã cảnh báo Bruxelles rằng cơ chế an ninh khẩn cấp của Liên Âu « cạnh tranh » với Liên Minh Bắc Đại Tây Dương. Cụ thể ra sao ?

Theo Le Figaro, hôm 28/09, tướng Mỹ Alexus Grynkewich, tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại châu Âu (SACEUR), đã đến Nghị Viện Châu Âu, ở Bruxelles, dự phiên điều trần trước một ủy ban, và ông đã thẳng thừng nói rằng Liên Hiệp Châu Âu và NATO phải tôn trọng phạm vi trách nhiệm của mỗi bên, không được lấn sân của nhau. Có như vậy, mọi việc mới được vận hành đúng chức năng và trật tự.

 

Tướng Grynkewich nhấn mạnh : « Bất cứ điều gì Liên Hiệp Châu Âu triển khai cùng các quốc gia thành viên cũng không nên cạnh tranh với NATO (…) bởi sẽ gây ra những hậu quả rất tiêu cực. Liên Âu không nên sao chép những gì NATO đã xây dựng trong suốt 77 năm qua trong khuôn khổ Liên minh : từ các cơ cấu tổ chức, năng lực cho đến quy trình hoạt động. Làm như vậy sẽ gây xáo trộn nhiều hơn là mang lại lợi ích ».

 

 

Trên thực tế, liệu Liên Âu có đủ cơ cấu tổ chức và quyết tâm cần thiết để triển khai biện pháp đáp trả, hay nhất thiết phải thông qua NATO ?

Theo phân tích của Tsiporah Fried, chuyên gia Pháp về chiến lược quân sự, quốc phòng và quan hệ xuyên Đại Tây Dương, trên trang tin địa chính trị Atlantico, thì dĩ nhiên là chiến dịch kết hợp các hành vi phá hoại, tấn công mạng, can thiệp và đe dọa quân sự đòi hỏi nhiều cấp độ ứng phó khác nhau. Do vậy, các quốc gia vẫn giữ những trách nhiệm cốt lõi trong các lĩnh vực an ninh quốc gia, tình báo, cảnh sát và tư pháp.

 

Về phần mình, Liên Âu có các công cụ kinh tế, pháp lý và điều phối đặc biệt phù hợp để bảo vệ các mạng lưới, cơ sở hạ tầng và chuỗi cung ứng. Trong khi đó, NATO cung cấp khuôn khổ quân sự về hoạch định, chỉ huy và phòng thủ tập thể.

 

Do đó, chuyên gia Tsiporah Fried nhấn mạnh rằng sẽ là sai lầm nếu dành toàn bộ những gì thuộc phạm trù « hỗn hợp » cho Liên Âu và coi mọi vấn đề quân sự là lĩnh vực riêng của NATO. Hai khía cạnh này có thể kết hợp trong cùng một chiến dịch, và chính việc phối hợp mới là thách thức thực sự. Theo bà, đây có lẽ cũng là một trong những mục tiêu của quy trình mới vừa được công bố.

 

Vấn đề là cơ chế mới của Liên Âu có cho phép chia sẻ nhanh hơn đánh giá về tình hình hay không ? Có giúp huy động sự hỗ trợ cụ thể hay không ? Có làm rõ ai là người ra quyết định và ai là người thực thi hay không ? Cơ chế có được diễn tập và phối hợp đúng cách với các cơ chế hiện hành hay không ?

 

Nếu có thì Liên Âu có thể có những đóng góp thực sự. Tuy nhiên, chuyên gia này lưu ý là quyết tâm chính trị trước hết vẫn thuộc về các quốc gia thành viên Liên Âu. Dù có một cơ chế chung ở cấp châu Âu thì từng nước vẫn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình.

 

 

Mọi người thường hay nhầm lẫn giữa các điều khoản của NATO và Liên Âu. Cụ thể các điều khoản này ra sao ?

Đây cũng chính là điều Tsiporah Fried, chuyên gia Pháp về chiến lược quân sự, quốc phòng và quan hệ xuyên Đại Tây Dương hết sức lưu ý. Theo phân tích của bà, Điều 4 của NATO quy định việc tham vấn khi một nước đồng minh cho rằng toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chính trị hoặc an ninh của mình bị đe dọa. Điều 5 của NATO quy định nghĩa vụ các nước đồng minh hỗ trợ quốc gia bị tấn công trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công vũ trang ; điều khoản này không nghiễm nhiên bắt buộc tất cả các nước phải đưa ra một phản ứng quân sự giống hệt nhau. Điều 4 của NATO không phải là điều kiện tiên quyết, bắt buộc, cũng không phải bước pháp lý đầu tiên dẫn đến việc áp dụng Điều 5.

 

Khoản 7 Điều 42 của Hiệp ước về Liên Âu cũng là một điều khoản về hỗ trợ trong trường hợp lãnh thổ một quốc gia thành viên bị tấn công vũ trang. Tuy nhiên, điều khoản này của Liên Âu không đơn thuần là bản sao của Điều 5 của NATO : cách diễn đạt và khuôn khổ thực thi có những điểm khác biệt, đồng thời hiệp ước quy định rằng các cam kết được thực hiện theo điều khoản này phải phù hợp với những cam kết trong khuôn khổ NATO, vốn vẫn là nền tảng phòng thủ tập thể đối với các thành viên của Liên Âu.

 

Trên thực tế, NATO cũng công nhận một số cuộc tấn công mạng nghiêm trọng và một số cuộc tấn công hỗn hợp có thể cấu thành một « cuộc tấn công vũ trang » theo nghĩa của Điều 5. Thế nên, đối với chuyên gia Tsiporah Fried, châu Âu không được để đối phương chắc chắn rằng chỉ vì được xếp vào diện « hỗn hợp » mà hành động đó dĩ nhiên sẽ nằm ngoài phạm vi phòng thủ tập thể của châu Âu.

 

 

Vậy đâu mới là điều thực sự còn thiếu để châu Âu ứng phó được với những hành động khiêu khích ngày càng gia tăng của Nga ?

Câu chuyện không chỉ là tái vũ trang châu Âu. Liên Âu còn phải có khả năng nhận diện một chiến dịch thù địch, bảo vệ các cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với công tác quốc phòng và duy trì hoạt động của đất nước khi những cơ sở hạ tầng này bị tấn công.

 

Điểm mới của cơ chế an ninh khẩn cấp của Liên Âu chủ yếu nằm ở mong muốn phối hợp chặt chẽ hơn các công cụ của Liên Âu với những công cụ của NATO. Theo chuyên gia Tsiporah Fried, sự phối hợp đó có lẽ là cần thiết : một chiến dịch hỗn hợp có thể bao gồm các khía cạnh dân sự, kinh tế, mạng và quân sự, vốn thuộc thẩm quyền của những cơ quan khác nhau và chịu sự điều hành của các hệ thống ra quyết định khác nhau.

 

Tuy nhiên, chỉ riêng điều đó không giải quyết được vấn đề cốt lõi. Trên hết, không nên nhầm lẫn giữa việc thiết lập một cơ chế và khả năng hành động. Nguy cơ là châu Âu tự trấn an và nghĩ rằng chỉ cần có một quy trình là đã giải quyết được vấn đề.

 

Tsiporah Fried nhắc lại là kể từ tháng 6 năm 2022, Liên Âu đã có một Khuôn  khổ phối hợp ứng phó với các chiến dịch hỗn hợp (Framework for a coordinated EU response to hybrid campaigns). Đây là một trong những thành phần trọng tâm của Bộ công cụ của Liên Âu ứng phó với chiến tranh hỗn hợp (EU Hybrid Toolbox), với mục tiêu chính xác là huy động các công cụ khác nhau của châu Âu, cả dân sự và quân sự. Vì vậy, vấn đề không nằm nhiều ở chỗ châu Âu có thêm một cơ chế mới hay không, mà là châu Âu muốn sử dụng cơ chế đó như thế nào và phối hợp nó ra sao với các cơ chế của NATO cũng như của các quốc gia thành viên.

 

Một quy trình có thể hữu ích : đó là xác định ai cần được cảnh báo, những thông tin nào cần được chia sẻ, những ai cần được triệu tập và trong thời hạn nào sẽ giúp tiết kiệm thời gian. Nhưng điều quan trọng là Liên Âu phải biết muốn đưa ra quyết định gì khi ngồi vào bàn họp.

Và theo chuyên gia Tsiporah Fried, đây mới chính là vấn đề thực sự. Câu hỏi đặt ra đối với châu Âu hiện nay không còn chỉ là khả năng phản ứng trước một hành động thù địch, mà còn là quyết tâm hành động ngay cả trước khi hành động đó gây ra hậu quả. Liên Âu muốn bảo vệ những lợi ích nào ? Muốn chấm dứt những hành vi nào ? Liên Âu sẵn sàng áp đặt những cái giá nào và chấp nhận những rủi ro nào để thực hiện điều đó ?

 

Kinh nghiệm gần đây cũng cho thấy vấn đề không chỉ xuất hiện khi châu Âu không phản ứng, mà còn khi phản ứng của châu Âu về cơ bản vẫn mang tính phòng thủ, chỉ giới hạn ở sự cố vừa xảy ra. Một chiến lược răn đe đáng tin cậy đòi hỏi phải có khả năng chuyển từ phản ứng sang hành động, kể cả bằng cách áp dụng những biện pháp khiến các chiến dịch của đối phương trở nên tốn kém hơn trước khi chúng được lặp lại.

 

Như John Walters, chủ tịch Viện Hudson (Hudson Institute), nhấn mạnh, việc xếp các hành động vào phạm trù « chiến tranh vùng xám » (grey zone war) không được dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của những hành vi thù địch, cũng không được trở thành cái cớ để trì hoãn vô thời hạn mọi biện pháp đáp trả.

 

Chuyên gia Tsiporah Fried về chiến lược quân sự, quốc phòng và quan hệ xuyên Đại Tây Dương kết luận châu Âu cần cho Nga hiểu rằng những chiến dịch hỗn hợp không giúp Matxcơva giành được lợi thế với chi phí thấp. Mà điều này thì đòi hỏi châu Âu phải có năng lực bảo vệ, tình báo và can thiệp, nhưng đồng thời cũng cần một quyết tâm chính trị đáng tin cậy.

 

-----------------------------

Các nội dung liên quan

Liên Hiệp Châu Âu lên án chiến tranh hỗn hợp của Nga tại Moldova

CHÂU ÂU - MOLDOVA - KHÍ ĐỐT

.

Phương Tây lo ngại cáp ngầm sẽ là mục tiêu mới của "chiến tranh hỗn hợp"

CÔNG NGHỆ - ĐỊA CHÍNH TRỊ

.

Châu Âu muốn tăng cường khả năng ứng phó chiến tranh hỗn hợp của Nga

LIÊN ÂU - NGA