Monday, October 26, 2026

TIN & BÀI NGÀY 24/10/2026

 



TIN & BÀI NGÀY 24/10/2026

 

 

24/10/2026

TRỤC NỔI DẬY IRAN – TRIỀU TIÊN – NGA – TRUNG QUỐC BƯỚC VÀO CUỘC CHIẾN (Andrea Kendall-Taylor và Richard Fontaine / Foreign Affairs)

CUỘC ĐUA KHOÁNG SẢN TRỌNG YẾU : VIỆT NAM CÓ GIÚP EU THOÁT BÓNG TRUNG QUỐC? (Blogger Lịch sử nguyên vũ trụ / Sohu)

CÔNG NGHIỆP VŨ TRỤ : BIÊN GIỚI MỚI TIẾP THEO CỦA TRUNG QUỐC (Kathleen Curlee và Sam Bresnick / Foreign Affairs)

TIN VUI CHO NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC và BỆNH UNG THƯ (Giao Thanh Phạm / Facebook)

BÀ AUNG SAN SUU KYI LẦN ĐẦU TRÒ CHUYỆN VỚI CON TRAI SAU HƠN 5 NĂM (NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt)

THẾ GIỚI MÀ TRUMP MUỐN (Michael Kimmage | The Foreign Affairs)

NGƯỜI VIỆT ONLINE – NGÀY 24/10/2026

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt / NGÀY 24/10/2026

ĐÀI PHÁT THANH QUỐC TẾ PHÁP – RFI / NGÀY 24/10/2026

BBC NEWS TIẾNG VIỆT – NGÀY 24/10/2026

BÀI MỚI NGÀY 24/10/2026 (Báo Tiếng Dân)

.

TIN & BÀI NGÀY 23/10/2026

.






TRỤC NỔI DẬY IRAN – TRIỀU TIÊN – NGA – TRUNG QUỐC BƯỚC VÀO CUỘC CHIẾN (Andrea Kendall-Taylor và Richard Fontaine / Foreign Affairs)

 



Trục nổi dậy Iran – Triều Tiên – Nga – Trung Quốc bước vào cuộc chiến

Andrea Kendall-Taylor và Richard Fontaine  -  Foreign Affairs  

Viên Đăng Huy, biên dịch   -   Nghiên Cứu Quốc Tế

23/10/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/10/23/truc-noi-day-iran-trieu-tien-nga-trung-quoc-buoc-vao-cuoc-chien/

 

Ngày 17/7, một tên lửa của Iran đã đánh trúng Căn cứ Không quân Muwaffaq Salti tại Jordan, khiến ba binh sĩ Mỹ thiệt mạng và bốn người khác bị thương. Cuộc tấn công có độ chính xác khác thường. Trong những tuần sau đó, giới chức Mỹ phát hiện rằng trước cuộc tấn công, Tehran đã nhận được những hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao về căn cứ này, có thể giúp xác định mục tiêu chính xác hơn. Sau cuộc tấn công, Iran tiếp tục nhận được những hình ảnh khác, có khả năng hỗ trợ nước này đánh giá thiệt hại và điều chỉnh các đòn tấn công trong tương lai. Những hình ảnh đó đến từ các thực thể Trung Quốc.

 

Trung Quốc không phải quốc gia duy nhất hỗ trợ Iran. Nga cũng đã giúp Tehran xác định và tấn công các mục tiêu của Mỹ và đồng minh. Hai ngày trước cuộc tấn công ngày 27/3 nhằm vào Căn cứ Không quân Prince Sultan tại Ả Rập Saudi, 14 vệ tinh do thám của Nga đã bay qua khu vực này, khiến 12 quân nhân Mỹ bị thương. Sau đó, giới chức Mỹ kết luận rằng Moscow đã cung cấp cho Iran thông tin tình báo vệ tinh, hỗ trợ các cuộc tấn công chính xác của Tehran. Moscow còn cung cấp cho Iran vũ khí và chuyên môn quân sự, bao gồm những phiên bản nâng cấp của drone Iran được cải tiến qua kinh nghiệm thực chiến tại Ukraine. Các kỹ sư Nga cũng đang giúp Iran phát triển tên lửa hành trình siêu thanh có khả năng vượt qua hệ thống phòng không của Mỹ và Israel.

 

Cả Nga lẫn Trung Quốc đều chưa trực tiếp tham chiến cùng Iran trong cuộc chiến chống Mỹ. Họ cũng không cần phải làm vậy. Bằng cách cung cấp thông tin tình báo về các mục tiêu Mỹ, công nghệ và linh kiện quân sự, cùng sự hỗ trợ kinh tế và ngoại giao, hai nước có thể đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của Iran mà không phải trực tiếp tham gia cuộc chiến.

 

Mỹ bước vào cuộc xung đột với những lợi thế mà các đối thủ không có được: một mạng lưới rộng lớn gồm các đồng minh chính thức, căn cứ quân sự, cơ chế chia sẻ tình báo, quan hệ đối tác quốc phòng và các lực lượng có khả năng phối hợp tác chiến trên khắp châu Âu, Trung Đông và châu Á. Tuy nhiên, nhiều đối tác truyền thống của Washington lại ngần ngại để mình bị gắn với chiến dịch quân sự này, thậm chí một số nước còn từ chối cho Mỹ tiếp cận các cơ sở hoặc sử dụng một số hình thức hỗ trợ quân sự nhất định, ít nhất trong một khoảng thời gian. Những đối tác khác công khai phản đối lời kêu gọi của Mỹ về việc hỗ trợ bảo đảm an ninh tại eo biển Hormuz.

 

Sự tương phản này cho thấy một chuyển biến đáng chú ý kể từ khi chúng tôi lần đầu mô tả Nga, Trung Quốc, Iran và Triều Tiên là một “trục nổi dậy” trên tạp chí Foreign Affairs hai năm trước. Khi cuộc chiến bắt đầu, các đối thủ của Mỹ sở hữu mạng lưới hợp tác yếu hơn, trong khi Washington có một mạng lưới vượt trội. Nhưng sau vài năm hỗ trợ Nga tiến hành cuộc chiến tại Ukraine, các thành viên trong trục hiện đang tìm ra cách vận hành mạng lưới của mình tại một chiến trường mới. Họ đang tinh chỉnh phương thức hợp tác nhằm giúp các đối tác tăng cường khả năng chống chịu và trở nên nguy hiểm hơn đối với Mỹ, đồng thời hạn chế chi phí và rủi ro. Trong khi đó, Washington lại tạo ra những bất đồng trong nhiều quan hệ đối tác của mình thay vì củng cố chúng, có nguy cơ phung phí lợi thế về mạng lưới đúng vào lúc các đối thủ đang học cách khai thác hiệu quả hơn mạng lưới của họ.

 

NHỮNG NGUỒN CƠN GÂY BIẾN ĐỘNG

 

Rất nhiều điều đã thay đổi kể từ năm 2024. Rõ ràng nhất là chính nước Mỹ đã trở thành một nguồn gây biến động trong hệ thống quốc tế. Chính quyền Trump đã thách thức các thể chế quốc tế, gây căng thẳng trong những liên minh truyền thống và áp dụng một cách tiếp cận mang tính giao dịch rõ nét hơn trong chính sách đối ngoại. Chính quyền này đã đảo lộn các thỏa thuận thương mại, đe dọa chủ quyền của những đồng minh như Canada và Đan Mạch, đồng thời lựa chọn sự khó lường trong hành động. Washington cũng tìm cách cải thiện quan hệ với Trung Quốc, Triều Tiên và Nga, trong khi nỗ lực làm suy yếu Iran. Tuy nhiên, không động thái nào trong số đó khiến mối liên kết giữa các đối thủ của Mỹ trở nên lỏng lẻo hơn.

 

Trong giai đoạn đầu nhiệm kỳ của chính quyền Trump, giới chức Mỹ từng bày tỏ hy vọng rằng việc bình thường hóa quan hệ với Moscow có thể lôi kéo Nga rời khỏi nhóm này. Tuy nhiên, thái độ thân thiện mà Tổng thống Donald Trump thường xuyên thể hiện đối với Điện Kremlin vẫn không tạo ra bất kỳ rạn nứt nào trong quan hệ giữa Nga và ba quốc gia còn lại. Từ góc nhìn của Moscow, chính quyền Trump đã không thể đạt được một thỏa thuận về Ukraine, và bất kỳ sự xích lại gần nhau nào với Washington do Trump thúc đẩy cũng khó có thể kéo dài. Quốc hội Mỹ vẫn tiếp tục gây sức ép lên Nga, trong khi một chính quyền tương lai hoàn toàn có thể áp dụng đường lối cứng rắn hơn.

 

Quan trọng hơn, những nỗ lực làm suy yếu trục này cho thấy Washington chưa hiểu đúng yếu tố thực sự gắn kết các thành viên của nó. Các quốc gia trong nhóm phản đối một trật tự quốc tế mà họ cho rằng đang củng cố sự thống trị của phương Tây bằng cách gây bất lợi cho mình. Nhưng cụ thể hơn, điều họ chống lại là quyền lực vượt trội của Mỹ trong việc kiềm chế, cô lập và trừng phạt họ, thậm chí có khả năng đe dọa sự tồn tại của các chế độ cầm quyền. Những hành động gần đây của Mỹ chỉ làm sống lại những lo ngại ấy. Việc Mỹ bắt giữ nhà lãnh đạo Venezuela Nicolás Maduro và sát hại Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei càng củng cố những nỗi lo đã tồn tại từ lâu tại Bắc Kinh, Moscow, Bình Nhưỡng và Tehran về sự can thiệp của Mỹ và an ninh chế độ.

 

Các quốc gia trong trục có thể giảm bớt những lời lẽ chống Mỹ khi điều đó mang lại lợi ích chiến thuật, nhưng động lực giảm thiểu khả năng bị tổn thương trước sức mạnh của Washington vẫn không thay đổi. Bản thân thái độ hoài nghi của chính quyền Trump đối với trật tự quốc tế cũng không thể xoa dịu những lo ngại tại thủ đô các nước này. Trái lại, nỗ lực của Trump nhằm tạo dựng một thế giới vận hành dựa nhiều hơn vào các giao dịch có điều kiện và sức ép cưỡng chế có thể khiến quan hệ đối tác giữa họ trở nên giá trị hơn. Khi các quy tắc và thể chế ngày càng ít khả năng tạo ra ràng buộc, còn sức mạnh áp đặt trực tiếp trở nên quan trọng hơn, các quốc gia sẽ tìm kiếm đối tác để cùng giảm thiểu tác động của lệnh trừng phạt, tiếp cận những công nghệ thiết yếu, bù đắp các điểm yếu quân sự, mở rộng không gian hành động và chống lại sự cô lập. Quan hệ hợp tác trong trục này đang phát triển để thích ứng với hoàn cảnh mới.

 

CHIẾN TRƯỜNG MỚI, THÁCH THỨC MỚI

 

Khi Nga phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine năm 2022, quan hệ hợp tác giữa bốn quốc gia vẫn tương đối dễ nhận diện. Iran cung cấp drone cho Nga, còn Triều Tiên chuyển giao đạn dược, tên lửa đạn đạo và sau đó là cả binh sĩ. Trung Quốc trở thành nguồn hỗ trợ sống còn quan trọng nhất của Moscow thông qua việc mua dầu của Nga và cung cấp máy công cụ, linh kiện vi điện tử cùng những thành phần khác mà Nga cần để duy trì, rồi mở rộng năng lực sản xuất quân sự. Đổi lại, Nga chuyển giao cho các đối tác những công nghệ quân sự ngày càng tinh vi.

Những hoạt động trao đổi này có tác động đáng kể, nhưng về cơ bản vẫn có thể được hiểu là một chuỗi giao dịch song phương tập trung phục vụ cuộc chiến của Nga. Giờ đây, cách nhìn nhận ấy ngày càng không còn đầy đủ. Quan hệ hợp tác đang mang tính mạng lưới hơn và ngày càng hướng tới việc giải quyết những thách thức mới tại các khu vực mới.

 

Chương trình drone của Nga cho thấy rõ sự thay đổi này. Ban đầu, Iran bán cho Nga drone Shahed, sau đó giúp Moscow thiết lập dây chuyền sản xuất trong nước. Nhưng Nga không đơn thuần sao chép những công nghệ được chuyển giao. Nước này tích hợp các linh kiện Trung Quốc, đồng thời liên tục điều chỉnh hệ thống dẫn đường, thông tin liên lạc, tải trọng, động cơ và chiến thuật sử dụng drone để thích ứng với hệ thống phòng thủ của Ukraine. Các đơn vị quân sự mới chuyển những cải tiến đã chứng minh hiệu quả trên chiến trường trở lại dây chuyền sản xuất, tạo thành một chu trình thích nghi với thực chiến nhanh bất thường. Lực lượng Hệ thống Không người lái Nga, một quân chủng chuyên về drone và robot thuộc quân đội Nga, được thành lập năm ngoái nhằm thể chế hóa chu trình này. Sự kết hợp giữa năng lực cải tiến trong nước và quan hệ đối tác trong trục đã chứng tỏ hiệu quả. Chẳng hạn, những drone Geran thế hệ mới sử dụng động cơ phản lực của Nga có tốc độ cao hơn, mang được tải trọng lớn hơn và khó bị lực lượng Ukraine đánh chặn hơn đáng kể so với các phiên bản trước.

 

Những cải tiến của Nga cũng không chỉ được giữ lại tại nước này mà còn lan truyền trong toàn bộ mạng lưới hợp tác của trục. Đối với Iran, công nghệ từng được chuyển giao từ Tehran sang Nga giờ đây đang quay trở lại, kèm theo những tư vấn chiến thuật được đúc kết từ kinh nghiệm thực chiến của Moscow tại Ukraine. Nếu các drone sử dụng động cơ phản lực của Nga cũng xuất hiện tại Trung Đông, điều nhiều khả năng sẽ xảy ra, các cuộc tấn công của Iran nhằm vào lực lượng Mỹ và cơ sở hạ tầng năng lượng trong khu vực sẽ trở nên khó ngăn chặn hơn và đòi hỏi chi phí phòng thủ cao hơn.

 

Triều Tiên và Trung Quốc cũng đang hưởng lợi. Theo các báo cáo từ Ukraine, Nga đã đạt được một thỏa thuận giúp Triều Tiên mở rộng sản xuất drone kiểu Shahed. Các kỹ sư Triều Tiên đã tích lũy kinh nghiệm trong thời gian làm việc tại nhà máy sản xuất drone Yelabuga quy mô lớn của Nga, trong khi các lực lượng Triều Tiên chiến đấu cùng quân đội Nga cũng có được trải nghiệm trực tiếp về cách tích hợp drone vào tác chiến hiện đại. Quân nhân Trung Quốc đã được lực lượng Nga huấn luyện về chiến tranh bằng drone, còn các nhà cung cấp Trung Quốc thu thập được những thông tin quý giá về hiệu quả hoạt động của công nghệ do họ sản xuất trong điều kiện chiến đấu thực tế. Như vậy, Bắc Kinh đang hưởng lợi từ quá trình phát triển chiến tranh bằng drone, vốn bắt đầu từ công nghệ của Iran và được hoàn thiện thông qua cuộc chiến của Nga tại Ukraine.

 

MÔ HÌNH CÓ THỂ ĐƯỢC NHÂN RỘNG

 

Hai năm trước, vẫn chưa rõ liệu quan hệ đối tác giữa bốn thành viên của trục có thể tồn tại lâu hơn cuộc chiến đã thúc đẩy sự hình thành của nó hay không. Nếu chiến tranh Ukraine kết thúc và Nga không còn cần đến drone của Iran, đạn dược của Triều Tiên hay sự hỗ trợ kinh tế và công nghệ từ Trung Quốc, các mối quan hệ này có thể sẽ mất đi động lực phát triển.

 

Tuy nhiên, cuộc chiến không chỉ tạo ra nhu cầu hợp tác trước mắt. Nó còn chứng minh hiệu quả thực tế của những gì các mối quan hệ đối tác này có thể đạt được, vượt xa khả năng của từng quốc gia nếu hành động đơn độc. Hệ thống phòng thủ của Ukraine, các lệnh trừng phạt của phương Tây, nguồn viện trợ quân sự của Mỹ và những nỗ lực cô lập ngoại giao đều tỏ ra kém hiệu quả hơn so với trường hợp Nga phải tự mình đối phó. Bằng cách giúp nhau chống chịu sức ép, các quốc gia trong trục khiến Mỹ và đồng minh khó có thể buộc họ thay đổi đường lối.

 

Iran hiện đang chứng minh rằng mô hình này có thể được áp dụng ở những chiến trường khác. Sự hỗ trợ của Nga dành cho Tehran mang lại hiệu quả thực chất về mặt tác chiến, nhưng được giới hạn một cách thận trọng. Ngay cả khi đang tiến hành cuộc chiến riêng tại Ukraine, Moscow vẫn tìm được cách giúp Iran tấn công các mục tiêu của Mỹ và duy trì khả năng chiến đấu thông qua sự che chắn về ngoại giao và hỗ trợ vật chất, đồng thời tránh những hành động có thể kéo Nga vào một cuộc xung đột trực tiếp với Mỹ. Trung Quốc thậm chí còn thận trọng hơn, nhưng việc nước này cung cấp các thiết bị điện tử lưỡng dụng và mua dầu Iran cũng góp phần nâng cao khả năng chống chịu của Tehran trước sức ép từ Washington.

 

Sự kiềm chế ấy không phải là dấu hiệu cho thấy trục đang suy yếu, mà trái lại chính là một đặc điểm nổi bật trong cách thức vận hành của các mối quan hệ đối tác này. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt đáng chú ý là binh sĩ Triều Tiên được triển khai để chiến đấu hỗ trợ Nga, các quốc gia trong trục nhìn chung tránh trực tiếp tham gia những cuộc chiến của nhau. Thay vào đó, họ cung cấp sự hậu thuẫn chính trị, hỗ trợ kinh tế, tình báo, công nghệ và viện trợ quân sự có giới hạn, miễn là những hoạt động này phục vụ lợi ích riêng với mức độ rủi ro có thể kiểm soát.

 

Các cuộc chiến tại Ukraine và Iran còn mang đến cho trục một bài học khác: hỗ trợ một thành viên không chỉ giúp chính quốc gia nhận viện trợ trở nên mạnh hơn. Xung đột tại một chiến trường còn có thể tạo ra những cơ hội cho các đối tác ở những khu vực khác. Chẳng hạn, việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz đã khiến giá dầu tăng vọt, mang lại nguồn thu bất ngờ cho Nga và thúc đẩy Washington tạm thời nới lỏng những hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu dầu của Moscow. Như vậy, cuộc chiến của Iran đã tạo ra những nguồn lực mà Nga có thể sử dụng để duy trì cuộc chiến của chính mình.

 

Trước khi tấn công Iran, Mỹ đã điều chuyển những khí tài quân sự quan trọng, bao gồm các hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa, từ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sang Trung Đông. Khi giao tranh tiếp diễn, quân đội Mỹ triển khai hai tàu sân bay đến khu vực này, khiến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương không còn tàu sân bay Mỹ nào. Sự hiện diện quân sự mỏng hơn của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương giúp Trung Quốc có thêm quyền tự do hành động về mặt tác chiến, đồng thời khiến Bắc Kinh ít bị đe dọa hơn khi kho dự trữ đạn dược của Washington suy giảm. Nếu Mỹ chuyển sang chiến lược kiềm chế Iran kéo dài, tương tự cách nước này từng đối phó với Iraq trong thập niên 1990, Bắc Kinh có thể hưởng lợi từ sự phân tán nguồn lực ấy trong nhiều năm.

 

TRƯỚC HẾT, ĐỪNG GÂY THÊM TỔN HẠI

 

Kinh nghiệm từ trục gây biến động cho thấy quy mô và sức mạnh của một mạng lưới sẽ ít có ý nghĩa nếu các thành viên không thể chuyển hóa năng lực riêng lẻ thành sức mạnh tập thể. Mỹ và các đồng minh vốn xuất phát từ một vị thế có nhiều lợi thế đáng kể: nguồn lực kinh tế và công nghệ lớn hơn, quân đội có năng lực vượt trội hơn, cùng mạng lưới đồng minh và đối tác rộng lớn hơn rất nhiều. Vấn đề đặt ra là mạng lưới nào có thể khai thác hiệu quả hơn những nguồn lực mà mình sở hữu.

 

Điều đó trước hết bắt đầu từ vai trò lãnh đạo. Trong nhiều thập kỷ, Mỹ ủng hộ một trật tự quốc tế ngăn cấm các cuộc chiến tranh xâm lược nhằm chiếm đoạt lãnh thổ, bảo vệ quyền tự do hàng hải, duy trì một nền kinh tế toàn cầu nhìn chung cởi mở và cho phép người dân thực hiện các quyền dân chủ, ngay cả khi những chế độ chuyên chế vẫn tiếp tục tồn tại. Washington kết hợp tầm nhìn này với một thỏa thuận ngầm: bất kỳ quốc gia nào mong muốn tham gia trật tự đó đều có thể làm như vậy. Việc tuân thủ những nguyên tắc nền tảng của trật tự sẽ mang lại các lợi ích, bao gồm những lợi ích từ Mỹ như quan hệ thương mại, sự ưu tiên trong ngoại giao và đôi khi là các liên minh quân sự.

 

Đối với những quốc gia bác bỏ trật tự quốc tế cởi mở, như các thành viên của trục hiện nay, lợi ích nhận được ít hơn rất nhiều, trong khi cái giá phải trả lại đáng kể. Mỹ áp đặt trừng phạt, gây sức ép và đôi khi tiến hành chiến tranh chống lại những quốc gia bị coi là bất hảo, đồng thời chống lại việc hình thành các trật tự cạnh tranh, chẳng hạn như khối cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chính sách đối ngoại của Mỹ được xây dựng trên một tiền đề tưởng chừng không gây tranh cãi: Washington nên kết giao với những quốc gia có cùng quan điểm và đối xử với họ tốt hơn so với những nước bác bỏ trật tự mà Mỹ ủng hộ.

 

Tuy nhiên, chính quyền Trump, ít nhất trong một số thời điểm, lại thể hiện khuynh hướng gần như trái ngược. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc gần đây cho biết Trump từng đề nghị bán vũ khí cho Bắc Kinh, trong khi trì hoãn việc bán vũ khí cho Đài Loan. Tổng thống Mỹ cũng bày tỏ sự quan tâm và thiện cảm lớn hơn đối với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un so với Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae-myung, người được bầu lên thông qua một tiến trình dân chủ. Chính quyền Trump còn nhiều lần gây sức ép buộc Ukraine phải nhượng bộ trong cuộc chiến sinh tồn trước hành động xâm lược của Nga. Trump thậm chí đã đe dọa ném bom Oman, một đối tác lâu năm của Mỹ. Những động thái như vậy vừa củng cố sức mạnh của các quốc gia trong trục, vừa làm suy yếu sự gắn kết của mạng lưới có vị thế thuận lợi nhất để đối phó với họ.

 

Ngừng gây thêm tổn hại sẽ là một khởi đầu tốt trong cách Mỹ đối phó với trục này. Xa hơn, Washington cần giúp các đối tác của mình trở nên mạnh hơn. Cũng như các quốc gia trong trục đang hỗ trợ nhau tìm cách vượt qua các lệnh trừng phạt, duy trì khả năng tiếp cận những công nghệ và linh kiện thiết yếu, cũng như bảo vệ nền kinh tế trước sức ép, Mỹ cũng cần hỗ trợ mạng lưới đối tác của mình. Điều đó có nghĩa là Washington phải củng cố các chuỗi cung ứng đi qua những đối tác đáng tin cậy, chia sẻ công nghệ và khuyến khích các đồng minh đảm nhận trách nhiệm an ninh lớn hơn. Tuy nhiên, Washington phải thận trọng để không chuyển giao trách nhiệm quốc phòng nhanh hơn tốc độ các đồng minh có thể phát triển năng lực cần thiết để đảm nhận chúng, đồng thời tránh thực hiện điều đó theo những cách làm xói mòn lòng tin, khả năng phối hợp tác chiến và sự điều phối chung. Nếu không, Mỹ và các đồng minh có thể trở nên mạnh hơn khi xét riêng từng quốc gia, nhưng lại kém hiệu quả hơn khi hành động tập thể.

 

Mỹ cũng cần đảo ngược những chính sách đang làm suy yếu chính mạng lưới đối tác của mình. Thuế quan và các biện pháp bảo hộ thương mại khác gây tổn hại cho nền kinh tế và nền tảng công nghiệp của các đồng minh. Việc bày tỏ mong muốn chiếm đoạt lãnh thổ của đồng minh và tìm cách làm suy yếu các nhà lãnh đạo chính trị của họ cũng không thể giúp hình thành một mạng lưới quốc tế có năng lực mạnh hơn. Washington cần thể hiện tầm nhìn và vai trò lãnh đạo đối với những quốc gia bạn bè, thay vì mang đến sự bất định gây bất an và cách hành xử mang tính đổi chác đầy áp đặt.

 

Ngay cả khi Mỹ thay đổi đường lối, các nhà hoạch định chính sách tại Washington và các nước đồng minh vẫn cần chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh lâu dài. Như nỗ lực thay đổi chế độ thất bại tại Iran đã cho thấy, không có con đường tắt nào để đánh bại các quốc gia trong trục, dù đối phó với họ riêng lẻ hay cùng lúc. Cuộc cạnh tranh giữa các mạng lưới sẽ diễn ra trên phạm vi gần như toàn cầu, trải rộng trên nhiều lĩnh vực, với những lợi ích và hệ quả vô cùng lớn phụ thuộc vào kết quả cuối cùng. Mỹ và các đồng minh có đủ năng lực để giành chiến thắng. Điều họ cần làm là chứng tỏ quyết tâm.

 

---------------------------------------

ANDREA KENDALL-TAYLOR là nghiên cứu viên cao cấp kiêm Giám đốc Chương trình An ninh Xuyên Đại Tây Dương tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS). Từ năm 2015 đến năm 2018, bà giữ chức Phó Sĩ quan Tình báo Quốc gia phụ trách Nga và khu vực Á-Âu tại Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ.

 

RICHARD FONTAINE là Giám đốc điều hành Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS). Ông từng công tác tại Bộ Ngoại giao Mỹ, Hội đồng An ninh Quốc gia và giữ vai trò cố vấn chính sách đối ngoại cho Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain.

 

Nguồn: Andrea Kendall-Taylor và Richard Fontaine, “The Axis of Upheaval Goes to War”, Foreign Affairs, 16/10/2026

 

 

 

 

 

 


CUỘC ĐUA KHOÁNG SẢN TRỌNG YẾU : VIỆT NAM CÓ GIÚP EU THOÁT BÓNG TRUNG QUỐC? (Blogger Lịch sử nguyên vũ trụ / Sohu)


 

 

Cuộc đua khoáng sản trọng yếu: Việt Nam có giúp EU thoát bóng Trung Quốc?

Blogger Lịch sử nguyên vũ trụ, 结盟出意外:欧盟收买越南跟中国对着干,没料到越南狮子大开口 , Sohu, 21/10/2026.

Lê Thị Thanh Loan, biên dịch    -   Nghiên Cứu Quốc Tế

23/10/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/10/23/cuoc-dua-khoang-san-trong-yeu-viet-nam-co-giup-eu-thoat-bong-trung-quoc/

Động thái của Liên minh châu Âu (EU) mang vẻ sốt sắng rõ rệt. Giữa tháng 10, một báo cáo nội bộ từ Hà Nội được công bố, dường như âm thầm vén màn cho tham vọng của châu Âu đối với nguồn tài nguyên quý hiếm của Việt Nam. Báo cáo nêu rõ rằng, nhằm ứng phó với các thách thức địa chính trị, châu Âu đang tích cực tìm kiếm sự đa dạng hóa chuỗi cung ứng, và Việt Nam – quốc gia Đông Nam Á đầy tiềm năng này – đã trở thành đối tượng được tập trung chú ý hàng đầu. Đất hiếm, vonfram, antimon, gali… những nguyên liệu chiến lược không thể thiếu đối với nền công nghiệp hiện đại này đang được EU đưa vào danh sách ưu tiên hợp tác. Ngay sau đó, tuyên bố công khai của Ủy ban châu Âu cũng xác nhận thêm ý định hợp tác giữa EU và Việt Nam trong lĩnh vực nguyên liệu thô trọng yếu.

 

Một thời khắc mang tính biểu tượng hơn diễn ra vào ngày 22/10. Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm chuẩn bị lên đường sang Brussels cho một chuyến thăm chính thức. Đây không chỉ là một hoạt động ngoại giao thường kỳ, mà còn được châu Âu gán cho ý nghĩa chiến lược. Châu Âu hy vọng nhân cơ hội này sẽ đạt được thỏa thuận hợp tác thực chất với Việt Nam, thay vì chỉ hài lòng với một bức ảnh chụp chung mang tính biểu tượng. Vậy tại sao lại là Việt Nam? Nguyên nhân rất rõ ràng: Chiến lược ngoại giao cây tre của Việt Nam cho phép nước này khéo léo duy trì quan hệ tốt đẹp với các bên, tạo điều kiện thuận lợi cho đối thoại giữa hai phía. Quan trọng hơn, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên địa chất phong phú, và đây mới chính là động lực thực sự thu hút châu Âu.

 

Lấy vonfram làm ví dụ, Việt Nam sở hữu khoảng 140.000 tấn trữ lượng đã được xác minh, là quốc gia có tài nguyên vonfram lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Tuy nhiên, sản lượng năm ngoái chỉ đạt 3.000 tấn, cho thấy tiềm năng to lớn vẫn chưa được khai thác hết. Tháng 9 năm nay, Bộ Công Thương Việt Nam bất ngờ đề xuất đưa vonfram vào danh sách hàng hóa hạn chế xuất khẩu. Tuy đây mới chỉ là đề xuất, nhưng tín hiệu mà nó phát đi đã truyền ra bên ngoài, gây chấn động thị trường quốc tế. Về tài nguyên đất hiếm, Việt Nam cũng không phải là một cái tên có thể xem nhẹ: Trữ lượng đạt khoảng 3,5 triệu tấn, xếp thứ 6 thế giới. Các nguồn tài nguyên này phân bố ở lưu vực sông Hồng và khu vực miền núi phía Tây Bắc, giáp biên giới Trung Quốc, qua đó càng làm gia tăng giá trị chiến lược của chúng. Tuy nhiên, tài nguyên và sự giàu có không phải là mối quan hệ tuyến tính đơn giản; việc chuyển hóa quặng thô thành sản phẩm đạt tiêu chuẩn lại là một thách thức khác.

 

Trường hợp mỏ Đông Pao đã cho thấy rõ điều này. Kể từ khi được cấp giấy phép khai thác vào năm 2014, dự án mỏ này vẫn chưa thể bước vào giai đoạn khai thác công nghiệp quy mô lớn. Tổng sản lượng oxit đất hiếm hằng năm của Việt Nam chỉ vào khoảng 300 tấn, chênh lệch rất lớn so với sản lượng của Trung Quốc. Công nghệ phân tách đất hiếm đòi hỏi tiêu chuẩn cực kỳ cao về độ tinh khiết và tính ổn định, trong khi năng lực công nghệ mà Việt Nam tích lũy được trong lĩnh vực này vẫn còn rất hạn chế. Ngay cả dự án kim loại đất hiếm Lynas Việt Nam do Australia và Hàn Quốc liên doanh cũng cần nhập khẩu nguyên liệu cốt lõi từ nước ngoài, cho thấy những thách thức trong lĩnh vực này lớn đến mức nào.

 

Báo cáo của EU cũng trực tiếp chỉ ra vấn đề này: Xuất khẩu quặng thô đơn thuần chỉ đem lại lợi nhuận ít ỏi; giá trị thực sự nằm ở quyền kiểm soát các khâu thượng nguồn và hạ nguồn của chuỗi công nghiệp. Hà Nội từ lâu đã nhận thức được điều này và quyết tâm đi theo con đường mà Trung Quốc từng đi, đó là giữ lại các khâu khai thác, phân tách, tinh chế ở trong nước để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Cuối năm 2024, Việt Nam sửa đổi Luật Địa chất và Khoáng sản, đưa đất hiếm vào nhóm khoáng sản chiến lược đặc biệt, cấm xuất khẩu quặng đất hiếm thô, chỉ cho phép các doanh nghiệp được Chính phủ cấp phép thực hiện những hoạt động liên quan, đồng thời mở cửa cho đầu tư nước ngoài hợp tác. Đây rõ ràng là một tín hiệu dứt khoát: Nếu muốn tiếp cận nguồn tài nguyên, các đối tác phải mang đến vốn và công nghệ; con đường xuất khẩu quặng thô với giá rẻ đã bị chặn đứng hoàn toàn.

 

Tuy nhiên, EU không phải bên duy nhất chú ý đến tài nguyên khoáng sản của Việt Nam. Từ vài năm trước, các doanh nghiệp Mỹ, Australia, Canada và một số nước khác đã từng tìm cách phối hợp mua lại cổ phần chi phối của Masan High-Tech Materials – đơn vị vận hành mỏ vonfram lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên, do tính nhạy cảm cao của thương vụ, kế hoạch cuối cùng đã không thành công và được thay thế bằng phương án mua cổ phần với tỷ lệ nhỏ hơn. Gần đây, một công ty vật liệu vonfram của Mỹ được Lầu Năm Góc tài trợ đã mua 4,99% cổ phần của Masan High-Tech Materials. Mặc dù tỷ lệ không lớn, nó vẫn giúp công ty này giành được một vị trí thuận lợi. Động thái ấy khiến châu Âu cảm nhận rõ áp lực cạnh tranh, đồng thời cũng thúc đẩy EU đặc biệt nhấn mạnh trong báo cáo rằng các quốc gia khác cũng đang tranh giành nguồn tài nguyên này.

 

Quan hệ Mỹ – EU từ lâu đã không còn êm đẹp như xưa. Kể từ khi Trump trở lại Nhà Trắng, những bất đồng thương mại xuyên Đại Tây Dương, hàng rào thuế quan và cuộc cạnh tranh giành khoáng sản trọng yếu ngày càng gia tăng. Ngay trong nội bộ châu Âu, các nước cũng đang xem xét lại định hướng phát triển của chính mình, khiến mức độ phối hợp đối ngoại suy giảm. Vì vậy, việc EU nóng lòng đạt được thỏa thuận hợp tác với Việt Nam xuất phát từ lo ngại rằng, nếu hành động chậm trễ, họ sẽ phải đứng nhìn nguồn tài nguyên quý giá rơi vào tay đối thủ. Trước chuyến thăm của Tô Lâm, Brussels đã chủ động đưa ra một “món quà ra mắt” bằng cách rút Việt Nam khỏi danh sách đen các thiên đường thuế, qua đó cố gắng thể hiện thiện chí của mình.

 

Tuy nhiên, phía Hà Nội lại đưa ra những yêu cầu khắt khe hơn. Cảnh báo “thẻ vàng” mà EU áp đặt đối với thủy hải sản Việt Nam – thứ vốn đã ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy hải sản của Việt Nam suốt nhiều năm qua – bắt buộc phải được gỡ bỏ. Quan trọng hơn, Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA) được ký kết vào năm 2019, hiện vẫn đang trong quá trình phê chuẩn tại các quốc gia thành viên như Pháp. Hà Nội tuyên bố rõ ràng rằng, chỉ khi đưa hiệp định này vào nghị trình và đẩy nhanh tốc độ phê chuẩn, họ mới sẵn sàng tiến hành đàm phán về hợp tác khoáng sản. Điều này thể hiện rõ rằng, hợp tác giữa hai bên cần phải dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, chứ không thể là sự đòi hỏi đơn phương.

 

Sự tự tin của Việt Nam đến từ đâu? Một mặt, đó là nhu cầu cấp bách của châu Âu trong việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng; mặt khác, Mỹ đã nhanh chân nhập cuộc, chiếm được một phần lợi thế ban đầu. Điều này khiến các quân bài mặc cả trong tay Việt Nam liên tục gia tăng giá trị, từ đó mức giá đòi hỏi tự nhiên được nâng cao. Việc bị cho là đòi hỏi quá đáng không hẳn là vô lý hay gây khó dễ vô cớ, mà xuất phát từ việc Việt Nam nhận thấy đối phương đang chịu sức ép về thời gian, có ít lựa chọn nên buộc phải nắm lấy thời cơ trong khoảng thời gian này.

 

Điều mà châu Âu dễ đánh giá thấp nhất chính là mức độ phức tạp và chiều sâu của chuỗi công nghiệp. Ký kết thỏa thuận, rót vốn đầu tư mới chỉ là bước khởi đầu. Từ thăm dò, phân tách và tinh chế, cho đến gia công sâu và ứng dụng ở khâu cuối cùng, tất cả đều đòi hỏi thời gian dài cùng quá trình tích lũy công nghệ; ít nhất cũng phải mất từ 5 đến 10 năm nỗ lực. Ngay cả khi lập tức bắt tay vào xây dựng, vẫn phải chờ đợi nhiều năm mới có thể đạt được sản lượng ổn định. Trong khoảng trống đó, sự phụ thuộc của châu Âu vào nguồn cung liên quan từ Trung Quốc sẽ không dễ bị loại bỏ.

 

Ý tưởng rằng chỉ cần dựa vào một văn bản thể hiện ý định hợp tác là có thể mặc cả với Bắc Kinh – nghe thì hay, nhưng thực tế lại đầy thách thức. Thứ Trung Quốc sở hữu không chỉ là tài nguyên khoáng sản, mà quan trọng hơn là chuỗi công nghiệp hoàn chỉnh, được hoàn thiện qua hàng chục năm, với các công đoạn liên kết chặt chẽ từ quặng thô đến thành phẩm. Cuộc cạnh tranh về khoáng sản trọng yếu thực chất là phép thử xem bên nào có thể thực sự biến quặng nằm sâu dưới lòng đất thành những linh kiện quan trọng được sử dụng trong máy bay chiến đấu, chip bán dẫn và xe điện. Các quốc gia sở hữu tài nguyên có thể tăng giá, thậm chí ngừng cung cấp, nhưng trên con đường từ quặng thô đến thành phẩm, chỉ cần thiếu một mắt xích cũng có thể khiến toàn bộ chuỗi bị đứt gãy. Cuộc gặp giữa Tô Lâm và Brussels rốt cuộc sẽ mang lại kết quả như thế nào? Câu trả lời sẽ được hé lộ trong vài ngày tới. Muốn giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc, trước hết châu Âu cần thành thật trả lời một câu hỏi: Phải bù đắp bộ năng lực này bằng cách nào? Tiền bạc, công nghệ và thời gian – mỗi yếu tố đều không thể né tránh.

 

 

 

 



 

 

 


CÔNG NGHIỆP VŨ TRỤ : BIÊN GIỚI MỚI TIẾP THEO CỦA TRUNG QUỐC (Kathleen Curlee và Sam Bresnick / Foreign Affairs)

 



 

 

 

 

 

 

 

Công nghiệp vũ trụ: Biên giới mới tiếp theo của Trung Quốc

Kathleen Curlee và Sam Bresnick  -  Foreign Affairs

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch  -  Nghiên Cứu Quốc Tế  

24/10/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/10/24/cong-nghiep-vu-tru-bien-gioi-moi-tiep-theo-cua-trung-quoc/

 

Bắc Kinh đang thách thức Washington trong không gian vũ trụ như thế nào?

 

Sáng ngày 19/08 vừa qua, ngành công nghiệp vũ trụ Trung Quốc đã vượt qua một ngưỡng cửa quan trọng. Ngay sau khi công ty hàng không vũ trụ LandSpace của Trung Quốc phóng một tên lửa ở vùng tây bắc nước này, tầng đẩy của nó – phần cần thiết để đưa tên lửa vào quỹ đạo – đã tách rời thành công và hạ cánh trở lại Trái Đất. Đây là lần đầu tiên một công ty Trung Quốc thu hồi tên lửa trên đất liền, và sự kiện này diễn ra sáu tuần sau lần thu hồi tên lửa đầu tiên của quốc gia này, do nhà thầu không gian quốc doanh hàng đầu của Trung Quốc thực hiện trên Biển Đông. Những sự kiện này đánh dấu bình minh của kỷ nguyên phóng tên lửa tái sử dụng tại Trung Quốc – một năng lực sẽ giải phóng tiềm năng to lớn cho ngành công nghiệp vũ trụ đang bùng nổ của nước này.

 

Phản ứng của Washington trước những bước tiến này khá bình thản. Mỹ vẫn thực hiện số vụ phóng nhiều gấp đôi và sở hữu nhiều vệ tinh trên quỹ đạo hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Nhưng Trung Quốc đang dần bắt kịp. Từ năm 2020 đến 2025, số lượng tên lửa do các công ty Trung Quốc phóng hàng năm đã tăng hơn gấp đôi, từ 39 lên 92. Các thực thể Trung Quốc cũng nộp đơn xin cấp phép cho hàng trăm nghìn vệ tinh viễn thông, trong lúc các công ty vũ trụ của nước này mọc lên như nấm. Nhiều công ty trong số đó, chẳng hạn như LandSpace, tuy còn khá mới nhưng lại rất giàu khả năng sáng tạo.

 

Bước tiến này mang lại những hệ lụy cả về kinh tế lẫn quân sự. Các công ty Trung Quốc có thể sớm cạnh tranh với các công ty Mỹ trong việc cung cấp cho những khu vực rộng lớn trên toàn cầu các dịch vụ dựa trên không gian như Internet vệ tinh. Trong khi đó, Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) – vốn xem ưu thế không gian vũ trụ là cần thiết để giành chiến thắng trong các cuộc chiến tương lai – đang phát triển một loạt năng lực vũ trụ cũng như một bộ vũ khí có thể tấn công vệ tinh. Điều này đặt ra rủi ro nghiêm trọng đối với quân đội Mỹ, những người phụ thuộc vào không gian để liên lạc, nắm bắt tình hình, và điều hướng, cũng như để thực hiện các cuộc tấn công chính xác và nhận cảnh báo tên lửa.

 

Sự phát triển của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc vũ trụ nên là hồi chuông cảnh tỉnh đối với Mỹ. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Washington đã bắt đầu tin rằng sự thống trị của mình trong không gian vũ trụ là điều hiển nhiên. Họ không còn có thể chủ quan như vậy nữa. Ngành công nghiệp vũ trụ của Bắc Kinh càng tiến bộ, lợi thế về chi phí của họ sẽ khiến các công ty Mỹ càng khó cạnh tranh hơn nhiều, và năng lực quân sự của Trung Quốc sẽ làm tăng rủi ro biến không gian thành chiến trường trong các cuộc xung đột tương lai. Kỷ nguyên quyền lực vũ trụ bất khả xâm phạm của Mỹ đang khép lại, và Washington không có lựa chọn nào khác ngoài việc thích nghi.

 

CẤT CÁNH!

 

Chương trình vũ trụ của Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950, khi nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông khởi xướng những nỗ lực hiện đại hóa PLA và thúc đẩy đổi mới công nghệ. Năm 1970, Trung Quốc phóng vệ tinh đầu tiên, và sang những năm 1980, nước này đã đưa nghiên cứu công nghệ vũ trụ trở thành ưu tiên quốc gia. Nhưng bước ngoặt đối với chương trình vũ trụ của Trung Quốc xảy ra trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1990-1991, khi việc quân đội Mỹ khéo léo sử dụng các tài sản ngoài không gian giúp một liên quân tương đối nhỏ nhưng tiên tiến về công nghệ đánh bại quân đội Iraq chỉ trong vài ngày. Vệ tinh cho phép lực lượng Mỹ định vị trên địa hình sa mạc hiểm trở, cung cấp cho các chỉ huy thông tin về chiến trường với tốc độ và độ chính xác cao hơn, đồng thời giúp binh sĩ phối hợp nhịp nhàng giữa những khoảng cách xa. Bắc Kinh – trước đó còn chưa nhận ra mình đã tụt hậu đến mức nào – ngay lập tức hành động để bắt kịp.

 

Trong những năm sau đó, học thuyết của PLA nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghệ tiên tiến, đặc biệt là vệ tinh, đối với tác chiến. Năm 2000, quân đội Trung Quốc bắt đầu phát triển dịch vụ định vị vệ tinh Bắc Đẩu của riêng mình để không phải phụ thuộc vào hệ thống GPS do Mỹ vận hành. Năm 2015, PLA thành lập Lực lượng Hỗ trợ Chiến lược, một tổ chức hiện đã giải thể, nhưng từng là nơi hợp nhất các nhiệm vụ tác chiến không gian, mạng, và điện tử của Trung Quốc, nhằm mục đích đẩy nhanh tiến bộ của các chương trình không gian. Cùng năm đó, một sách trắng của chính phủ Trung Quốc xác định không gian vũ trụ là lĩnh vực an ninh quốc gia then chốt. Kể từ đó, Trung Quốc đã chế tạo các tàu vũ trụ phục vụ viễn thông, điều hướng, và tình báo, giám sát cũng như trinh sát – những thành tựu mà các quan chức PLA từng quan sát chiến dịch Bão táp Sa mạc sẽ không thể nào tưởng tượng nổi.

 

Việc khuyến khích hoạt động thương mại trong không gian vũ trụ đã trở thành một trong những công cụ chính để Trung Quốc mở rộng chương trình không gian của mình. Năm 2014, Bắc Kinh mở cửa một phần lĩnh vực vũ trụ cho đầu tư tư nhân, và kể từ đó, hơn 400 công ty thương mại không gian của Trung Quốc đã xuất hiện. Bắc Kinh và chính quyền các tỉnh đã cung cấp tài chính cho các công ty này thông qua các quỹ đầu tư được nhà nước hậu thuẫn, trợ cấp cho việc nâng cấp nhà máy và phóng tên lửa, đồng thời cho phép các công ty tư nhân tiếp cận các cơ sở thử nghiệm và công nghệ của chính phủ. Năm 2025, các sứ mệnh không gian thương mại chiếm 54% tổng số sứ mệnh của quốc gia, và vệ tinh thương mại chiếm 84% số tàu vũ trụ của Trung Quốc được đưa vào quỹ đạo. Hệ sinh thái công nghiệp vũ trụ rộng lớn của Trung Quốc – bao gồm các công ty thương mại, doanh nghiệp nhà nước, viện nghiên cứu, và trường đại học – đã cho phép nước này loại bỏ sự phụ thuộc vào GPS và mở đường cho sự phát triển của các công ty viễn thông vệ tinh và viễn thám nội địa mới.

 

Quay trở lại với công nghệ tên lửa tái sử dụng, công ty SpaceX của Mỹ đã tận hưởng một lợi thế lớn khi thực hiện tới năm trên tổng số sáu vụ phóng tại Mỹ. Nhưng hai vụ thu hồi có kiểm soát tầng đẩy tên lửa của Trung Quốc vào tháng 7 và tháng 8 cho thấy nước này đủ sức trở thành đối thủ cạnh tranh của Mỹ trong vòng một thập kỷ tới. Tên lửa tái sử dụng làm giảm chi phí và tăng tốc độ phóng tàu vũ trụ lên đáng kể; nếu Trung Quốc làm chủ được công nghệ này, họ có thể phát triển các chòm vệ tinh lớn một cách dễ dàng hơn nhiều.

 

Việc phóng tàu tái sử dụng cũng cho phép Trung Quốc phát triển khả năng Internet dựa trên không gian để cạnh tranh với mạng lưới do Starlink của SpaceX thống trị, một hệ thống Internet vệ tinh rộng lớn có khả năng kết nối ngang ngửa với nhiều mạng lưới trên mặt đất và có ý nghĩa sống còn đối với Ukraine trong cuộc chiến phòng thủ trước Nga. Dù các công ty Trung Quốc vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển công nghệ này, nhưng họ đang mở rộng quy mô rất nhanh. Các thực thể vận hành các chòm vệ tinh Quốc Võng và Thiên Phàm, vốn dự định cạnh tranh với Starlink, đang lập kế hoạch phóng gần 30.000 vệ tinh viễn thông trong vòng khoảng một thập kỷ tới. Hiện tại, những hệ thống này nhỏ hơn nhiều so với Starlink – vốn có hơn 11.000 vệ tinh trên quỹ đạo – nhưng cuối cùng chúng có thể trở thành những giải pháp thay thế xứng tầm. Thiên Phàm hiện đã có các thỏa thuận thử nghiệm với Brazil, Kazakhstan, Malaysia, và Thổ Nhĩ Kỳ về việc sử dụng mạng lưới vệ tinh của mình.

 

KHOA HỌC TÊN LỬA

 

Quá trình phát triển hoạt động thương mại trong không gian vũ trụ của Trung Quốc luôn đi đôi với khả năng ngày càng lớn trong việc sử dụng không gian để hỗ trợ quá trình hiện đại hóa quân đội. Bắc Kinh đã dành nhiều thập kỷ nghiên cứu cách quân đội Mỹ sử dụng vệ tinh, và hiện đang tự phát triển các năng lực không gian liên quan đến an ninh quốc gia. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc vận hành hơn 500 vệ tinh có thể thực hiện các nhiệm vụ tình báo, giám sát, và trinh sát, kết hợp cùng hệ thống định vị bằng vệ tinh, cho phép PLA xác định vị trí và theo dõi lực lượng của Mỹ cũng như đồng minh trên khắp thế giới. Các chiến lược gia của PLA xác định các tài sản không gian của Bộ Quốc phòng Mỹ là những mục tiêu có giá trị lớn, bởi vì quân đội Mỹ phụ thuộc vào chúng cho gần như mọi bước trong quy trình mà họ gọi là “chuỗi tiêu diệt”: tìm kiếm, ngắm bắn, tấn công mục tiêu, và sau đó đánh giá kết quả.

 

Để khai thác sự phụ thuộc của Mỹ vào vệ tinh, Bắc Kinh đang đầu tư vào một loạt các vũ khí chống vệ tinh. Kể từ năm 2007, khi thử nghiệm thành công tên lửa chống vệ tinh đầu tiên, Trung Quốc đã phát triển nhiều công cụ khác, bao gồm tác chiến điện tử và vũ khí năng lượng định hướng, có thể gây nhiễu tín hiệu vệ tinh hoặc làm hỏng các cảm biến mà không cần phá hủy vệ tinh về mặt vật lý. Các tàu vũ trụ của Trung Quốc cũng có thể thực hiện các thao tác ngày càng tinh vi: năm 2022, vệ tinh Thực tiễn-21 của Trung Quốc đã tự gắn vào một vệ tinh đã ngừng hoạt động của nước này và di chuyển nó sang một quỹ đạo khác. Một hành động kiểu này có thể mang tính chất vô hại – như dùng để sửa chữa và tiếp nhiên liệu cho vệ tinh hoặc dọn rác vũ trụ – nhưng cũng có thể cho phép các nền tảng của Trung Quốc thao túng các tàu vũ trụ khác, bao gồm cả vệ tinh quân sự của Mỹ. Khả năng Bắc Kinh đánh hạ vệ tinh Mỹ theo đó đặt ra một thách thức đặc biệt nghiêm trọng đối với quân đội Mỹ ở Đông Á, nơi mà trong trường hợp xảy ra xung đột, Trung Quốc sẽ ít phụ thuộc vào các tài sản ngoài không gian hơn nhiều so với Mỹ.

 

Song song với đó, sự trỗi dậy trong không gian vũ trụ của Trung Quốc đã và đang định hình các động lực an ninh quốc tế rộng lớn hơn. Trong cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine năm 2022, các công ty Trung Quốc đã cung cấp hình ảnh vệ tinh về chiến trường giúp lực lượng Nga tiến hành các chiến dịch quân sự. Xuyên suốt cuộc chiến ở Iran, các tổ chức Trung Quốc đã cung cấp cho Tehran những hình ảnh vệ tinh, bao gồm hình ảnh về một căn cứ ở Jordan mà Iran đã tấn công vào tháng 7 và khiến ba quân nhân Mỹ thiệt mạng. Khi lĩnh vực thương mại không gian của Trung Quốc mở rộng, những quan hệ này cũng có thể phát triển theo, giúp nhiều quốc gia và các chủ thể phi quốc gia vốn không có chương trình vũ trụ tiên tiến có thể tiếp cận được những lợi ích đó. Khả năng tiếp cận rộng rãi này có thể được dùng để cứu người trong các thảm họa thiên nhiên hoặc các trường hợp khẩn cấp khác. Nhưng mặt khác, nó cũng có thể trao cho các đối thủ khả năng nhắm mục tiêu hiệu quả hơn vào lực lượng của Mỹ và đồng minh trên toàn cầu.

 

NHIỆM VỤ SỐNG CÒN

 

Chứng kiến sức mạnh vũ trụ của Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, Washington đã bắt đầu các động thái bảo vệ một số mạng lưới vệ tinh của mình. Lực lượng Không gian Mỹ đã đa dạng hóa vị trí của một số tài sản nhạy cảm nhất và tăng cường mua sắm các vệ tinh mới. Những khoản đầu tư này tuy hữu ích nhưng chưa đủ để giải quyết các lỗ hổng của Mỹ. Xét đến những năng lực mà Trung Quốc đã có hoặc sẽ sớm phát triển, hiện có nhiều kịch bản có thể xảy ra trong đó quân đội Mỹ sẽ phải hoạt động trong tình trạng liên lạc vệ tinh bị ngăn chặn hoặc suy giảm, tín hiệu GPS bị nhiễu, và thông tin tình báo từ quỹ đạo không gian bị hạn chế.

 

Vì thế, quân đội Mỹ nên đầu tư vào các công nghệ non trẻ, chẳng hạn như hệ thống dẫn đường quán tính và cảm biến lượng tử, những thứ có thể một ngày nào đó giúp binh sĩ di chuyển chính xác mà không cần GPS. Họ cũng nên đầu tư vào các giải pháp thay thế vệ tinh đang nổi lên, như trạm chuyển tiếp ở độ cao lớn, bao gồm máy bay không người lái hoặc khinh khí cầu hoạt động gần Trái Đất hơn và có thể liên kết các mạng viễn thông; liên lạc bằng laser, sử dụng ánh sáng để truyền thông tin và rất khó bị gián đoạn; cùng với mạng lưới dạng lưới (mesh networks), tự động định tuyến lại tín hiệu vòng qua các điểm nút đã bị phá hủy, giúp đường dây liên lạc bền bỉ hơn. Các cơ chế ủy quyền ra quyết định thậm chí sẽ còn quan trọng hơn so với trước đây, bởi nguy cơ mất kết nối ngày càng gia tăng.

 

Washington cũng nên tăng cường các nỗ lực thúc đẩy một ngành công nghiệp phóng nội địa có tính cạnh tranh hơn. Mỹ đang dẫn đầu thế giới về phóng tàu vũ trụ phần lớn là nhờ vào SpaceX. Dù công ty này là một tài sản khổng lồ, vị thế gần như độc quyền của họ lại là một rủi ro. Nếu trục trặc kỹ thuật hoặc thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng phóng làm gián đoạn các hoạt động của SpaceX, thì khả năng phóng vệ tinh của Mỹ sẽ bị thu hẹp nghiêm trọng. Năm nay, SpaceX đã công bố kế hoạch cho Falcon 9, tên lửa tái sử dụng chủ lực của hãng, “nghỉ hưu.” Falcon 9 cuối cùng sẽ được thay thế bởi Starship, một tên lửa tải trọng cao mới, có thể mang nhiều vệ tinh hơn vào quỹ đạo trong mỗi lần phóng. Nhưng việc khởi động của quá trình loại bỏ này tạo ra tình trạng thiếu hụt năng lực phóng, đe dọa đến sự phát triển liên tục của nền kinh tế không gian vũ trụ Mỹ. Để giảm thiểu rủi ro này, Washington nên tiếp tục trao các hợp đồng chính phủ cho nhiều công ty hơn nữa.

 

Bên cạnh việc đầu tư vào năng lực phóng, Mỹ nên cung cấp hỗ trợ cho các công ty đang phát triển các công nghệ không gian mới nổi có tính ứng dụng quan trọng đối với an ninh quốc gia, nhưng lại chật vật trong việc thu hút đủ nhu cầu thương mại trong những năm đầu – một cách tiếp cận mà họ từng áp dụng với SpaceX kể từ thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này. Các cơ quan liên bang có thể đóng vai trò là “khách hàng mỏ neo” cho những công nghệ được Washington xác định là then chốt cho các mục đích an ninh quốc gia, qua đó cung cấp cho các công ty sản xuất nguồn doanh thu ổn định và tính chính danh để giúp họ phát triển.

 

Việc xác định các công nghệ mới nổi quan trọng và tài trợ một cách nhất quán cho chúng là điều thiết yếu để duy trì vị thế dẫn đầu trong không gian vũ trụ. Đáng tiếc là, các ưu tiên của Mỹ trong lĩnh vực này thường dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi qua các đời tổng thống và tại Quốc hội. Khi Liên Xô sụp đổ, mức độ sẵn sàng đầu tư mạnh tay vào không gian của Washington cũng sụp đổ theo. Tất nhiên, Mỹ đã không hoàn toàn từ bỏ không gian, minh chứng là các dự án như chương trình tàu con thoi, các sứ mệnh Mặt Trăng Artemis, và việc thành lập Lực lượng Không gian Mỹ. Nhưng sự quan tâm của chính phủ đối với lĩnh vực này lại lúc thăng lúc trầm. Ngược lại, Bắc Kinh đã kiên định theo đuổi các mục tiêu không gian của mình kể từ đầu những năm 1990, liên tục điều chỉnh các chương trình khi công nghệ phát triển mà không bao giờ đánh mất mục tiêu cuối cùng. Nếu Washington muốn tiếp tục cạnh tranh với Trung Quốc, họ cũng cần phải duy trì các cam kết của mình.

 

Cuối cùng, Mỹ sẽ được hưởng lợi từ việc hợp tác với các đồng minh. NATO hiện đang thử nghiệm các cách thức chia sẻ chuyên môn về không gian của các thành viên và tích hợp chúng vào các hoạt động của đồng minh. Vào tháng 7, tám nước đồng minh của Mỹ đã khởi xướng sáng kiến HALO, nhằm kết nối các vệ tinh quân sự có chủ quyền thành một mạng lưới giúp tối ưu hóa hệ thống liên lạc, tình báo, và theo dõi tên lửa. Dự án STARLIFT của NATO – được thành lập năm 2024 – đang khám phá xem làm thế nào các bãi phóng trải rộng trên toàn lãnh thổ đồng minh có thể đẩy nhanh tốc độ tiếp cận quỹ đạo trong một cuộc khủng hoảng. Sau khi giảm bớt ưu tiên cho các hoạt động hợp tác an ninh quốc tế trong những năm gần đây, Mỹ nên quay trở lại và cam kết mạnh mẽ hơn đối với an ninh vũ trụ của khối đồng minh. Khả năng tiếp cận tài nguyên không gian của đồng minh sẽ là điều vô cùng thiết yếu trong các cuộc xung đột tương lai trải rộng trên khoảng cách lớn, đặc biệt là nếu chính các tài sản ngoài không gian của Mỹ đã bị triệt hạ.

 

 

Tuy nhiên, ngay cả những biện pháp hiện đại hóa và tăng cường khả năng phục hồi hiệu quả nhất cũng không đủ để bảo vệ tài sản của Mỹ trong không gian trước những đối thủ quyết tâm. Suốt hàng thập kỷ, Mỹ đã luôn có thể dựa vào sự thống trị trong không gian khi tham chiến. Giờ đây, việc quá phụ thuộc vào vệ tinh và vào SpaceX đang trở thành những điểm yếu lớn. Washington phải tự bảo vệ mình trong một thế giới nơi họ không còn là cường quốc vũ trụ duy nhất. Việc duy trì vị trí dẫn đầu trong cuộc đua không gian mới sẽ đòi hỏi cả sự đầu tư vào kiến trúc không gian, lẫn việc thiết lập các kế hoạch dự phòng nhằm bù đắp cho những mối nguy của kỷ nguyên không gian đa cực đang hình thành.

 

-------------------------

Kathleen Curlee là chuyên gia phân tích nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm An ninh và Công nghệ Mới nổi thuộc Đại học Georgetown.

Sam Bresnick là nghiên cứu viên và học giả tại Trung tâm An ninh và Công nghệ Mới nổi thuộc Đại học Georgetown.

 

Nguồn: Kathleen Curlee và Sam Bresnick, “China’s Next Frontier,” Foreign Affairs, 14/10/2026

 





TIN VUI CHO NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC và BỆNH UNG THƯ (Giao Thanh Phạm / Facebook)

 



TIN VUI CHO NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC và BỆNH UNG THƯ  

Giao Thanh Pham

24/10/2026   ͏19:11   

https://www.facebook.com/giao.pham.127/posts/pfbid0BjNfyEs9pZNjUAhRRkbLYmsxkMkcfN9vq42dwmshqMK84bmumvEkRqyXHjgGqvMal

 

Hôm qua, cô Linh Le có nhắn tin:

 

“Anh Giao ơi, anh có biết là bệnh viện Tâm Anh mới nhập về 1 cái máy “xạ trị” ung thư mới nhất, tối tân nhất và có giá ‘khủng nhất’ trên thế giới hiện nay không?”

 

Tôi ngạc nhiên, chả hiểu sao, một người ưa mò mẫm và tìm tòi như tôi lại không biết chuyện này. Mới nhớ ra rằng thì là mà … kiến thức con người thường giới hạn, riêng mình thì lại vô cùng giới hạn hơn nữa (mà lại cứ tưởng bở). Một lần nữa, cám ơn cô Linh đã cho biết thông tin này.

 

Cái máy mà bệnh viện Tâm Anh mới mua và nhập về ngày hôm qua có tên: MEVION S250-FIT PROTON THERAPY SYSTEM, được sản xuất bởi Mevion Medical Systems, một công ty có trụ sở tại Littleton, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

 

Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là: Proton Therapy System chữa trị ung thư ra sao? Thì đây là câu trả lời.

Hiện nay, có bốn phương pháp điều trị ung thư chính có thể kết hợp với nhau, bao gồm: phẫu thuật, hóa trị, liệu pháp miễn dịch và xạ trị.

 

Trong lĩnh vực xạ trị, ưu điểm vượt trội của liệu pháp chùm tia proton so với xạ trị bằng photon hoặc tia X chính là khả năng giảm thiểu tối đa tác động lên các tế bào và các mô bình thường và lành mạnh khác trên cơ thể của bệnh nhân. Xạ trị thông thường xử dụng các hạt photon đi xuyên qua mô, tác động vào khối u ở sâu bên trong rồi tiếp tục đi ra khỏi cơ thể, vô tình gây chiếu xạ lên cả những mô lành khác.

 

Liệu pháp proton là một hình thức xạ trị tiên tiến, xử dụng chùm hạt proton để nhắm mục tiêu chính xác vào các tế bào ung thư. Nhờ đặc tính hạt của mình, các proton phóng ra ít năng lượng hơn trên đường di chuyển đến khối u và không gây ảnh hưởng đến các mô nằm phía sau hoặc chung quanh khối u đó. Nhờ vậy, liệu pháp proton có thể tập trung liều bức xạ cao trực tiếp bắn thẳng vào mục tiêu, đồng thời hạn chế tối đa sự phơi nhiễm của các mô lành xung quanh, từ đó giúp giảm thiểu các tác dụng phụ so với phương pháp xạ trị truyền thống.

 

Quá trình này bắt đầu tại nguồn ion, nơi các nguyên tử hydro được tách thành electron và proton. Các proton này sau đó được đưa vào một máy gia tốc vòng (cyclotron) để tăng tốc. Khi đạt đến mức năng lượng cao, các proton được dẫn đến phòng điều trị thông qua một hệ thống khung quay (gantry). Hệ thống này cho phép tiếp cận bệnh nhân từ mọi góc độ (360°), tạo sự linh hoạt trong việc xây dựng phác đồ điều trị cho các khối u phức tạp.

 

Liệu pháp chùm tia proton mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm tác dụng phụ, cải thiện chất lượng cuộc sống và mang lại kết quả điều trị tích cực cho bệnh nhân. Phương pháp này thường được chỉ định cho các bệnh nhân có khối u đặc nằm trong hoặc gần các cơ quan nhạy cảm cần được bảo tồn, chẳng hạn như các trường hợp ung thư não, ung thư vùng đầu cổ hoặc ung thư lồng ngực. Tác động tích cực lâu dài của liệu pháp này đặc biệt có ý nghĩa đối với bệnh nhi ung thư, giúp duy trì chất lượng cuộc sống cho các em. Liệu pháp proton đang thay đổi cách chúng ta điều trị ung thư.

 

Loại máy này đã và đang được xử dụng khá giới hạn ở Mỹ và trên thế giới. Đây cũng là máy đầu tiên có mặt tại Việt Nam nói riêng và trên toàn cõi Á Châu nói chung ngoại trừ Trung Quốc. (Xem bản đồ bên dưới). Và Nam Hàn (theo lời kể lại của cô Tri Phạm)

 

Hi vọng, nhờ có thêm máy này, các nạn nhân ung thư ở Việt Nam sẽ có thêm một phương pháp chữa trị ung thư hoàn thiện hơn, đỡ tác hại hơn. Có thể lúc đầu ra quân giá cả sẽ cao vượt ra khỏi tầm tay của đa số người dân thường, nhưng một khi đạt được kết quả khả quan, chắc chắn các bệnh nhân ung thư ở Việt Nam sẽ tìm mọi cách để có thể chạy chữa tốt hơn.

 

Một hi vọng khác, đó là vấn đề Cung và Cầu. Cũng như khoảng chục năm trước đây, Việt Nam không hề có những|/ại máy móc tân tiến và hiện đại để truy tầm (tầm soát) các loại bệnh khó biết trong cơ thể như Trụy Tim ]và Ung Thư. Thế nhưng vài năm gần đây, các bệnh viện quốc tế như Tâm Anh và Vinmec đã bỏ ra hàng triệu đô để nhập về hàng loạt các loại máy vô cùng hiện đại như MRI Tesla của GE và máy CT Scan Somatom Force VB30 của Siemmens cũng là do Nhu Cầu ngày một nhiều hơn thì bắt buộc Nguồn Cung phải gia tăng để bắt kịp.

 

*** Bấm vào link dưới đây để biết thêm chi tiết:

https://mevion.com/.../mevion-s250-fit-proton-therapy-system

.

 

 


BÀ AUNG SAN SUU KYI LẦN ĐẦU TRÒ CHUYỆN VỚI CON TRAI SAU HƠN 5 NĂM (NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt)

 



Bà Aung San Suu Kyi lần đầu trò chuyện với con trai sau hơn 5 năm

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt

24/10/2026

https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/news/20261023de64508/

 

https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/upld/thumbnails/news/20261023de64508_E0000092971_L.jpg

 

Bà Aung San Suu Kyi, nhà lãnh đạo phong trào dân chủ Myanmar đang bị giam giữ, đã trò chuyện với con trai thứ là ông Kim Aris lần đầu tiên sau hơn 5 năm. Ông cho biết rất mừng khi xác nhận được rằng mẹ mình vẫn còn sống và một lần nữa kêu gọi sớm trả tự do cho bà.

 

Ông Aris cho biết đã trực tiếp nói chuyện với mẹ qua điện thoại trong khoảng 20 phút vào hôm thứ Năm tại Đại sứ quán Myanmar ở London. Giới chức Myanmar cũng xác nhận cuộc trò chuyện này đã diễn ra.

 

Trả lời phỏng vấn của NHK, ông Aris nói rằng người mẹ 81 tuổi của mình có vẻ rất vui khi nghe thấy giọng con trai, nhưng bà nói là đang bị đau ở tay phải và tình trạng sức khỏe của bà vẫn đáng lo ngại suốt 5 năm qua.

 

Ông nói: “Tôi không biết liệu mẹ tôi có thực sự được điều trị thích hợp hay không. Mẹ tôi không thể chia sẻ nhiều hơn về điều này”.

 

Ông Aris cho biết lại được nghe giọng nói của mẹ là điều có ý nghĩa lớn lao “không từ ngữ nào có thể diễn tả”, nhưng ông nói thêm rằng “không được nhầm lẫn khoảnh khắc này với sự tự do”.

 

Ông cho biết: “Quan trọng nhất là mẹ tôi cần được trả tự do. Ngay từ đầu, bà không nên bị giam giữ”.

 

Bà Aung San Suu Kyi bị bắt giữ trong cuộc đảo chính năm 2021. Năm nay, chính quyền do quân đội hậu thuẫn cho biết bà đã được chuyển sang quản thúc tại gia. Gần đây, giới chức cũng công bố những hình ảnh nói là của bà Aung San Suu Kyi. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ bà đang ở đâu.