Tuesday, April 14, 2026

TỪ BUDAPEST ĐẾN WASHINGTON : CÚ NGÃ CỦA VIKTOR ORBÁN và DƯ CHẤN Ở MỸ! (Dương Lệ Chi / Báo Tiếng Dân)

 



Từ Budapest đến Washington: Cú ngã của Viktor Orbán và dư chấn ở Mỹ!

Dương Lệ Chi / Báo Tiếng Dân

13/04/2026

https://baotiengdan.com/2026/04/13/tu-budapest-den-washington-cu-nga-cua-viktor-orban-va-du-chan-o-my/

 

Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, đồng minh của Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin đã thừa nhận thất bại sau kết quả bầu cử hôm nay, mà ông gọi là “đau đớn”. Sự kiện này đã chấm dứt 16 năm cầm quyền của một nhân vật quyền lực trong phong trào cực hữu ở Hungary.

 

Sự thất bại của Viktor Orbán không chỉ là một biến động chính trị trong phạm vi đất nước Hungary, mà còn là một cơn địa chấn mang tính biểu tượng đối với làn sóng dân túy cánh hữu toàn cầu, đặc biệt là đối với Donald Trump và phong trào MAGA xoay quanh ông ta ở Mỹ.

 

Trong suốt 16 năm cầm quyền, Orbán đã xây dựng một mô hình mà nhiều người gọi là “dân chủ phi tự do” (illiberal democracy) – tập trung quyền lực, kiểm soát truyền thông, và thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc bảo thủ. Mô hình này từng được xem như hình mẫu cho nhiều chính trị gia cánh hữu, trong đó có Donald Trump. Tuy nhiên, kết quả bầu cử mới nhất, nơi phe đối lập do Péter Magyar dẫn đầu giành chiến thắng rõ rệt, đã đặt dấu hỏi lớn về tính bền vững của mô hình đó.

 

Một “cú ngã” mang tính biểu tượng đối với Trump

 

Đối với Trump, thất bại của Orbán không đơn thuần là việc một đồng minh quốc tế mất quyền lực, mà còn là sự lung lay của một biểu tượng. Trước cuộc bầu cử, Trump đã công khai ủng hộ Orbán, xem ông ta như một minh chứng rằng một chính trị gia dân túy có thể nắm quyền lâu dài dù bị chỉ trích từ phương Tây.

 

Nhưng bây giờ thực tế đã chứng minh điều ngược lại: Ngay cả một hệ thống đã được “thiết kế lại” để có lợi cho đảng cầm quyền – với cáo buộc về kiểm soát truyền thông và vẽ lại bản đồ khu vực bầu cử nhằm tạo lợi thế cho đảng của mình (gerrymandering) – vẫn có thể bị lật đổ khi sự bất mãn của cử tri đạt đến ngưỡng.

 

Điều này gửi một thông điệp không mấy dễ chịu tới ông Trump: Mô hình chính trị mà ông từng ngưỡng mộ không phải là “bất khả chiến bại”. Và nếu Orbán có thể thất bại sau 16 năm kiểm soát gần như toàn diện hệ thống chính trị, thì Trump – trong một hệ thống dân chủ cạnh tranh hơn nhiều – càng không thể chủ quan.

 

Tác động đến đảng Cộng hòa: Chia rẽ chiến lược

 

Trong nội bộ đảng Cộng hòa, thất bại của Orbán có thể giúp cho các thành viên của đảng này suy nghĩ nhiều hơn về một cuộc tranh luận lâu nay: Liệu có nên tiếp tục theo con đường dân túy kiểu Trump, hay quay lại với mô hình bảo thủ truyền thống?

 

Một bộ phận trong đảng, đặc biệt là phe “MAGA”, từng coi Hungary dưới thời Orbán như một phòng thí nghiệm thành công: Kiểm soát biên giới chặt chẽ, chống nhập cư, đề cao giá trị truyền thống, và thách thức các thể chế tự do. Nhưng kết quả bầu cử hôm nay cho thấy, mô hình đó có thể tạo ra phản ứng ngược khi kinh tế trì trệ, tham nhũng gia tăng và đời sống người dân không được cải thiện.

 

Ngược lại, phe ôn hòa trong đảng Cộng hòa có thể tận dụng sự kiện này để lập luận rằng, việc “cực đoan hóa” chính trị không phải là con đường bền vững. Họ có thêm bằng chứng để thúc đẩy một chiến lược mềm mỏng hơn nhằm thu hút cử tri độc lập – yếu tố then chốt trong các cuộc bầu cử ở Mỹ.

 

Ảnh hưởng đến bầu cử giữa kỳ ở Mỹ

 

Cuộc bầu cử giữa kỳ ở Mỹ sẽ diễn ra đầu tháng 11 năm nay, trong bối cảnh phân cực chính trị sâu sắc. Trong bối cảnh đó, thất bại của Orbán có thể tác động theo ba hướng chính:

 

Thứ nhất, tác động tâm lý và biểu tượng: Chiến thắng của phe đối lập Hungary gửi đi thông điệp rằng cử tri vẫn có thể “lật ngược thế cờ” trước các chính phủ bị xem là lạm quyền. Điều này có thể khích lệ cử tri Mỹ – đặc biệt là những người lo ngại về xu hướng cực đoan – tham gia bầu cử nhiều hơn.

 

Thứ hai, ảnh hưởng đến chiến lược tranh cử: Đảng Dân chủ có thể sử dụng câu chuyện Hungary như một ví dụ để cảnh báo về “nguy cơ dân chủ bị xói mòn” nếu các chính trị gia theo phong cách Trump tiếp tục mở rộng ảnh hưởng. Ngược lại, đảng Cộng hòa có thể buộc phải điều chỉnh thông điệp, giảm bớt sự ngưỡng mộ công khai đối với các mô hình như Orbán để tránh phản tác dụng.

 

Thứ ba, tác động đến các cử tri trung dung: Những cử tri này thường quyết định kết quả bầu cử giữa kỳ. Việc một chính phủ bị cáo buộc tham nhũng và kiểm soát quyền lực bị đánh bại có thể khiến họ cảnh giác hơn với những lời kêu gọi tập trung quyền lực hoặc phá vỡ các chuẩn mực dân chủ.

 

Bài học lớn hơn: Giới hạn của chủ nghĩa dân túy

 

Điều đáng chú ý là, thất bại của Orbán không đến từ một cuộc “cách mạng”, mà từ chính lá phiếu của cử tri. Tỷ lệ tham gia bầu cử cao kỷ lục cho thấy, người dân Hungary đã chủ động lựa chọn thay đổi sau nhiều năm bất mãn về kinh tế và quản trị.

 

Đây là bài học quan trọng đối với các phong trào dân túy trên toàn cầu: Quyền lực có thể được củng cố bằng nhiều công cụ, nhưng tính chính danh cuối cùng vẫn phụ thuộc vào sự ủng hộ của cử tri. Khi niềm tin đó suy giảm, ngay cả những hệ thống tưởng như vững chắc cũng có thể sụp đổ nhanh chóng.

 

Thay lời kết

 

Thất bại của Viktor Orbán không chỉ là dấu chấm hết cho một kỷ nguyên chính trị ở Hungary, mà còn là tín hiệu cảnh báo đối với các phong trào dân túy trên toàn thế giới. Đối với Donald Trump và đảng Cộng hòa ở Mỹ, sự kiện này vừa là một cú sốc, vừa là một cơ hội để tự điều chỉnh chiến lược.

 

Quan trọng hơn, sự kiện này nhắc lại một thực tế cốt lõi: Trong các nền dân chủ, không có mô hình quyền lực nào là bất khả chiến bại. Và trong năm bầu cử giữa kỳ đầy biến động của Mỹ, bài học từ Hungary có thể sẽ vang lên mạnh mẽ hơn nhiều người tưởng.






TẠI SAO HUNG GIA LỢI và BA LAN? (Nguyễn Thọ / Báo Tiếng Dân)

 



Tại sao Hungary và Ba Lan?

Nguyễn Thọ  /  Báo Tiếng Dân

14/04/2026

https://baotiengdan.com/2026/04/14/tai-sao-hungary-va-ba-lan/

 

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba Lan là thành viên Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2]. Từ tháng 3/1973 bên cạnh Ba Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS [3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.

 

Ai có thể tưởng tượng rằng trước tháng 4/1975, máy bay TU-154 của hãng hàng không MALEV hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đỗ bên cạnh các máy bay của Air America hay Air Vietnam, rằng đã có người Sài Gòn được các cô tiếp viên Hungary mời uống đồ giải khát? Ông bán phở ở gần khách sạn Catinat (Đường Nguyễn Huệ) đâu có biết rằng bà đầm hay ghé ăn phở lại là cô sĩ quan cộng sản Malgorzata từ thành Varsovie xa lạ.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/04/2-7-1055x1536.jpg

Cô Malgorzata Pajak-Stormka (sau này về hưu với chức vụ trung tá Quân đội Nhân dân Ba Lan) lúc đó là thư ký phái đoàn Ba Lan đang ăn phở tại Sài Gòn 1966. Nguồn: Poland’s Footprint in Vietnam

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/04/1-53.jpg

Một sĩ quan Hungary tại miền Nam Việt Nam trước tháng 4/1975. Nguồn: Internet via Thọ Nguyễn

 

Cả hai hiệp định hòa bình đều ra đời trong chiến tranh lạnh nên các thành viên ủy ban giám sát phải cùng được các nước chấp nhận. Năm 1954, Canada là nước tư bản được tất cả Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận. Ấn Độ là nước trung lập thì đương nhiên. (Lúc đầu họ trung lập thật sự, nhưng sau vụ Tây Tạng 1959, Việt Nam đứng về phía Trung Quốc nên tình bạn giữa Nehru – Hồ Chí Minh sứt mẻ). Ba Lan là nước XHCN được Mỹ và Pháp chấp nhận đại diện cho phe cộng sản.

 

Năm 1973 Ủy ban giám sát hiệp định hòa bình Paris bao gồm Canada, Indonesia, Hungary và Ba Lan. Về sau Canada rút lui và Iran được chọn thay thế, vì lúc đó chính quyền của vua Palevi (Pahlavi) là đệ tử ruột của Mỹ.

 

Sự hiện diện của các phái bộ Hungary và Ba Lan trong chiến tranh Việt Nam, cũng như sự đóng góp của họ vào diễn biến của cuộc chiến là một trong những góc khuất lịch sử mà tôi sẽ viết khi có dịp.

 

Vậy tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong các ủy ban quốc tế về Việt Nam?

 

Đó chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô sản mà đảng cầm quyền ở hai nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này cởi mở hơn các nước XHCN khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân không vào hợp tác xã. Nông nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba Lan giữ được tiếng nói của mình và đó cũng là đất sống cho giáo hội Thiên Chúa độc lập. Việc tổng giám mục Karol Wojtyla xứ Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào tháng 10.1978 cho thấy sức mạnh của giáo hội Ba Lan trong lòng nhà nước XHCN, sát biên giới Liên Xô.

 

Ở Hungary thì khác, 85% nông dân phải vào Hợp tác xã, nhưng ở đó vai trò của nông nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt vào HTX giúp cho nông nghiệp Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương Tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary không hề gay gắt như ở Ba Lan.

 

Ở Ba Lan 100% giáo dân theo đạo Thiên Chúa (Catholic được coi là quốc đạo). Ở Hungary ngược lại có nhiều dòng đạo: Catholic, Evangelian, Lutherian. Do đó sự khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.

 

Cuộc nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản Hungary dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của nhà nước với các tôn giáo. Tổng bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar sau này đã đưa ra “Kádárismus“ và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần trong xã hội. Từ 1964, Vatican và Budapest đã nói chuyện với nhau.

 

Hè 1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc, tôi sang Hungary thăm anh Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại đại học Semelweis. Đã chứng kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát triển nhất ở Đông Âu, khi sang đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác. Hàng hóa phương Tây có mặt trong nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc phải mua bằng ngoại tệ mạnh trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các quảng cáo ngoài đường đến âm nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với tôi.

 

Đó có lẽ sự tác động của dòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở nước ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George Soros đã gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được học bổng tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận dụng hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.

 

Hồ Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du khách từ Tây Đức cũng như Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc giúp đỡ vượt biên từng xảy ra bên hồ này.

 

Những khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu khác không chỉ phản ánh sự khai phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực tế khách quan của các đảng cầm quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn trước một cán cân lực lượng như vậy, nếu không muốn đổ bể.

 

Và chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương về tư tưởng và tài chính đó đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1973 Ba Lan đã hợp tác với hãng Fiat để sản xuất xe ô-tô Fiat Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm được phép đi sang phương Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy rằng việc cả hai nước đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối năm 1989 là điều tất yếu.

 

Cả người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã nhìn ra sự cần thiết của cải cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả hai bên ngồi vào những hội nghị bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ đêm 9.11.1989 chính là dưới tác động của các chuyển biến ở Ba Lan và Hungary.

 

Một yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân và lãnh đạo cả hai nước này đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong những biện pháp cứng rắn mà tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của Lech Walesa có những toan tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình. Sau khi thay đổi chế độ, hai ông đã giãi bày với nhau.

 

Chủ nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba Lan (đảng PIS của anh em nhà Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa một cách khôn khéo để tấn công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân chúng, họ thường áp đảo trong quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên tắc phân chia và kiểm soát quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.

 

Vấn đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng, nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã không cho phép ngu dân thành công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng PIS ở Ba Lan và loại bỏ FIDESZ ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.

 

Việc Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội, thể hiện ý chí của người dân, phải bằng mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị Orban làm méo mó. Rất nhiều người Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký bầu cử ở quê nhà.

 

Tất nhiên cả Ba Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều khó khăn để bảo vệ được nền dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những kẻ từ bên ngoài như Le Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.

 

Chẳng có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.

 

Nhưng tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những binh sĩ người Ba Lan và Hungary lại có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.

 

_____

 

 [1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến” Tho-nx.github.io

 

[2] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954 (International Commission of Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan

 

[3] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonesia. Sau này Iran thay Canada.

 

 

 

 


CHÚC MỪNG NGƯỜI DÂN HUNGARY (JB Nguyễn Hữu Vinh / Báo Tiếng Dân)

 



 

Chúc mừng người dân Hungary

JB Nguyễn Hữu Vinh  /  Báo Tiếng Dân

13/04/2026

https://baotiengdan.com/2026/04/13/chuc-mung-nguoi-dan-hungary/

 

Chúc mừng người dân Hungary đã chọn cho mình một lãnh đạo quốc gia theo ý đông đảo nhân dân, bất chấp những trò ma giáo can thiệp bầu cử từ nước ngoài.

 

Người dân Hungary đã chọn dân chủ thay cho độc tài cá nhân. Đã chọn châu Âu thay cho chọn Nga xâm lược.

 

Đây là một cuộc bầu cử của một quốc gia không lớn, nhưng được sự quan tâm của nhiều nước, nhất là các cường quốc trên thế giới. Bởi kết quả của nó là phản ánh giữa hai sự lựa chọn: Giữa Thiện và Ác, giữa dân chủ và độc tài, giữa một quốc gia và một cá nhân.

 

– Chia buồn với tổng thống Nga Vladimir Putin, vì đã mất một người bạn lớn giữa lòng châu Âu. Orbán luôn thể hiện vai trò là con chó nhỏ của Putin, luôn tìm cách ve vuốt nịnh bợ và phục vụ thói côn đồ bành trướng, xâm lược của Putin.

 

– Chia buồn với tổng thống Mỹ Donald Trump vì đã mất đi một người bạn mẫu mực, trung thành, mà ông đã công phu nâng đỡ, o bế, ca ngợi, hy vọng xây được một hình mẫu của mình tại châu Âu. Đặc biệt là chia buồn về thất bại trong cuộc bầu cử này khi ông đã rất công phu cử luôn cả Phó tổng thống Mỹ đến tận nơi vận động cho hắn mà vẫn thất bại.

 

Victor Orbán cầm quyền 16 năm, đã xây dựng một nền “độc tài dân chủ” giữa lòng châu Âu với những mưu đồ và cách làm đã tạo nên hy vọng trở thành hình mẫu cho đại cường quốc.

Hắn trở thành một điểm nghẽn, một vật cản của toàn châu Âu thống nhất ủng hộ cuộc chiến cứu nước của người dân Ukraine.

 

Hắn cũng trở thành nỗi nhục của người dân Hungary trước phản ứng của châu Âu và trên toàn thế giới trong thái độ với những vấn đề quốc gia và quốc tế.

 

Mình rất ghét tên này với những cách nó thể hiện rất trơ trẽn trước các đại ca như là Putin, Trump, Tập… nhưng rất hống hách trước những người như Zelensky.

 

Nhưng, mình thấy tên này vẫn được ở một điểm: Đó là khi bầu cử thất bại thì đã thừa nhận sự thất bại của mình rất rõ ràng, rất sòng phẳng, chứ không cù nhầy, giở trò ma giáo côn đồ như thằng khác.

 

Đó là một điểm cộng và hy vọng rằng hắn sẽ nhìn lại mình sau cuộc bầu cử này để biết người dân Hungary cần điều gì.






TẬP TRUNG QUYỀN LỰC DƯỚI THỜI TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM : TÁC ĐỘNG CHÍNH TRỊ và KINH TẾ ĐỐI VỚI VIỆT NAM (Lê Hồng Hiệp – Nghiên Cứu Quốc Tế)

 



Tập trung quyền lực dưới thời TBT Tô Lâm: Tác động chính trị và kinh tế đối với Việt Nam

Lê Hồng Hiệp   -   Nghiên Cứu Quốc Tế

14/04/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/04/14/tap-trung-quyen-luc-duoi-thoi-tbt-to-lam-tac-dong-chinh-tri-va-kinh-te-doi-voi-viet-nam/

 

Ngày 7 tháng 4 năm 2026, Quốc hội khóa mới của Việt Nam đã nhất trí bầu ông Tô Lâm, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, làm Chủ tịch nước, đưa ông trở thành nhà lãnh đạo quyền lực nhất đất nước trong nhiều thập kỷ. Với việc nắm giữ cả hai chức vụ cao nhất, ông Tô Lâm trên thực tế đã trở thành người nắm quyền lực tối cao ở Việt Nam, đánh dấu một sự thay đổi đáng kể so với truyền thống lãnh đạo tập thể của đất nước, nơi tổng bí thư được xem là người đứng đầu trong số những người ngang hàng chứ không phải là một nhà lãnh đạo tối cao có vị trí áp đảo. Sự tập trung quyền lực này đặt ra một câu hỏi quan trọng: Điều đó tốt hay xấu cho tương lai chính trị và kinh tế của Việt Nam?

 

Sự thăng tiến quyền lực của ông Tô Lâm bắt nguồn từ vai trò người thực thi chính trên thực tế trong chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ông Tô Lâm đã thực hiện điều này trong nhiệm kỳ làm Bộ trưởng Công an từ năm 2016 đến năm 2024. Chiến dịch này đã hạ bệ hoặc gạt ra bên lề nhiều chính trị gia cấp cao, nhiều người trong số đó có thể đã trở thành đối thủ chính trị của ông. Với tư cách nguyên Bộ trưởng Công an, ông tiếp tục nắm giữ ảnh hưởng đáng kể đối với bộ này, cho phép ông duy trì đòn bẩy đáng kể đối với các chính trị gia và quan chức chính phủ hàng đầu nhờ vào quyền lực điều tra rộng lớn của bộ. Đòn bẩy này cho phép ông vô hiệu hóa những người “đối lập” và dẫn dắt Việt Nam từng bước hướng tới mô hình quản trị tập trung hơn mà hầu như không gặp phải sự phản kháng nào.

 

Quyền lực hiện đang nằm chắc trong tay ông Tô Lâm. Bên cạnh việc nắm giữ hai vị trí cao nhất, ông còn khéo léo bố trí các đồng minh chủ chốt vào những vai trò có ảnh hưởng ở cả trung ương và địa phương. Ví dụ, ông Lê Minh Hưng, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và có quan hệ gần gũi với Bộ Công an, được bầu làm Thủ tướng cùng ngày. Ông Lương Tam Quang, đồng hương Hưng Yên của ông Tô Lâm, giữ chức Bộ trưởng Công an. Ông Trần Lưu Quang, một đồng minh thân cận khác, được bổ nhiệm làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế chính của đất nước. Trong khi đó, ông Nguyễn Duy Ngọc, một tướng Công an, từng giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội trong thời gian ngắn trước khi đảm nhiệm vị trí lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương đầy quyền lực.

 

Dưới thời ông Tô Lâm, ảnh hưởng của ngành công an và “phe Hưng Yên” đặc biệt đáng chú ý. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Việt Nam hồi tháng 1, các chính trị gia quê gốc Hưng Yên đã giành được 20 ghế, tương đương 10%, trong Ban chấp hành Trung ương Đảng gồm 200 ủy viên. Đây là một tỷ lệ lớn bất thường nếu xét đến việc sau sáp nhập, Hưng Yên là tỉnh nhỏ nhất về diện tích và chỉ chiếm khoảng 3,5% dân số cả nước. Hơn nữa, ba lãnh đạo từ Bộ Công an đã được bầu vào Bộ Chính trị gồm 19 người (chiếm 15,7%), và bảy người được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng (chiếm 3,5%), cho thấy quyền lực và ảnh hưởng ngày càng tăng của bộ này.

 

Sự tập trung quyền lực này mang lại những tác động tích cực lẫn tiêu cực. Về mặt tích cực, “Ê-kíp Tô Lâm” được kỳ vọng sẽ đoàn kết, nhất quán và hiệu quả hơn. Khi sự cản trở từ các phe phái khác giảm xuống, việc thông qua và thực thi chính sách nhanh chóng và hiệu quả hơn sẽ trở thành thông lệ. Điều này sẽ thúc đẩy các cải cách cần thiết, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số đầy tham vọng của Việt Nam trong những năm tới nhằm đưa đất nước đạt được vị thế quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

 

Quan trọng hơn, các quan chức có quan hệ thân thiết với ông Tô Lâm sẽ được hưởng lợi từ sự bảo vệ chính trị mạnh mẽ hơn, cho phép họ thực hiện các chính sách mà không phải canh cánh lo sợ về các cuộc điều tra hay thanh trừng trong tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng: Nhiều quan chức Việt Nam, kể cả những người giữ chức vụ ở cấp bộ và lãnh đạo địa phương, được cho là đã ngần ngại đưa ra các quyết định quan trọng do lo sợ về những hậu quả chính trị và pháp lý, đặc biệt là trong chiến dịch chống tham nhũng của ông Nguyễn Phú Trọng. Với sự bảo trợ chính trị của ông Tô Lâm, các lãnh đạo trong các bộ ngành và chính quyền địa phương hiện đã sẵn sàng hơn trong việc đưa ra các quyết định táo bạo để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Xu hướng này đã thể hiện rõ: kể từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền Tổng Bí thư vào tháng 8 năm 2024, nhiều dự án, cả công và tư, đã được cấp phép, tái khởi động hoặc đẩy nhanh tiến độ. Trong số này có các dự án trong lĩnh vực bất động sản và cơ sở hạ tầng, nhiều dự án trong số đó đã bị trì hoãn kéo dài.

 

Tuy nhiên, các mặt trái cũng không kém phần quan trọng. Việc thu hẹp không gian thảo luận chính sách và các tranh luận nội bộ mang tính phê phán có nguy cơ tạo ra một “buồng vọng”, làm tăng rủi ro xảy ra những sai lầm chính sách nghiêm trọng. Sự phá vỡ cân bằng phe phái truyền thống, với bộ máy công an và “phe Hưng Yên” thống trị chính trường, có thể làm suy yếu sự đoàn kết và dân chủ nội Đảng. Đồng thời, Bộ Công an và các doanh nghiệp có quan hệ thân thiết với bộ này đang tận dụng quyền lực áp đảo của ông Tô Lâm để nhanh chóng mở rộng phạm vi kinh doanh và ảnh hưởng kinh tế, làm dấy lên lo ngại về tình trạng gia tăng chủ nghĩa thân hữu và tham nhũng. Một cuộc khủng hoảng kế nhiệm cũng có thể xảy ra nếu ông Tô Lâm nghỉ hưu hoặc gặp vấn đề về sức khỏe, vì hệ thống hiện phụ thuộc quá nhiều vào một cá nhân thay vì các cơ chế lãnh đạo tập thể được thể chế hóa. Điều này có thể dẫn đến đấu đá chính trị gay gắt và bất ổn hệ thống về lâu dài.

 

Những hệ quả của việc ông Tô Lâm tập trung quyền lực đối với triển vọng chính trị và kinh tế của Việt Nam cuối cùng sẽ phụ thuộc vào cách ông sử dụng mức độ quyền lực chưa từng có này. Nếu được sử dụng một cách khôn ngoan để thúc đẩy lợi ích quốc gia và thực hiện các cải cách có ý nghĩa, nó có thể đưa Việt Nam tiến gần hơn tới các mục tiêu phát triển và tăng cường sự dẻo dai về chính trị và kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, nếu quyền lực này bị lạm dụng để củng cố lợi ích cá nhân hoặc phe phái, nó có nguy cơ làm suy yếu sự năng động kinh tế của Việt Nam, làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư và đe dọa tính chính danh cũng như sự ổn định lâu dài của chế độ. Do đó, sự thành công trong tương lai của Việt Nam phụ thuộc vào việc quyền lực tập trung của ông Tô Lâm sẽ trở thành công cụ cho một nền quản trị mạnh mẽ, hiệu quả, hay là nguồn cơn của những bất ổn tiềm tàng mới.

 

----------------------

Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên chuyên trang Fulcrum, ngày 13/04/2026.

 

---------------------------

Có thể bạn quan tâm:

1.    Thấy gì từ vai trò ngoại giao nổi bật của “Đệ nhất Phu nhân” Việt Nam?

2.    Liệu Việt Nam có đi theo con đường của Trung Quốc?

3.    Liệu Việt Nam có hợp nhất vị trí Tổng bí thư và Chủ tịch nước?

4.    Gorbachev: Anh hùng bất đắc dĩ

5.    Việt Nam 1945: Khoảnh khắc không gì là không thể

6.    Một góc nhìn khác về Lý Quang Diệu

7.    Chiến tranh Việt Nam qua hồi ức của một lính Mỹ

8.    Những phụ nữ Mỹ trên chiến trường Việt Nam

 

 

 

 


KHI “TRIỀU ĐÌNH” TOÀN MỘT LŨ NỊNH THẦN . . . (Trương Nhân Tuấn / Báo Tiếng Dân)

 



Khi “triều đình” toàn một lũ nịnh thần…

Trương Nhân Tuấn   -   Báo Tiếng Dân

13/04/2026

https://baotiengdan.com/2026/04/13/khi-trieu-dinh-toan-mot-lu-ninh-than/

 

Theo tôi thấy chính phủ của Tổng thống Trump hoạt động hiện thời như là một “triều đình phong kiến” mà quần thần toàn một lũ “nịnh thần”.

 

Tôi viết những lời này không nhằm đả kích nước Mỹ hay bất cứ một nhân vật lãnh đạo nào hiện thời của nước Mỹ. Tôi viết ra những dòng chữ “khó coi”, với những ý kiến “khó đọc”, chỉ vì tôi yêu nước Mỹ. Tôi không muốn (và không bao giờ muốn) “một nước Mỹ hùng mạnh và bao dung như tôi đã thấy trong quá khứ” bị suy tàn, vì những lý do mà nhiều người đã thấy. Đó là tầng lớp lãnh đạo đã đánh đổi mục tiêu phụng sự.

 

Theo tôi, khi một công chức, một lãnh đạo quốc gia “ăn lương nhà nước”, tức sống nhờ bằng tiền của dân, hay bằng bỗng lộc từ tài nguyên quốc gia, người công chức này chỉ có trách nhiệm làm tròn phận sự của mình. Phận sự của họ ở đây là phục vụ cho lợi ích của đất nước và dân tộc. Đối với nước Mỹ đó là việc phải “trung thành với Hiến pháp” chớ không phải trung thành với Tổng thống Trump.

 

Chúng ta không thể bỏ qua một thực tế là cơ cấu lãnh đạo quân sự Mỹ đã thay đổi tận gốc rễ kể từ khi ông Trump trở lại tòa Bạch Ốc. Bộ Quốc phòng được đổi tên thành Bộ Chiến tranh vào tháng 9 năm 2025. Đây không chỉ là hình thức mà nó đánh dấu một sự chuyển dịch từ “tư duy phòng thủ” sang “tấn công” bằng vũ lực.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/04/2.jpeg

Ảnh minh họa: Nội các của Trump tập trung nhiều nhân vật MAGA. Nguồn: AP/ Getty Images/ Adobe Stock.

 

Chúng ta đã thấy Bộ trưởng Pete Hegseth đã thực hiện một cuộc thanh lọc quy mô lớn chưa từng có. Việc Tướng Randy George (Tham mưu trưởng Lục quân) bị ép từ chức cách đây chỉ 10 ngày (2-4-2026) vì đã bày tỏ lo ngại về việc cạn kiệt kho đạn dược.

 

Trước đó, Tướng Charles Q. Brown (Tổng Tham mưu trưởng Liên quân) cũng đã bị sa thải ngay khi ông Trump nhậm chức. Những người như Tướng Dan Caine (Tổng Tham mưu trưởng Liên quân hiện tại) hay Steve Feinberg (Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) đã được chọn không chỉ vì tài năng, mà vì họ chia sẻ thế giới quan “America First” và sẵn sàng thực thi mọi mệnh lệnh từ tòa Bạch Ốc không chút do dự.

 

Trong lịch sử chiến tranh, sự phản biện (hay có tiếng nói khác) của các tướng lãnh kinh nghiệm trận mạc luôn được giới lãnh đạo tôn trọng. Ý kiến của họ có thể được coi như là “giàn thắng” để một chiếc xe lưu thông an toàn trên xa lộ. Ở đây là đem lại sự an toàn cho những quyết định mang tính cảm tính của chính trị gia. Khi bộ thắng này bị tháo bỏ, rủi ro sẽ nhân lên gấp bội.

 

Khi các tướng lãnh chỉ biết nói với Tổng thống kiểu “hạ thần lĩnh chỉ”, trước những kế hoạch phiêu lưu như phong tỏa eo biển Hormuz, những rủi ro sẽ không được đánh giá đầy đủ. Không ai dám nhắc với ông Trump rằng việc chặn tàu dầu của Trung Quốc, của Ấn Độ và của các quốc gia Nhật, Hàn, hay các nước thuộc khối ASEAN có thể dẫn đến một sự sụp đổ của nền kinh tế toàn cầu. Thậm chí châm ngòi một trận Thế chiến mới mà trong đó Mỹ ít có khả năng thắng trận vì có thể Mỹ phải “đứng một mình”.

 

Chúng ta nên biết là niềm tự hào của quân đội Mỹ là tính “phi chính trị”, hoàn toàn khác với Việt Nam (hay Trung Quốc, quân đội phải trung thành với đảng). Các tướng lãnh của Mỹ chỉ “trung hành với Hiến pháp” chớ không trung thành với bất kỳ ai.

 

Việc sử dụng các vị trí lãnh đạo trong hàng ngũ quốc phòng như là một thứ “ơn mưa móc”, mục đích “mua” lòng trung thành các tướng lãnh, sẽ làm cho các sĩ quan sẽ trung thành với cá nhân thay vì trung thành với Hiến pháp.

 

Ranh giới giữa “lợi ích quốc gia” và “ý chí của nhà lãnh đạo” đang bị làm mờ đi một cách có hệ thống.

 

Liệu các tướng lãnh có còn nhớ lời thề bảo vệ Hiến pháp (thay vì trung thành với Tổng thống Trump) hay không?

 

Trên lý thuyết, nếu một mệnh lệnh được coi là phi pháp, hoặc đi ngược lại lợi ích tối cao của đất nước và dân tộc, các tướng lãnh lãnh đạo có quyền (và nghĩa vụ) từ chối thi hành.

 

Khi những người có tư duy phản biện đã bị thanh lọc, những người còn lại tin vào triết lý: “Tổng thống được dân bầu ra, vì vậy ý chí của Tổng thống chính là ý chí của nhân dân”. Đây là một kiểu nguỵ biện, một thứ logic vòng quanh, giúp họ hợp thức hóa việc tuân thủ mù quáng mà không cảm thấy mình đang “phản bội” đất nước.

 

Những người này cho rằng họ tham gia cuộc chiến Iran là để “bảo vệ vị thế siêu cường” của Mỹ cũng như “ngăn chặn thảm họa hạt nhân”. Nhưng đối với những chính trị gia “có kinh nghiệm”, họ xem cuộc chiến Iran có mục đích phục vụ mục tiêu chính trị của Tổng thống Trump và làm hài lòng đồng minh như Israel. Mục tiêu “chính trị” của Tổng thống Trump là gì? Sẽ nói ở phần dưới.

 

Đối với cử tri MAGA, chiến tranh Iran giúp Tổng thống Trump ép thế giới dùng dầu đá phiến của Mỹ mà việc này sẽ làm cho nước Mỹ hùng mạnh trở lại. Những cử tri này không thấy rằng những hành vi “bất định” của Tổng thống Trump đã tác động mạnh mẽ lên nền kinh tế toàn cầu, gây lạm phát và đẩy các đồng minh vào tình thế kiệt quệ.

 

Tổng thống Trump đe doạ sẽ loại bỏ “quốc gia ăn bám”, khi các nước này không tham gia cùng Mỹ trong việc đánh Iran hay phong toả eo biển Hormuz (như quan điểm của Trump về NATO). Có ai thấy được là hành vi này của Tổng thống Trump sẽ làm suy yếu mạng lưới an ninh toàn cầu mà Mỹ đã mất 80 năm xây dựng, như nội dung bài tôi viết hôm qua.

 

Cuộc chiến với Iran đã bước sang tuần thứ 7. Chuyện loại trừ những bộ óc chiến lược (như Tướng Randy George) có thể khiến Mỹ lún sâu vào một cuộc chiến tiêu hao mà họ chưa kịp chuẩn bị kỹ về hậu cần. Huống chi cuộc chiến có thể mở rộng ra, “quốc tế hoá”, vì hành vi đơn phương “phong toả eo biển Hormuz”.

 

Theo tôi, một quân đội chỉ có những người “tôn thờ lãnh tụ” (kiểu Mỹ hiện nay) có thể rất quyết đoán trong ngắn hạn. Nhưng trong dài hạn thường thiếu sự bền bỉ và khả năng tự điều chỉnh khi đối mặt với thực tế chiến trường tàn khốc.

 

Câu hỏi đặt ra là, khi “triều đình” không còn ai dám nói lời can ngăn, liệu ông Trump có kịp nhận ra mình đang đi vào ngõ cụt trước khi tiếng súng đầu tiên ở Hormuz nổ ra hay không?

Còn vấn đề “mục đích chính trị của Tổng thống Trump”?

 

Người ta thường ca tụng “tư duy” của Tổng thống Trump, một thứ “nghệ thuật của sự hỗn loạn”. Sự bất định (không lường trước được) của Tổng thống Trump được cho là “không phải là nhược điểm”, mà là vũ khí mạnh nhứt. Khi Tổng thống Trump đưa ra những tuyên bố “khùng điên” (như các tuyên bố mâu thuẫn về thắng trận, hay chuyện phong tỏa Hormuz, hay đòi thu phí), ngay lập tức Tổng thống Trump nắm quyền kiểm soát chương trình nghị sự toàn cầu. Cả thế giới – từ các sàn chứng khoán đến các bộ ngoại giao – đều phải xoay quanh trục của ông để tìm cách ứng phó.

 

Nhiều năm qua Tổng thống Trump đã đưa “ngưỡng sốc” của công chúng lên rất cao. Một hành động có thể khiến các đời Tổng thống khác bị luận tội hoặc gây ra chiến tranh thế giới, thì với ông, nó lại được xem như một “chiêu trò đàm phán” cao siêu.

 

Chúng ta đã thấy, các nhà đầu tư đã học cách sống chung với những dòng X gây bão tố của Tổng thống Trump. Họ đã thích ứng với “tính khí bất thường”, họ không còn hoảng loạn thực sự mà chuyển sang “đánh đu” theo những biến động đó để kiếm lời.

 

Đâu là mục đích chính trị của Tổng thống Trump? Ta chỉ thấy rằng, mỗi khi chứng khoán trồi sụt, mỗi khi giá vàng tăng giảm, hoặc mỗi khi giá dầu hoả lên xuống… là ta thấy khối tài phiệt cật ruột với Tổng thống Trump “hốt bạc”.

 

Ai có khả năng biết trước những lời nói “gây bão” của Tổng thống Trump, nếu không phải là con cái, dâu rể, và cận thần của tổng thống?

 

Câu hỏi chính đáng cần được đặt ra: Tổng thống Trump đang phục vụ cho ai? Cho lợi ích của nước Mỹ hay là lợi ích chiến lược của đồng minh (Israel) và lợi ích kinh tế của bà con cật ruột?

 





TRUMP và NGÔN NGỮ LEO THANG (Thục-Quyên – Bauxite Việt Nam)

 



Trump và ngôn ngữ leo thang

Thục-Quyên  -   Bauxite Việt Nam

08:43 | Posted by BVN4

https://boxitvn.blogspot.com/2026/04/trump-va-ngon-ngu-leo-thang.html

 

               Những Lựa chọn Chiến lược đã đẩy Hoa Kỳ vào thế khó

 

Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.

 

                                                                    *

 

1. Giới hạn của đàm phán cưỡng ép

 

Phong cách đàm phán của Trump, được mô tả nổi tiếng trong cuốn The Art of the Deal (1987), dựa vào việc thể hiện mạnh mẽ, gây áp lực cao và kiểm soát nhận thức. Trong giai đoạn đầu của xung đột với Iran, cách tiếp cận này thể hiện qua các lời đe dọa, các cuộc tấn công có mục tiêu và những màn phô trương sức mạnh quân sự mang tính biểu tượng, nhằm buộc lãnh đạo Iran phải nhượng bộ.

 

Tuy nhiên, cấu trúc chính trị của Iran — do Lãnh tụ Tối cao và Lực lượng Vệ binh Cách mạng chi phối — khiến đàm phán cưỡng ép gần như không hiệu quả. Bất kỳ sự nhượng bộ rõ ràng nào đều mang một cái giá chính trị nội bộ cực kỳ lớn đối với lãnh đạo Iran, khiến họ gần như không có không gian để lùi bước. Kết quả là Hoa Kỳ không thể đạt được nhượng bộ chỉ bằng các đe dọa và vũ lực, dù mạnh đến đâu.

 

2. Thay đổi lãnh đạo quân sự Mỹ và tập trung hóa quyền lực

 

Việc cách chức nhiều chỉ huy cấp cao trong khi các hoạt động quân sự đang diễn ra là điều hiếm thấy trong lịch sử. Những cuộc cải tổ quy mô này nhằm:

 

·                Tập trung quyền chỉ huy tác chiến vào lãnh đạo dân sự, đảm bảo phù hợp với chiến lược của tổng thống. 

 

·                Có thể loại bỏ sự phản đối nội bộ đối với các kế hoạch tác chiến mang tính quyết liệt. 

 

·                Gửi tín hiệu đến cả trong nước và quốc tế về một sự chuyển hướng sang hành động mạnh mẽ, thậm chí leo thang. 

 

Mặc dù chưa có bằng chứng xác thực cho thấy những thay đổi này liên quan trực tiếp đến kế hoạch tấn công trên bộ, nhưng thời điểm của chúng — diễn ra giữa lúc xung đột đang tiếp diễn và đi kèm với ngôn từ cứng rắn — cho thấy tư thế chuẩn bị cho leo thang. Trump đang đồng thời định hình cả cấu trúc chỉ huy lẫn đường hướng truyền thông.

 

3. Tình trạng bị cô lập ngoại giao đưa tới suy yếu các kênh hòa bình

 

Bên cạnh sự thành công của các động thái quân sự, những lựa chọn chiến lược của Trump đã làm suy yếu vị thế ngoại giao của Hoa Kỳ:

 

·                Oman và các quốc gia Vùng Vịnh từng cố gắng làm trung gian hòa giải trước khi xung đột leo thang, nhưng Trump đã tự ý khởi động hành động quân sự, gạt họ khỏi mọi bàn tính. 

 

·                Các cường quốc Âu châu và Liên Hiệp Quốc bị gây áp lực hoặc bị gạt ra ngoài, làm giảm các kênh đàm phán đáng tin cậy. 

 

·                Việc từ chối trung gian đa phương khiến Mỹ bị cô lập về ngoại giao, hạn chế khả năng buộc Iran nhượng bộ một cách hòa bình. 

 

Chính quyền Trump hiện dựa vào Pakistan như một đối tác khu vực. Tuy nhiên, đề xuất của Pakistan nhằm đưa Nga và Trung Quốc cùng vào vai trò trung gian không tạo điều kiện cho Mỹ kỳ vọng một giải pháp thuận tiện; trái lại, nó có thể làm gia tăng độ phức tạp chiến lược và thu hẹp không gian hành động của Washington.

 

4. Diễn giải ngôn từ của Trump

 

Trong bối cảnh này, những lời lẽ thô tục và khiêu khích gần đây của Trump phục vụ nhiều mục đích chiến lược:

 

 - Định hình nhận thức về Iran và đóng cánh cửa ngoại giao:  Khắc họa lãnh đạo Iran là cực đoan và không thể thỏa hiệp, từ đó biện minh cho việc leo thang của Mỹ. Việc sử dụng ngôn từ thô tục có thể phản ánh một tính toán chiến lược: khi kết quả cưỡng ép gần như bị ngăn chặn bởi tính cứng nhắc về ý thức hệ của Iran và các kênh ngoại giao suy yếu, Trump dường như đang cố gắng kích thích các phản ứng cực đoan từ lãnh đạo Iran — những phản ứng này sau đó có thể được dùng để biện minh cho một can thiệp “trên bộ”, biến phản ứng của họ thành một “cạm bẫy chính trị” khiến hành động quân sự trở nên tất yếu. 

 

- Chuẩn bị dư luận trong nước – Phát tín hiệu rằng leo thang là điều không thể tránh khỏi, đồng thời đóng khung mọi hành động quân sự dưới góc nhìn phòng vệ và cần thiết.

 

5. Ràng buộc nội bộ và phản ứng của Iran

 

Lãnh đạo Iran hoạt động dưới áp lực nội bộ và ý thức hệ rất lớn:

 

·                Nhượng bộ là điều suy yếu chính trị, dễ làm suy giảm tính chính danh. 

 

·                Các hành động trả đũa là điều được kỳ vọng, thông qua tên lửa, máy bay không người lái, năng lực mạng và các lực lượng ủy nhiệm. 

 

·                Tính cứng nhắc về ý thức hệ khiến khả năng leo thang khó lường, ngay cả khi bị kích động vô tình. 

 

Điều này khiến đàm phán cưỡng ép không hiệu quả và đẩy Mỹ về phía leo thang, dù có mong muốn hay không.

 

6. Hệ quả chiến lược

 

Sự hội tụ của nhiều yếu tố — thay đổi lãnh đạo quân sự, ngôn từ cứng rắn, sự cứng rắn ý thức hệ của Iran và cô lập ngoại giao — cho thấy leo thang ngày càng khó tránh khỏi:

 

·                Các chiến lược cưỡng ép ban đầu đã thất bại. 

 

·                Các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế có thể là bước tiếp theo khả thi nhất. 

 

·                Việc chuẩn bị dư luận và định hình câu chuyện là yếu tố then chốt để duy trì sự ủng hộ chính trị. 

 

·                Sự phụ thuộc vào Pakistan và việc kéo theo Trung Quốc, Nga làm tăng độ phức tạp và rủi ro. 

 

Chiến lược hiện tại của Trump dường như là sự kết hợp giữa chuẩn bị leo thang, kiểm soát nhận thức và củng cố quyền chỉ huy, thay vì chỉ đơn thuần là ngoại giao hay cưỡng ép.

 

Kết luận

 

Những hành động của Trump cho thấy một bài học quan trọng trong địa chính trị hiện đại: sự kết hợp giữa phong cách đàm phán cá nhân, quản lý quân sự và lựa chọn ngoại giao có thể đẩy một quốc gia vào thế buộc phải leo thang, ngay cả khi mục tiêu ban đầu là hạn chế.

 

Bằng cách khởi động xung đột trước khi tìm những cách giải quyết không vũ lực, gạt bỏ các trung gian quốc tế và làm xa lánh đồng minh, Trump đã đặt Hoa Kỳ vào vị thế yếu hơn trong đàm phán. Kết hợp với ngôn từ cứng rắn và thay đổi trong cơ cấu lãnh đạo quân sự, Mỹ hiện đối mặt với xác suất cao xảy ra leo thang quân sự, trong khi dư địa cho giải pháp hòa bình ngày càng thu hẹp.

 

Hiểu rõ các động lực liên kết này là điều thiết yếu để giải mã các tín hiệu hiện tại, dự đoán hành động và đánh giá rủi ro leo thang trong tương lai.

 

T.Q.

Tác giả gửi BVN 

 





VẮNG TRUNG QUỐC KHIẾN MỸ LÚN SÂU VÀO CÁC CUỘC CHIẾN ĐẦY RỦI RO (Jo Inge Bekkevold – Foreign Policy)

 



 

Vắng Trung Quốc khiến Mỹ lún sâu vào các cuộc chiến đầy rủi ro

Jo Inge Bekkevold  -  Foreign Policy

Viên Đăng Huy, biên dịch   -   NCQT

13/04/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/04/13/vang-trung-quoc-khien-my-lun-sau-vao-cac-cuoc-chien-day-rui-ro/

 

Xét trong bối cảnh cuộc đối đầu siêu cường giữa Mỹ và Trung Quốc, mọi quyết định khai chiến của bất kỳ chính quyền Mỹ nào cũng cần phải được dẫn dắt bởi một đánh giá  liệu hành động đó có củng cố vị thế của Mỹ trước Trung Quốc hay không. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ từng tham chiến tại Triều Tiên và Việt Nam để đẩy lùi ảnh hưởng của Liên Xô, đồng thời buộc Anh và Pháp phải rút quân trong Khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956 nhằm tránh sự can thiệp của Moscow.

 

Do đó, việc Mỹ tiến hành một cuộc không kích tổng lực — và có thể là một chiến dịch trên bộ — chống lại Iran là một trường hợp điển hình mà người ta kỳ vọng toan tính Trung Quốc sẽ đóng vai trò chủ chốt. Thực tế, Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2025 của chính quyền Trump đã làm nổi bật sự kình địch Mỹ-Trung, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiềm chế Trung Quốc tại châu Á và chống Bắc Kinh tiếp cận Tây Bán cầu. Nhiều nhà phân tích và chiến lược gia đã đặt cuộc chiến Iran vào bối cảnh nỗ lực kiềm chế Trung Quốc bằng cách triệt tiêu các đối tác khu vực của nước này.

 

Thế nhưng, thật khó để thấy chiến dịch Epic Fury sẽ giúp củng cố vị thế của Mỹ trước Trung Quốc như thế nào.

 

Trên thực tế, chính việc Trung Quốc thiếu vắng sự hiện diện quân sự tại vùng Trung Đông mở rộng đã nhử Mỹ vào cuộc chiến. Một cuộc tấn công tương tự của Mỹ vào Iran đã không thể xảy ra trong thời Chiến tranh Lạnh, bởi khi đó Washington luôn lo ngại một phản ứng quân sự từ Liên Xô nhắm vào lợi ích của Mỹ trong khu vực. Washington không hề có nỗi lo tương tự đối với Trung Quốc tại Trung Đông, do năng lượng quân sự hạn chế của Bắc Kinh bên ngoài vùng Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nếu Washington sa lầy vào các xung đột ở Trung Đông hay các khu vực khác thuộc lục địa Á-Âu vốn nằm bên lề địa chính trị của cuộc đối đầu Mỹ-Trung  họ sẽ đối mặt với rủi ro sa lầy chiến lược và có thể làm tổn hại mối quan hệ với các đồng minh và đối tác.

 

Về lý thuyết, cuộc chiến của Tổng thống Donald Trump với Iran có thể củng cố vị thế của Mỹ bằng cách lật đổ chế độ thân Trung Quốc tại Tehran, từ đó làm yếu đi một đối tác quan trọng và gây gián đoạn nguồn cung dầu mỏ của Bắc Kinh. Việc phô diễn sức mạnh quân sự áp đảo cũng có thể răn đe Trung Quốc trong việc tấn công Đài Loan. Tuy nhiên, trên thực tế, chẳng có lập luận nào trong số này có đủ cơ sở thuyết phục.

 

Trước nhất, lịch sử Chiến tranh Lạnh cho thấy Mỹ có thể dùng việc thay đổi chế độ ở các nước thứ ba như một công cụ để làm suy yếu đối thủ siêu cường; Lãnh đạo tối cao của Iran và các thành viên cốt cán khác thực sự đã bị tiêu diệt trong giai đoạn đầu của cuộc không kích Mỹ-Israel. Dẫu vậy, chế độ thần quyền của Iran vẫn nguyên vẹn, cho thấy chiến dịch ném bom có lẽ là không đủ để lật đổ chính quyền, nếu đó thực sự là mục tiêu của Mỹ. Có vẻ như chính quyền Trump không hề có một chiến lược tổng thể để loại bỏ các chế độ thân Trung Quốc. Ngay cả khi chế độ Iran sụp đổ, cũng không có gì đảm bảo một chính phủ mới tại Tehran — dù tự do hay cực đoan hơn — sẽ ngừng hợp tác với Bắc Kinh. Suy cho cùng, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Iran, và với tư cách là quốc gia nhập khẩu dầu khí lớn nhất thế giới, Bắc Kinh vẫn sẽ là bên chi phối xuất khẩu dầu mỏ của Iran trong tương lai.

 

Thứ hai, các cuộc không kích của Mỹ đã làm suy yếu năng lực quân sự của Iran, từ đó giảm khả năng can thiệp của nước này vào chính trị Trung Đông. Tuy nhiên, những lo ngại rằng Bắc Kinh đang dẫn dắt một trục ma quỷ hay trục độc tài với Iran là thành viên chủ chốt là quá cường điệu. Mặc dù việc Iran khiến Mỹ bận tâm ở Trung Đông là có lợi cho Trung Quốc (giống như cách Nga làm Mỹ phân tâm ở châu Âu), nhưng Bắc Kinh không ở vị thế có thể áp đặt chính sách của Tehran hay Moscow đối với Mỹ. Hơn nữa, dù vun đắp quan hệ bền chặt với Iran và phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng song phương, Trung Quốc thực tế vẫn tìm kiếm sự cân bằng với nhiều quốc gia khác trong khu vực, bao gồm Ả Rập Saudi và Israel. Lợi ích chính của Bắc Kinh tại đây là sự ổn định và hợp tác kinh tế. Trên thực tế, Trung Quốc phản đối Iran theo đuổi vũ khí hạt nhân chính vì lý do nó có thể gây bất ổn khu vực và tạo cớ cho Mỹ và Israel tấn công Iran.

 

Thứ ba, với việc hơn 70% lượng dầu tiêu thụ của Trung Quốc dựa vào nhập khẩu và gần một nửa trong số đó đến từ Trung Đông, cuộc chiến của Mỹ với Iran rõ ràng gây tổn thương cho Trung Quốc khi làm gián đoạn nguồn cung. Tuy nhiên, Bắc Kinh không có lý do để hoảng loạn. Một cuộc khủng hoảng dầu mỏ quốc tế như hiện tại chính xác là những gì Bắc Kinh đã chuẩn bị và đưa vào chính sách an ninh năng lượng của mình. Ngoài sản lượng nội địa, Trung Quốc đã tích lũy kho dự trữ dầu thô khổng lồ trong năm 2025 khi nguồn cung toàn cầu dư thừa và giá thấp. Hơn nữa, họ đã giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hóa nguồn nhập khẩu từ các nước khác. Một số nguồn nhập khẩu dầu thô chính của Trung Quốc nằm ngoài khu vực Trung Đông, bao gồm Nga và Brazil. Trên hết, ban lãnh đạo Trung Quốc đã nhấn mạnh một cơ cấu năng lượng cân bằng hơn gồm dầu, khí đốt, than đá, hạt nhân và năng lượng tái tạo.

 

Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng dầu mỏ do Trump gây ra đang làm tổn thương chính nền kinh tế Mỹ, vốn rất nhạy cảm với giá dầu thế giới, cũng như nền kinh tế các đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc và các đối tác NATO. Việc ông Trump phải yêu cầu Trung Quốc giúp chấm dứt tình trạng đóng cửa eo biển Hormuz cho thấy việc làm suy giảm ảnh hưởng của Trung Quốc không hề nằm trong toan tính ban đầu của ông khi phát động cuộc chiến này.

 

Thứ tư, ban lãnh đạo Trung Quốc và Quân đội Trung Quốc (PLA) đương nhiên đang theo dõi màn phô diễn sức mạnh của Mỹ với sự quan tâm lớn, thậm chí là đố kỵ. Quân đội Mỹ — đặc biệt là về công nghệ và kinh nghiệm tác chiến đa miền quy mô lớn, phức tạp — vẫn tiên tiến hơn Trung Quốc. Các cuộc không kích tại Iran được cho là đã tích hợp trí tuệ nhân tạo ở quy mô chưa từng có. Cuộc chiến này sẽ thúc đẩy Trung Quốc tư duy lại về các vấn đề quân sự tương tự như cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991. Nếu như khoảng cách công nghệ khổng lồ giữa PLA và Mỹ năm 1991 từng gây sốc cho Bắc Kinh, thì ngày nay khoảng cách đó không còn nữa. Ngược lại, Trung Quốc hiện đang ngày càng tự tin vào sức mạnh quân sự của chính mình, và Bắc Kinh biết rằng họ sẽ có lợi thế sân nhà trong một cuộc chiến với Mỹ tại châu Á. Rõ ràng, việc đối đầu cường độ cao với PLA ở sát khu hàng xóm của Trung Quốc sẽ hoàn toàn khác biệt với bất kỳ cuộc xung đột nào Mỹ từng tham gia. Đó chắc chắn là một thách thức ở quy mô hoàn toàn khác so với việc trút bom xuống Iran.

 

Việc Trung Quốc không có phản ứng gì nhiều đối với cuộc chiến Iran chẳng có gì ngạc nhiên. Bắc Kinh không có nghĩa vụ an ninh nào với Tehran. Quan trọng hơn, họ không có hiện diện quân sự thường trực tại khu vực để có thể tạo ra sự khác biệt. Dù về lý thuyết Trung Quốc có thể triển khai một nhóm tác chiến tàu sân bay đến khu vực để bảo vệ các tàu dầu, nhưng đây là một nước đi rủi ro. Bắc Kinh không muốn bị lôi kéo vào một cuộc chiến của Mỹ ở Trung Đông, và khả năng sẵn sàng chiến đấu của PLA cho một nhiệm vụ xa nhà như vậy vẫn là một dấu hỏi. Tuy nhiên, không nên coi đây là dấu hiệu yếu thế. Cách tiếp cận thận trọng của Trung Quốc đối với đống đổ nát ở Trung Đông đơn giản là hệ quả của động lực địa chính trị trong cuộc đối đầu Mỹ-Trung.

 

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, phạm vi địa lý trải dài của khối Liên Xô đồng nghĩa với việc Moscow là mối đe dọa trực tiếp đối với lợi ích của Mỹ trên nhiều khu vực của lục địa Á-Âu—bao gồm cả châu Âu, Trung Đông, Nam Á, và Đông Á. Trung Quốc, ngược lại, kiểm soát một khối lục địa hạn chế hơn nhiều. Thiếu vắng các căn cứ quân sự ở nước ngoài đáng kể, tầm với của quân đội Bắc Kinh phần lớn bị giới hạn ở vùng Tây Thái Bình Dương. Nói cách khác, vị trí địa lý của Trung Quốc tạo ra một cuộc đối đầu khốc liệt với Mỹ ở Đông Á nhưng không hỗ trợ sự đối đầu gay gắt ở các khu vực khác. Điều này trái ngược hoàn toàn với sự đối đầu đa mặt trận giữa Mỹ và Liên Xô trước đây.

 

Sự hiện diện mạnh mẽ của các lực lượng Mỹ và đồng minh dọc theo chuỗi đảo thứ nhất của Trung Quốc càng khiến cuộc kình địch tập trung vào một khu vực trung tâm duy nhất và giảm khả năng đối đầu siêu cường ở vùng ngoại biên. Tất cả những điều này buộc Bắc Kinh phải thiết kế một chiến lược quân sự chỉ tập trung vào Đông Á.

 

Ngược lại, vị thế địa lý của Mỹ cho phép họ tiếp cận các đại dương trên thế giới một cách dễ dàng. Việc thiếu vắng các lực lượng quân sự đáng kể của Trung Quốc bên ngoài chiến trường Đông Á có thể khiến Mỹ bị cám dỗ dấn thân vào các xung đột ở các chiến trường phụ. Vị thế của Trung Quốc, một siêu cường không có sự hiện diện quân sự toàn cầu, đang thách thức sự minh bạch và tính kiềm chế chiến lược của Mỹ theo cách hoàn toàn khác với thời Chiến tranh Lạnh hay thời kỳ đơn cực.

 

Khả năng — và từ đó là sự cám dỗ — phô trương sức mạnh bên ngoài vùng ảnh hưởng khu vực của Trung Quốc mang lại cho Mỹ hai rủi ro.

 

Rủi ro thứ nhất là sự sa lầy chiến lược. Việc sa lầy vào một hoặc nhiều cuộc chiến kéo dài tại các vùng ngoại biên sẽ làm cạn kiệt nguồn lực kinh tế và quân sự, vốn nên dành cho ưu tiên chiến lược chính là kiềm chế Trung Quốc. Cuộc chiến tại Iran có nguy cơ trở thành chính xác điều đó, đặc biệt nếu xung đột kéo dài và Washington phải đưa quân đổ bộ. Hơn nữa, tại một thời điểm nào đó trong tương lai, Trung Quốc có thể lợi dụng việc Mỹ đang bị xao nhãng để thúc đẩy lợi ích riêng tại Đông Á, bao gồm cả việc tấn công Đài Loan.

 

Rủi ro thứ hai là việc sử dụng vũ lực kéo dài ở các chiến trường phụ có thể làm tổn hại nghiêm trọng quan hệ của Washington với các đồng minh và đối tác then chốt. Cuộc chiến Iran là một ví dụ. Nó làm Mỹ xao nhãng khỏi cuộc chiến Nga-Ukraine vốn quan trọng hơn cho lợi ích dài hạn của Mỹ do quan hệ Moscow-Bắc Kinh ngày càng sâu đậm và cuộc chiến của Trump tại Iran vốn đang đào sâu thêm sự rạn nứt xuyên Đại Tây Dương. Khi ông Trump nhận ra cuộc chiến không diễn ra như dự tính, ông đã yêu cầu các đồng minh NATO giúp đỡ — nhưng nhận được câu trả lời từ nhiều lãnh đạo châu Âu rằng đây không phải là cuộc chiến của NATO. Ông đáp trả bằng cách cáo buộc NATO đã phạm một sai lầm ngu ngốc khi không ủng hộ ông và ám chỉ sẽ không đến cứu giúp khi các thành viên khác cần Mỹ giúp đỡ.

 

Mọi lợi thế tiềm năng mà Mỹ có thể giành được trước Trung Quốc khi khai chiến với Iran rõ ràng đã bị lấn át bởi rủi ro sa lầy chiến lược và sự rạn nứt xuyên Đại Tây Dương ngày càng lớn. Nếu cuộc chiến này nằm ngoài trọng tâm đối đầu Mỹ-Trung như chúng ta thấy, thì nó đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về động cơ thực sự của Washington — không chỉ về cuộc chiến Iran, mà còn về chiến lược đối với Trung Quốc và nơi họ có thể sử dụng vũ lực lần tới.

 

-----------------------------

Jo Inge Bekkevold hiện là nghiên cứu viên cao cấp chuyên trách về Trung Quốc tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng Na Uy, ông cũng từng là một nhà ngoại giao của Na Uy.

 

 Nguồn: Jo Inge Bekkevold, “China’s Absence Draws America Deeper Into Risky Wars”, Foreign Policy, 06/04/2026