Đài Loan không
cần phải lựa chọn giữa Đại lục và Hoa Kỳ
Trịnh Lệ Văn (Cheng Li-wun) - Foreign
Affairs
Nguyễn
Thị Kim Phụng, biên
dịch - Nghiên
Cứu Quốc Tế
17/03/2026
https://nghiencuuquocte.org/2026/03/17/dai-loan-khong-can-phai-lua-chon-giua-dai-luc-va-hoa-ky/
Hòa
bình xuyên eo biển đòi hỏi phải hợp tác với cả Bắc Kinh và Washington.
Trong
thời kỳ bất ổn toàn cầu và cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt, trách
nhiệm duy trì hòa bình không chỉ thuộc về các cường quốc. Các quốc gia tầm
trung và nhỏ có vị trí chiến lược đang tạo ra sức ảnh hưởng vượt xa quy mô của
họ. Nếu biết sử dụng khả năng tự quyết và đòn bẩy một cách hiệu quả, họ có thể
giảm bớt căng thẳng xung quanh các điểm nóng toàn cầu và giúp ngăn chặn xung đột
khu vực hoặc thế giới.
Đài
Loan chính là một nơi như vậy. Dù chỉ có khoảng 23 triệu dân, Đài Loan lại là cửa
ngõ sống còn tiến ra Tây Thái Bình Dương. Nơi đây nằm dọc theo các tuyến đường
biển thiết yếu của thương mại toàn cầu và là nước dẫn đầu trong một số lĩnh vực
công nghệ tiên tiến, bao gồm chất bán dẫn, theo đó khiến hòn đảo này trở thành
một phần không thể thiếu đối với hệ sinh thái đổi mới của thế giới. Bất kỳ sự
gián đoạn hay xung đột nào trong hoặc xung quanh Eo biển Đài Loan đều sẽ gây ảnh
hưởng vượt ra ngoài khu vực, cản trở thương mại toàn cầu, đe dọa an ninh năng
lượng, và phá vỡ các mắt xích then chốt trong chuỗi cung ứng công nghệ.
Trong
lúc Bắc Kinh và Washington cạnh tranh tầm ảnh hưởng ở Thái Bình Dương, cách Đài
Loan quản lý quan hệ giữa hai bờ eo biển sẽ quyết định xem khu vực này có duy
trì được hòa bình và ổn định hay không. Nhiều nhà quan sát cho rằng Đài Loan phải
lựa chọn, ngả về hoặc phe này hoặc phe kia. Nhưng khuôn khổ nhị nguyên là sai lầm.
Đài Loan mạnh nhất khi giữ được không gian để theo đuổi các nhu cầu của riêng
mình, chứ không phải khi trở thành tiền đồn của một quốc gia hay đối tác phụ
thuộc của một quốc gia khác.
Đài
Loan có thể giảm thiểu nguy cơ xung đột bằng cách duy trì khả năng răn đe đáng
tin cậy, tránh các bước đi khiêu khích làm thay đổi nguyên trạng, và duy trì
các kênh liên lạc cởi mở xuyên eo biển. Ưu tiên sự ổn định không có nghĩa là thụ
động. Thay vào đó, nó đòi hỏi một cuộc đối thoại chủ động dựa trên chính lợi
ích của Đài Loan, gắn kết với Washington như một đối tác an ninh, đồng thời quản
lý quan hệ với Bắc Kinh để ngăn chặn những hành động khiêu khích hoặc tính toán
sai lầm không đáng có ở Eo biển Đài Loan.
Quốc
dân đảng, một trong hai đảng chính trị lớn của Đài Loan, mà tôi vừa được bầu
làm lãnh đạo vào tháng 10, xem hòa bình xuyên eo biển không phải là đích đến cuối
cùng, mà là nền tảng cho sự hợp tác mang tính xây dựng với cả Trung Quốc đại lục
và Mỹ. Điều này có nghĩa là nối lại đối thoại có cấu trúc với Bắc Kinh trong những
điều kiện phù hợp với hiến pháp của Trung Hoa Dân Quốc, bộ luật mà Đài Loan
đang dựa vào để tự quản lý chính mình. Điều này cũng đồng nghĩa với việc thiết
lập các quan hệ được thể chế hóa nhiều hơn giữa hai bờ eo biển, đủ mạnh để vượt
qua bất kỳ sự thay đổi chính trị trong nước nào, chẳng hạn như kết quả của các
cuộc bầu cử tương lai ở Đài Loan. Hòa bình xuyên eo biển đòi hỏi nhiều hơn là
chỉ thiện chí; nó còn đòi hỏi một lộ trình đáng tin cậy mà Bắc Kinh có thể tin
tưởng xem là khuôn khổ thực sự cho sự ổn định, và Washington cũng như cộng đồng
quốc tế có thể ủng hộ vì nó phù hợp với lợi ích và giá trị của chính họ.
ĐỐI
THOẠI XUYÊN EO BIỂN
Đài
Loan có thể giúp ổn định khu vực bằng cách quản lý quan hệ của mình với Trung
Quốc đại lục một cách có trách nhiệm. Tuy nhiên, một số hành động và ngôn từ
chính thức của Đài Loan đã làm gia tăng căng thẳng một cách không cần thiết.
Chúng bao gồm những lời lẽ ngày càng mang tính đối đầu, xem quan hệ giữa hai bờ
eo biển là vấn đề sống còn; việc đình chỉ các cơ chế liên lạc bán chính thức kể
từ năm 2016; và các động thái chính trị mang tính biểu tượng ám chỉ rằng Đài
Loan có thể đang tiến tới độc lập về mặt pháp lý. Những bước đi này có thể huy
động được sự ủng hộ của một số nhóm cử tri trong nước trong ngắn hạn, nhưng lại
thu hẹp tính linh hoạt ngoại giao rộng hơn của Đài Loan.
Trong
những năm gần đây, hòa bình xuyên eo biển thường bị định nghĩa một cách đơn giản
là sự vắng bóng của chiến tranh, thay vì là một tình trạng đòi hỏi sự quản lý cẩn
trọng. Vì thế, quan hệ đang xấu đi với Trung Quốc đại lục không bị xem là một
thất bại chính trị. Khi căng thẳng leo thang được mô tả là tất yếu, được thúc đẩy
chỉ bởi tham vọng của Bắc Kinh và hoàn toàn nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Đài Bắc,
nó sẽ khuyến khích một niềm tin mang tính định mệnh rằng xung đột là không thể
xoa dịu. Niềm tin đó làm thổi bùng sự lo âu ở trong nước cũng như sự bất ổn ở
nước ngoài.
Dưới
sự lãnh đạo của tôi, lập trường cốt lõi của Quốc dân đảng về vấn đề quan hệ giữa
hai bờ eo biển vẫn nhất quán. Quốc dân đảng ủng hộ khuôn khổ hiến pháp của
Trung Hoa Dân Quốc, phản đối Đài Loan độc lập, và đề cao cái gọi là “Đồng thuận
1992” – một công thức cho quan hệ giữa hai bờ eo biển, thừa nhận rằng chỉ có “một
Trung Quốc” nhưng cho phép mỗi bên có cách diễn giải riêng về ý nghĩa của nó –
làm cơ sở cho sự can dự. Những lập trường này nhìn chung phù hợp với cách tiếp
cận phổ biến của cộng đồng quốc tế, trong đó các quốc gia tuân thủ chính sách
“một Trung Quốc” của riêng họ trong khi vẫn duy trì các quan hệ thực chất với
Đài Loan.
Đồng
thuận 1992 thường bị hiểu sai một cách cố ý. Cốt lõi của nó phản ánh công thức
“một Trung Quốc, mỗi bên tự diễn giải.” Nó không ấn định một định nghĩa duy nhất
về việc thế nào là Trung Quốc, cũng không buộc các chính phủ ở Bắc Kinh hay Đài
Bắc phải từ bỏ lập trường hiến pháp của họ. Chẳng hạn, Hiến pháp Trung Hoa Dân
Quốc vẫn tiếp tục định nghĩa lãnh thổ quốc gia theo cách bao gồm cả đại lục, dù
quyền quản trị bị chia cắt – và Đồng thuận 1992 công nhận thực tế đó, cho phép
cả hai bên tham gia đối thoại mang tính xây dựng mà không cần phải giải quyết
các tranh chấp chủ quyền.
Về
bản chất, Đồng thuận 1992 hoạt động như một hình thức mơ hồ chiến lược. Đối với
Đài Loan, sự mơ hồ này không phải là điểm yếu, mà thực sự là một tài sản chiến
lược. Nó bảo vệ chủ quyền của Đài Loan và tạo ra không gian cho hòn đảo phát
triển.
Chính
sách quan hệ giữa hai bờ eo biển của Quốc dân đảng cũng tuân thủ sự đồng thuận
quốc tế. Không có quốc gia nào, kể cả Mỹ, công nhận quan hệ xuyên Eo biển Đài
Loan là quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền, và cũng không có quốc gia nào ủng
hộ Đài Loan độc lập. Cùng lúc đó, nhiều quốc gia duy trì quan hệ thực chất với
Đài Loan và ủng hộ sự tự trị của hòn đảo. Việc bảo vệ nguyên trạng này, trong
đó các quốc gia có thể ủng hộ chủ quyền thực tế của Đài Loan trong khi công nhận
các tuyên bố “một Trung Quốc” của Bắc Kinh, đòi hỏi sự thỏa hiệp cẩn trọng. Đài
Loan cần tránh các động thái đơn phương có thể buộc các quốc gia khác phải chọn
phe. Việc duy trì Đồng thuận 1992 và phản đối Đài Loan độc lập sẽ gìn giữ thế
cân bằng mong manh ở Eo biển Đài Loan và thúc đẩy hòa bình.
Quốc
dân đảng hiểu rằng văn hóa cũng có thể củng cố vị thế của Đài Loan. Trung Quốc
đại lục và Đài Loan có chung cội nguồn ngôn ngữ và văn hóa sâu sắc, nhưng qua
thời gian, hệ thống chính trị và xã hội của họ đã tiến hóa theo những hướng
khác nhau do những lựa chọn lịch sử và vị trí địa lý của mỗi bên. Việc cùng tồn
tại của hai quỹ đạo khác biệt này không nhất thiết phải dẫn đến sự thù địch. Nếu
được quản lý đúng đắn và được hỗ trợ bởi đối thoại cũng như giao lưu, thì tính
bổ trợ về văn hóa có thể làm giảm bớt những ma sát chính trị.
Việc
tôi nhấn mạnh vào niềm tự hào về di sản Trung Hoa trong chiến dịch tranh cử
lãnh đạo Quốc dân đảng phản ánh một sự khẳng định về mặt văn hóa. Xã hội Đài
Loan mang tính đa nguyên và dân chủ. Việc công nhận cội nguồn lịch sử và ngôn
ngữ không hề làm suy yếu điều này; nó chỉ thừa nhận sự tiếp nối của nền văn
minh. Sự tự tin về văn hóa cho phép Đài Loan gắn kết với Bắc Kinh mà không cảm
thấy bất an, và gắn kết với thế giới mà không cần phải phòng thủ.
RĂN
ĐE ĐI ĐÔI VỚI ĐỐI THOẠI
Nếu
Quốc dân đảng trở lại nắm quyền trong cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo của Đài
Loan vào năm 2028, chương trình nghị sự về quan hệ giữa hai bờ eo biển của đảng
sẽ tập trung vào các chính sách nhằm thể chế hóa hòa bình. Điều này đòi hỏi phải
tạo ra các cơ chế để giảm thiểu tính toán sai lầm và tăng cường khả năng dự
đoán. Quan trọng nhất, Quốc dân đảng sẽ thiết lập các kênh liên lạc xử lý khủng
hoảng để tạo liên hệ trực tiếp giữa Bắc Kinh và Đài Bắc. Chương trình nghị sự
chính sách của Quốc dân đảng cũng sẽ tập trung vào việc mở rộng giao lưu nhân
dân – gắn kết các nhóm đa dạng như sinh viên, nhà nghiên cứu, lãnh đạo doanh
nghiệp, nghệ sĩ, và các gia đình ở hai bờ eo biển – và xây dựng sự hợp tác thiết
thực trong những lĩnh vực mà các vấn đề chung đòi hỏi các giải pháp chung, bao
gồm y tế công cộng và bảo vệ môi trường. Mục tiêu là tạo ra đủ sự kết nối con
người và sự can dự về mặt thể chế để những bất đồng không tự động biến thành đối
đầu. Bản thân tính có thể dự đoán được đã là một hình thức răn đe. Khi cả hai
bên duy trì liên lạc thường xuyên qua nhiều kênh, thay vì giao tiếp chủ yếu qua
các tín hiệu quân sự, các sự cố sẽ ít có khả năng leo thang thành khủng hoảng
hơn.
Răn
đe là quan trọng, nhưng việc quá phụ thuộc vào việc tích lũy vũ khí có nguy cơ
làm bóp méo các ưu tiên quốc gia, không những không làm cho Đài Loan an toàn
hơn, mà còn chuyển hướng các nguồn lực khỏi tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội. Quốc phòng nên được hiểu như một dạng bảo hiểm chống lại các sự cố có
xác suất thấp nhưng tác động lớn, chứ không phải là sự thay thế cho một chiến
lược toàn diện. Chỉ riêng chi tiêu quốc phòng không thể tạo ra hòa bình.
Quốc
dân đảng tin rằng sự răn đe thực sự đòi hỏi ba trụ cột: khí tài quân sự đủ năng
lực, nhân sự được đào tạo và có động lực, cùng các kênh đối thoại đáng tin cậy
để ngăn chặn tính toán sai lầm. Những nhà phê bình đánh đồng an ninh của Đài
Loan với chi tiêu vũ khí đã phớt lờ thực tế rằng quân đội tình nguyện của Đài
Loan đang thiếu nhân sự trầm trọng và giới lãnh đạo quân đội đang phải chật vật
để giữ chân các phi công. Không có kho vũ khí tiên tiến nào có thể mang lại sự
răn đe nếu không có con người vận hành chúng. Quốc dân đảng ủng hộ sự đầu tư mạnh
mẽ cho quốc phòng – nhưng khoản đầu tư đó phải minh bạch, có trách nhiệm giải
trình, và nhằm giải quyết những khoảng trống trong năng lực thực tế của Đài
Loan. Răn đe mà không có các kênh liên lạc tốt hơn sẽ làm gia tăng căng thẳng bằng
cách ép buộc người ta hoặc phải cam chịu, hoặc phải leo thang mà không đưa ra
các lối thoát tiềm năng.
Hòa
bình cũng đòi hỏi phải hợp tác với Bắc Kinh. Đài Loan và Trung Quốc đại lục sở
hữu những thế mạnh bổ sung cho nhau, có nghĩa là cộng tác và giao lưu trong
kinh doanh, nghiên cứu, và công nghiệp có thể tạo ra lợi ích hữu hình cho các
công ty và người lao động Đài Loan. Việc xem mọi lĩnh vực hợp tác giữa hai bờ
eo biển là mối đe dọa an ninh là phản tác dụng. Nó khiến cho cả nền kinh tế Đài
Loan lẫn triển vọng về các quan hệ ổn định trở nên tồi tệ hơn.
Nhưng
hợp tác với Bắc Kinh không có nghĩa là từ bỏ Mỹ. Đài Loan không cần phải lựa chọn;
trên thực tế, hòn đảo mạnh nhất khi làm việc hiệu quả với cả hai cường quốc. Mỗi
quan hệ phục vụ một mục đích riêng biệt. Sự gắn kết của Đài Loan – và của Quốc
dân đảng – với Mỹ là sâu sắc và lâu bền. Kể từ Thế chiến II, Đài Loan và Mỹ đã
chia sẻ cam kết đối với các giá trị dân chủ và sự ổn định của khu vực. Mỹ đã
đóng vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ sự củng cố dân chủ và sự tăng trưởng của
nền kinh tế thị trường tại Đài Loan.
Việc
hợp tác với cả Bắc Kinh và Washington không chỉ là có thể mà còn là cần thiết.
Cả hai bên đều không nên xem cách tiếp cận như vậy là sự phản bội. Đối với
Washington, một Đài Loan duy trì quan hệ kinh tế với đại lục trong khi ngày
càng tiến sâu vào hợp tác công nghệ và hợp tác rộng hơn với Mỹ chính xác là kiểu
đối tác kiên cường, thực dụng mà họ cần ở châu Á. Một đối tác có năng lực tự quản
lý các quan hệ phức tạp của riêng mình sẽ tốt hơn cho nước Mỹ so với một bên phụ
thuộc liên tục đòi hỏi sự trấn an. Đối với Bắc Kinh, việc thiết lập các quan hệ
ổn định, có thể dự đoán được với Đài Loan sẽ mang lại lợi ích cho họ tốt hơn là
các áp lực có thể đẩy hòn đảo này đi tới chỗ ngả hẳn vào vòng tay của
Washington. Một Đài Loan gắn kết về kinh tế và văn hóa với đại lục trong khi vẫn
duy trì hệ thống dân chủ và các quan hệ đối tác chiến lược cũng cho thấy sự hợp
tác xuyên eo biển không cần phải có những điều kiện tiên quyết về mặt chính trị.
Chìa khóa ở đây là sự minh bạch: mỗi cường quốc cần hiểu rõ quan hệ của Đài
Loan với bên kia, điều này sẽ cho phép cả hai cùng được hưởng lợi từ sự ổn định
và thịnh vượng của Đài Loan.
MỌI
THỨ BẮT ĐẦU TỪ TRONG NƯỚC
Để
thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực một cách hiệu quả, Đài Loan phải củng cố
các nền tảng nội bộ của mình. Thành công kinh tế của Đài Loan trong lịch sử dựa
trên sự phát triển cân bằng và thế mạnh công nghiệp đa dạng trên nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, tăng trưởng ngày càng tập trung vào chất bán dẫn
và một nhóm nhỏ các lĩnh vực công nghệ cao, làm hạn chế lợi ích lan tỏa sang
các ngành công nghiệp truyền thống, đồng thời góp phần gây ra tình trạng trì trệ
tiền lương trên phần lớn nền kinh tế. Về mặt chính trị, sự phân cực trong nước
đã làm suy yếu sự gắn kết quốc gia và làm giảm khả năng thể hiện sức mạnh cũng
như mục đích của Đài Loan.
Chỉ
bằng cách làm việc với cả Bắc Kinh và Washington, Đài Loan mới có thể cải thiện
khả năng phục hồi ở trong nước. Và giới lãnh đạo Đài Loan cần xây dựng lại sự đồng
thuận trong nước xoay quanh nhận thức rằng lợi ích chung của hòn đảo – sự thịnh
vượng, an ninh, quản trị dân chủ – vượt xa các lợi ích đảng phái.
Đài
Loan phải duy trì vị thế là một bên tham dự không thể thiếu trong nền kinh tế
toàn cầu và nỗ lực nâng cao giá trị của mình đối với thế giới. Điều này có
nghĩa là phải tiếp tục trân trọng các thể chế dân chủ, xã hội dân sự, và hồ sơ
nhân quyền của Đài Loan, vốn vẫn là những nguồn lực quan trọng cho tính chính
danh quốc tế và quyền lực mềm. Thực tế là các đánh giá quốc tế đã nhiều lần xếp
hạng Đài Loan là một trong những nền dân chủ vững mạnh nhất châu Á, và trong
nhiều trường hợp là của thế giới – đó là một niềm tự hào. Nền dân chủ của Đài
Loan là không thể đem ra thương lượng.
Nhưng
ngủ quên trên những thành tựu này trong khi hy vọng rằng chỉ riêng sự răn đe sẽ
giúp ngăn chặn chiến tranh là không đủ. Đài Loan không nên là một đối tượng thụ
động chịu áp lực địa chính trị, chỉ có giá trị qua những gì người khác áp đặt
lên mình. Để trở thành một lực lượng ổn định thực sự, các nhà lãnh đạo Đài Loan
cần mở rộng nền tảng kinh tế của hòn đảo vượt ra ngoài sự thống trị của chất
bán dẫn, định hướng lại chi tiêu quốc phòng để tránh xa việc mua sắm mang tính
biểu tượng, đồng thời mở các kênh liên lạc có kiểm soát với Bắc Kinh thay vì
xem mọi sự can dự đều là đầu hàng. Chỉ bằng cách chủ động định hình môi trường
chiến lược của mình, Đài Loan mới có thể đảm bảo hòa bình lâu dài giữa hai bờ
eo biển cũng như một nền kinh tế và xã hội sôi động ở trong nước.
--------------------------------------------------------------
Trịnh
Lệ Văn (Cheng Li-Wun) là Chủ tịch Quốc dân đảng.
Nguồn: Trịnh Lệ Văn
(Cheng Li-wun), “Taiwan
Doesn’t Have to Choose,” Foreign Affairs, ngày 03/03/2026