Friday, September 4, 2026

TIN & BÀI NGÀY 3/9/2026

 



TIN & BÀI NGÀY 3/9/2026

 

 

3/9/2026

NGA – UKRAINE : KHI LÚA MÌ TRỞ THÀNH VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ (Minh Phương / RFI)

CANADA ĐỊNH HÌNH LẠI QUAN HỆ VỚI MỘT NƯỚC MỸ ĐANG ĐỔI HƯỚNG (Trần Giao Thủy / DCVOnline)

TỊCH THU ĐẤT ĐAI NHÂN DANH PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM (Christelle Nguyen / The Diplomat)

SÁU CỘT MỐC LỚN ĐÁNH DẤU QUAN HỆ MỸ – TRUNG : TỪ KỲ VỌNG HỢP TÁC ĐẾN ĐỐI ĐẦU THẾ KỶ (Minh Anh / RFI)

TRUMP DỌA TIẾP TỤC TẤN CÔNG IRAN “BẤT CỨ LÚC NÀO’. TEHERAN ĐÁP TRẢ “ĐÁNH BẠI” MỸ (Thùy Dương / RFI)

TRUNG QUỐC PHẪN NỘ VÌ ĐÀI LOAN ĐƯỢC MỜI THAM DỰ DIỄN ĐÀN CÁC ĐẢO QUỐC THÁI BÌNH DƯƠNG (Thanh Hà / RFI)

CHỦ TỊCH TQ TẬP CẬN BÌNH KÊU GỌI CHỐNG BÊN NGOÀI “CAN THIỆP” VÀO TRUNG ĐÔNG, MỞ RỘNG ĐẦU TƯ TẠI AI CẬP (Minh Anh / RFI)

DI SẢN CỦA MỘT TỔNG THỐNG KHÔNG PHẢI LÀ TÊN MÌNH ĐƯỢC GẮN Ở BAO NHIÊU NƠI (Dương Ngọc Hoài Linh)

NGÀY 2-9-1945 LÀ NGÀY “GIÀNH ĐỘC LẬP” HAY LÀ NGÀY MỘT CHÍNH QUYỀN BỊ THAY THẾ? (Dương Lệ Chi)

“MỌI NGƯỜI SINH RA ĐỀU BÌNH ĐẲNG” – LỜI HỨA VÀ GIỚI HẠN CỦA HAI BẢN TUYÊN NGÔN (Trần Quốc Sỉ / Báo Tiếng Dân)

NGƯỜI VIỆT ONLINE – NGÀY 3/9/2026

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt / NGÀY 3/9/2026

ĐÀI PHÁT THANH QUỐC TẾ PHÁP – RFI / NGÀY 3/9/2026

BBC NEWS TIẾNG VIỆT – NGÀY 3/9/2026

THẾ GIỚI HÔM NAY : 3/9/2026 (The Economist)

BÀI MỚI NGÀY 3/9/2026 (Bauxite Việt Nam)

BÀI MỚI NGÀY 3/9/2026 (Báo Tiếng Dân)

.

TIN & BÀI NGÀY 2/9/2026





NGA – UKRAINE : KHI LÚA MÌ TRỞ THÀNH VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ (Minh Phương / RFI)

 



Nga-Ukraina : Khi lúa mì trở thành vũ khí địa chính trị

Minh Phương  -  RFI

Đăng ngày: 03/09/2026 - 13:01  -  Sửa đổi ngày: 03/09/2026 - 15:49

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20260903-nga-ukraina-khi-l%C3%BAa-m%C3%AC-tr%E1%BB%9F-th%C3%A0nh-v%C5%A9-kh%C3%AD-%C4%91%E1%BB%8Ba-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B

 

Cảng Odessa, cảng Izmail cùng nhiều cơ sở sản xuất ngũ cốc của Ukraina, đã bị Nga oanh kích suốt hai tháng nay. Đáp lại, Kiev cũng tấn công cảng Novorossiysk của Nga. Hai nhà cung cấp lúa mì hàng đầu thế giới đang cố gắng làm suy yếu ​​năng lực xuất khẩu của đối phương, làm dấy lên lo ngại về giá cả và nguồn cung của loại lương thực vốn nuôi sống một phần ba dân số toàn cầu. Không chỉ vậy, cuộc chiến còn biến lúa mì trở thành một thứ vũ khí địa chính trị để thương lượng, mặc cả, lôi kéo các quốc gia phụ thuộc vào loại lương thực này.

 

Lúa mì, một loài cây có nguồn gốc từ Trung Đông và đã được canh tác từ hàng thiên niên kỷ, có khả năng thích nghi với nhiều kiểu khí hậu khác nhau, nhưng lại đặc biệt phát triển tốt ở những khu vực ôn đới. Vấn đề nằm ở chỗ một loại lương thực nuôi sống 35% dân số toàn cầu nhưng phần lớn lại chỉ do một nhóm nhỏ các nước sản xuất. Mười quốc gia bao gồm : Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Hoa Kỳ, Pháp, Ukraina, Úc, Pakistan, Canada và Đức, đã sản xuất đến hơn 80% sản lượng lúa mì toàn cầu. Trong đó chỉ riêng Nga đã chiếm 13,8% lượng xuất khẩu lúa mì trên thế giới. Kể từ khi tổng thống Vladimir Putin lên nắm quyền tại Nga vào cuối năm 1999, nước này không ngừng gia tăng ảnh hưởng của mình trên thị trường, để đến năm 2016 trở thành nước xuất khẩu lúa mì lớn nhất thế giới. 

 

Nga và nền “Ngoại giao lúa mì” 

 

Tận dụng điều đó, Matxcơva đã biến lúa mì thành một vũ khí ngoại giao thực sự. Bằng cách duy trì lượng cung ứng lớn cho các đối tác chiến lược, đặc biệt tại Bắc Phi, châu Phi hạ Sahara, Trung Đông và Trung Á, Matxcơva đã củng cố ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế và gây sức ép địa chính trị lên nhiều quốc gia phụ thuộc vào nguồn xuất khẩu của Nga.

 

Châu Phi đang trở thành một thị trường quan trọng đối với ngũ cốc của Nga. Trang Courrier International nhận định nhiều quốc gia trên lục địa này, kể cả những nước trước đây chưa từng mua lúa mì Nga, đã trở nên phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung này. Tình hình càng diễn biến nhanh hơn sau khi Nga tiến hành cuộc xâm lược Ukraina vào tháng 02/2022.

 

Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển, khi đó có 25 quốc gia châu Phi, trong đó có bốn thành viên của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA) là Benin, Togo, Burkina Faso và Senegal, phụ thuộc vào việc nhập khẩu lúa mì từ hai quốc gia tham chiến. Đặc biệt là Benin, khi mà toàn bộ lượng lúa mì nhập khẩu của nước này đều đến từ Nga.

 

Kể từ đó, hoạt động “ngoại giao lúa mì” của Nga đã từng bước phát huy tác dụng. Chẳng hạn, hồi năm 2024, báo chí Burkina Faso đã ca ngợi việc Matxcơva tặng 25.000 tấn lúa mì cho Burkina Faso. Theo trang Burkina 24, số lúa mì này được trao tặng trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh Nga-châu Phi diễn ra vào tháng 07/2023 tại Saint-Petersburg. Số lúa mì này được dành cho những người phải di dời trong nước và các nhóm dân cư dễ bị tổn thương khác.

 

Đến tháng Ba năm 2024, Zimbabwe cũng nhận được một khoản viện trợ từ Nga, gồm 25.000 tấn lúa mì và 23.000 tấn phân bón, nhằm ứng phó với hạn hán tàn khốc đang ảnh hưởng đến quốc gia này. Ngoài Zimbabwe và Burkina Faso, Mali, Eritrea, Cộng hòa Trung Phi và Somalia cũng đã nhận được ngũ cốc từ Nga.

 

Theo Alex Vines, giám đốc Chương trình châu Phi tại Chatham House, một tổ chức nghiên cứu chính sách có trụ sở tại Luân Đôn, việc Nga viện trợ phản ánh tham vọng chiến lược và chính trị nhiều hơn là một hành động thuần túy nhân đạo: “Đó là việc tưởng thưởng cho những đồng minh tốt nhất của Nga, hoặc những quốc gia mà Nga muốn tăng cường quan hệ”.

 

Lúa mì : “Vũ khí” đã được sử dụng từ thời Chiến tranh Lạnh

 

Việc sử dụng lương thực, mà chủ yếu là lúa mì, như một công cụ cho quyền lực mềm đã từng xuất hiện trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Khi Hoa Kỳ bước ra khỏi Chiến tranh Thế giới thứ hai với tư cách là cường quốc nông nghiệp có vị thế thống trị, nước này đã sử dụng nguồn lúa mì của mình (vốn là nước xuất khẩu lúa mì lớn nhất thế giới trong phần lớn nửa sau thế kỷ XX) như một phần trong chiến lược ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô.

 

Theo đó, viện trợ lương thực của Hoa Kỳ, thông qua chương trình Lương thực vì Hòa bình (Food for Peace), đã được gửi đi với quy mô lớn, dưới dạng lúa mì và bột mì tới những quốc gia được coi là có vị trí then chốt trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Washington hướng tới ba mục tiêu chính : ngăn chặn nạn đói có nguy cơ đẩy người dân về phía chủ nghĩa cộng sản; gia tăng ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên thế giới; và bảo đảm thị trường đầu ra xuất khẩu cho lúa mì Mỹ. 

 

Những khoản viện trợ này cũng được đưa tới những khu vực vốn không có truyền thống tiêu thụ loại ngũ cốc này. Chẳng hạn, trong những năm 1960, tại Hàn Quốc đã diễn ra những chiến dịch quảng cáo quy mô lớn nhằm khuyến khích người dân tiêu thụ bánh mì, một loại thực phẩm vốn về mặt lịch sử không hiện diện trong chế độ ăn uống của người Hàn.

 

Ảnh hưởng tới thế giới 

 

Ngay từ những ngày đầu của cuộc xung đột, các cuộc không kích của Nga đã nhắm vào các cảng của Ukraina, các kho chứa nông sản, cũng như cơ sở hạ tầng đường sắt và đường thủy. Trong khi đó, quân đội Kiev cũng đáp trả bằng cách nhắm vào cảng Novorossiïsk của Nga trên Hắc Hải. Hệ quả là hai nhà cung cấp lúa mì và ngô lớn của thế giới đang chứng kiến năng lực xuất khẩu của mình bị suy yếu.

 

Lượng ngũ cốc xuất khẩu của Ukraina đã giảm 76% trong hai tuần đầu tháng Tám so với cùng kỳ năm ngoái, một giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Ukraina. Trong khi vụ thu hoạch lúa mì đang diễn ra mạnh mẽ, các kho chứa bắt đầu đầy lên, nhưng do không thể đưa sản phẩm ra ngoài vì những cơ sở hạ tầng bị Nga phá hủy.

 

Trên các thị trường thế giới, phản ứng diễn ra gần như ngay lập tức. Giá lúa mì tăng vọt gần 50%, trong khi giá ngô và các loại dầu thực vật cũng tăng mạnh, làm trầm trọng thêm một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu với những hậu quả lâu dài, đặc biệt tại các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Không chỉ lúa mì mà cả những loại ngũ cốc khác như ngô hay hướng dương, vốn quan trọng đối với ngành chăn nuôi, cũng chịu tác động. Có thể nói toàn bộ chuỗi ngành nông nghiệp-thực phẩm đều bị ảnh hưởng theo chiều hướng tăng giá. Đồng thời, cuộc chiến này đã đẩy nhanh một sự tái cấu trúc sâu sắc của địa chính trị lương thực toàn cầu. Các quốc gia bắt đầu phải tăng cường các chính sách dự trữ chiến lược và một câu hỏi đã trở nên ngày càng nổi bật trong các cuộc tranh luận công khai : làm sao bảo đảm chủ quyền lương thực ?

 

(Nguồn : Courrier InternationalLa Croix, Géoconfluences)

 

-----------------------------

Các nội dung liên quan

Ukraina đề nghị Nga ngừng tấn công các mục tiêu dân sự ở Biển Đen

CHIẾN TRANH NGA - UKRAINA

Theo một báo cáo, ít nhất 266 triệu người thiếu an ninh lương thực trong năm 2025

AN NINH LƯƠNG THỰC

Trung Quốc tích trữ lương thực và năng lượng đề phòng rủi ro chiến tranh

THEO DÒNG THỜI SỰ

 

 




CANADA ĐỊNH HÌNH LẠI QUAN HỆ VỚI MỘT NƯỚC MỸ ĐANG ĐỔI HƯỚNG (Trần Giao Thủy / DCVOnline)

 



Canada định hình lại quan hệ với một nước Mỹ đang đổi hướng

Trần Giao Thủy

Sep 3, 2026

https://dcvonline.net/2026/09/03/canada-dinh-hinh-lai-quan-he-voi-mot-nuoc-my-dang-doi-huong/

 

Trong hơn một thế kỷ, quan hệ Canada–Mỹ luôn mang tính bất cân xứng nhưng ổn định: người Canada say mê văn hóa Mỹ, còn người Mỹ phần lớn thờ ơ với láng giềng phương Bắc. Dù vậy, hai nước vẫn duy trì một nền tảng tôn trọng và gắn bó sâu sắc – một liên minh chính trị, kinh tế và quốc phòng bền chặt, đôi khi bất đồng nhưng không thể tách rời.

 

Thế nhưng, từ đầu năm 2026, sự cân bằng đó đã bị phá vỡ. Và điều đáng chú ý là: Canada lần đầu tiên trong hơn 100 năm đã đứng thẳng lưng trước Washington.

 

Trump và sự trỗi dậy của một học thuyết địa chính trị mới

 

Những hành động gây hấn của Donald Trump – từ áp thuế trừng phạt, đe dọa đánh 50% thuế lên ngành xe hơi Canada, cho đến việc ký lệnh đổi tên hồ Ontario thành “Lake America” – thoạt nhìn có vẻ là những cơn bốc đồng quen thuộc. Nhưng theo những phân tích địa chính trị, đây không phải là những hành động đơn lẻ.

 

Chiến lược An ninh Quốc gia 2025 của Trump đánh dấu một sự đoạn tuyệt sâu sắc với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ mà Mỹ từng dẫn dắt từ 1945. Văn kiện này phục hồi tinh thần biệt lập và bảo hộ mậu dịch, đồng thời đưa ra cái gọi là “Hệ luận Trump” của Học thuyết Monroe: nếu trước đây Mỹ chỉ nhìn về phía Nam, thì nay Mỹ xem cả Canada và Greenland là những mục tiêu chiến lược trong Tây Bán Cầu.

 

NSS 2025 nói thẳng: những cường quốc lớn có quyền thống trị vùng ảnh hưởng của mình. Và Mỹ cần “mở rộng việc mua bán khoáng sản và nguyên liệu cần thiết ”. Canada – quốc gia giàu năng lượng và khoáng sản – vì thế trở thành một mục tiêu địa chính trị, không chỉ là một đối tác thương mại.

 

Trong bối cảnh đó, thuế nhập cảng không phải là công cụ kinh tế. Đó là vũ khí địa chính trị nhằm làm suy yếu Canada trong ngắn hạn, buộc Ottawa phải chấp nhận một trật tự mới do Washington áp đặt.

 

Carney và sự đoàn kết Canada

 

Điều Trump không lường trước là phản ứng của Canada. Thủ tướng Mark Carney đã làm điều mà không một lãnh đạo Canada nào dám làm từ thời Macdonald–Laurier: đình chỉ thương thuyết với Mỹ và tuyên bố Canada đã bị tấn công.

 

Ba phần tư người Canada ủng hộ ông. Tinh thần đoàn kết dân tộc – thường bị những phong trào ly khai chia rẽ – bỗng trỗi dậy mạnh mẽ. Quebec và Alberta, những nơi đang có những cuộc bỏ phiếu ly khai, tạm thời gác lại bất đồng để đối phó với sức ép từ Washington.

 

Carney không chỉ phản ứng bằng lời nói. Ông tung ra chiến lược “đô‑la đối đô‑la”, nhắm vào những ngành then chốt ở những tiểu bang Mỹ có bầu cử Thượng viện cạnh tranh. Kết quả: Đảng Tự do thắng ba cuộc bầu cử bổ sung, và tinh thần chống Trump lan rộng khắp Canada.

 

Mất đoàn kết ở Mỹ

 

Trong khi Canada đoàn kết, nước Mỹ lại chia rẽ sâu sắc. 57% người Mỹ phản đối thuế quan lên hàng Canada; 63% phản đối việc đổi tên Hồ Ontario. Những tiểu bang biên giới – Michigan, Ohio, New York – nơi kinh tế phụ thuộc vào thương mại với Canada, đang phẫn nộ. Ngay cả những chính khách Cộng hòa cũng phải chỉ trích Trump vì gây thiệt hại cho chính dân Mỹ.

 

“Thuế nhập cảng Trump” thực chất là “thuế Trump” đánh vào người tiêu dùng Mỹ. Giá cả tăng, việc làm mất, chuỗi cung ứng rối loạn – tất cả đang làm suy giảm sự ủng hộ dành cho Trump.

 

Một Washington không còn những James Baker

 

Lịch sử từng chứng kiến một cuộc khủng hoảng tương tự: năm 1987, Brian Mulroney đình chỉ thương thuyết hiệp định mậu dịch tự do và gọi trưởng đoàn thương thuyết về nước. Nhưng khi đó, Mulroney có Reagan – một tổng thống hiểu Canada – và có James Baker, một chính khách lão luyện, người đã giúp tái khởi động thương thuyết và hoàn tất hiệp định chỉ trong ba ngày.

 

Ngày nay, Washington không còn những James Baker. Không có những người hiểu Canada, không có những người biết rằng liên minh Canada–Mỹ là một tài sản chiến lược chứ không phải một trò chơi quyền lực.

 

Canada trước một kỷ nguyên mới

 

Cả ba phân tích – của Reich, Poelzer và Sears – đều dẫn đến một kết luận chung: Canada đang bước vào một thời kỳ mà nước Mỹ không còn là đối tác “đồng đẳng nhưng có người đứng đầu”, mà là một cường quốc bá quyền đang tái định hình vùng ảnh hưởng của mình.

 

Trong bối cảnh đó, Canada phải: củng cố năng lực sản xuất quốc phòng trong nước, đa dạng hóa chuỗi cung ứng và thị trường xuất khẩu, xây dựng liên minh chiến lược với Bắc Âu, châu Âu và châu Á, và quan trọng nhất: học cách sống cạnh một nước Mỹ đang thay đổi, “với đôi mắt mở to”.

 

Đây không chỉ là một cuộc chiến thương mại. Đây là trang sử định hình lại vị thế của Canada trong một trật tự thế giới đang thay đổi.

 

© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Tham khảo:

·        Robert Reich, Trump’s ridiculous bullying of Canada is backfiring, The Guardian, September 2, 2026.

·        Greg Poelzer, Trump’s geopolitical aims, not economics, are behind his trade hostility towards Canada, The Conversation, August 31, 2026.

·        Robin V. Sears, You’d have to go back more than 100 years to find a prime minister who did what Mark Carney’s done, The Globe and Mail |31 Aug, 2026.

 

 

 

 

 


TỊCH THU ĐẤT ĐAI NHÂN DANH PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM (Christelle Nguyen / The Diplomat)

 



Tịch thu đất đai nhân danh phát triển tại Việt Nam

Christelle Nguyen   -   The Diplomat

Sep 4, 2026

https://dcvonline.net/2026/09/04/nhan-danh-phat-trien/

 

Ngày càng có nhiều người Việt Nam bị cưỡng bách dời đi để nhường chỗ cho những dự án phát triển. Nhiều người không dám lên tiếng vì, theo lời một nạn nhân, “giữa nạn nhân và tội phạm chỉ cách nhau một lằn ranh mong manh.

 

https://dg6xmvwvg9r7ir.archive.is/EwSGS/72224267cb54a5680eae27556a598c4af1ef9009.jpg

Một phần đất bị thu hồi tại Dương Nội vẫn còn đang xây cất. Ảnh: Christelle Nguyen

 

Sinh trưởng trong một gia đình yêu chuộng nghệ thuật, bà Thanh, năm nay 68 tuổi, đã trải qua thời trẻ say mê xem kịch tại những rạp hát Hà Nội trong thập niên 1980. Trong nước Việt Nam thời hậu chiến, loại giải trí ấy là một thứ xa xỉ — vé xem hát rất hiếm, chỉ những gia đình có tiền hoặc có thế lực chính trị mới có thể mua được. Bà Thanh là một trong số ít người may mắn đó.

Thế nhưng ngày nay, bà nhìn công trình Nhà hát Pearl trị giá 520 triệu Mỹ kim với một nỗi cay đắng. Đại dự án này có tổng diện tích sàn 40.980 mét vuông, có thể tiếp nhận khoảng 2.000 người, và dự trù hoàn tất vào năm 2030. Nhưng để xây cất nhà hát khổng lồ này, cả khu phố nơi bà sinh sống đã bị giải tỏa.

Bà Thanh nói, giọng run run, “Tôi mất nhà rồi.”

Trong những tuần lễ vừa qua, bà đã lần lượt mời bạn bè và thân quyến đến căn nhà hai tầng của mình, rộng 230 mét vuông, gần Hồ Tây. Căn nhà bà hoàn tất xây cất năm 2020, nay có thể là lần cuối cùng họ còn được gặp nhau tại đây.

Theo giá thị trường hiện nay, căn nhà trị giá hơn 300 tỷ đồng Việt Nam, tương đương khoảng 11,5 triệu Mỹ kim. Đến cuối tháng Tám, nó đã bị phá bỏ.

Tiền bồi thường bà nhận được chỉ có 3 tỷ đồng — bằng khoảng 1 % giá trị ước tính của căn nhà — cộng thêm một khoản trợ cấp hàng tháng chỉ vừa đủ để trả tiền thuê một chỗ ở khiêm tốn.

Nhưng tổn thất tài chánh không chỉ nằm ở khoản chênh lệch giữa giá trị căn nhà và tiền bồi thường. Bà Thanh cùng những người láng giềng đã phải bỏ ra rất nhiều thì giờ và tiền bạc để làm đơn, gõ cửa những cơ quan địa phương; họ còn phải trả những khoản tiền không chính thức để xúc tiến những thủ tục hành chánh. Rốt cuộc, tất cả những cố gắng ấy đều không đem lại một sự nhượng bộ nào.

Nhà cầm quyền đã chỉ định khu tái định cư cho bà Thanh và những người láng giềng. Nhưng những khu này vẫn chưa xong để họ dọn đến. Suốt nhiều tháng, bà Thanh phải chạy tìm chỗ ở tạm thời cho gia đình bảy người, trong khi không biết chắc đến bao giờ mới chính thức được chuyển vào khu tái định cư.

Dẫu vậy, bà Thanh nhất quyết không tham gia những cuộc biểu tình cùng một số người láng giềng, cũng không đưa sự bất mãn của mình lên mạng, mặc dầu bà vẫn thường xuyên dùng Facebook và Zalo, ứng dụng nhắn tin phổ biến trong nước. Bà Thanh nói,

“Ngày nay, giữa nạn nhân và tội phạm chỉ cách nhau một lằn ranh mong manh. Chúng tôi phải hết sức cẩn thận.”

 

Bà Thanh không phải là trường hợp duy nhất phải đối phó với tình cảnh khó xử do kế hoạch tổng thể trị giá nhiều tỷ Mỹ kim, kéo dài trong 100 năm, của thủ đô gây ra. Kế hoạch này dự trù có thể khiến 860.000 người — hơn 10 % dân số thủ đô — phải di dời.

Sự vội vã trong việc phá dỡ nhà cửa đang giáng một đòn nặng nề xuống những cộng đồng dân cư.

Bà Thanh cho biết chưa bao giờ có ai hỏi ý kiến của bà và những người láng giềng trong tiến trình lập kế hoạch. Họ bị cưỡng bách rời khỏi nhà mà chưa có nơi tái định cư để chuyển tới; và quan trọng hơn hết, khoản bồi thường họ nhận được hoàn toàn không tương xứng.

Tệ hơn nữa, nhà cầm quyền đang cưỡng bách đẩy nhanh việc di dời, trong khi cơ sở hạ tầng tại những khu tái định cư vẫn chưa hoàn tất.

Thế nhưng, cách làm này có thể sẽ được luật pháp hóa trong Luật Đất đai sửa đổi sắp tới.

Ngày 28 tháng Bảy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội loan báo sẽ triệu tập một phiên họp bất thường trong tháng Tám để thảo luận một số dự luật. Một trong những dự luật được đặt cao trong nghị trình là Luật Đất đai sửa đổi, dự trù sẽ được Quốc hội thông qua vào tháng mười.

Kể từ khi Tô Lâm trở thành người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2025 — và trở thành Chủ tịch nước vào năm 2026 — khẩu hiệu “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” đã trở thành một câu khẩu hiệu được nhắc đi nhắc lại khắp Việt Nam.

Phần lớn nghị trình này xoay quanh một mô hình phát triển đặt động lực kinh tế lên hàng đầu: những nhà hoạch định chính sách theo đuổi mức tăng trưởng GDP hàng chục % và tham vọng đưa Việt Nam trở thành một quốc gia có lợi tức cao vào năm 2045.

Đất đai, đặc biệt, được xem như một bàn đạp cho tăng trưởng quốc gia. Những dự án địa ốc quy mô tiếp tục mọc lên khắp nước.

Giữa lúc cuộc chạy đua phát triển đang diễn ra, một trong những chủ trương được chính phủ ráo riết xúc tiến nhất — nhưng đồng thời cũng âm thầm bị chống đối — trong những tháng gần đây là việc thu hồi hàng loạt đất đai.

 

Quyền về đất đai dưới quyền định đoạt của Đảng – Nhà nước

 

Dự thảo luật do Bộ Nông nghiệp và Môi trường soạn thảo được công bố để lấy ý kiến công chúng ngày 21 tháng Bảy. Người dân chỉ có chưa đầy một tháng để góp ý — với điều kiện họ biết rằng cuộc tham khảo ý kiến đang diễn ra.

Đáng chú ý, trên cổng thông tin trực tuyến dùng để đóng góp ý kiến, không có lựa chọn nào cho phép người dân góp ý một cách ẩn danh.

Luật Đất đai mới được thông qua cách đây hai năm, vì thế thật đáng ngạc nhiên khi nay đã cần phải sửa đổi — nhất là khi trong hai năm 2024 và 2025, đã có hai nghị quyết ban hành để hướng dẫn việc thi hành luật.

Nhưng tại Việt Nam ngày nay, Quốc hội đang ban hành luật lệ với một tốc độ và quy mô chưa từng thấy. Năm 2025 là một năm lập kỷ lục về hoạt động lập pháp, với 86 đạo luật được Quốc hội thông qua — hơn một nửa trong tổng số 150 đạo luật được Quốc hội phê chuẩn trong giai đoạn 2021–2026 — cùng với 371 văn bản pháp quy thuộc nhiều loại khác nhau.

Trung Hoa và Việt Nam cùng theo một chế độ sở hữu đất đai xã hội chủ nghĩa, không công nhận quyền tư hữu đất đai. Tuy nhiên, cơ cấu sở hữu về mặt pháp lý của hai nước không hoàn toàn giống nhau.

Tại Trung Hoa, đất đai đô thị thuộc sở hữu của Nhà nước, trong khi phần lớn đất đai nông thôn thuộc sở hữu của những tập thể nông dân.

Tại Việt Nam, về mặt pháp lý, toàn thể đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước đứng ra làm đại diện, cấp quyền dùng đất cho cá nhân, gia đình và tổ chức — và có thể thu hồi những quyền dùng ấy khi Nhà nước xét thấy cần thiết.

Hiện nay Hà Nội đang tiến hành thu hồi đất và giải tỏa mặt bằng cho 1.428 dự án trên toàn thành phố.

Theo một quy hoạch tổng thể được phê chuẩn vào tháng Ba năm 2026, Hà Nội đặt mục tiêu trở thành một trong mười thủ đô hạnh phúc nhất thế giới — một thành phố của “thịnh vượng, hài hòa, văn minh và bản sắc.”

Tuy nhiên, những chuyên gia trong nước đã bày tỏ lo ngại về tốc độ chuyển đổi quá nhanh này.

Ông Tô Kiên, kiến trúc sư và giáo sư tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, viết trong một bài bình luận trên VnExpress:

“Quy hoạch tổng thể Hà Nội đã được chuẩn bị rất công phu, gồm hơn 1.000 trang tài liệu thuyết minh và hàng chục bản đồ quy mô lớn. Thế nhưng công chúng chỉ có 10 ngày để biết đến, đọc, tìm hiểu và góp ý về quy hoạch.

Những cuộc hội thảo tham khảo ý kiến chuyên gia vừa mới diễn ra thì chỉ vài ngày sau, quy hoạch đã được phê chuẩn.

Điều này cho thấy tiến trình tham khảo ý kiến đã không thực hiện được vai trò mà nó đáng lẽ phải có. Lẽ ra tiến trình ấy phải được tiến hành đầy đủ và thận trọng hơn, với nhiều thời gian hơn dành cho việc nghiên cứu và góp ý.”

Khoản 12 và 13 của Luật Đất đai hiện hành cho phép Nhà nước thu hồi đất để xây dựng trụ sở Đảng Cộng sản Việt Nam, những cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, những tổ chức chính trị và chính trị – xã hội, cùng những tổ chức khác được thành lập theo luật pháp và được giao những chức năng của Nhà nước.

Những khoản này cũng cho phép thu hồi đất để xây dựng văn phòng hoặc văn phòng đại diện của những đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc những cơ quan của Đảng, cơ quan Nhà nước và những tổ chức chính trị – xã hội.

Khoản cuối cùng còn đi xa hơn.

Theo khoản này, nếu đất cần được thu hồi cho một dự án hoặc công trình được xem là phục vụ lợi ích quốc gia hay lợi ích công cộng, nhưng không thuộc bất cứ một trong 33 loại trường hợp được liệt kê trong điều luật, Quốc hội có thể sửa đổi hoặc bổ túc danh sách ấy theo một thủ tục lập pháp giản lược.

Trên thực tế, việc này có thể mở cửa cho Nhà nước bổ túc những căn cứ mới để thu hồi đất bằng một thủ tục được xúc tiến nhanh chóng.

Điều đó cũng đặt ra câu hỏi: có ai lắng nghe những cộng đồng bị ảnh hưởng trong việc quyết định đất đai của họ có thể bị lấy đi hay không — và nếu có, thì trong những hoàn cảnh nào?

Những quy định này dường như đặt quyền lợi của những cơ quan Nhà nước và những định chế của Đảng lên trên quyền lợi của người dùng đất khi quyết định dự án nào đủ điều kiện để cưỡng bách thu hồi đất.

Kể từ giữa năm 2025, việc thu hồi đất quy mô lớn và cưỡng bách di dời nhân danh “phát triển và đầu tư” đã và đang được thực hiện trên toàn quốc, đẩy hàng trăm ngàn gia đình vào hoàn cảnh mất nhà, mất đất.

Dự án Hành lang Cảnh quan Sông Hồng đi qua 16 xã và phường, với tổng diện tích đất khoảng 11.418 hecta, có khả năng ảnh hưởng đến khoảng 200.000 cư dân.

Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình tại tỉnh Bắc Ninh sẽ cần gần 1.960 hecta đất, ảnh hưởng đến khoảng 7.100 gia đình và 118 tổ chức.

Dự án Cảng hàng không Long Thành tại tỉnh Đồng Nai sẽ cần khoảng 5.000 hecta đất, ảnh hưởng đến 4.600 gia đình.

 

Không còn chỗ để phản kháng

 

Cũng như tại Trung Hoa, những cuộc phản đối ôn hòa của nông dân Việt Nam đối với việc thu hồi đất bắt đầu hình thành vào đầu thập niên 2000, rồi trở nên phổ biến và có ảnh hưởng đáng kể hơn vào giữa thập niên ấy.

Ngày nay tại Việt Nam, khoảng 70 % những đơn khiếu nại, tố cáo và vụ kiện kéo dài của công dân có nguồn gốc từ việc Nhà nước thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, bồi thường và quản lý đất đai.

Mặc dầu Điều 158 của Luật Đất đai quy định rằng việc định giá đất phải tuân theo nguyên tắc thị trường, phải trung thực, khách quan và minh bạch, trên thực tế những điều kiện về giá cả hầu như được chính quyền địa phương áp đặt, chớ không phải là kết quả của thương lượng.

Trong con mắt của Nhà nước, việc phản đối những điều kiện thu hồi đất bị xem là hoạt động tội phạm.

Những cơ quan truyền thông trong nước cảnh báo người dân rằng những câu chuyện làm sáng tỏ hoàn cảnh của những nạn nhân đang bị những “thế lực thù địch và phản động” lợi dụng để tung tin giả, kích động chống đối, gây chia rẽ giữa nhân dân và chính quyền, đồng thời mô tả việc thực hiện dự án như là “đuổi dân đi, đàn áp dân và bỏ mặc dân.”

Quốc hội mới được bầu vẫn im lặng trước những khốn khó của những người bị cưỡng bách dời nhà.

Trong quá khứ, việc lên tiếng bênh vực họ vốn đã hiếm hoi — nhưng vẫn từng xảy ra.

Lưu Bình Nhưỡng, một đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam và cựu đại biểu Quốc hội khóa XIV (2016–2021), từng là một trong những dân biểu lên tiếng mạnh mẽ nhất về vấn đề thu hồi đất.

Từ năm 2021 đến 2023, ông giữ chức Phó Trưởng Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Năm 2021, một công nhân ở tỉnh Ninh Thuận nộp đơn khiếu nại về việc nhà cầm quyền giao đất cho một công ty mà không bồi thường. Người này sau đó bị một nhóm người không rõ lai lịch đánh đập chỉ vì dám bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình.

Ông Lưu được cho là đã lên tiếng về sự việc:

“Công ty không có quyền dùng vũ lực để ‘đe dọa’ người dân. Chúng ta cần rút kinh nghiệm từ vụ đổ máu ở Đắk Nông, nơi việc một công ty tịch thu đất đã khiến người dân nổ súng. Người nổ súng là sai, nhưng việc công ty ‘lấy đất của dân’ lại không có căn cứ pháp lý. Vì vậy, nếu chính quyền đứng ngoài và không hành động, thì trên thực tế họ đang bao che cho công ty. Điều đó là bất công.”

Thế nhưng, ngày càng có ít tiếng nói như vậy.

Năm 2025, ông Lưu bị kết án 13 năm tù, gồm ba năm về tội “cưỡng đoạt tài sản” và 10 năm về tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi.”

Nhiều người tin rằng những cáo buộc này là bịa đặt hoặc “gán ghép tội trạng”, vì những phát biểu thẳng thắn của ông chỉ trích lực lượng công an, và vì ông cũng được xem là người bênh vực những tù nhân bị xử oan.

Tại Hội nghị toàn quốc về triển khai những nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ ba, khóa XIV, Tô Lâm đã lên tiếng về vấn đề phát triển quốc gia và quyền lợi của người dân.

Người đứng đầu Đảng CSVN kêu gọi thi hành nghiêm kỷ luật; tăng cường thanh tra, giám sát, phổ biến và công khai thông tin; đồng thời đánh giá đúng đắn dựa trên dữ kiện, sản phẩm và kết quả thực tế.

Ông nhấn mạnh rằng lợi ích và sự hài lòng của người dân phải là thước đo tối hậu. Lâm nói:

 

“Đồng thuận xã hội trước hết và trên hết phải được xây dựng bằng những chủ trương đúng đắn, việc thực hiện công bằng, minh bạch và những kết quả mà người dân có thể nhận thấy. Không đánh đổi lợi ích lâu dài lấy thành tích trước mắt; không để người yếu thế phải gánh chịu những phí tổn vô lý.”

 

Đồng thời, người đứng đầu Đảng CSVN cũng kêu gọi cán bộ, công chức nhận thức rằng “tự nguyện lùi lại vì sự phát triển cũng là một hành động can đảm và cao quý — một điều đáng tự hào và đáng được ghi nhận.”

Điều đáng nói là cho đến nay, chưa có quan chức nào “lùi lại” vì sự phát triển của dự án.

Hà Nội đang tiến rất nhanh.

Tốc độ ấy buộc người dân phải nhanh chóng tuân phục, khiến không còn bao nhiêu chỗ cho sự chống đối. Đối với chính quyền địa phương, điều này có ý nghĩa quan trọng: hành động càng nhanh, họ càng dễ được ghi nhận về thành tích và càng có nhiều cơ hội thăng chức.

Việc cưỡng bách giải tỏa đất đai không phải là điều mới mẻ tại Việt Nam, nhưng nay đã gia tăng cùng với nghị trình phát triển được đẩy nhanh của chính phủ và sự tập trung quyền lực ngày càng lớn trong bộ máy an ninh Việt Nam.

Khác với những vụ thu hồi đất trước đây, công an địa phương nay tham gia từ đầu đến cuối. Với quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu dân số toàn quốc, công an gặp gỡ người dân, thẩm định tài sản để xác định mức bồi thường, rồi theo dõi việc họ dời nhà.

Không phải chỉ những người mất đất mới có nguy cơ bị cưỡng ép.

Trong một quốc gia không có một hội luật sư độc lập, những luật sư bênh vực nạn nhân bị thu hồi đất phải chấp nhận những rủi ro rất lớn. Một số người đã cảm thấy buộc phải rời khỏi đất nước.

Chẳng hạn, Võ An Đôn — biệt danh “Luật sư của Nhân dân” vì thường bênh vực những nhóm yếu thế, phần lớn trên căn bản miễn phí — đã bị thu hồi giấy phép hành nghề năm 2018 và phải chịu nhiều năm sách nhiễu trước khi tìm nơi tỵ nạn ở ngoại quốc vào năm 2023.

 

Sự chống đối đầy thận trọng

 

Khi công an tiến tới việc áp dụng án tù đối với những người đăng trên mạng những thông tin mà họ cho là sai trái, những tranh chấp đất đai và những bất công sẽ tiếp tục là một phần quan trọng định hình cái gọi là “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” mà ông Lâm ca ngợi.

Nhiều nhóm dân cư Hà Nội bị ảnh hưởng đã tổ chức phản đối, đồng thời cố gắng không vượt qua những “lằn ranh đỏ” của chính quyền.

Họ cố ý tổ chức những cuộc tụ họp nhỏ và giương biểu ngữ. Họ tự gọi mình là những người biểu tình nhưng đồng thời vẫn là những người yêu nước, hàm ý rằng họ chỉ đòi hỏi những quyền lợi chính đáng, chớ không thách thức tính chính danh của Đảng Cộng sản.

Tuy nhiên, dần dần, sự chống đối phần lớn đã nhường chỗ cho sự tuân phục.

Nhà cầm quyền định kỳ cắt nước và điện của những cánh đồng và căn nhà của những người không dời đi đúng hạn.

Vì tòa án, nhà cầm quyền và truyền thông trong nước không muốn lắng nghe họ, mạng xã hội hiện trở thành nơi để họ lên tiếng.

Một nhóm Facebook mang tên “Red River Megaproject” có gần 30.000 thành viên. những thành viên tự kiểm duyệt những từ ngữ nhạy cảm — như “cướp đất,” “giải tỏa trắng” và “chủ nghĩa cộng sản” — để tránh cho nhóm bị đóng cửa vì vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng, một chuyện thường xảy ra đối với những nội dung do những người bất đồng chính kiến đăng tải.

 

https://dcvonline.net/wp-content/uploads/2026/09/lktapchi.jpg

Nguồn: https://thevietnamese.org/Luật khoa Tạp chí

 

Một trang mạng ẩn danh mang tên “Red River Community” thành lập để giúp những người dân bị ảnh hưởng tìm hiểu những thủ tục pháp lý liên quan đến việc khiếu nại đất đai.

Trên Facebook, Tai Vách Mạch Rừng (“tường có tai”), nay có 104.000 người theo dõi, cũng tạo một diễn đàn cho nhiều nạn nhân của những vụ bất công, đặc biệt là những nạn nhân bị thu hồi đất, trong đó có một trong những người đồng sáng lập.

Không có truyền thông và luật sư giúp đỡ, nhiều nạn nhân đã tự quay phim mình để làm chứng cho những bất công mà họ phải chịu, mong rằng câu chuyện của họ sẽ không bị chìm vào quên lãng.

Nếu trước đây nông dân từng là lực lượng nòng cốt ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam, thì ngày nay những nạn nhân bị mất đất có thể gia nhập phong trào dân chủ. Bà Thi Thanh Nguyen Pochan, phó giáo sư tại Đại học Công giáo Tây Phương (UCO) ở Pháp, nhận xét:

 

“Nhiều nạn nhân của những bất công về quyền dùng đất đã tự chuyển hóa mình từ những công dân bị đối xử bất công, chỉ đơn giản tìm kiếm sự đền bù cho riêng mình, thành một điều gì đó lớn lao hơn rất nhiều.

 

Họ đã liên kết với những người bất đồng chính kiến ở trong nước và hải ngoại — những nhóm mà chính quyền gọi là những thế lực thù địch hoặc phản động.”

 

Những người hoạt động nổi tiếng nhất trong số này là gia đình Cấn Thị Thêu.

Cùng với chồng, bà Thêu lãnh đạo một nhóm nông dân đấu tranh chống việc cưỡng bách thu hồi đất và bồi thường dưới mức thỏa đáng.

Bà bị bắt vào tháng Tư năm 2014 khi đang ghi hình một vụ thu hồi đất tại phường Dương Nội, hiện nay đã trở thành khu vực nhà ở cao cấp. Sau đó bà bị kết án 15 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ.

Sau khi được thả, bà tiếp tục tham gia những cuộc biểu tình ôn hòa chống việc thu hồi đất.

Tháng sáu năm 2016, bà lại bị bắt sau những cuộc biểu tình đòi quyền lợi về đất đai của chính mình, và bị kết án 20 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng.

Về sau, Nhóm Công tác của Liên Hiệp Quốc về Giam giữ Tùy tiện kết luận rằng việc giam giữ bà là tùy tiện.

Gia đình bà Thêu tạo được sự khác biệt nhờ tích cực dùng mạng xã hội, thường xuyên liên lạc với những tổ chức và truyền thông ngoại quốc, và đặc biệt là nhờ khả năng dùng ngôn ngữ của giới hoạt động để nối kết cuộc đấu tranh riêng lẻ của những nông dân bị thu hồi đất với cuộc đấu tranh rộng lớn hơn nhằm thay đổi chế độ.

Tháng Sáu năm 2020, vì bày tỏ tình liên đới với những nạn nhân của những tranh chấp đất đai tại Đồng Tâm, bà Thêu lại bị bắt mà không có trát.

Không lâu sau đó, bà bị kết án tám năm tù, tiếp theo là ba năm quản chế, về tội “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, [và] vật phẩm nhằm chống lại Nhà nước.”

Hai con trai của bà, Trịnh Bá Tư và Trịnh Bá Phương, cũng bị tù với cùng tội danh.

Tháng chín năm 2025, Phương trở thành tù nhân đầu tiên bị tuyên thêm 11 năm tù với cùng tội danh, với lý do ông bị cáo buộc đã viết một mảnh giấy trong tù có nội dung “đả đảo cộng sản.”

Hiện nay bà Thêu đang bị giam tại một nhà tù ở tỉnh Thanh Hóa, cách quê nhà bà bốn giờ đi xe lửa.

Theo những nguồn tin, bà phải chịu những điều kiện xuống cấp, ảnh hưởng đến sức khỏe và phẩm giá, trong đó có nhiều lần bị từ chối chăm sóc y tế hoặc chỉ được chăm sóc sơ sài. Nhà cầm quyền được cho là đã từ chối cung cấp cho bà hoặc gia đình bà một bản sao chẩn đoán y khoa.

Trong nhà tù, thú vui bà ưa thích nhất là đọc sách.

Trong lá thư viết hồi tháng Tư vừa qua, bà khuyên những con đang ở trong tù cũng làm như vậy và đừng bao giờ mất hy vọng:

 

“Bên ngoài kia, bầu trời phương Đông đang hé lên một chút ánh sáng mờ nhạt, báo hiệu những đổi thay sắp tới. Và ngày đoàn tụ, ngày chiến thắng, ngày tự do cho gia đình ta và cho mọi người chắc chắn sẽ không còn xa nữa. các con hãy vững tinh thần. Hãy tự lo cho mình và giữ gìn sức khỏe. Hãy nhớ những điều mẹ nói để mẹ được yên lòng, các con yêu quý. Mẹ xin dừng lá thư tại đây. Mẹ cầu mong bình an và an toàn sẽ đến với những con, những con trai của mẹ.”

 

Bên ngoài nhà tù, nhiều người nông dân từng cùng bà Thêu ở Dương Nội vẫn tiếp tục tìm công lý cho phần đất họ đã mất hơn một thập niên trước, mà chưa thấy hồi kết.

Và số người Việt Nam rơi vào hoàn cảnh tương tự vẫn tiếp tục gia tăng.

 

https://dg6xmvwvg9r7ir.archive.is/EwSGS/38fbde7e3c15cde17db245e671b380ad6192c4f9.jpg

Một phần Dương Nội nay đã trở thành một khu thương mại sầm uất. Ảnh: Christelle Nguyen

 

----------------------------
Tác giả: Christelle Nguyen là một chuyên viên nghiên cứu về phát triển, hiện làm việc tại Đông Nam Á. Những lãnh vực bà quan tâm gồm chính trị Đông Á và ngoại giao kỹ thuật.

 

© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Land Seizures in the Name of Development in Vietnam | Christelle Nguyen | The Diplomat | September 02, 2026

 

 




Thursday, September 3, 2026

SÁU CỘT MỐC LỚN ĐÁNH DẤU QUAN HỆ MỸ – TRUNG : TỪ KỲ VỌNG HỢP TÁC ĐẾN ĐỐI ĐẦU THẾ KỶ (Minh Anh / RFI)

 



Sáu cột mốc lớn đánh dấu quan hệ Mỹ - Trung : Từ kỳ vọng hợp tác đến đối đầu thế kỷ

Minh Anh  -  RFI

Đăng ngày: 03/09/2026 - 12:24

https://www.rfi.fr/vi/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD-ti%C3%AAu-%...…….BA%BF-k%E1%BB%B7

 

Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một trong những trục quan trọng nhất trong dòng chảy lịch sử thế giới đương đại. Giữa các cuộc chiến thương mại, đối đầu địa chính trị và cạnh tranh công nghệ, mỗi ngày trôi qua càng củng cố thêm niềm tin chắc rằng cuộc đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh đang định hình thế giới ngày nay và có thể cả trong tương lai. 

 

https://s.rfi.fr/media/display/dfe660d6-a226-11f1-aa1c-005056bf30b7/w:1024/p:16x9/AP26134065764543.webp

Ảnh minh họa: Mối quan hệ Mỹ - Trung được cho là một trong những trục quan trọng nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. AP - Mark Schiefelbein

 

Nhà sử học Pierre Grosser, trên đài phát thanh France Inter nhận định, nếu nhìn lại lịch sử hơn một thế kỷ quan hệ Mỹ - Trung, hai quốc gia này đã nhiều lần thay đổi vị thế đối với nhau : Từ đối tác thương mại, đồng minh thời chiến, đối thủ ý thức hệ, cho đến đối thủ cạnh tranh chiến lược toàn diện như ngày nay.

 

Là chuyên gia về quan hệ quốc tế và châu Á và cũng là tác giả tập sách « Chiến tranh lạnh khác chăng ? Đối đầu Mỹ - Trung », Pierre Grosser còn nêu ra sáu cột mốc lớn quan trọng để lý giải vì sao Washington và Bắc Kinh đang trong một cuộc cạnh tranh được nhiều nhà quan sát gọi là « cuộc đối đầu định hình thế kỷ XXI ». Đằng sau những tranh chấp thương mại, công nghệ hay vấn đề Đài Loan, là một câu chuyện dài về quyền lực, nhận thức lịch sử và trật tự thế giới.

 

1900 : Khi Hoa Kỳ đến « mở cửa » Trung Quốc …

 

Vào cuối thế kỷ XIX, Trung Quốc đang ở giai đoạn suy yếu nghiêm trọng. Sau thất bại trước Nhật Bản năm 1895 và hiệp ước Shimonoseki, các cường quốc châu Âu và Nhật Bản lao vào cuộc đua tranh giành tô giới và nhượng địa ở Trung Quốc. Trong bối cảnh này Hoa Kỳ tự thể hiện mình là người ngoài cuộc bằng cách ủng hộ chính sách « Mở cửa » (Open Door Policy), với hai công hàm ngoại giao năm 1899 và 1900, đề cao việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc và tự do cạnh tranh thương mại.

 

Theo sử gia Pierre Grosser, trong « cuộc chạy đua đến Trung Quốc », chính sách này của Mỹ là mang tính hai mặt : Hoa Kỳ tự thể hiện mình như « một cường quốc đế quốc kiểu khác, chủ yếu được thúc đẩy bởi các lợi ích thương mại », nhưng vẫn không thoát khỏi lô-gic truyền thống của chủ nghĩa bành trướng.

 

Việc Hoa Kỳ chiếm Cuba và nhất là Philippines sau cuộc chiến với Tây Ban Nha năm 1898 có liên hệ trực tiếp với tham vọng thâm nhập thị trường Trung Quốc, đồng thời tạo thành bàn đạp chiến lược để Mỹ tiến sâu vào châu Á, khẳng định vị thế cường quốc Thái Bình Dương. « Đây là một phần của bước ngoặt chủ nghĩa đế quốc, đánh dấu sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới vào thời điểm đó. Đồng thời, đó cũng là thời điểm Washington hầu như chính thức thâu tóm Hawai ».

Nhưng chính ở giai đoạn này đã làm xuất hiện nghịch lý đầu tiên trong quan hệ Mỹ - Trung. Trong khi Washington yêu cầu Bắc Kinh mở cửa cho hàng hóa Mỹ, thì Hoa Kỳ lại đóng cửa với người Trung Quốc khi ban hành đạo luật « Loại trừ » (Loi d’Exclusion) năm 1882, cấm phần lớn người Trung Quốc nhập cư vào Mỹ. Luật này được đưa ra sau « những hành động bạo lực chống người Trung Quốc », khiến gần 1000 người thiệt mạng, đặc biệt là những người đã tham gia xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa.

 

Sự mâu thuẫn này trong chính sách của Mỹ khó hiểu đến mức, nhà báo Yves Guillot, trên tờ Le Siècle (Thế kỷ) ngày 27/06/1900, phải viết : « Người Mỹ [...] mở cửa Trung Quốc cho chính họ và các sản phẩm của họ, nhưng họ lại có ý định đóng cửa nước Mỹ đối với người Trung Quốc. Làm sao người Trung Quốc có thể hiểu được logic này ? »

 

Một chi tiết khác cũng được nhà sử học Pierre Grosser nhắc đến là vào đầu thế kỷ XX, đã tồn tại những định kiến rất giống với những lời chỉ trích nhắm vào Trung Quốc ngày nay. « Ngay từ thời đó đã tồn tại một quan niệm gắn liền người Trung Quốc với ma túy. Và ngày nay, với vấn đề fentanyl, chúng ta thấy ý tưởng cũ ấy được khơi lại theo cách tương tự : người Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc mang ma túy đến Mỹ, tìm cách lách các hàng rào thuế quan và đôi khi gian lận về bản chất hay thành phần thực sự của hàng hóa. »

 

1943 : Roosevelt đặt cược vào Trung Quốc

 

Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, Trung Quốc nằm trong số các quốc gia kháng chiến chống đế quốc Nhật mạnh mẽ nhất. Pierre Grosser nhấn mạnh rằng, trên thực tế Trung Quốc đã tham chiến sớm hơn nhiều so với cường quốc khác. « Trung Quốc đã chiến đấu đơn độc từ năm 1931 trở đi, ngay cả khi chúng ta coi chiến tranh bắt đầu từ năm 1937. Khi sự leo thang giữa Trung Quốc và Nhật Bản thực sự bắt đầu, thì Hoa Kỳ chỉ tham gia chiến tranh vào tháng 12 năm 1941. Trước đó, điều gì đã xảy ra ? Mỹ cũng giống như Liên Xô, đã hỗ trợ Trung Quốc để kìm chân Nhật Bản, ngăn chặn họ tấn công vào phía bắc hoặc cuối cùng là về phía Hoa Kỳ. »

 

Trong bối cảnh này, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã có một quyết định mang ý nghĩa lịch sử. Ngày 11/01/1943, Hoa Kỳ ký « Hiệp ước Trung – Mỹ về miễn áp dụng luật ngoài lãnh thổ tại Trung Quốc ». Trong điều khoản thứ 3 có ghi, xin trích : « Hoa Kỳ từ bỏ quyền quản lý và kiểm soát tại Trung Quốc và đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong việc đạt được sự từ bỏ các quyền đó từ các quốc gia khác. »

Điều này có nghĩa là Mỹ từ bỏ các đặc quyền ngoại trị từng áp đặt lên Trung Quốc từ thời các « hiệp ước bất bình đẳng », theo đó, các quyền tài phán của Phương Tây cho phép công dân nước ngoài trốn tránh công lý của Trung Quốc. Những đặc quyền này khá phổ biến ở châu Á trong thế kỷ 19, từ lâu đã được biện minh bằng ý tưởng rằng các nước châu Á « không đủ văn minh để xét xử đúng đắn » người phương Tây.

 

Theo quan điểm của Pierre Grosser, động thái này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một yếu tố cốt lõi trong chính sách của Roosevelt : « Hoa Kỳ đã lôi kéo Trung Quốc trở thành một cường quốc », đưa Trung Quốc tham gia vào câu lạc bộ các cường quốc lớn. Như một phần thưởng, Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã giành được một ghế trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc tương lai vào năm 1943. Và Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được tham gia các cuộc đàm phán lớn về trật tự kinh tế quốc tế như Bretton Woods.

 

Ngày nay, Bắc Kinh vẫn thường nhắc lại giai đoạn này để chứng minh rằng Trung Quốc không phải là một cường quốc mới nổi. Theo lập luận của họ, Trung Quốc đã được các đồng minh thắng trận công nhận là một cường quốc từ năm 1945.

 

1950 : Cuộc đối đầu quân sự Mỹ - Trung đầu tiên

 

Năm 1949, Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bại trận, Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan, thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Đây thực sự là một cú sốc lớn, ám ảnh giới chính khách Mỹ trong nhiều năm sau đó. Chủ nghĩa MaccarThy bài cộng sản ra đời từ đó ở Mỹ.

 

Năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ buộc Mao Trạch Đông phải điều khoảng một triệu quân sang Triều Tiên, khiến người con trai ông yêu quý nhất bị thiệt mạng. Theo Pierre Grosser, quyết định này của Mao Trạch Đông ít nhất vì ba động cơ : Thứ nhất là vì lợi ích an ninh. Bắc Kinh không thể chấp nhận việc quân đội Mỹ tiến sát biên giới Trung Quốc. Thứ hai là lý tưởng cách mạng. Và thứ ba, thường là yếu tố hay bị bỏ qua nhất, đó là nhu cầu củng cố quyền lực trong nước.

 

« Bằng cách phóng đại mối đe dọa từ Mỹ và nguy cơ về một cuộc “phản cách mạng toàn cầu” do Hoa Kỳ dẫn dắt, đặc biệt là nguy cơ can thiệp từ bên trong Trung Quốc, đây là một cách để củng cố quyền lực và trấn áp mọi hình thức có thể thách thức chế độ cộng sản. Và vì thế, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1951 đã diễn ra một chiến dịch trấn áp đẫm máu, khiến khoảng từ 500.000 đến 600.000 người thiệt mạng ».

 

Tuy nhiên, chuyên gia về châu Á Pierre Grosser đánh giá, hệ quả lớn nhất của cuộc chiến lại liên quan đến Đài Loan. Trước chiến tranh, Washington đã phần nào mất niềm tin vào Tưởng Giới Thạch. Nhưng chiến tranh Triều Tiên đã khiến Mỹ thay đổi hoàn toàn chính sách. Hạm đội 7 được điều tới eo biển Đài Loan và từ đó Mỹ chính thức trở thành lá chắn an ninh của hòn đảo. Đối với nhà sử học, đây là một bước ngoặt chiến lược quyết định, bởi vì Đài Loan từ đó trở thành điểm nóng lâu dài trong quan hệ Mỹ - Trung.

 

1972 và cú bắt tay « lịch sử » Nixon – Mao Trạch Đông

 

Ngày 28/02/1972, hình ảnh tổng thống Mỹ Richard Nixon, nổi tiếng chống cộng sản bắt tay chủ tịch đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã gây chấn động thế giới. Sự xích lại gần này, theo ông Pierre Grosser, đầu tiên bắt nguồn từ nhu cầu của Trung Quốc, diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi quan trọng :

 

« Điều cốt lõi mang tính bước ngoặt là sự rạn nứt quan hệ Trung – Xô. Sự rạn nứt này thậm chí đã leo thang đến mức suýt nổ ra chiến tranh thực sự. Dĩ nhiên, chiến tranh đã không bùng nổ vì leo thang không đến mức mất kiểm soát. Tuy nhiên, vào năm 1969, nhiều cuộc đụng độ nghiêm trọng dọc theo biên giới phía bắc giữa Trung Quốc và Liên Xô đã nổ ra. Từ đó, Mao Trạch Đông dần dần cho rằng kẻ thù số một của Trung Quốc là Liên Xô chứ không còn là Hoa Kỳ nữaChính điều này đã phần nào tạo thuận lợi cho quá trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ».

 

Nếu như cuộc gặp lịch sử này thường được thần thoại hóa như là một đòn chiến lược thiên tài của bộ đôi Nixon – Kissinger, đối với nhà nghiên cứu về châu Á, sự thay đổi này đã được chuẩn bị từ trước và xuất phát từ nhu cầu chiến lược của cả hai bên. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Mỹ sa lầy trong Chiến tranh Việt Nam. Và do vậy Washington kỳ vọng Bắc Kinh sẽ gây áp lực với đồng minh cộng sản Việt Nam để có được một thỏa thuận hòa bình.

 

Theo Pierre Grosser, nước cờ cho thấy là « vô ích ». Cộng sản Việt Nam kiên định duy trì thế tự chủ chiến lược, và thậm chí còn nuôi dưỡng sự ngờ vực lâu dài đối với Trung Quốc khi nhìn thấy nước này đang đàm phán với kẻ đang ném bom họ. Dù vậy, sự kiện này đã mở đường cho việc bình thường hóa bang giao Mỹ - Trung vào cuối thập niên 1970, và tạo đà cho Trung Quốc bước vào giai đoạn cải cách mở cửa.

 

2021 : Ngày Hoa Kỳ tạo ra đối thủ…

 

Ngày 07/04/1999, tại Nhà Trắng, tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố : « Nếu Trung Quốc chấp nhận những trách nhiệm đi kèm với việc gia nhập WTO, điều đó sẽ mang lại cho Hoa Kỳ khả năng tiếp cận rộng lớn đối với thị trường Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy nhanh hơn các cải cách nội bộ tại quốc gia này. Nếu Trung Quốc sẵn sàng tuân thủ các quy tắc của thương mại quốc tế, thì sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu Hoa Kỳ nói không. »

 

Từ thập niên 1970, tại Mỹ, đã tồn tại một niềm tin chiếm ưu thế cho rằng Trung Quốc sẽ là một « miền đất hứa » về kinh tế. Và việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ làm thay đổi đất nước này từ bên trong. Điều đáng chú ý là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng chia sẻ tính toán nhưng không theo cách như Hoa Kỳ và các nước phương Tây nghĩ : Trung Quốc xem việc gia nhập WTO như là một đòn bẩy để thúc đẩy cải cách nhằm thay đổi bộ máy quan liêu trong nước.

 

Tuy nhiên, canh bạc này còn được dựa trên một sự tính toán kinh tế rất cụ thể. Sử gia Pierre Grosser tóm tắt học thuyết do Robert Reich, bộ trưởng Lao Động Mỹ thời tổng thống Bill Clinton nêu ra như sau :

 

« "Trong tiến trình toàn cầu hóa này, chúng ta sẽ giữ lại những công việc được trả lương cao nhất, các khâu thiết kế và sáng tạo." Ở phía bên kia sẽ là những lao động Trung Quốc đảm nhận công việc sản xuất. Họ chỉ cần nhận hướng dẫn qua máy tính về cách thức chế tạo sản phẩm, thực hiện khâu gia công rồi gởi thành phẩm trở lại. Và như vậy đôi bên sẽ cùng có lợi. Tóm lại, nước Mỹ sẽ giữ những công việc sáng tạo, hấp dẫn nhất bởi vì tôi không nói là ông ấy nói như thế, nhưng hàm ý rằng, Trung Quốc sẽ không bao giờ có thể nâng cấp công nghệ sản phẩm ».

 

Nhưng những thực tế sau này đã cho thấy đây là một tính toán sai lầm, khi Trung Quốc dần trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Mỹ trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Việc hy vọng thương mại sẽ thúc đẩy dân chủ hóa Trung Quốc, chỉ là một ảo tưởng. Theo giải thích của Pierre Grosser, « đúng là có hy vọng đó (…) Nhưng ngay từ giữa những năm 1990 người ta đã thấy rằng những người siêu giàu và tầng lớp trung lưu không nhất thiết sẽ ủng hộ dân chủ. Người ta đã phần nào thấy rõ điều đó. Họ đã từng có hy vọng như vậy nhưng xét cho cùng, những lý do kinh tế mới là động lực chính khiến chính sách này được thúc đẩy ».

 

Tuy nhiên, sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã chuyển hướng toàn bộ sự chú ý của Hoa Kỳ sang Trung Đông. « Mỹ sa lầy ở Trung Đông trong suốt mười lăm năm, » trong khi đó, theo Pierre Grosser, « Trung Quốc lại phát triển mạnh mẽ trong những năm 2000 mà hầu như không bị Mỹ chú ý đến. »

 

2026 : Trận đấu thế kỷ

 

Ngày 13/05/2026, nhân cuộc họp thượng đỉnh Mỹ - Trung diễn ra ở Bắc Kinh, chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố : « Hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong khi đối đầu sẽ gây tổn hại cho cả hai. Chúng ta cần hỗ trợ lẫn nhau để cùng thành công và cùng thịnh vượng, qua đó mở ra một con đường mới : con đường chung sống hòa thuận giữa các cường quốc trong kỷ nguyên mới ».

 

Theo Pierre Grosser, tuyên bố trên của ông Tập Cận Bình không có gì là mới mẻ : Điều này nằm trong chiến lược nhất quán nhằm thể hiện Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm và lý trí, đối lập với hình ảnh một nước Mỹ bị xem là thất thường, khó đoán định. Kể từ năm 2008, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Hoa Kỳ đã bước vào giai đoạn suy yếu, cả về kinh tế lẫn địa chính trị.

 

Nhà sử học nhắc lại : « Tập Cận Bình từng nói rằng thế giới đang có những biến đổi chưa từng có từ một thế kỷ nay. Và một trong những biến đổi đó là Trung Quốc hiện đang lấy lại vị thế của mình, trở thành một đại cường, chứ không phải là một siêu cường, bởi vì, siêu cường thì không tốt, siêu cường gây chiến tranh, còn một cường quốc lớn đương nhiên phải được đối xử với sự tôn trọng ».

 

Vị chuyên gia này còn nhắc thêm rằng, « Trung Quốc thích suy nghĩ trong dài hạn, đồng thời thường xuyên nhắc lại rằng họ có hàng nghìn năm lịch sử, trong khi đó Hoa Kỳ mới chuẩn bị kỷ niệm 250 năm lịch sử của mình ».

 

Dù vậy, Pierre Grosser cũng lưu ý thêm rằng, cạnh tranh Trung – Mỹ hiện nay chưa hẳn là một cuộc Chiến Tranh Lạnh giống như thế kỷ XX do sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau về kinh tế giữa hai ông khổng lồ, « ngay cả khi hiện nay sự phụ thuộc của Trung Quốc vào Hoa Kỳ ít hơn nhiều so với bảy hoặc tám năm trước, bởi vì đã có cuộc chiến thương mại nhưng cũng vì giờ đây Trung Quốc tiến hành giao thương và đầu tư vào châu Á, quan tâm đến châu Âu và thậm chí người ta thường xuyên nói đến sự hiện diện của Trung Quốc ở châu Phi ».

 

Sử gia Pierrer Grosser nhìn nhận hiện nay Trung Quốc đang nỗ lực củng cố thế tự chủ về tài chính do lo ngại phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt quy mô lớn nếu xảy ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt liên quan đến Đài Loan, giống như những gì Nga và Iran đang trải qua.

 

Tóm lại, sự cạnh tranh giữa hai đại cường hàng đầu thế giới tồn tại đồng thời với nhu cầu hợp tác. Raymond Aron, một triết gia, nhà xã hội học, khoa học chính trị nổi tiếng người Pháp về Chiến tranh Lạnh chẳng phải đã từng nói : « Chiến tranh là điều không thể, nhưng hòa bình hoàn toàn cũng khó xảy ra ». Theo nhiều khía cạnh, công thức này có lẽ phản ảnh khá chính xác mối quan hệ Mỹ - Trung hiện nay !

 

 




TRUMP DỌA TIẾP TỤC TẤN CÔNG IRAN “BẤT CỨ LÚC NÀO’. TEHERAN ĐÁP TRẢ “ĐÁNH BẠI” MỸ (Thùy Dương / RFI)

 



Trump dọa tiếp tục tấn công Iran « bất cứ lúc nào », Teheran đáp trả « đánh bại » Mỹ

Thùy Dương  -  RFI

Đăng ngày: 03/09/2026 - 13:44

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20260903-trump-d%E1%BB%8Da-ti%E1%BA%BFp-t%E1%BB%A5c-t%E1%BA%A5n-c%C3%B4ng-iran-b%E1%BA%A5t-c%E1%BB%A9-l%C3%BAc-n%C3%A0o-teheran-%C4%91%C3%A1p-tr%E1%BA%A3-%C4%91%C3%A1nh-b%E1%BA%A1i-m%E1%BB%B9

 

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 02/09/2026 tuyên bố sẵn sàng tiếp tục tấn công Iran « bất cứ lúc nào », trong bối cảnh giao tranh giữa Mỹ và Iran tái diễn từ hôm Chủ Nhật sau một tháng tạm lắng. Cũng vào hôm qua, sau khi tiến hành một cuộc đáp trả quy mô lớn tại Trung Đông, Teheran thề sẽ « đánh bại » kẻ thù Mỹ.

 

https://s.rfi.fr/media/display/34913e50-a126-11f1-88fc-005056a97e36/w:1024/p:16x9/AP26236447179370.webp

Tấm biển quảng cáo của Iran in hình tổng thống Mỹ Donald Trump đang chìm dưới nước giữa các vụ nổ, kèm dòng chữ "Chiến thắng vĩ đại! Eo biển Hormuz", tại Teheran, Iran, vào ngày 24 tháng 8 năm 2026. AP Photo/Vahid Salemi - Vahid Salemi

 

Theo AFP, Iran cảnh báo là từ nay Hoa Kỳ phải chuẩn bị đối phó với một « chiến lược mới » của Iran nhắm tới « phá vỡ nền tảng » của Mỹ. Tuy nhiên, Teheran không nêu chi tiết về chiến lược này.

 

Liên quan đến vụ tấn công hôm thứ Ba 01/09 của Mỹ, truyền thông Nhà nước Iran cho biết có ít nhất 11 người thiệt mạng, trong đó có 4 người trong một đám cưới tại đông nam Iran, với gần 70 người khác bị thương. Chủ tịch Quốc hội Iran, đồng thời là trưởng đoàn đàm phán, Mohammad Bagher Ghalibaf, đã gọi Mỹ là « quỷ Satan » sau vụ tấn công nhằm vào đám cưới, gợi nhắc đến vụ oanh kích nhằm vào một trường học ở Minab, khiến 155 người thiệt mạng, trong đó có 120 trẻ em, vào những giờ đầu tiên của cuộc chiến hồi tháng 02.

 

Quân đội Mỹ không bình luận về thông tin cuộc không kích nhằm vào đám cưới, nhưng khẳng định « không bao giờ nhắm mục tiêu vào dân thường, trái ngược với Lực lượng Vệ binh Cách mạng ».

 

Về phía Koweit, ngay từ rạng sáng nay, quân đội thông báo trên mạng X là đang phải đối phó với « các cuộc tấn công thù địch bằng tên lửa và drone » của Iran. Truyền hình Nhà nước Iran xác nhận thông tin Teheran tấn công các căn cứ của Mỹ tại Koweit bằng tên lửa và drone.

 

Trump muốn eo biển Hormuz đổi tên thành « eo biển Trump » ?

 

Liên quan đến eo biển Hormuz, tổng thống Mỹ Donald Trump hôm qua đề xuất đổi tên eo biển này thành « eo biển Trump ». Trên mạng Truth Social, ông viết : « Giờ đây khi chúng ta đã kiểm soát nơi này, liệu chúng ta có nên đổi tên eo biển Hormuz thành +eo biển Trump+ không? ». Theo báo Pháp Le Parisien, sau đó, Nhà Trắng đăng trên mạng xã hội một bản đồ, trong đó tuyến hàng hải này được ghi tên là « eo biển Trump », kèm theo bình luận : « Nghe cũng hay đấy. »

 

Tin nhắn Truth Social của ông Trump được đưa ra chỉ vài ngày sau khi ông ký sắc lệnh đổi tên « hồ Ontario » nằm tại biên giới với Canada, thành « hồ America ».

 

----------------------------

Các nội dung liên quan

Tại Trung Đông, chiến sự gia tăng, Mỹ và Iran tiếp tục oanh kích lẫn nhau

MỸ - IRAN - VÙNG VỊNH

Chiến tranh Trung Đông : « Quân đội Mỹ thiếu nguồn lực cho một cuộc chiến cường độ cao kéo dài »

 THEO DÒNG THỜI SỰ

Sáu tháng chiến tranh Trung Đông : Mỹ tiêu hao lực lượng, Iran vẫn đủ sức

PHÂN TÍCH