Từ
Havana đến Miami: Người Cuba đương đại có còn trung thành với cách mạng?
Hoa
Vũ Ảnh, 花舞影:21世纪的古巴人,对革命到底拥护到什么程度?, Guancha
Lê Thị Thanh Loan, biên dịch - Nghiên cứu Quốc tế
12/02/2026
https://nghiencuuquocte.org/2026/02/12/tu-havana-den-miami-nguoi-cuba-duong-dai-co-con-trung-thanh-voi-cach-mang/
Trước
khi Liên Xô tan rã, tuy công nghiệp và nông nghiệp của Cuba mất cân đối, nhưng
trong chuỗi cung ứng của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON), nước này vẫn sở
hữu năng lực sản xuất thực thụ, cũng như có đủ khả năng hoàn thành kế hoạch sản
xuất và phân công thương mại của riêng mình, chứ tuyệt nhiên không phải là “những
kẻ lười biếng được nuôi không” như một số người Trung Quốc hiện nay vẫn lầm tưởng.
Tình trạng kinh tế hiện tại của họ là hệ quả tổng hợp từ sự đứt gãy chuỗi cung ứng
sau biến động tại Liên Xô – Đông Âu và lệnh trừng phạt kéo dài của Mỹ. Tuy
nhiên, các nguyên tắc của chủ nghĩa Marx, dù muôn hình vạn trạng thì đều gói gọn
trong một câu: Cơ sở kinh tế quyết định kiến trúc thượng
tầng, hay nói một cách thông tục là “có thực mới vực được đạo”. Trong bối cảnh
cơ sở kinh tế không vững chắc và Havana vốn nổi tiếng thế giới với tình trạng
“không có nhà mới”, thì ngay cả câu hát “Havana xinh đẹp, nơi ấy có ngôi nhà của
tôi” cũng khó mà nói với họ cho trọn vẹn.
Trong
điều kiện “cơ sở kinh tế” hiện nay của Cuba cùng tình trạng chung của đời sống
người dân (bất kể nguyên do là gì hay cục diện quốc tế ra sao), việc những người
có thiện chí trên khắp thế giới lo ngại về “kiến trúc thượng tầng” của nước này
là điều khó có thể tránh khỏi.
Những
gì chúng ta có thể nghĩ đến, kẻ địch chắc chắn cũng có thể nghĩ đến. Hơn nữa,
so với hơn 60 năm kể từ sự kiện Vịnh Con Lợn, kẻ địch của “nhiệm kỳ này” không
hề bình thường. Như người viết đã chỉ ra trong bài viết trước, có thể thấy rõ
kiểu “cánh hữu cuồng tín” cực kỳ nhiệt huyết ở những người đứng đầu nhiều bộ
ngành của Mỹ. Vào ngày 22/01 theo giờ địa phương, tờ Wall Street
Journal dẫn lời “nhiều nguồn tin thân cận” cho biết, chính quyền Trump
đang lên kế hoạch “lật đổ chính quyền Cuba” trước cuối năm nay, lấy kinh nghiệm
tại Venezuela làm khuôn mẫu, và các hoạt động tiền trạm như tìm kiếm “tay trong
sẵn sàng phối hợp với Mỹ” tại Cuba có thể đã bắt đầu.
Bài
viết này sẽ phân tích tính khả thi của ảo tưởng “tái hiện ở Cuba sự kiện ngày
3/1”, và như một bối cảnh cần thiết, sẽ điểm qua thực trạng hiện nay của phần
“kiến trúc thượng tầng” Cuba vốn chịu ảnh hưởng bởi cơ sở kinh tế như đã nói ở
trên, nhằm giúp độc giả có cái nhìn rõ ràng hơn về cục diện.
Liệu
các nhà lãnh đạo Cuba có bị cuốn đi bởi một đợt hành động kiểu “đột kích – đánh
nhanh – rút gọn” tương tự hay không?
“Những
rặng núi lặng im chuẩn bị cho cuộc chia ly, tiếng đại bác sẽ là người chủ trì đọc
bài văn tế… Họ sẽ hát khúc tang ca cho con người và gia súc, không có nước mắt,
chỉ có đạn chì hóa thành mưa. Họ nâng cao thi thể này, từ nấm mồ hướng về phía
mặt trời; tên của Người sẽ được ca vang mãi mãi: Vũ trang đối đầu vũ trang!” (Vũ
trang đối đầu vũ trang – ca khúc tưởng niệm Che Guevara năm 1978 của
Cuba, do Ramón Veloz thể hiện).
Đây
có lẽ là phản ứng đầu tiên của nhiều người sau khi đọc bài viết ngày 22/01 của Wall
Street Journal. Suy cho cùng, sau đối tượng bảo vệ trước đó là Chính phủ
Cách mạng Nhân dân Grenada năm 1983, thì đây là lần thứ hai lực lượng vũ trang
Cuba đồn trú tại các chính quyền cách mạng vùng Caribe phải đối mặt với kết cục
“nhiệm vụ thất bại + bị tiêu diệt toàn bộ” trước cuộc đột kích của quân đội Mỹ.
Hơn nữa, khác với lần ở Grenada khi lực lượng Cuba bị đánh bại chỉ là các công
nhân vũ trang phụ trách xây dựng cơ sở hạ tầng, thì lực lượng bị đánh bại lần
này là một đơn vị cận vệ tinh nhuệ do Quân đội Cách mạng Cuba và lực lượng an
ninh nội địa (cảnh sát vũ trang) cùng cử sang, trực tiếp đóng vai trò là lớp
phòng thủ cuối cùng cho tổng thống nước sở tại.
Vấn
đề này cần được xem xét từ hai khía cạnh.
Về
mặt các yếu tố bất lợi, thủ đô Havana của Cuba cũng giống như thủ đô Caracas của
Venezuela, đều nằm ở bờ biển phía Bắc, đối diện với một vùng lãnh thổ có quân đội
Mỹ đồn trú, hoàn toàn không có chiều sâu chiến lược. Điều này có nghĩa, sau khi
cảnh báo sớm được phát ra, các nhà lãnh đạo có rất ít thời gian để di chuyển hiệu
quả. Hơn nữa, như nguyên mẫu ngoài đời thực của “Trường Thợ săn” trong bộ
phim Thoát khỏi Amazon, lực lượng đặc nhiệm Venezuela có trình độ
chuyên nghiệp thuộc hàng cao nhất Mỹ Latinh và đẳng cấp thế giới. Xét thêm việc
Venezuela đã mua tiêm kích Su-30 và một lượng lớn hỏa lực phòng không từ Nga
trong những năm gần đây, lực lượng lục quân và không quân Cuba – vốn đã không
còn phong độ như “thời kỳ Angola” – rõ ràng yếu hơn Venezuela ở những khía cạnh
này.
Về
mặt logic, nếu đội cận vệ Cuba cộng với lực lượng kỹ thuật Venezuela vòng ngoài
(vốn mạnh hơn bản thân Cuba) không thể ngăn chặn đội đặc nhiệm của Mỹ, thì có
thể suy luận một cách hợp lý rằng, lực lượng đang bảo vệ sát sao các nhà lãnh đạo
Cuba cũng sẽ không thể ngăn chặn một cuộc đổ bộ đường không chớp nhoáng tương tự
của Mỹ.
Tuy
nhiên, xét về mặt các yếu tố có lợi, việc Trump muốn tái hiện một chiến dịch bắt
cóc ở Cuba sẽ không dễ dàng.
Khác với
Venezuela, Cuba hiện có hai nhà lãnh đạo tối cao về mặt tư tưởng:
1)
Miguel Díaz-Canel – hạt nhân lãnh đạo thế hệ mới
Díaz-Canel
là một trong số hiếm hoi các nhà lãnh đạo tối cao thuộc phe cánh tả Mỹ Latinh sở
hữu nền tảng học vấn đại học về khoa học kỹ thuật. Sự nghiệp ban đầu của ông trải
dài từ quân đội, giảng dạy đại học, hệ thống Đoàn Thanh niên Cộng sản và công
tác viện trợ quốc tế. Ông từng giữ các chức vụ như Bí thư tỉnh ủy, Bí thư thứ
hai Đoàn Thanh niên Cộng sản, Bộ trưởng Giáo dục Đại học và Phó chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng phụ trách văn hóa giáo dục. Tuy thiếu kinh nghiệm quản trị ở cấp cơ sở
, nhưng nhìn chung lý lịch của ông tương đối ấn tượng.
Từ
tháng 2/2013, Miguel Díaz-Canel kế nhiệm Machado (người cùng thế hệ với Fidel
và Raúl) để giữ chức Phó Chủ tịch thứ nhất của Hội đồng Nhà nước (Phó Chủ tịch
nước thực quyền) kiêm Phó Chủ tịch thứ nhất của Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng
thường trực). Điều này đã làm thay đổi tình hình ở Cuba – nơi quyền lực tối cao
vốn chỉ quẩn quanh trong nội bộ thế hệ cách mạng đầu tiên suốt nửa thế kỷ.
Năm
2018, tiếp nối truyền thống “kiêm ba chức vụ” ở Cuba cách mạng, Díaz-Canel lần
lượt kế nhiệm các chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
(Thủ tướng) và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (CDN – tương đương Quân ủy Trung
ương). Sau khi hiến pháp mới được thông qua vào năm 2019, ông trở thành Chủ tịch
nước đầu tiên của Cuba. Sau Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Cuba năm 2021, Raúl
Castro chính thức nghỉ hưu về mặt pháp lý và Díaz-Canel tiếp quản chức Bí thư
thứ nhất.
So
với Maduro – người vào đầu tháng 1 vẫn còn xuống đường vận động tranh cử, bắt
chước điệu nhảy của Trump, hát vang các bài hát phản chiến và tuyên bố “tôi
không chống Mỹ”, thì Díaz-Canel, kể từ khi cơn bão Melissa quét qua vào cuối
tháng 10 đến nay, hầu như luôn xuất hiện trong bộ quân phục. Trước đây, ông chỉ
mặc quân phục khi tham gia các hoạt động cứu trợ thiên tai, nhưng giờ đây ngay
cả khi tiếp khách quốc tế ông cũng mặc như vậy. Ngoại lệ duy nhất được biết đến
là tại Hội nghị thượng đỉnh ALBA ngày 14/12 và buổi lễ tưởng niệm ngày 4/1. Ít
nhất thì về ý thức sẵn sàng chiến đấu, “vẻ bề ngoài” của Chủ tịch nước Cuba đã
đạt yêu cầu.
2) Raúl
Castro – nhà lãnh đạo đã lui về tuyến hai
Kể
từ Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Cuba năm 2021, Tướng Raúl Castro Ruz đã trao
lại mọi chức vụ ngoại trừ ghế đại biểu Quốc hội và hiếm khi xuất hiện trước
công chúng. Tuy nhiên, với tư cách là “lãnh đạo mặt trận của Cách mạng Cuba”
(líder al frente de la Revolución cubana) theo cách gọi của truyền thông chính
thống, ông vẫn là ngọn cờ tinh thần kế thừa “tính chính danh sơ khởi” của Fidel
Castro. Trong cuộc biến động năm 2021 ở Cuba, khi một số người hô vang khẩu hiệu
“Tổ quốc và Cuộc sống” (Patria y Vida) nhằm giải cấu trúc diễn ngôn lịch sử “Tổ
quốc hay là chết” (Patria o Muerte) của Cách mạng Cuba, thì chính Raúl, như một
sự tiếp nối hữu hình của ký ức tập thể lãng mạn của người Cuba thời kỳ đó, đã
giáng một đòn mạnh vào những nỗ lực hư vô hóa lịch sử này.
Cộng
đồng người Cuba chống cộng ở Miami vừa căm ghét vừa sợ hãi sức ảnh hưởng đó của
Raúl. Vào thời điểm cuối hè đầu
thu năm
ngoái, họ đã phát động một chiến dịch tung tin đồn ở Cuba rằng Raúl đã qua đời
trong bí mật/đang được đưa đi cấp cứu, nhằm phối hợp với chiến dịch leo thang bạo
lực ở vùng Caribe của Trump. Đáp lại, từ tháng 10, Raúl đã xuất hiện trở lại tại
các cuộc họp của Hội đồng Quốc phòng, ngồi ngang hàng với Díaz-Canel ở vị trí
chủ tọa, như một biện pháp để trấn an lòng dân, lòng quân và giúp người kế nhiệm
“giữ vững trận địa”.
Thực
tế, ở tuổi 94, Raúl Castro vẫn giữ được ảnh hưởng mà Díaz-Canel hiện chưa có đối
với Quân đội Cách mạng Cuba – lực lượng mà ông từng trực tiếp chỉ huy trong thời
gian dài với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng. Ban đầu, Quân đội Cách mạng Cuba
vốn chỉ là một “đội quân nổi dậy” điển hình trong diễn ngôn tự do lãng mạn kiểu
Mỹ, và chính Raúl là người đã đưa vào đó hệ thống giáo dục chính trị Marx –
Lenin và hệ thống công tác chính trị, để biến nó thành một lực lượng vũ trang đỏ
dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Cuba.
So
với Venezuela – nơi vốn dựa trên thể chế quân đội tư sản “quốc hữu hóa”, duy
trì bằng các mối quan hệ cá nhân mà Chávez để lại và sự “chia chác lợi ích dầu
mỏ” trần trụi, thì kỳ vọng của bên ngoài đối với lòng trung thành của quân đội
Cuba có thể được nâng cao đáng kể. Hơn nữa, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong
các hoạt động chống đột kích là trực tiếp bảo vệ các nhà lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước, và nhiệm vụ này được đảm nhiệm bởi “Đội Cảnh giới” (Tropas de
Prevención) – một lực lượng có quyền hạn rất lớn, vừa mang tính quân sự vừa
mang tính cảnh sát, trực thuộc Tổng cục Phản gián Quân sự (CIM).
Bên
cạnh CIM, Cuba còn có cơ quan tình báo riêng để giám sát Mỹ, đó chính là Tổng cục
Tình báo (DGI). Có kỷ luật nghiêm minh và kinh nghiệm dày dạn, tổ chức này
không chỉ trấn áp các hoạt động lật đổ của Mỹ trên lãnh thổ Cuba, mà còn thâm
nhập vào các cơ quan tình báo Mỹ. Họ tận dụng những người trung thành ẩn mình
trong cộng đồng người Mỹ gốc Cuba tại Miami, các nhà hoạt động vì độc lập của
Puerto Rico (từng được Cuba tài trợ và huấn luyện trong thời gian dài), thế hệ
trẻ người Mỹ gốc Cuba có thiện cảm với cách mạng, hay thậm chí cả những người Mỹ
nói tiếng Anh, để cài cắm điệp viên hai mang, điều hành các hoạt động buôn bán
ngầm và thậm chí cả một dạng “bưu chính” giữa Miami và Cuba. Trong hơn nửa thế
kỷ, họ đã đấu trí qua lại với CIA và FBI, không bên nào áp đảo hoàn toàn. Lần
này, việc thông tin tình báo về cuộc đột kích của Mỹ nhằm vào Maduro không bị
rò rỉ trước có thể được coi là một sai sót của DGI.
3) Tập
thể lãnh đạo Đảng Cộng sản Cuba trong quá trình chuyển giao từ thế hệ cách mạng
lão thành sang thế hệ kế cận
Ngay
cả khi không xét đến các yếu tố tình báo, Cuba vẫn rất khác biệt so với
Venezuela. Đảng Cộng sản Cuba được thành lập chính thức vào năm 1965, tuy xuất
phát từ nhiều nhánh khác nhau như Quân đội Cách mạng, Đảng Xã hội Nhân dân,
Phong trào 13 tháng 3 và giới trí thức cánh tả độc lập, nhưng họ cực kỳ đoàn kết,
trong suốt 60 năm chỉ trải qua một cuộc đấu tranh nội bộ duy nhất và chưa từng
tiến hành bất kỳ cuộc thanh trừng chính trị nào.
Hiện
nay, bên cạnh Miguel Díaz-Canel, trong số các nhà lãnh đạo thế hệ mới như Phó
Chủ tịch nước Salvador Valdés Mesa, Thủ tướng Manuel Marrero Cruz… không có ai
thuộc phe “cải cách” theo nhãn quan phương Tây – tức những người muốn từ bỏ sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba và định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy xuất thân từ
giới kinh doanh và nổi tiếng với việc thúc đẩy xây dựng hạ tầng du lịch sau khi
nhậm chức, nhưng Marrero có lập trường rất kiên định về việc củng cố nền chuyên
chính vô sản.
Raúl
hiện cũng không hề đơn độc. Những người cùng thế hệ với ông như cựu Phó Chủ tịch
Hội đồng Nhà nước Ramiro Valdés Menéndez (không liên quan tới Salvador Valdés),
cựu Bí thư thứ hai Trung ương Đảng José Ramón Machado Ventura (không liên quan
tới Machado của phe đối lập) và Esteban Lazo Hernández – hiện là Chủ tịch Quốc
hội – đều vẫn còn đó. Tuy hầu hết đã nghỉ hưu nhiều năm, nhưng họ vẫn khỏe mạnh,
minh mẫn và sở hữu uy tín cùng nhận thức chính trị thống nhất để lại từ thời
cách mạng. Giống như Raúl, kể từ khi tình hình ở Venezuela trở nên căng thẳng
vào nửa cuối năm ngoái, các nhà cách mạng kỳ cựu cũng thường xuyên xuất hiện
trước công chúng.
Tóm
lại, tuy Mỹ nhiều khả năng vẫn chiếm ưu thế về chiến thuật và kỹ thuật trong một
chiến dịch tương tự, nhưng khác với ở Venezuela, Mỹ khó có thể bắt hết các nhà
lãnh đạo Cuba. Hơn nữa, ngay cả khi Mỹ dàn dựng được hai cuộc đột kích lẻ tẻ cực
kỳ thành công để “bốc” cả Raúl Castro lẫn Díaz-Canel ra khỏi Cuba, thì họ cũng
khó lòng tìm được một đối tượng đàm phán ưng ý trong phần còn lại của hệ thống
thể chế.
Đo lường
lòng trung thành của người Cuba: Một ví dụ cơ bản
“Ôi,
những chàng trai nói rằng Tổ quốc ta không đủ đẹp; ôi, những cô gái bảo rằng
quê hương ta chẳng đủ mặn mà! Tôi mời bạn hãy tìm kiếm khắp thế gian một vầng
trăng khác sáng trong đến thế; một màn đêm khác xanh trong đến vậy; một làn
hương ngọt ngào khác vương trên ruộng mía.
Khí
phách của Fidel lẫm liệt trên đỉnh núi; một viên hồng ngọc, năm dải kẻ ngang và
một ánh sao…” (Cuba, Cuba tươi đẹp biết bao – ca khúc năm 1978 của
Cuba, do Ramón Veloz thể hiện).
Dù
vậy, sau sự kiện “ngày 3/1” ở Venezuela, vẫn còn một yếu tố khiến người ta lo
ngại mà vẫn chưa được phân tích ở trên:
Liệu
xung quanh các nhà lãnh đạo Cuba có xuất hiện hay không trường hợp giống như vụ
Maduro – nơi chính Trump ngay ngày hôm sau đã khoe khoang rằng “nhân vật nội bộ
nhỏ nhưng then chốt” đã bị CIA mua chuộc, dẫn đến tổn thất nặng nề?
Quyền
trả lời câu hỏi này thuộc về lịch sử, nhưng xét về cảm quan chủ quan, niềm tin
của người viết đối với lòng trung thành chính trị của các cán bộ, đảng viên
Cuba lớn hơn nhiều so với ở Venezuela.
Cần
lưu ý, điều này không có nghĩa người viết ôm giữ một kiểu “định kiến máy móc về
cộng sản” nào đó, đồng
thời cho rằng người Cuba ngày nay vẫn là một khối thép đồng nhất, ai nấy đều hô
vang “chỉ cần Cuba, không cần Mỹ” và sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ hạnh
phúc do cách mạng mang lại – chí ít thì điều đó không hoàn toàn đúng ở giai đoạn
hiện tại.
Trái
lại, nhận định của người viết xuất phát từ một đặc điểm quan trọng của các xã hội
bị cực hóa chính trị, đó là niềm tin của người dân ở mỗi “cực” thường rất chân
thực, vững chắc và ít bị uốn nắn bởi tuyên truyền của phía đối địch; và những bất
đồng thường tập trung vào mô hình nhận thức hơn là sự khác biệt trong việc lý
giải các sự kiện khách quan. Ít nhất là kể từ sau biến động tại Liên Xô và Đông
Âu, “cộng đồng người Cuba (nghĩa rộng)” chính là một xã hội bị cực hóa chính trị.
Sự chia rẽ toàn diện từ giá trị quan đến nhận thức cơ bản “giữa những người
Cuba với nhau” thậm chí có thể được coi là điềm báo sớm cho hiện tượng cực hóa
tương tự trong xã hội Mỹ.
Để
cung cấp một góc độ quan sát cho hiện tượng này, người viết sẽ ôn lại câu chuyện
về Elián González – “người thuộc thế hệ 9x nổi tiếng nhất ở Cuba”. Vụ việc
“Hành trình kỳ thú của Elián González” năm 2000 đã có tác động sâu sắc đến
chính trị Mỹ. Một số người Trung Quốc có lẽ đã biết sơ lược về vụ việc này,
nhưng người viết quyết định sẽ dành một phần nội dung để hệ thống lại chi tiết
và coi đây là nền tảng cho phần thảo luận tiếp theo.
Kể
từ khi ngành du lịch mở cửa vào những năm 1990, bán đảo Varadero – khu nghỉ dưỡng
nổi tiếng của “Cuba cũ” – đã được khôi phục và chuyển đổi thành một khu du lịch
rộng lớn dành riêng cho du khách nước ngoài. Vào thời điểm đó, khu nghỉ dưỡng
này được ngăn cách với đảo chính Cuba bằng hàng rào vật lý, còn nhân viên phục
vụ du lịch thì đi làm hằng ngày từ thị trấn nhỏ lân cận là Cárdenas.
Cha
của Elián González là Juan Miguel (nhân viên phục vụ tại một nhà hàng Ý trong
khu nghỉ dưỡng Varadero) và mẹ cậu là Elizabeth sống ở Cárdenas. Họ đã rạn nứt
tình cảm và đăng ký ly hôn từ năm 1991, nhưng do tình trạng khó khăn về nhà ở tại
Cuba, họ không những tiếp tục sống chung mà còn có giai đoạn “dây dưa chưa dứt”.
Juan Miguel thậm chí còn khiến vợ cũ mang thai vào năm 1993. Tháng 12 năm đó,
Elizabeth sinh một bé trai, chính là Elián. Bất chấp những bất đồng về quan điểm
chính trị và những phức tạp trong quan hệ tình cảm, cả hai đều rất yêu con, và
theo cách hiểu của riêng mình, đều mong muốn mang lại cho con mình một cuộc sống
tốt đẹp.
Năm
1996, Elián cai sữa, Elizabeth cuối cùng cũng giải quyết được vấn đề nhà ở
(trên thực tế dường như là vì cô đã tìm được bạn trai mới), liền chuyển ra khỏi
nhà González và chính thức sống ly thân với Juan Miguel – người lúc đó cũng bắt
đầu hẹn hò với bạn gái mới. Tuy nhiên, hai người vẫn cùng nhau nuôi dưỡng
Elián, và Elizabeth trực tiếp chăm sóc con ít nhất hai ngày mỗi tuần.
Juan
Miguel có họ hàng có thể liên lạc được ở Mỹ, nhưng anh là một người ủng hộ nhiệt
thành của Đảng Cộng sản Cuba. Trong khi đó, Elizabeth không có mối liên hệ hải
ngoại nào được biết đến, nhưng dưới ảnh hưởng của bạn trai mới – “kẻ dẫn đường”
(mule) chuyên đưa người qua lại giữa Miami và đảo Cuba – cô ngày càng bị thu
hút bởi nước Mỹ và cuối cùng đã biến điều đó thành hành động.
Ngày
21/11/1999 (ngày phóng tàu Thần Châu 1) là một ngày cuối tuần. Juan Miguel đang
trực ca, còn Elián 5 tuổi thì ở cùng mẹ theo thỏa thuận. Vào lúc 4 giờ sáng,
Elizabeth, sau thời gian dài chuẩn bị, đã lén đưa con trai đi cùng bạn trai và
10 người Cuba khác, lên một chiếc thuyền máy bằng nhôm được cải tiến và ra khơi
hướng về “ngọn hải đăng nước Mỹ” trong mơ. Thế nhưng, họ đã gặp phải một cơn
bão, động cơ chết máy, thuyền bị ngập nước rồi lật úp trên vùng biển quốc tế ở
phía Đông Fort Lauderdale, Florida.
Mẹ
của Elián cuối cùng đã không thể nhìn thấy hình dáng của nước Mỹ. Nhưng trong
khoảnh khắc cuối cùng, bà đã đặt cậu bé Elián vào một chiếc lốp bơm hơi, giúp cậu
bé trôi dạt một mình trên biển suốt hai ngày một cách kỳ diệu, cho đến khi được
các ngư dân Mỹ cứu sống. Những người này trực tiếp giao cậu bé cho Lực lượng Tuần
duyên Mỹ ngay trên biển.
Ngày
22/11, Juan Miguel phát hiện Elián mất tích và lập tức đoán rằng vợ cũ đã đưa cậu
bé sang Mỹ. Anh vô cùng tức giận nhưng bất lực, nên đành gọi ngay cho người chú
mang quốc tịch Mỹ và hiện đang sống ở Miami của mình là Lázaro, để thông báo rằng
cháu trai của ông có thể đã mẹ cậu đưa sang Mỹ và nhờ ông để mắt tìm kiếm cậu
bé. Không lâu sau, Cục Di trú và Nhập tịch Mỹ (INS) – tiền thân của ICE – đã
bàn giao đứa trẻ cho Lázaro, và Juan Miguel cũng biết được rằng vợ cũ của mình
đã chết đuối, còn con trai thì đã đến Mỹ.
Dựa
trên thỏa thuận “chân ướt, chân ráo” mà Clinton đạt được với Cuba năm 1994, người
Cuba vượt biên nếu bị Tuần duyên bắt giữ trước khi đặt chân lên đất Mỹ sẽ bị
đưa trả về Cuba, không được nhập cảnh, không được nhận tư cách quay số di trú
và cùng lắm thì bị trục xuất sang nước thứ ba. Vấn đề nằm ở chỗ:
Thứ
nhất, mẹ của Elián đã đưa cậu đi mà hoàn toàn không có sự đồng ý của cậu, và việc
một đứa trẻ 6 tuổi có “quyền đồng ý” hay không là một điểm mù pháp lý. Thứ hai,
mẹ của Elián và hôn phu đều đã chết đuối, trong khi người giám hộ hợp pháp còn
lại (Juan Miguel) của cậu thì đang ở Cuba. Vậy là Lázaro đã trở thành một trong
những người có quan hệ huyết thống gần nhất với Elián trong phạm vi pháp lý Mỹ,
nhưng tư cách giám hộ của ông rõ ràng thấp hơn nhiều so với cha ruột của đứa trẻ.
Thứ ba, do nửa năm trước đó quân đội Mỹ vừa bị dư luận chỉ trích dữ dội vì vụ
“dùng vòi rồng bắn lật thuyền vượt biên”, nên lần này họ đã trực tiếp trao
Elián cho Lázaro để tránh rắc rối. Hành động này tuy sai quy định, nhưng về
khách quan đã thực sự khiến cậu bé “đặt chân lên đất Mỹ”.
Vụ
việc này đã chạm đến một khoảng trống lớn trong hệ thống pháp luật vốn “nghĩ gì
làm nấy” của Mỹ. Điều đó khiến chính phủ và bộ máy thực thi pháp luật thời
Clinton – do tầng lớp người da trắng nói tiếng Anh miền Bắc chi phối – tự mâu
thuẫn trong lập trường ở giai đoạn đầu, và đến giai đoạn sau thậm chí còn xuất
hiện một cục diện quái lạ khi chính phủ Cộng sản Cuba, người dân Cuba bình thường
và chính phủ liên bang Mỹ cùng đứng về một phe để đối đầu với tầng lớp tinh hoa
người Mỹ gốc Cuba.
Việc
chú ý đến bối cảnh này là cực kỳ quan trọng, bởi nó cho chúng ta thấy rõ thực
chất cuộc chiến này là giữa ai với ai:
Với
đầy định kiến, Lázaro cho rằng nếu Elián đã đến Mỹ thành công thì đương nhiên
phải ở lại để ông nuôi dưỡng, có được thân phận công dân Mỹ và có một tương lai
tươi sáng. Việc đưa cậu trở lại sự “tăm tối”, nghèo đói và một “gia đình nguyên
sinh” cộng sản vừa trải qua nạn đói không khác gì đẩy cậu về với “hang quỷ” –
điều mà “lương tri cơ bản của con người” trong ông không thể chấp nhận. Xuất
phát từ tình yêu mù quáng dành cho đứa trẻ, ông đã tự chỉ định con gái mình (tức
cô họ của Elián) Marisleysis làm “người giám hộ” mà không có sự đồng ý của Juan
Miguel. Marisleysis có ngoại hình ưa nhìn, trong giai đoạn đầu đã thu hút được
không ít sự đồng cảm của cộng đồng.
Tuy
nhiên, với tư cách là một người cha bình thường và một người ủng hộ trung thành
của Đảng Cộng sản Cuba, Juan Miguel kiên quyết khẳng định quyền giám hộ của
mình và yêu cầu người chú trao trả con trai. Tuy chỉ là một nhân viên phục vụ
nhà hàng, nhưng khu nghỉ dưỡng Varadero là một trong những nguồn thu ngoại tệ
quan trọng nhất của Cuba trong thập niên 1990, nên với tư cách là nhân viên
doanh nghiệp nhà nước có yếu tố đối ngoại, anh đủ khả năng gây ảnh hưởng lên
chính phủ. Ngay sau đó, các cơ quan truyền thông như tờ Granma của
Đảng Cộng sản Cuba đã đăng tải bức thư ngỏ của Juan Miguel gửi chính phủ liên
bang Mỹ, yêu cầu họ ngăn chặn hành vi bắt cóc của những người họ hàng vô lương
tâm ở Miami, và giải cứu con trai anh khỏi nanh vuốt của những kẻ xấu xa này.
Ngày
21/1/2000, bà nội Mariela và bà ngoại Raquel của đứa trẻ cùng bay từ Havana đến
Miami. Thông qua một nữ tu người Dominica, họ đã gặp cậu bé Elián. Sau đó, họ đến
Washington để “vận động hành lang” Bộ trưởng Tư pháp của chính quyền Clinton và
một số nghị sĩ Quốc hội. Chuyến đi Mỹ này không giúp họ giành lại được cháu
trai, nhưng đã thành công trong việc thuyết phục Bộ Tư pháp Mỹ công nhận “Juan
Miguel là người đại diện hợp pháp duy nhất của đứa trẻ” (sự công nhận này được
giữ vững cho đến phút cuối), đồng thời đập tan ý đồ của những nghị sĩ thuộc cả
hai đảng muốn nhanh chóng thông qua một đạo luật “thủ đoạn” nhằm trực tiếp biến
Elián thành công dân Mỹ.
Tuy
nhiên, ngay sau khi cả hai trở về Cuba, một số tin đồn kỳ lạ bắt đầu lan truyền
trên các tờ báo địa phương ở Miami, chẳng hạn như “Bà ngoại Raquel của Elián đã
nói với nữ tu trung gian rằng bà cũng muốn đào tẩu sang Mỹ”, hay “Việc
Elizabeth ly hôn và vượt biên đều là do Juan Miguel bạo hành vợ”. Tuy những
thông tin này lập tức bị chính vị nữ tu bác bỏ, nhưng các tờ báo đã đăng tải
tin đồn ban đầu vẫn tuyên bố giữ nguyên nội dung đưa tin ngay cả sau khi bị phủ
nhận.
Nhìn
lại sự việc, đây rõ ràng là mánh khóe của nhánh Lázaro thuộc gia tộc González tại
Miami và các nhà tài trợ đứng sau họ.
Ban
đầu, Lázaro và những người khác đã gọi điện cho Juan Miguel, đề nghị anh sang Mỹ
định cư để giải quyết mọi tranh chấp, họ thậm chí còn đề nghị cấp cho anh một
căn nhà và một chiếc xe hơi làm chi phí an cư. Tuy nhiên, Juan Miguel đã kiên
quyết, đồng thời quay sang phanh phui sự việc này trên truyền thông Cuba và Mỹ.
Tiếp
đó, nhánh Lázaro tại Miami bắt đầu thực hiện chiến thuật “ba gọng kìm”:
1. Xây dựng luận điệu rằng
“gia đình ở Cuba đang bị chính phủ Đảng Cộng sản ép buộc, những gì họ thể hiện
không phải là ý nguyện thực sự”;
2. Tăng cường việc tẩy
não đối với Elián:
Hai
chiến thuật này tiếp tục được áp dụng cho đến ngày 14/4, khi vụ việc đã gần như
ngã ngũ. Khi Juan Miguel đích thân bay từ Havana đến Miami để đón con trai, thì
một đoạn video bất ngờ lan truyền trong cộng đồng người Mỹ gốc Cuba ở Nam
Florida, trong đó Elián nói với cha mình rằng “Con muốn ở lại Mỹ”. Tuy nhiên,
có thể nghe loáng thoáng thấy trong video có một giọng nói tiếng Tây Ban Nha
đang “mớm lời” cho cậu bé. Truyền thông Cuba lập tức vạch trần điều này, từ đó
châm ngòi cho một cuộc chiến về nhận thức giữa hai bên mà theo góc nhìn của người
Mỹ thì cuối cùng đã bị cho qua trong im lặng.
3. Với sự hậu thuẫn mạnh
mẽ của các chính trị gia địa phương ở Miami và các tổ chức chống Cuba, gia đình
Lázaro đã lập một đội ngũ luật sư hùng hậu để sẵn sàng khởi kiện chính phủ liên
bang Mỹ nếu cần thiết.
Do
hiệu ứng “chim sợ cành cong” mà các nhóm này tạo ra, không một luật sư nào ở
Nam Florida dám nhận làm đại diện của Juan Miguel.
Cuối
cùng, Juan Miguel đã liên hệ với một người chú khác của mình là Manuel – anh
trai của Lázaro và đang làm thợ sửa xe buýt trường học tại Miami. Quyết định đứng
về phía Juan Miguel, Manuel tìm được một tổ chức nhân quyền ở Chicago chuyên bảo
vệ quyền lợi của các ông bố (trong các vụ ly hôn), nhờ đó giúp cháu mình tìm được
luật sư. Tuy nhiên, vào cuối tháng 2, sau khi Manuel đại diện cho cháu tới nhà
em trai Lázaro để đàm phán, vừa về tới nhà thì đột ngột phát bệnh nặng và được
xe cứu thương đưa đi. Cùng lúc đó, vị thẩm phán liên bang vốn dự định ra phán
quyết về đơn xin tị nạn cũng bất ngờ bị đột quỵ, không thể tiếp tục xử án.
Trong
khoảng thời gian này còn xảy ra một sự việc không liên quan trực tiếp đến toàn
bộ vụ việc: Một quan chức cao cấp của Cục Di trú Liên bang Mỹ phụ trách các vấn
đề quanh Nam Florida đã “ngã ngựa” tại Miami và bị khui ra là một thành viên ngầm
của Đảng Cộng sản Cuba.
Ngày
21/3, một thẩm phán liên bang mới đã bác bỏ yêu cầu của gia đình Lázaro và các
tổ chức chống Cuba ở Miami về việc “cưỡng chế cấp tị nạn cho Elián”. Sau đó, Thị
trưởng hạt Dade (lúc đó vừa đổi tên thành hạt Miami-Dade) là Penelas – một người
gốc Cuba – tuyên bố rằng nếu chính phủ liên bang muốn giành lại Elián, chính
quyền địa phương sẽ từ chối cung cấp bất kỳ sự hỗ trợ nào, kể cả lực lượng cảnh
sát.
Như
đã đề cập trước đó, hai người bà từng đến Mỹ để “đòi” Elián González đã thuyết
phục được Bộ trưởng Tư pháp Janet Reno của chính quyền Clinton. Sau phán quyết
của tòa án, Janet Reno đã ra lệnh đưa Elián González trở lại Cuba và ấn định thời
hạn cưỡng chế thi hành là ngày 13/4.
Tuy
nhiên, với sự hậu thuẫn bởi một nhóm đông đảo các “tinh hoa chống Cuba” ở
Florida và Miami, gia đình Lázaro đã từ chối hợp tác. Theo các bằng chứng hiện
có, gia đình Lázaro thực chất không hề giàu có, nhưng với sự bảo trợ của nhóm
này, họ đã huy động được một cách khó tin một nhóm đông đảo các phần tử xã hội
đen, những kẻ hữu khuynh vũ trang và những kẻ cuồng tín túc trực ngày đêm bên
ngoài nhà Lázaro để “kháng nghị”. Họ yêu cầu chính phủ liên bang “giữ lại” quyền
giám hộ của Lázaro, đảm bảo rằng không đưa đứa trẻ trở về Cuba, không đưa đứa
trẻ rời khỏi Miami (họ cho rằng Cuba – lúc đó còn chưa thiết lập quan hệ ngoại
giao với Mỹ – sẽ cử các nhà ngoại giao đến “bắt cóc” cậu bé), và đã đối đầu với
lực lượng đặc nhiệm liên bang trong suốt hơn một tuần.
Do
cảm quan về sự việc dần trở nên giống như một vụ bắt giữ con tin, cuối cùng, với
sự phê chuẩn trực tiếp từ Clinton, rạng sáng ngày 22/4/2000, chính phủ liên
bang Mỹ đã điều động hơn 130 nhân viên đặc nhiệm liên bang và đặc vụ di trú,
phát động một cuộc đột kích mà về hình thức khá tương đồng với chiến dịch “bắt
cóc Maduro” năm nay: Đầu tiên, lực lượng đặc nhiệm giải tán hơn 20 phần tử chống
Cuba có vũ trang đang chặn cửa nhà để “kháng nghị”; sau đó, các đặc vụ vũ trang
thuộc hệ thống biên phòng phá cửa xông vào, giành lấy Elián từ tay nhóm người
thân ở Miami, rồi lập tức dùng chuyên cơ đưa cậu bé tới Căn cứ Không quân
Andrews ở Washington để bàn giao cho Juan Miguel – người đã bay từ Cuba sang Mỹ
từ trước để đón con.
Nhiều
người lầm tưởng rằng vụ việc này đã kết thúc sau khi bức ảnh đặc nhiệm Mỹ bế
Elián được công bố. Trên thực tế, sau khi hoàn tất việc “giành người”, Elián vẫn
nằm dưới sự kiểm soát của quân đội và cảnh sát Mỹ. Để đưa cậu bé trở về Cuba,
Juan Miguel và chính phủ Cuba đã phải tiếp tục đấu tranh với nhóm họ hàng tại
Miami thêm hơn hai tháng, cho đến khi đối phương cạn kiệt mọi chiêu trò cả về
pháp lý lẫn tuyên truyền.
Vào
ngày 22/4, luật sư người Mỹ của Juan Miguel là Craig đã công bố bức ảnh gia
đình Elián đoàn tụ hạnh phúc (tại Căn cứ Không quân Andrews).
Tuy
nhiên, nhóm họ hàng của Elián ở Miami (nhánh Lázaro) không thể tin rằng cậu bé
mà họ đã nuôi dưỡng suốt 5 tháng lại có thể nở nụ cười sau khi trở về với “gia
đình nguyên sinh cộng sản tà ác” của mình. Marisleysis – cô họ của Elián đã nhắc
đến ở trên – ngay trong ngày hôm đó đã mua vé máy bay tới Washington và triệu tập
truyền thông xuyên đêm để đưa ra một tuyên bố gây sốc: Bức ảnh trên là sự ngụy
tạo của Clinton và Đảng Cộng sản Cuba. Đứa trẻ trong ảnh có “đường chân tóc quá
đẹp”, trang phục cũng không giống với Elián khi cậu bé bị đưa đi, nên rõ ràng
không phải là Elián; hơn nữa, theo “lẽ thường” thì không một đứa trẻ Cuba nào
có thể mỉm cười sau khi đã đến Mỹ rồi lại nghe tin mình sẽ bị đưa trở lại Cuba,
do đó đứa trẻ đang mỉm cười kia chắc hẳn là một “diễn viên nhí” được chính phủ
Cuba đưa sang để diễn trò!
Để
“vạch trần sự thật”, Marisleysis đã tìm đến một thượng nghị sĩ cực hữu cuồng
tín có tên Bob Smith – người đã dẫn dắt cô thực hiện một màn trình diễn “xông
thẳng vào Căn cứ Không quân Andrews”, nhưng đã lập tức bị cảnh vệ đuổi ra
ngoài.
Tất
nhiên, cũng giống như “thuyết âm mưu bà ngoại đào tẩu” trước đó, thuyết âm mưu
mới do gia đình ở Miami tung ra này đã nhanh chóng bị Joan Campbell – nữ tu người
Mỹ tham gia đón tiếp gia đình ở Cuba – và Cục Di trú Mỹ bác bỏ. Ngay cả tờ Miami
Herald – vốn có lập trường nghiêng mạnh về phía chống Cuba – cũng thừa
nhận rằng các biên tập viên hình ảnh kỹ thuật số của họ không tìm thấy bất kỳ dấu
vết cắt ghép nào trong bức ảnh.
Để
ủng hộ gia đình Juan Miguel, Đảng và chính phủ Cuba một mặt tổ chức nhiều cuộc
tuần hành quần chúng quy mô lớn trong nước để thị uy với Mỹ, mặt khác lấy lý do
“bảo đảm việc học tập của Elián” để đưa giáo viên tiểu học và bạn cùng lớp của
cậu từ Cuba sang Mỹ để cùng học tập với cậu. Họ thậm chí còn mang cho cậu cả
khăn quàng đỏ (chú thích: màu khăn thực tế là màu xanh lam đại diện cho cấp thấp,
Đội thiếu niên Tiền phong Cuba phỏng theo mô hình Đông Đức, chia làm hai giai
đoạn theo độ tuổi). Diễn ngôn mới “đội viên Thiếu niên Tiền phong Elián do bị một
nhóm người gây chuyện nên buộc phải lưu lại thủ đô Mỹ để học đuổi chương trình”
đã thâm nhập vào dòng dư luận chủ lưu nói tiếng Anh tại Mỹ và đã thành công
trong việc làm suy yếu hiệu quả của tuyên truyền đối lập. Đến ngày 1/6, Tòa án
Phúc thẩm Mỹ phán quyết rằng gia đình ở Miami không đủ tư cách pháp nhân để tiếp
tục khởi kiện. Vào ngày 28/6, Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ đơn kháng cáo cuối cùng,
và ngay trong ngày hôm đó, Elián cùng với cha mẹ, anh trai, giáo viên và bạn
cùng lớp đã bay trở lại Havana trên chuyên cơ do chính phủ Cuba thuê.
“Sự
phân cực chính trị kiểu Mỹ”: “Xã hội người Cuba” thời Elián và hệ sinh thái
chính trị nền tảng của nó
Em
yêu dấu, lâu rồi không gặp! Cuba dạo này thế nào? Mà này, hai ta nói tiếng Anh
làm gì, cứ dùng thứ tiếng quê hương của mình đi. Cho anh biết, dạo này em thế
nào? Đã tìm thấy hạnh phúc chưa? Anh sống rất tốt ở đây, còn em thì sao? Em ổn
chứ?
Em
đang khóc ở Miami, còn anh thì đang tự tại ở Havana; Miami không có khách sạn
Capri, không có vũ công của Tropicana. Này em yêu, anh quyết ở lại đây, sẽ
không rời bỏ nơi này…” (Havana tự tại – ca khúc thịnh hành năm 2012
của Cuba, do Carlos the Jackal/“El Chacal” thể hiện).
Việc
người viết dành nhiều dung lượng để tái hiện chi tiết vụ việc Elián là nhằm
cung cấp một nền tảng thông tin đủ vững chắc để trả lời câu hỏi đã đặt ra ở đầu
bài: Làm thế nào để đánh giá lòng trung thành của người Cuba? Dù trong hơn 20
năm qua, nền tảng này và “hệ sinh thái chính trị” tương ứng đã có những bước
phát triển và thay đổi, nhưng những quy luật cơ bản thì vẫn hoàn toàn có thể áp
dụng.
Theo
người viết, ngay từ năm 2000, “hệ sinh thái biên giới Cuba – Mỹ” đã sở hữu những
đặc điểm có sự khác biệt rõ nét so với các đường biên đối địch ý thức hệ thời
Chiến tranh Lạnh khác như Vĩ tuyến 38, Bức tường Berlin hay Phố Anh – Trung (Hồng
Kông – Thâm Quyến):
1) Tồn
tại một “xã hội người Cuba (nghĩa rộng)” vượt khỏi Cuba và cộng đồng người nói
tiếng Tây Ban Nha ở Nam Florida, Mỹ
Như
đã phân tích ở phần trước, ngay từ cuối những năm 1990, tỷ lệ người Cuba có người
thân và bạn bè ở Mỹ là rất cao, gần như bất kỳ ai cũng có thể duy trì liên lạc
thường xuyên với họ hàng ở Mỹ, ngoài ra còn có cả những “kẻ dẫn đường” như bạn
trai mới của Elizabeth.
Điều
này có nghĩa là:
1. Người dân Cuba bình
thường hiểu rất rõ về cuộc sống tại Mỹ: Cả ở mặt tích cực so với Cuba, đó là mức
lương cực cao, hàng hóa phong phú, điện lực ổn định và triển vọng nghề nghiệp đầy
hứa hẹn cho giới trẻ (người viết nhấn mạnh ở đây rằng, đây là so với Cuba; tình
hình ở Cuba khác với Trung Quốc, độc giả không nên áp đặt từ trải nghiệm cá
nhân). Và cả ở mặt tiêu cực so với Cuba, đó là những khó khăn mà tầng lớp lao động
cấp thấp phải đối mặt, ít nhất thì thế hệ nhập cư đầu tiên gần như không thể tiếp
cận dịch vụ y tế hay giáo dục đại học chính quy, kèm theo đó là sự thiếu hụt cơ
chế bảo hiểm rủi ro cho tầng lớp trung lưu (tức là một “ngưỡng chết”, trong khi
cần lưu ý rằng mạng lưới an sinh xã hội của chính Cuba hiện cũng không ổn định).
Như đã đề cập ở phần trước, Juan Miguel – người đã lựa chọn ủng hộ Đảng Cộng sản
Cuba – là một nhân viên tham gia hằng ngày vào việc duy trì “thế giới hoa lệ”
cho khách du lịch châu Âu và Canada – điều mà bản thân anh không thể tận hưởng.
Thế nhưng điều đó không hề khiến Juan Miguel nảy sinh dù chỉ một chút ý định
đào thoát ra nước ngoài.
2. Văn hóa dân gian phi
chính trị của Mỹ (bao gồm dòng chủ lưu nói tiếng Anh và cộng đồng người Mỹ gốc
Cuba nói tiếng Tây Ban Nha), từ các lễ hội âm nhạc và giải bóng chày đến ẩm thực
và các xu hướng thời trang, lan tỏa vào xã hội Cuba một cách tự nhiên và liên tục.
Ví dụ, món “bánh mì kẹp Cuba” nổi tiếng ở Mỹ và Mexico thực chất chỉ mới “du nhập
ngược” về Cuba từ Mỹ trong khoảng 10 năm trở lại đây theo sự trỗi dậy của ngành
ăn uống tư nhân ở Cuba; giải Grammy của Mỹ luôn có sức hấp dẫn rất lớn đối với
giới nhạc sĩ chủ lưu Cuba, và Cuba đương đại cũng không kiểm duyệt hay “xóa
tên” các nghệ sĩ gạo cội đã rời đi sau cách mạng. Tương tự, các ca khúc thịnh
hành, các ngôi sao bóng chày và các yếu tố văn hóa khác của Cuba cũng lan tỏa một
cách tự nhiên vào thế giới nói tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ. Chẳng hạn như ca sĩ
reggae “El Chacal” được đề cập ở đầu phần này, tuy lời bài hát Havana tự
tại (2012) mang sắc thái châm biếm “người đào tẩu”, nhưng điều đó
không ngăn ca khúc này được ưa chuộng tại Miami và các khu người Cuba hải ngoại
khác, và danh tiếng của bản thân “El Chacal” cũng lan rộng cả trong và ngoài nước.
Tất
cả những này dẫn đến sự tồn tại của một cộng đồng vượt biên giới, trải rộng khắp
Cuba, cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha ở Nam Florida, cộng đồng gốc Cuba ở
Quintana Roo (Mexico), và cộng đồng kiều bào Cuba ở Tây Ban Nha. Cộng đồng này
có sự tương đồng cao độ về nhận thức bản sắc văn hóa – dân tộc, tách biệt hoặc
tách biệt một phần khỏi văn hóa chủ lưu nói tiếng Anh ở Mỹ, và thường xuyên
tham gia các hoạt động giao lưu vật chất và thông tin. Hơn nữa, các thành viên
của nó cũng không bị phân tách một cách nghiêm ngặt theo quốc tịch. Cộng đồng
này có thể được nghiên cứu như một chỉnh thể gọi là “xã hội người Cuba (nghĩa rộng)”.
Người
viết cho rằng, “phạm vi mở rộng có ý nghĩa” của khái niệm xã hội người Cuba này
tại Mỹ chỉ giới hạn ở Miami (Nam Florida) và một phần khu vực đô thị Tampa –
nơi tiếng Anh không phải ngôn ngữ phổ biến trong cộng đồng. Ngoại trưởng Mỹ
đương nhiệm Marco Rubio (gốc Cuba, sinh ra ở khu vực này, nhưng gia đình ông
thông thạo tiếng Anh và có thể di chuyển linh hoạt giữa các tiểu bang) có thể tạm
coi là một phần của cộng đồng này; trong khi Thượng nghị sĩ bang Texas Ted Cruz
(cũng gốc Cuba, nhưng sinh ra trong một gia đình song ngữ giàu có ở Canada) lại
là một “người Cuba thượng lưu” thuần túy, gần như không có chung ngôn ngữ với
toàn bộ cộng đồng này.
2)
Bên trong “xã hội Cuba” như một chỉnh thể này tồn tại sự chia rẽ sâu sắc về nhận
thức chính trị
Thứ
nhất, rõ ràng có những người Cuba thực sự ủng hộ Đảng Cộng sản Cuba và không có
ý định ở lại Mỹ.
Juan
Miguel, mẹ anh, người vợ sau của anh, giáo viên tiểu học của Elián và mẹ của
Elizabeth đều được chính phủ Cuba đưa sang Mỹ. Vào thời điểm đó, Cuba và Mỹ
chưa thiết lập quan hệ ngoại giao và họ hoàn toàn có thể tùy ý xin tị nạn ở Mỹ,
nhưng điều đó đã không xảy ra.
Thứ
hai, ở Miami cũng có những người Mỹ gốc Cuba tin rằng Cuba tốt hơn Mỹ (ít nhất
là đối với Elián).
Manuel
– người chú làm thợ sửa xe buýt trường học của Juan Migue – chính là một ví dụ
điển hình. Ngoài ra vào thời điểm đó, Đảng Cộng sản Cuba đã phát triển được ít
nhất một mạng lưới ngầm trong Cục Di trú Mỹ (chính là người bị phát hiện mà đã
đề cập ở trên). Trên thực tế, Cuba đã sớm thâm nhập sâu vào bộ máy cấp liên
bang Mỹ, và thậm chí đến nay, họ vẫn đang vận hành một vài hệ thống hậu cần ở
Miami mà các bên thường “nhắm một mắt, mở một mắt”.
Thứ
hai, trên đảo Cuba cũng tồn tại hai nhóm người không đồng tình với Đảng Cộng sản
Cuba: Những người muốn tự mình đến Mỹ và những người qua lại giữa Mỹ và Cuba để
làm ăn.
Điều
khiến Cuba khác biệt so với các nước xã hội chủ nghĩa Á – Âu khác là, kể từ đầu
thế kỷ 21 đến nay, môi trường dư luận ở Cuba cách mạng luôn rất cởi mở. Không
chỉ có các nhóm đối lập chính trị công khai trong quần chúng, mà ở cấp độ chính
thức còn có cả trang web Tranh luận Cuba. Cộng với sự trỗi dậy của
kinh tế tư nhân và việc Raúl nới lỏng hoàn toàn quyền xuất cảnh cho công dân
vào năm 2013, những người Cuba không tin vào chủ nghĩa cộng sản hay không thừa
nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba có thể trực tiếp rời khỏi đất nước,
hoặc vừa lĩnh khẩu phần lương thực trợ cấp, vừa công khai chỉ trích đích danh
Raúl và Díaz-Canel mà không cần phải giả vờ ủng hộ họ.
Do
đó, phần lớn người thuộc hai nhóm này luôn lộ diện công khai ở Cuba, và mối
quan hệ giữa họ với những người ủng hộ Đảng Cộng sản Cuba rất giống mối quan hệ
giữa hai khối cử tri cơ sở của hai đảng lớn ở Mỹ: Công khai không ưa nhau nhưng
vẫn chấp nhận sống chung. Cặp vợ chồng “đã ly hôn nhưng vẫn sinh con” Juan
Miguel và Elizabeth chính là ví dụ hoàn hảo cho mối quan hệ này.
Cuối
cùng, lấy nhánh gia đình Lázaro, Thị trưởng hạt Miami-Dade khi đó, cùng các tổ
chức hoạt động chính trị ở Nam Florida làm đại diện, có thể thấy các chính trị
gia chính thống xuất thân từ cộng đồng người Mỹ gốc Cuba đều rất chống Cuba.
Một
khi những người này tham gia vào chính trị, bất kể họ nghiêng về Đảng Dân chủ
hay Đảng Cộng hòa ở Mỹ, nhận thức chính trị của họ về Đảng Cộng sản và hệ tư tưởng
Marx – Lenin đều trở nên cực kỳ cực đoan (vượt xa người dân Mỹ bình thường ở
khu vực nói tiếng Anh mà vốn không mấy quan tâm đến chính trị). Họ coi việc lật
đổ Đảng Cộng sản Cuba và chính phủ cách mạng như một kiểu “sứ mệnh đạo đức”,
tuyệt đối không thỏa hiệp vì lợi ích kinh tế, và hoàn toàn từ chối bất kỳ diễn
ngôn nào có lợi cho Đảng Cộng sản Cuba, thậm chí sẵn sàng đổi trắng thay đen
không chút do dự.
Những
hành động chống Trung Quốc điên rồ của Rubio sau khi lên nắm quyền chỉ là biểu
hiện chân thực của bản sắc “gia truyền” của cộng đồng này. Khi đến Miami, bản
thân người viết cũng từng chú ý thấy rằng, ít nhất là cho tới năm 2024, sân bay
quốc tế Miami vẫn không treo quốc kỳ năm sao của Trung Quốc hay cờ đỏ sao vàng
của Việt Nam, mà thay vào đó là treo cờ ngụy của tập đoàn Tưởng Giới Thạch và cờ
ba sọc của tập đoàn Bảo Đại.
3) Kể từ
năm 1978, sự chia rẽ này không lấy biên giới và quốc tịch làm ranh giới phân
chia rõ ràng
Do
tỷ lệ người Cuba có họ hàng hoặc bạn bè ở Mỹ là rất cao, nên việc một công dân
Cuba có “quan hệ hải ngoại” hay không hầu như không liên quan đến việc người đó
có phải là người cộng sản hay có ủng hộ cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Cuba hay không. Trên thực tế, chính anh em nhà Castro cũng có rất nhiều anh
chị em phản cách mạng sống tại Mỹ.
Đồng
thời, cần phải chỉ ra một sự thật trái ngược với định kiến: Không phải tất cả
người Mỹ gốc Cuba đều chống Đảng Cộng sản. Vào những năm 1960, một số kẻ cực
đoan đã lợi dụng con đường nhập cư hợp pháp để đưa hàng loạt trẻ em xuất thân từ
các gia đình trung lưu Cuba sang Mỹ, nhưng không cho chúng đoàn tụ với cha mẹ
ruột. Những “đứa trẻ Peter Pan” này lớn lên trong môi trường phân biệt chủng tộc
và bắt nạt ở Mỹ những năm 1960, và chịu sự bài xích của cánh hữu da trắng. Dưới
ảnh hưởng của bầu không khí nổi loạn cánh tả thời Phong trào Dân quyền, nhiều
người trong số họ đã nảy sinh tình cảm ngưỡng mộ đối với quê hương xa xôi và cuộc
cách mạng mà họ gần như không còn ký ức. Sau đó, họ thành lập “Lữ đoàn Antonio
Maceo” (Brigada Antonio Maceo), và vào tháng 12/1977, họ đã lần đầu tiên thành
công trong việc cử 55 người trở về thăm Cuba cách mạng, và đến nay vẫn là một lực
lượng quan trọng đối với Đảng Cộng sản Cuba trong việc tìm kiếm sự ủng hộ tại Mỹ.
Một
mặt, người Mỹ gốc Cuba có thể ủng hộ chính phủ cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh
đạo; mặt khác, kể từ thập niên 90, những người phản đối Đảng Cộng sản Cuba cũng
có thể bị chính phủ Mỹ trả ngược lại Cuba theo chính sách “chân ướt, chân ráo”,
buộc phải tiếp tục mang thân phận công dân Cuba. Sau chuyến thăm thành công của
Lữ đoàn Maceo đến Cuba năm 1977, Cuba dần cho phép các công dân Mỹ tin tưởng
vào chủ nghĩa cộng sản hoặc ủng hộ cách mạng được nhập tịch (Cuba cho phép song
tịch). Đến cuối những năm 1990, do khó khăn kinh tế, tầm quan trọng của kiều hối
từ người Mỹ gốc Cuba đối với tài chính quốc gia tăng lên hằng năm, và việc “kén
chọn” quan điểm chính trị của họ cũng dần bị làm nhạt đi. Trong những năm gần
đây, đặc biệt là sau cải cách chính sách và việc sửa đổi Luật Di trú năm 2024,
khái niệm “đào tẩu sang Mỹ” thậm chí đã không còn được áp dụng nghiêm ngặt đối
với thường dân. Những người Cuba đã đạt được quốc tịch hoặc quyền cư trú lâu
dài tại các quốc gia khác (bao gồm cả Mỹ) vẫn có thể giữ quốc tịch Cuba, thậm
chí giữ lại bất động sản cũ ở Cuba.
Cục
diện này khiến cho sự “chia rẽ quan điểm chính trị” nêu trên không thể được
phân định một cách đơn giản theo đường biên giới hay hộ chiếu; kiểu suy luận
“ai cầm hộ chiếu xanh Cuba là người yêu nước, ai cầm hộ chiếu Mỹ là kẻ đào tẩu”
là hoàn toàn không xác đáng ở Cuba.
4)
Kể từ năm 1980, sự chia rẽ này cũng không còn được phân chia rõ ràng theo địa vị
kinh tế (thuộc tính giai cấp)
Như
chúng ta đã thấy ở phần trước, Elizabeth – mẹ của Elián, người chọn “tìm đến tự
do” – không hề có người thân tại Mỹ (nghĩa là không có nguồn kiều hối), điều kiện
kinh tế cũng chẳng hề khá giả và đã tham gia vào một cuộc vượt biên đầy mạo hiểm.
Trước
sự kiện vượt biên quy mô lớn tại cảng Mariel năm 1980, những người Cuba lưu
vong, ngay cả ở Mỹ, cũng bị coi là tàn dư của giới mại bản cùng các thế lực tay
sai cho chế độ độc tài. Các thế lực thân Cuba ở Mỹ thời bấy giờ (chẳng hạn như
Brigada Venceremos) thậm chí còn ngầm mặc định rằng “tất cả người Mỹ gốc Cuba đều
là những kẻ phản cách mạng” – chính sự “phân biệt đối xử dựa trên xuất thân tả
khuynh” này đã dẫn đến sự hình thành của Lữ đoàn Maceo nêu trên. Tuy nhiên, sau
sự kiện Mariel và cho đến thời của Elián, những người “rời bỏ Cuba” dần trở
thành những người nghèo ở tầng lớp đáy có lập trường chính trị chống Đảng Cộng
sản Cuba, và tính chất của họ về cơ bản chuyển thành di dân kinh tế núp dưới
danh nghĩa “trốn khỏi chủ nghĩa cộng sản”.
Sau
khi đại dịch COVID-19 bùng phát, những người rời Cuba tiếp tục diễn biến thành
hai nhóm: Tầng lớp nghèo nhất không thể đáp ứng nhu cầu sinh tồn cơ bản (do
phong tỏa vì dịch bệnh…), và “tầng lớp trung lưu mới” rời Cuba hợp pháp bằng đường
bay miễn thị thực sang Nicaragua. Sau khi đến Mỹ, những người này đã hình thành
cộng đồng riêng, hầu như không cố gắng hòa nhập vào xã hội nói tiếng Anh, và vẫn
giữ lối sống cùng thói quen “Sociolism” mà đã hình thành trong thời Cuba kinh tế
kế hoạch hóa, không khác mấy so với mô thức hành vi của người nhập cư bất hợp
pháp đến từ các quốc gia Mỹ Latinh khác. Hiện nay, khó có thể nói rằng người Mỹ
gốc Cuba nhất định là tầng lớp tinh hoa bóc lột bị tước tài sản trong thời
Batista hay hậu duệ của họ.
Tổng
kết
Câu
chuyện của Elián là hình ảnh thu nhỏ về cuộc đấu tranh nội bộ giữa hai nhóm
“người Cuba” trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh – những người chia sẻ bản sắc
văn hóa và lịch sử chung nhưng lại bị chia rẽ sâu sắc về tư tưởng và quan điểm
chính trị. Cha mẹ của Elián – những người cùng nhau cấu thành nên dân tộc Cuba
ngày nay – lại đang tranh giành quyền giám hộ thế hệ tiếp theo một cách quyết
liệt và cực đoan.
Hai
nhóm người với hệ tư tưởng đối lập này cùng tồn tại trong một không gian “cộng
đồng tưởng tượng” – nơi mà cơ sở kinh tế bị ngăn cách nhưng kiến trúc thượng tầng
lại thông suốt và có thể quan sát lẫn nhau. Lực lượng chống Đảng Cộng sản Cuba
có một khối cử tri cơ bản rất lớn, có tiếng nói và tiềm lực kinh tế, trong khi
Đảng Cộng sản Cuba cũng sở hữu một khối cơ sở quần chúng đông đảo, chân thực và
có mức độ trung thành khá cao. Với cục diện này, người viết có niềm tin khá lớn
vào sự thuần khiết ngắn hạn của Đảng Cộng sản Cuba. Người viết không cho rằng
chính quyền Trump có thể dễ dàng tái hiện một chiến dịch quân sự kiểu “đột kích
Venezuela” tại Cuba, chí ít là không tin rằng họ có thể dễ dàng tìm được nội
gián hay người đại diện cấp cao trong nội bộ Cuba.
Trên
thực tế, trong vụ việc Elián xảy ra năm 2000, Đảng Cộng sản Cuba và chính phủ
Cuba cho đến nay đã giành được thắng lợi: Elián đã được bồi dưỡng thành một đảng
viên cộng sản trung thành, thậm chí năm 2023 còn được bầu làm đại biểu Quốc hội.
Tuy nhiên, về dài hạn, một “môi trường ý thức hệ” mang tính “phân cực kiểu Mỹ”
như vậy rất không ổn định và không thể kéo dài mãi. Đối với Đảng Cộng sản Cuba,
đó là một sợi dây bị kéo căng quá mức và chưa từng được nghỉ ngơi; một khi gặp
phải những cú sốc ngoại sinh mới như biến động kinh tế, sự phát triển của nó sẽ
trở nên vô cùng khó lường.
Để
Cách mạng Cuba có thể tiếp tục tồn tại và vượt qua được trở ngại lớn cuối cùng
trước khi cục diện Tây Bán cầu xảy ra biến động lớn, đã đến lúc cơ sở kinh tế của
nó phải được cải thiện bằng mọi giá.