Thursday, February 12, 2026

BÀI MỚI NGÀY 12/02/2026 (Bauxite Việt Nam)

 



Bauxite Việt Nam

NGÀY 12/02/2026

https://boxitvn.blogspot.com/

 .

BÀI MỚI

.

Bẫy ICOR và bài toán hiệu quả đầu tư công – thước đo thực chất của tăng trưởng kinh tế Việt Nam

10:22 | Posted by BVN4

Tô Văn Trường

.

Thương trường số – chiến trường mới: Phần mềm gián điệp thương mại (Commercial Spyware) và bài toán chủ quyền số

10:18 | Posted by BVN4

Tô Văn Trường

.

“Quốc mẫu”??

10:14 | Posted by BVN4

Thái Hạo 

.

11/02/2026

.

Đài tưởng niệm nạn nhân COVID ở TP Hồ Chí Minh – Biểu trưng giọt nước và những câu hỏi bỏ ngỏ

10:17 | Posted by BVN4

Lý Trực Dũng 

.

Chuyện

09:43 | Posted by BVN4

Nguyễn Thông 

.

10/02/2026

.

Cái giá của đối đầu học thuật

10:00 | Posted by BVN4

Tino Cao 

.

Chấn động toàn cầu đến từ Tokyo

09:51 | Posted by BVN4

Quốc Anh 

.

Khi dân trí cao, quyền lực thấp lại

09:30 | Posted by BVN4

Kieu The Duc 

.

09/02/2026

.

Khi dân trí cao, quyền lực thấp lại

09:30 | Posted by BVN4

Kieu The Duc 

.

Nghị định 46 – Trách nhiệm thuộc về ai và vì sao doanh nghiệp luôn là người ăn đòn cuối

09:23 | Posted by BVN4

Bùi Anh Chiến 

.

Tại sao Orban lại quy cho Ukraine là kẻ thù của Hungary

09:18 | Posted by BVN4

Chan Vu 

.

08/02/2026

.

Vĩnh biệt ông Thành, người chọn làm người trong những lúc khó nhất

09:43 | Posted by BVN4

Mai Phan Lợi 

.

Hạ sốt, rồi sao nữa?...

09:19 | Posted by BVN4

Vũ Kim Hạnh 

 

 

 




BÀI MỚI NGÀY 12/02/2026 (Báo Tiếng Dân)

 



Báo Tiếng Dân

Ngày 12/02/2026

https://baotiengdan.com/

.

Tô Lâm đi Mỹ: Giữa hào quang ngoại giao và thực tế “mặc cả” thuế quan

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh  -  12/02/2026

.

Nếu phi trường Long Thành không… thành gì, ai gánh trách nhiệm?

Người Việt  -  Trân Văn  -   12/02/2026

.

Hồng Kông: Làn sóng trừng phạt mới và những bản án khắc nghiệt

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh  -  11/02/2026

.

Jimmy Lai lãnh 20 năm tù: Chiếc đinh cuối đóng vào quan tài dân chủ Hồng Kông

RFI  -  Thụy My  -  11/02/2026

.

Đi bộ vì hòa bình cho chính chúng ta, cho đất nước này và cho thế giới

Nguyễn Quốc Khải  -  11/02/2026

.

“Quốc mẫu”?

Thái Hạo  -  11/02/2026

.

Tô Lâm cũng mù tịt

Hoàng Dũng  -  11/02/2026

.

Câu đối Tết Bính Ngọ 2026

Hà Sĩ Phu  -  11/02/2026

.

Lòng Thành Kính không phải là thứ thể hiện tuỳ tiện

Mai Phan Lợi  -  10/02/2026

.

Quản trị quốc gia yếu kém làm trầm trọng thêm khó khăn ở Cuba!

Phan Thế Hải   -  10/02/2026

.

Cuba: Bước đường cùng của mô hình kế hoạch hoá

JB Nguyễn Hữu Vinh  -  10/02/2026

.

“Ốc đảo” Long Thành từ câu hỏi của ông Tổng Bí thư?

Mai Phan Lợi   -   10/02/2026

.

Về cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine của Putin – Ngày 9-2-2026

Phúc Lai  -  09/02/2026

.

Tiếp tục cuộc điều tra về vụ ám sát hụt tướng Vladimir Alekseev thuộc cơ quan tình báo quân đội Nga (GRU)

Tác giả: Oleh Cheslavskyi  -  Hnb Trần biên dịch  -  09/02/2026

.

Vụ ám sát hụt một sĩ quan tình báo cấp cao: Nguyên nhân gây bất ổn trong giới lãnh đạo quân đội

BBT  -  Tomorrow's Affairs   -  Hnb Trần biên dịch  -  09/02/2026

.

Ông Tập có đang muốn “cầm cân nảy mực”?

Lê Thọ Bình  -  09/02/2026

.

Đói khổ tăng đến mức nào khi tăng trưởng GDP đạt mức 10%? (Phần 2)

Người Việt  -  Trân Văn  -08/02/2026

 

 

 




TIN & BÀI NGÀY 11/02/2026

 



 

TIN & BÀI NGÀY 11/02/2026

 

 

11/02/2026

NEWSWEEK : NGA VỪA GIÁNG MỘT ĐÒN SỈ NHỤC TỘT CÙNG VÀO TT TRUMP. NGA MẤT STARLINK, MẶT TRẬN KHỰNG LẠI (Viet CatholicNews)

CÁI GIÁ CỦA ĐỐI ĐẦU HỌC THUẬT (Tino Cao / Facebook)

TỪ HAVANA ĐẾN MIAMI : NGƯỜI CUBA ĐƯƠNG ĐẠI CÓ CÒN TRUNG THÀNH VỚI CÁCH MẠNG? (Hoa Vũ Ánh / Guancha)

CUỘC CHIẾN NGA – UKRAINE / BÀI CUỐI : DANH TÍNH – NỘI CHIẾN VĂN HÓA (Tiến sĩ Nguyễn Phương Mai / BBC News Tiếng Việt)

LÀN SÓNG BIỂU TÌNH GEN Z Ở BANGLADESH CÓ BỊ LẤN ÁT KHI BẦU CỬ ĐẾN GẦN? (BBC News Tiếng Việt)

GIÀU CÓ và QUYỀN LỰC : NHỮNG AI CÓ TÊN TRONG HỒ SƠ EPSTEIN MỚI NHẤT? (Brandon Drenon / BBC News Tiếng Việt)

TRUNG QUỐC ỦNG HỘ CÁC 'LỰC LƯỢNG THỐNG NHÂT' Ở ĐÀI LOAN, TRUY QUÉT 'NHỮNG KẺ LY KHAI' (BBC News Tiếng Việt)

TRẬT TỰ THẾ GIỚI CỦA MỸ PHỦ BÓNG CHÂU ÂU TRƯỚC THỀM HỘI NGHỊ QUỐC PHÒNG (Frank Gardner / BBC News Tiếng Việt)

STEPHEN MILLER : KIẾN TRÚC SƯ PHÍA SAU CÁC CHÍNH SÁCH GÂY TRANH CÃI NHẤT CỦA ÔNG TRUMP (Anthony Zurcher / BBC News Tiếng Việt)

CHÍNH SÁCH CHỐNG DI DÂN Ở MỸ ĐÃ "ĐUỔI" HAI NHÀ TOÁN HỌC VIỆT NAM (Trung Ngôn / Báo Tiếng Dân)

THẾ GIỚI HÔM NAY : 11/02/2026 (The Economist)

THẾ GIỚI HÔM NAY : 10/02/2026 (The Economist)

BÁO CALI TODAY - NGÀY 11/02/2026

NGUOI VIET NEWS – NGÀY 11/02/2026

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt – NGÀY 11/02/2026

ĐÀI PHÁT THANH QUỐC TẾ PHÁP – RFI | NGÀY 11/02/2026

BBC NEWS TIẾNG VIỆT – NGÀY 11/02/2026

BÀI MÓI NGÀY 11/02/2026 (Bauxite Việt Nam)

BÀI MỚI NGÀY 11/02/2026 (Báo Tiếng Dân)

TIN & BÀI NGÀY 09 & 10/02/2026






NEWSWEEK : NGA VỪA GIÁNG MỘT ĐÒN SỈ NHỤC TỘT CÙNG VÀO TT TRUMP. NGA MẤT STARLINK, MẶT TRẬN KHỰNG LẠI (Viet CatholicNews)

 



Newsweek: Nga vừa giáng một đòn sỉ nhục tột cùng vào TT Trump. Nga mất Starlink, mặt trận khựng lại

VietCatholicNews

FEB 11, 2026

https://www.youtube.com/watch?v=uxyG9gx5-M4&t=54s

.

6,537 views Feb 11, 2026

00:00:00 Đài Hiệu

00:00:20 Giới thiệu chương trình

00:00:36 Elon Musk đóng cửa các thiết bị đầu cuối Starlink của quân đội Nga tại Ukraine, lực lượng Cẩm Linh mất kết nối Internet.

00:10:48 Nga vừa giáng một đòn sỉ nhục tột cùng vào Tổng thống Trump. 00:18:58 Máy bay điều khiển từ xa kiểu Gerbera do Nga sử dụng trong chiến tranh chống Ukraine được tìm thấy ở Moldova.

00:20:54 Vụ tấn công tồi tệ nhất của Nga vào các trạm biến áp đã làm giảm một nửa sản lượng điện hạt nhân của Ukraine.

00:24:23 Các nhà lập pháp Mỹ công kích “án tử hình” mà Trung Quốc dành cho công dân Anh Jimmy Lai.

 00:30:21 Nga cáo buộc Mỹ rút khỏi thỏa thuận được tường trình đã đạt được về việc Ukraine phải nhượng lại lãnh thổ.

00:34:35 Von der Leyen cam kết thị trường chung mạnh mẽ hơn, ít quan liêu hơn trước hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Âu Châu

00:37:53 Nghị viện Liên Hiệp Âu Châu sẽ bỏ phiếu về khoản vay 90 tỷ euro cho Ukraine vào thứ Tư.

00:39:31 Ít nhất 6 người thiệt mạng, 41 người bị thương trong các cuộc tấn công của Nga vào Ukraine trong ngày hôm qua.

00:44:16 Kết thúc

00:44:46 Closing Credits

 





CÁI GIÁ CỦA ĐỐI ĐẦU HỌC THUẬT (Tino Cao / Facebook)

 



 

 

𝐢 𝐠𝐢á 𝐜𝐚 đố𝐢 đầ𝐮 𝐡𝐜 𝐭𝐡𝐮𝐭  

Tino Cao

7 tháng 2 lúc 17:24 

https://www.facebook.com/minhquyenus/posts/pfbid024z9TJkGxQP1A1aAvromFRTtZ5VeFnHCqVotUm5FBVNuqJU2JPwxWWUACar1qX8brl

 

Đầu tháng Hai năm 2026, đời sống đại học tại Hoa Kì bước vào một giai đoạn căng thẳng mà khó ai có thể xem là cơn sóng thoảng qua. Những quyết định liên tiếp của chính quyền Trump nhắm trực diện vào Harvard gây chấn động trong nội bộ giới học thuật, khiến giới làm chính sách phải tính toán lại hệ quả dài hạn của những ngón đòn thất sách này. Yêu cầu bồi thường một tỉ đô la, những phát biểu công kích xoay quanh khái niệm “woke”, cùng quyết định của Bộ Quốc phòng chấm dứt các chương trình đào tạo và hợp tác với Harvard không thể được hiểu như các bước đi hành chính riêng lẻ. Đặt cạnh nhau, chúng cho thấy một cách tiếp cận nhất quán: sử dụng công cụ tài chính và thẩm quyền thể chế để buộc một đại học phải điều chỉnh theo các ưu tiên chính trị của chính quyền đương nhiệm. Ở đây, quyền phân bổ ngân sách và quyền kí kết hay hủy bỏ hợp tác được vận dụng như đòn bẩy. Khi một thiết chế tri thức bị đặt trước lựa chọn giữa tuân thuận và mất nguồn lực, quan hệ giữa nhà nước và đại học rời khỏi nền tảng đối thoại để bước sang trạng thái đối đầu, trong đó nguồn lực bị sử dụng như công cụ gây sức ép.

 

Vì thế, câu chuyện không còn gói gọn trong mối quan hệ giữa một tổng thống và một trường đại học tinh hoa. Điều đang được đặt lên bàn là phạm vi của quyền lực nhà nước khi đối diện với đời sống học thuật và hệ quả mà xã hội phải gánh chịu nếu đại học bị lôi vào cuộc đối đầu chính trị. Đại học nghiên cứu không chỉ là nơi đào tạo sinh viên; đó là hệ thống sản xuất tri thức, là nguồn nuôi dưỡng nhân tài và là một phần của lợi thế chiến lược quốc gia. Khi chính quyền chọn cách xử lí xung đột bằng những đòn tài chính quy mô lớn và những quyết định cắt đứt hợp tác, họ đồng thời thử thách sự cân bằng giữa quyền lực công và tự do học thuật. Cái giá của sự thử thách ấy, nếu có, sẽ không đo bằng những dòng tít báo trong vài tuần mà bằng vị thế khoa học và sức hút nhân tài của nước Mĩ trong nhiều năm tới.

 

Harvard từ lâu được xem là một trong những đại học có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Hoa Kì, không chỉ vì bề dày lịch sử mà còn vì vai trò trung tâm trong mạng lưới nghiên cứu toàn cầu. Khi chính quyền liên bang nâng yêu cầu bồi thường lên một tỉ đô la và gắn nó với các cáo buộc liên quan đến quản trị, xử lí biểu tình và môi trường tư tưởng trong trường, quyết định ấy vượt khỏi phạm vi một tranh chấp pháp lí thông thường. Về mặt thẩm quyền, chính phủ có quyền điều tra và khởi kiện nếu cho rằng có vi phạm luật liên bang. Nhưng khi lựa chọn nhắm vào một đại học có tầm ảnh hưởng đặc biệt, hành động đó đồng thời mang hàm ý chính trị. Nó gửi đi thông điệp rằng các cơ sở giáo dục tinh hoa cũng sẽ bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ nếu bị cho là đi ngược lại các ưu tiên của chính quyền.

 

Quyết định của Bộ Quốc phòng Mĩ càng làm rõ chiều kích ấy. Việc chấm dứt các chương trình đào tạo sĩ quan và hợp tác chuyên môn với Harvard được lí giải bằng lập luận về nhu cầu củng cố sức mạnh quân sự và loại bỏ những khuynh hướng tư tưởng bị xem là làm phân tán mục tiêu. Với một bộ phận cử tri, đó là bước đi cần thiết để khẳng định kỉ luật và định hướng. Với nhiều học giả, đây là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ gắn bó nhiều thập niên giữa đại học nghiên cứu và chính phủ liên bang đang rơi vào tình trạng xung đột, trong đó hợp tác khoa học và đào tạo có thể bị chi phối bởi tiêu chí chính trị thay vì thuần túy chuyên môn.

 

Muốn đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của sự việc, cần đặt nó vào nền tảng của mô hình đại học nghiên cứu Hoa Kì. Từ sau Thế chiến thứ hai, quan hệ giữa khoa học và chính phủ liên bang hình thành trên cơ sở trao đổi lợi ích rõ ràng. Ngân sách quốc phòng, chương trình không gian, các quỹ y sinh và công nghệ cao đã cung cấp nguồn lực ổn định cho các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu tại các đại học lớn. Đổi lại, các trường cung cấp đội ngũ chuyên gia, các phát minh và giải pháp phục vụ lợi ích chiến lược quốc gia. Sự gắn bó ấy tạo nên một mạng lưới cộng sinh phụ thuộc lẫn nhau trong đó nghiên cứu cơ bản và mục tiêu an ninh, kinh tế liên hệ chặt chẽ. Khi một chính quyền chọn cách thu hẹp hoặc cắt bỏ một phần quan hệ này để thể hiện lập trường chính trị, tác động lan ra vượt khỏi phạm vi một trường đại học cụ thể. Điều bị thử thách ở đây là tính ổn định của toàn bộ hệ thống khoa học vốn dựa trên niềm tin rằng cam kết liên bang sẽ không thay đổi đột ngột theo chu kì tranh cử.

 

Những diễn biến trong vài năm gần đây khiến bức tranh thêm phần rối rắm. Đại học Hoa Kì liên tục bị cuốn vào các tranh luận gay gắt xoay quanh tự do ngôn luận, cách xử lí các cuộc biểu tình liên quan đến Trung Đông, chính sách đa dạng và bình đẳng cũng như trách nhiệm điều hành của ban lãnh đạo trước sức ép từ Quốc hội và các nhà tài trợ lớn. Các phiên điều trần công khai và những cuộc điều tra liên bang đã dẫn đến việc nhiều hiệu trưởng phải rời nhiệm sở, phản ánh mức độ giám sát ngày càng chặt chẽ đối với hệ thống giáo dục bậc cao. Chính quyền Donald Trump bước vào bối cảnh ấy với cam kết lập lại kỉ cương và loại bỏ những khuynh hướng bị cho là vượt quá giới hạn. Tuy nhiên, khi mục tiêu cải tổ được triển khai thông qua các yêu sách tài chính quy mô lớn và quyết định chấm dứt hợp tác mang tính răn đe, tiến trình điều chỉnh dễ chuyển thành thế đối đầu. Khi đó, khoảng cách giữa giám sát hợp pháp và can thiệp vì động cơ chính trị trở nên mơ hồ; và chính sự mơ hồ này mới là nguồn gốc của bất an kéo dài trong đời sống học thuật

 

Trong môi trường đó, câu hỏi về tính bền vững của các dự án nghiên cứu dài hạn được đặt ra ngày càng nhiều trong giới khoa học. Những ngành như toán học, vật lí lí thuyết hay sinh học phân tử không thể phát triển dựa trên các chu kì tài trợ ngắn hạn và thay đổi chính sách bất ngờ. Việc tuyển dụng nghiên cứu sinh, hậu tiến sĩ và xây dựng nhóm nghiên cứu đòi hỏi dự báo tương đối chắc chắn về nguồn lực và khung pháp lí trong nhiều năm. Khi khả năng dự báo suy giảm, tâm lí thận trọng xuất hiện. Các nhà khoa học tìm hiểu cơ hội ở châu Âu hoặc châu Á như một phương án bảo đảm nghề nghiệp, dù chưa chắc đã rời đi ngay.

 

Các khảo sát gần đây cho thấy tỉ lệ đáng kể giới nghiên cứu hàn lâm cân nhắc làm việc ở nước ngoài nếu tình trạng xáo trộn tài trợ và áp lực chính trị tiếp diễn. Điều đó chưa đồng nghĩa với một làn sóng di cư ồ ạt nhưng phản ánh sự dịch chuyển trong cách nhìn về tương lai nghề nghiệp. Khi lựa chọn ra đi trở thành một viễn cảnh được thảo luận công khai trong các hội nghị và diễn đàn chuyên môn, lợi thế cạnh tranh của Hoa Kì trong việc giữ và thu hút nhân tài bắt đầu chịu thử thách. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về tri thức, biến động tâm lí này quan trọng không kém các con số thống kê về số lượng người rời bỏ nước Mĩ.

 

Trong lúc Hoa Kì còn đang tranh cãi về vai trò và giới hạn của đại học, nhiều trung tâm giáo dục đào tạo hàng đầu ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, đã âm thầm tăng tốc quyết định chào mời. Hong Kong, Thượng Hải, Bắc Kinh không giấu tham vọng trở thành các đầu mối nghiên cứu có tầm quốc tế. Họ đầu tư lớn cho cơ sở vật chất, thiết kế các gói đãi ngộ cạnh tranh, tạo điều kiện linh hoạt cho hợp tác xuyên biên giới và chủ động tiếp cận các nhà khoa học đang tìm kiếm môi trường ổn định. Khi chính quyền Mĩ tìm cách hạn chế tuyển sinh quốc tế tại Harvard, giới chức giáo dục Hong Kong lập tức kêu gọi các đại học địa phương mở rộng tiếp nhận sinh viên và học giả bị ảnh hưởng. Động thái ấy cho thấy cạnh tranh về nhân tài không diễn ra trong khoảng trống; bất kì tín hiệu bất ổn nào ở một trung tâm lớn đều trở thành cơ hội cho các trung tâm khác.

 

Trong bối cảnh đó, việc hai nhà toán học gốc Việt có uy tín tầm vóc quốc tế như giáo sư Ngô Bảo Châu (Chau Ngo) và giáo sư Vũ Hà Văn gia nhập Đại học Hong Kong được nhiều người xem như dấu hiệu của sự dịch chuyển cán cân thu hút nhân tài. Dĩ nhiên, mỗi quyết định sự nghiệp đều xuất phát từ sự cân nhắc của nhiều yếu tố cá nhân và vị thế khoa học của mỗi người; không thể quy giản chúng thành phản ứng trực tiếp trước một chính sách cụ thể. Tuy nhiên, thời điểm của những chuyển dịch này trùng với giai đoạn căng thẳng giữa chính quyền Trump và các đại học hàng đầu của nước Mĩ buộc người quan sát phải đặt câu hỏi rộng hơn về sức hấp dẫn của hệ thống giáo dục Mĩ. Khi những học giả từng gắn bó lâu năm với các cơ sở đại học danh giá của Hoa Kì lựa chọn một trung tâm châu Á cho chặng tiếp theo, điều đó phản ánh sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về điều kiện nghiên cứu và môi trường làm việc trong không gian học thuật toàn cầu.

 

Đây không phải câu chuyện giản đơn về sự suy yếu của Mĩ hay sự vươn lên của châu Á. Hoa Kì vẫn sở hữu mạng lưới đại học hùng hậu, nguồn tài trợ nghiên cứu lớn và truyền thống bảo vệ tự do học thuật lâu đời. Nhiều nhà khoa học vẫn coi môi trường Mĩ là thuận lợi cho sáng tạo và hợp tác liên ngành. Song lợi thế ấy phụ thuộc vào một tiền đề cơ bản: các quy tắc về tài trợ, thị thực và quan hệ giữa chính quyền với đại học phải đủ ổn định để giới nghiên cứu có thể dự liệu tương lai. Khi ngân sách và thị thực bị đưa vào các cuộc đối đầu chính trị theo cách chính quyền Trump hành xử suốt gần một năm qua, tín hiệu phát ra bên ngoài là một hình ảnh tệ hại về sự thiếu nhất quán và khó dự báo của môi trường học thuật Hoa Kì.

 

Sức mạnh của một quốc gia, xét đến cùng, không nằm trọn trong chỉ số GDP hay ngân sách quốc phòng mà còn ở năng lực thu hút và duy trì dòng chảy nhân tài quốc tế. Từ sau Thế chiến thứ hai, nước Mĩ đã gây dựng ưu thế ấy bằng một cam kết tương đối bền vững: môi trường nghiên cứu tự do, cơ chế thị thực đủ linh hoạt cho giới học thuật và nguồn tài trợ liên bang đủ ổn định để các dự án dài hạn có thể triển khai mà không bị đảo lộn bởi những bất ổn chính trị. Chính sự nhất quán đó đã làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của hệ thống đại học Mĩ. Khi ngân sách và thị thực bị đưa vào các cuộc đối đầu chính trị, nền tảng niềm tin ấy bắt đầu đổ vỡ. Vấn đề vì thế vượt khỏi phạm vi một tranh chấp cụ thể với Harvard. Nó đặt ra câu hỏi về quy chế phối hợp và mức độ can dự của nhà nước đối với giáo dục bậc cao. Bảo đảm tuân thủ pháp luật là trách nhiệm hiển nhiên của chính quyền; giám sát và chế tài, nếu có vi phạm, là điều chính đáng. Tuy nhiên, khi việc kiểm tra và áp dụng biện pháp xử lí đi xa tới mức buộc một cơ sở giáo dục phải điều chỉnh nội dung học thuật theo ý chí chính trị đương thời, hệ quả không dừng lại ở một quyết định hành chính. Khi đó, không gian tự do học thuật bị thu hẹp và niềm tin vào tính độc lập của đời sống trí thức bị hủy hoại. Đại học không phải thánh địa miễn nhiễm với phê phán. Những phê phán về quản trị và trách nhiệm giải trình là cần thiết; và thực tế nhiều trường đã xử lí vụ việc kém thuyết phục nên cần cải tổ. Tuy nhiên, khi công cụ chủ yếu được sử dụng là sức ép tài chính và các biện pháp mang tính răn đe, điều đạt được có thể chỉ là sự chia rẽ sâu hơn và một giới nghiên cứu dè dặt thay vì một nền học thuật mạnh mẽ và có khả năng tự điều chỉnh. Việc đưa áp lực chính trị vào các thiết chế tri thức theo cách đó không chỉ dừng lại ở một trường cụ thể mà còn có thể tạo ra tiền lệ, khiến mỗi chu kì bầu cử đều đi kèm nguy cơ đảo lộn chính sách khoa học.

 

Từ góc nhìn kinh tế, cái giá của một môi trường nghiên cứu thiếu ổn định không xuất hiện ngay trên bảng cân đối ngân sách, nhưng nó tích lũy hậu quả một cách dai dẳng. Doanh nghiệp công nghệ cao phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nhân lực và ý tưởng xuất phát từ các đại học nghiên cứu; những đột phá y sinh cứu sống hàng triệu người thường khởi nguồn từ các phòng thí nghiệm được nuôi dưỡng bằng ngân sách công trong nhiều năm liên tục. Khi các nhà khoa học hàng đầu tìm thấy điều kiện làm việc ổn định và hỗ trợ tốt hơn ở châu Âu hay châu Á, sự dịch chuyển ấy có thể không tạo ra cú sốc tức thì, nhưng theo thời gian sẽ làm suy giảm năng lực đổi mới của cả nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng tập trung vào trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, vật liệu mới và công nghệ sinh học, đầu tư liên tục cùng một không gian sáng tạo rộng mở là điều kiện thiết yếu. Một quốc gia đặt chính các thiết chế sản xuất tri thức của mình vào trạng thái nghi ngờ kéo dài sẽ tự làm suy yếu lợi thế chiến lược, nhất là khi các đối thủ địa chính trị đang chủ động thu hút nhân tài quốc tế bằng thông điệp ổn định và nhất quán.

 

Bức tranh hiện tại vì thế mang sắc thái đáng suy ngẫm. Đại học bị kéo vào những tranh luận chính trị gay gắt; các chính trị gia tận dụng xung đột văn hóa để củng cố vị thế, trong khi giới nghiên cứu phải tính toán phương án dự phòng cho tương lai nghề nghiệp của mình. Các trung tâm giáo dục châu Á quan sát kĩ lưỡng và sẵn sàng tiếp nhận những dịch chuyển đó. Tuy vậy, chưa thể kết luận rằng nước Mĩ đang bước vào một chu kì suy thoái không thể đảo ngược. Truyền thống pháp quyền, sự giám sát của tòa án liên bang, vai trò của báo chí và xã hội dân sự vẫn tạo ra những cơ chế điều chỉnh quan trọng; nhiều đại học cũng đang nỗ lực cải thiện quản trị và tăng cường đối thoại với công chúng. Vụ việc liên quan đến Harvard chỉ là điểm nhấn của một vấn đề sâu xa hơn: quan hệ giữa khát vọng kiểm soát của chính trị và yêu cầu độc lập của đời sống trí thức. Trong thời đại mà sức mạnh quốc gia gắn chặt với khả năng sáng tạo và thu hút chất xám, cách nước Mĩ xử lí căng thẳng này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới vị thế của quốc gia trong nhiều thập niên tới.

— tino

 

• Ảnh chụp ở Harvard University, 28.11.2013

https://www.facebook.com/photo/?fbid=26031067283199319&set=a.187615724637829

 

 

 





TỪ HAVANA ĐẾN MIAMI : NGƯỜI CUBA ĐƯƠNG ĐẠI CÓ CÒN TRUNG THÀNH VỚI CÁCH MẠNG? (Hoa Vũ Ánh / Guancha)

 



Từ Havana đến Miami: Người Cuba đương đại có còn trung thành với cách mạng?

Hoa Vũ Ảnh, 花舞影:21纪的古巴人,对革命到底拥护到什么程度?Guancha

Lê Thị Thanh Loan, biên dịch  -  Nghiên cứu Quốc tế  

12/02/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/02/12/tu-havana-den-miami-nguoi-cuba-duong-dai-co-con-trung-thanh-voi-cach-mang/

 

Trước khi Liên Xô tan rã, tuy công nghiệp và nông nghiệp của Cuba mất cân đối, nhưng trong chuỗi cung ứng của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON), nước này vẫn sở hữu năng lực sản xuất thực thụ, cũng như có đủ khả năng hoàn thành kế hoạch sản xuất và phân công thương mại của riêng mình, chứ tuyệt nhiên không phải là “những kẻ lười biếng được nuôi không” như một số người Trung Quốc hiện nay vẫn lầm tưởng. Tình trạng kinh tế hiện tại của họ là hệ quả tổng hợp từ sự đứt gãy chuỗi cung ứng sau biến động tại Liên Xô – Đông Âu và lệnh trừng phạt kéo dài của Mỹ. Tuy nhiên, các nguyên tắc của chủ nghĩa Marx, dù muôn hình vạn trạng thì đều gói gọn trong một câu: Cơ sở kinh tế quyết định kiến ​​trúc thượng tầng, hay nói một cách thông tục là “có thực mới vực được đạo”. Trong bối cảnh cơ sở kinh tế không vững chắc và Havana vốn nổi tiếng thế giới với tình trạng “không có nhà mới”, thì ngay cả câu hát “Havana xinh đẹp, nơi ấy có ngôi nhà của tôi” cũng khó mà nói với họ cho trọn vẹn.

 

Trong điều kiện “cơ sở kinh tế” hiện nay của Cuba cùng tình trạng chung của đời sống người dân (bất kể nguyên do là gì hay cục diện quốc tế ra sao), việc những người có thiện chí trên khắp thế giới lo ngại về “kiến trúc thượng tầng” của nước này là điều khó có thể tránh khỏi.

 

Những gì chúng ta có thể nghĩ đến, kẻ địch chắc chắn cũng có thể nghĩ đến. Hơn nữa, so với hơn 60 năm kể từ sự kiện Vịnh Con Lợn, kẻ địch của “nhiệm kỳ này” không hề bình thường. Như người viết đã chỉ ra trong bài viết trước, có thể thấy rõ kiểu “cánh hữu cuồng tín” cực kỳ nhiệt huyết ở những người đứng đầu nhiều bộ ngành của Mỹ. Vào ngày 22/01 theo giờ địa phương, tờ Wall Street Journal dẫn lời “nhiều nguồn tin thân cận” cho biết, chính quyền Trump đang lên kế hoạch “lật đổ chính quyền Cuba” trước cuối năm nay, lấy kinh nghiệm tại Venezuela làm khuôn mẫu, và các hoạt động tiền trạm như tìm kiếm “tay trong sẵn sàng phối hợp với Mỹ” tại Cuba có thể đã bắt đầu.

 

Bài viết này sẽ phân tích tính khả thi của ảo tưởng “tái hiện ở Cuba sự kiện ngày 3/1”, và như một bối cảnh cần thiết, sẽ điểm qua thực trạng hiện nay của phần “kiến trúc thượng tầng” Cuba vốn chịu ảnh hưởng bởi cơ sở kinh tế như đã nói ở trên, nhằm giúp độc giả có cái nhìn rõ ràng hơn về cục diện.

 

 

Liệu các nhà lãnh đạo Cuba có bị cuốn đi bởi một đợt hành động kiểu “đột kích – đánh nhanh – rút gọn” tương tự hay không?

 

“Những rặng núi lặng im chuẩn bị cho cuộc chia ly, tiếng đại bác sẽ là người chủ trì đọc bài văn tế… Họ sẽ hát khúc tang ca cho con người và gia súc, không có nước mắt, chỉ có đạn chì hóa thành mưa. Họ nâng cao thi thể này, từ nấm mồ hướng về phía mặt trời; tên của Người sẽ được ca vang mãi mãi: Vũ trang đối đầu vũ trang!” (Vũ trang đối đầu vũ trang – ca khúc tưởng niệm Che Guevara năm 1978 của Cuba, do Ramón Veloz thể hiện).

 

Đây có lẽ là phản ứng đầu tiên của nhiều người sau khi đọc bài viết ngày 22/01 của Wall Street Journal. Suy cho cùng, sau đối tượng bảo vệ trước đó là Chính phủ Cách mạng Nhân dân Grenada năm 1983, thì đây là lần thứ hai lực lượng vũ trang Cuba đồn trú tại các chính quyền cách mạng vùng Caribe phải đối mặt với kết cục “nhiệm vụ thất bại + bị tiêu diệt toàn bộ” trước cuộc đột kích của quân đội Mỹ. Hơn nữa, khác với lần ở Grenada khi lực lượng Cuba bị đánh bại chỉ là các công nhân vũ trang phụ trách xây dựng cơ sở hạ tầng, thì lực lượng bị đánh bại lần này là một đơn vị cận vệ tinh nhuệ do Quân đội Cách mạng Cuba và lực lượng an ninh nội địa (cảnh sát vũ trang) cùng cử sang, trực tiếp đóng vai trò là lớp phòng thủ cuối cùng cho tổng thống nước sở tại.

 

Vấn đề này cần được xem xét từ hai khía cạnh.

 

Về mặt các yếu tố bất lợi, thủ đô Havana của Cuba cũng giống như thủ đô Caracas của Venezuela, đều nằm ở bờ biển phía Bắc, đối diện với một vùng lãnh thổ có quân đội Mỹ đồn trú, hoàn toàn không có chiều sâu chiến lược. Điều này có nghĩa, sau khi cảnh báo sớm được phát ra, các nhà lãnh đạo có rất ít thời gian để di chuyển hiệu quả. Hơn nữa, như nguyên mẫu ngoài đời thực của “Trường Thợ săn” trong bộ phim Thoát khỏi Amazon, lực lượng đặc nhiệm Venezuela có trình độ chuyên nghiệp thuộc hàng cao nhất Mỹ Latinh và đẳng cấp thế giới. Xét thêm việc Venezuela đã mua tiêm kích Su-30 và một lượng lớn hỏa lực phòng không từ Nga trong những năm gần đây, lực lượng lục quân và không quân Cuba – vốn đã không còn phong độ như “thời kỳ Angola” – rõ ràng yếu hơn Venezuela ở những khía cạnh này.

 

Về mặt logic, nếu đội cận vệ Cuba cộng với lực lượng kỹ thuật Venezuela vòng ngoài (vốn mạnh hơn bản thân Cuba) không thể ngăn chặn đội đặc nhiệm của Mỹ, thì có thể suy luận một cách hợp lý rằng, lực lượng đang bảo vệ sát sao các nhà lãnh đạo Cuba cũng sẽ không thể ngăn chặn một cuộc đổ bộ đường không chớp nhoáng tương tự của Mỹ.

 

Tuy nhiên, xét về mặt các yếu tố có lợi, việc Trump muốn tái hiện một chiến dịch bắt cóc ở Cuba sẽ không dễ dàng.

 

Khác với Venezuela, Cuba hiện có hai nhà lãnh đạo tối cao về mặt tư tưởng:

 

1) Miguel Díaz-Canel – hạt nhân lãnh đạo thế hệ mới

 

Díaz-Canel là một trong số hiếm hoi các nhà lãnh đạo tối cao thuộc phe cánh tả Mỹ Latinh sở hữu nền tảng học vấn đại học về khoa học kỹ thuật. Sự nghiệp ban đầu của ông trải dài từ quân đội, giảng dạy đại học, hệ thống Đoàn Thanh niên Cộng sản và công tác viện trợ quốc tế. Ông từng giữ các chức vụ như Bí thư tỉnh ủy, Bí thư thứ hai Đoàn Thanh niên Cộng sản, Bộ trưởng Giáo dục Đại học và Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách văn hóa giáo dục. Tuy thiếu kinh nghiệm quản trị ở cấp cơ sở , nhưng nhìn chung lý lịch của ông tương đối ấn tượng.

 

Từ tháng 2/2013, Miguel Díaz-Canel kế nhiệm Machado (người cùng thế hệ với Fidel và Raúl) để giữ chức Phó Chủ tịch thứ nhất của Hội đồng Nhà nước (Phó Chủ tịch nước thực quyền) kiêm Phó Chủ tịch thứ nhất của Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng thường trực). Điều này đã làm thay đổi tình hình ở Cuba – nơi quyền lực tối cao vốn chỉ quẩn quanh trong nội bộ thế hệ cách mạng đầu tiên suốt nửa thế kỷ.

 

Năm 2018, tiếp nối truyền thống “kiêm ba chức vụ” ở Cuba cách mạng, Díaz-Canel lần lượt kế nhiệm các chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (CDN – tương đương Quân ủy Trung ương). Sau khi hiến pháp mới được thông qua vào năm 2019, ông trở thành Chủ tịch nước đầu tiên của Cuba. Sau Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Cuba năm 2021, Raúl Castro chính thức nghỉ hưu về mặt pháp lý và Díaz-Canel tiếp quản chức Bí thư thứ nhất.

 

So với Maduro – người vào đầu tháng 1 vẫn còn xuống đường vận động tranh cử, bắt chước điệu nhảy của Trump, hát vang các bài hát phản chiến và tuyên bố “tôi không chống Mỹ”, thì Díaz-Canel, kể từ khi cơn bão Melissa quét qua vào cuối tháng 10 đến nay, hầu như luôn xuất hiện trong bộ quân phục. Trước đây, ông chỉ mặc quân phục khi tham gia các hoạt động cứu trợ thiên tai, nhưng giờ đây ngay cả khi tiếp khách quốc tế ông cũng mặc như vậy. Ngoại lệ duy nhất được biết đến là tại Hội nghị thượng đỉnh ALBA ngày 14/12 và buổi lễ tưởng niệm ngày 4/1. Ít nhất thì về ý thức sẵn sàng chiến đấu, “vẻ bề ngoài” của Chủ tịch nước Cuba đã đạt yêu cầu.

 

2) Raúl Castro – nhà lãnh đạo đã lui về tuyến hai

 

Kể từ Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Cuba năm 2021, Tướng Raúl Castro Ruz đã trao lại mọi chức vụ ngoại trừ ghế đại biểu Quốc hội và hiếm khi xuất hiện trước công chúng. Tuy nhiên, với tư cách là “lãnh đạo mặt trận của Cách mạng Cuba” (líder al frente de la Revolución cubana) theo cách gọi của truyền thông chính thống, ông vẫn là ngọn cờ tinh thần kế thừa “tính chính danh sơ khởi” của Fidel Castro. Trong cuộc biến động năm 2021 ở Cuba, khi một số người hô vang khẩu hiệu “Tổ quốc và Cuộc sống” (Patria y Vida) nhằm giải cấu trúc diễn ngôn lịch sử “Tổ quốc hay là chết” (Patria o Muerte) của Cách mạng Cuba, thì chính Raúl, như một sự tiếp nối hữu hình của ký ức tập thể lãng mạn của người Cuba thời kỳ đó, đã giáng một đòn mạnh vào những nỗ lực hư vô hóa lịch sử này.

 

Cộng đồng người Cuba chống cộng ở Miami vừa căm ghét vừa sợ hãi sức ảnh hưởng đó của Raúl. Vào thời điểm cuối hè đầu             thu năm ngoái, họ đã phát động một chiến dịch tung tin đồn ở Cuba rằng Raúl đã qua đời trong bí mật/đang được đưa đi cấp cứu, nhằm phối hợp với chiến dịch leo thang bạo lực ở vùng Caribe của Trump. Đáp lại, từ tháng 10, Raúl đã xuất hiện trở lại tại các cuộc họp của Hội đồng Quốc phòng, ngồi ngang hàng với Díaz-Canel ở vị trí chủ tọa, như một biện pháp để trấn an lòng dân, lòng quân và giúp người kế nhiệm “giữ vững trận địa”.

 

Thực tế, ở tuổi 94, Raúl Castro vẫn giữ được ảnh hưởng mà Díaz-Canel hiện chưa có đối với Quân đội Cách mạng Cuba – lực lượng mà ông từng trực tiếp chỉ huy trong thời gian dài với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng. Ban đầu, Quân đội Cách mạng Cuba vốn chỉ là một “đội quân nổi dậy” điển hình trong diễn ngôn tự do lãng mạn kiểu Mỹ, và chính Raúl là người đã đưa vào đó hệ thống giáo dục chính trị Marx – Lenin và hệ thống công tác chính trị, để biến nó thành một lực lượng vũ trang đỏ dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Cuba.

 

So với Venezuela – nơi vốn dựa trên thể chế quân đội tư sản “quốc hữu hóa”, duy trì bằng các mối quan hệ cá nhân mà Chávez để lại và sự “chia chác lợi ích dầu mỏ” trần trụi, thì kỳ vọng của bên ngoài đối với lòng trung thành của quân đội Cuba có thể được nâng cao đáng kể. Hơn nữa, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các hoạt động chống đột kích là trực tiếp bảo vệ các nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, và nhiệm vụ này được đảm nhiệm bởi “Đội Cảnh giới” (Tropas de Prevención) – một lực lượng có quyền hạn rất lớn, vừa mang tính quân sự vừa mang tính cảnh sát, trực thuộc Tổng cục Phản gián Quân sự (CIM).

 

Bên cạnh CIM, Cuba còn có cơ quan tình báo riêng để giám sát Mỹ, đó chính là Tổng cục Tình báo (DGI). Có kỷ luật nghiêm minh và kinh nghiệm dày dạn, tổ chức này không chỉ trấn áp các hoạt động lật đổ của Mỹ trên lãnh thổ Cuba, mà còn thâm nhập vào các cơ quan tình báo Mỹ. Họ tận dụng những người trung thành ẩn mình trong cộng đồng người Mỹ gốc Cuba tại Miami, các nhà hoạt động vì độc lập của Puerto Rico (từng được Cuba tài trợ và huấn luyện trong thời gian dài), thế hệ trẻ người Mỹ gốc Cuba có thiện cảm với cách mạng, hay thậm chí cả những người Mỹ nói tiếng Anh, để cài cắm điệp viên hai mang, điều hành các hoạt động buôn bán ngầm và thậm chí cả một dạng “bưu chính” giữa Miami và Cuba. Trong hơn nửa thế kỷ, họ đã đấu trí qua lại với CIA và FBI, không bên nào áp đảo hoàn toàn. Lần này, việc thông tin tình báo về cuộc đột kích của Mỹ nhằm vào Maduro không bị rò rỉ trước có thể được coi là một sai sót của DGI.

 

3) Tập thể lãnh đạo Đảng Cộng sản Cuba trong quá trình chuyển giao từ thế hệ cách mạng lão thành sang thế hệ kế cận

 

Ngay cả khi không xét đến các yếu tố tình báo, Cuba vẫn rất khác biệt so với Venezuela. Đảng Cộng sản Cuba được thành lập chính thức vào năm 1965, tuy xuất phát từ nhiều nhánh khác nhau như Quân đội Cách mạng, Đảng Xã hội Nhân dân, Phong trào 13 tháng 3 và giới trí thức cánh tả độc lập, nhưng họ cực kỳ đoàn kết, trong suốt 60 năm chỉ trải qua một cuộc đấu tranh nội bộ duy nhất và chưa từng tiến hành bất kỳ cuộc thanh trừng chính trị nào.

 

Hiện nay, bên cạnh Miguel Díaz-Canel, trong số các nhà lãnh đạo thế hệ mới như Phó Chủ tịch nước Salvador Valdés Mesa, Thủ tướng Manuel Marrero Cruz… không có ai thuộc phe “cải cách” theo nhãn quan phương Tây – tức những người muốn từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba và định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy xuất thân từ giới kinh doanh và nổi tiếng với việc thúc đẩy xây dựng hạ tầng du lịch sau khi nhậm chức, nhưng Marrero có lập trường rất kiên định về việc củng cố nền chuyên chính vô sản.

 

Raúl hiện cũng không hề đơn độc. Những người cùng thế hệ với ông như cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Ramiro Valdés Menéndez (không liên quan tới Salvador Valdés), cựu Bí thư thứ hai Trung ương Đảng José Ramón Machado Ventura (không liên quan tới Machado của phe đối lập) và Esteban Lazo Hernández – hiện là Chủ tịch Quốc hội – đều vẫn còn đó. Tuy hầu hết đã nghỉ hưu nhiều năm, nhưng họ vẫn khỏe mạnh, minh mẫn và sở hữu uy tín cùng nhận thức chính trị thống nhất để lại từ thời cách mạng. Giống như Raúl, kể từ khi tình hình ở Venezuela trở nên căng thẳng vào nửa cuối năm ngoái, các nhà cách mạng kỳ cựu cũng thường xuyên xuất hiện trước công chúng.

 

Tóm lại, tuy Mỹ nhiều khả năng vẫn chiếm ưu thế về chiến thuật và kỹ thuật trong một chiến dịch tương tự, nhưng khác với ở Venezuela, Mỹ khó có thể bắt hết các nhà lãnh đạo Cuba. Hơn nữa, ngay cả khi Mỹ dàn dựng được hai cuộc đột kích lẻ tẻ cực kỳ thành công để “bốc” cả Raúl Castro lẫn Díaz-Canel ra khỏi Cuba, thì họ cũng khó lòng tìm được một đối tượng đàm phán ưng ý trong phần còn lại của hệ thống thể chế.

 

 

Đo lường lòng trung thành của người Cuba: Một ví dụ cơ bản

 

“Ôi, những chàng trai nói rằng Tổ quốc ta không đủ đẹp; ôi, những cô gái bảo rằng quê hương ta chẳng đủ mặn mà! Tôi mời bạn hãy tìm kiếm khắp thế gian một vầng trăng khác sáng trong đến thế; một màn đêm khác xanh trong đến vậy; một làn hương ngọt ngào khác vương trên ruộng mía.

 

Khí phách của Fidel lẫm liệt trên đỉnh núi; một viên hồng ngọc, năm dải kẻ ngang và một ánh sao…” (Cuba, Cuba tươi đẹp biết bao – ca khúc năm 1978 của Cuba, do Ramón Veloz thể hiện).

 

Dù vậy, sau sự kiện “ngày 3/1” ở Venezuela, vẫn còn một yếu tố khiến người ta lo ngại mà vẫn chưa được phân tích ở trên:

 

Liệu xung quanh các nhà lãnh đạo Cuba có xuất hiện hay không trường hợp giống như vụ Maduro – nơi chính Trump ngay ngày hôm sau đã khoe khoang rằng “nhân vật nội bộ nhỏ nhưng then chốt” đã bị CIA mua chuộc, dẫn đến tổn thất nặng nề?

 

Quyền trả lời câu hỏi này thuộc về lịch sử, nhưng xét về cảm quan chủ quan, niềm tin của người viết đối với lòng trung thành chính trị của các cán bộ, đảng viên Cuba lớn hơn nhiều so với ở Venezuela.

 

Cần lưu ý, điều này không có nghĩa người viết ôm giữ một kiểu “định kiến máy móc về ​​cộng sản” nào đó, đồng thời cho rằng người Cuba ngày nay vẫn là một khối thép đồng nhất, ai nấy đều hô vang “chỉ cần Cuba, không cần Mỹ” và sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ hạnh phúc do cách mạng mang lại – chí ít thì điều đó không hoàn toàn đúng ở giai đoạn hiện tại.

 

Trái lại, nhận định của người viết xuất phát từ một đặc điểm quan trọng của các xã hội bị cực hóa chính trị, đó là niềm tin của người dân ở mỗi “cực” thường rất chân thực, vững chắc và ít bị uốn nắn bởi tuyên truyền của phía đối địch; và những bất đồng thường tập trung vào mô hình nhận thức hơn là sự khác biệt trong việc lý giải các sự kiện khách quan. Ít nhất là kể từ sau biến động tại Liên Xô và Đông Âu, “cộng đồng người Cuba (nghĩa rộng)” chính là một xã hội bị cực hóa chính trị. Sự chia rẽ toàn diện từ giá trị quan đến nhận thức cơ bản “giữa những người Cuba với nhau” thậm chí có thể được coi là điềm báo sớm cho hiện tượng cực hóa tương tự trong xã hội Mỹ.

 

Để cung cấp một góc độ quan sát cho hiện tượng này, người viết sẽ ôn lại câu chuyện về Elián González – “người thuộc thế hệ 9x nổi tiếng nhất ở Cuba”. Vụ việc “Hành trình kỳ thú của Elián González” năm 2000 đã có tác động sâu sắc đến chính trị Mỹ. Một số người Trung Quốc có lẽ đã biết sơ lược về vụ việc này, nhưng người viết quyết định sẽ dành một phần nội dung để hệ thống lại chi tiết và coi đây là nền tảng cho phần thảo luận tiếp theo.

 

Kể từ khi ngành du lịch mở cửa vào những năm 1990, bán đảo Varadero – khu nghỉ dưỡng nổi tiếng của “Cuba cũ” – đã được khôi phục và chuyển đổi thành một khu du lịch rộng lớn dành riêng cho du khách nước ngoài. Vào thời điểm đó, khu nghỉ dưỡng này được ngăn cách với đảo chính Cuba bằng hàng rào vật lý, còn nhân viên phục vụ du lịch thì đi làm hằng ngày từ thị trấn nhỏ lân cận là Cárdenas.

 

Cha của Elián González là Juan Miguel (nhân viên phục vụ tại một nhà hàng Ý trong khu nghỉ dưỡng Varadero) và mẹ cậu là Elizabeth sống ở Cárdenas. Họ đã rạn nứt tình cảm và đăng ký ly hôn từ năm 1991, nhưng do tình trạng khó khăn về nhà ở tại Cuba, họ không những tiếp tục sống chung mà còn có giai đoạn “dây dưa chưa dứt”. Juan Miguel thậm chí còn khiến vợ cũ mang thai vào năm 1993. Tháng 12 năm đó, Elizabeth sinh một bé trai, chính là Elián. Bất chấp những bất đồng về quan điểm chính trị và những phức tạp trong quan hệ tình cảm, cả hai đều rất yêu con, và theo cách hiểu của riêng mình, đều mong muốn mang lại cho con mình một cuộc sống tốt đẹp.

 

Năm 1996, Elián cai sữa, Elizabeth cuối cùng cũng giải quyết được vấn đề nhà ở (trên thực tế dường như là vì cô đã tìm được bạn trai mới), liền chuyển ra khỏi nhà González và chính thức sống ly thân với Juan Miguel – người lúc đó cũng bắt đầu hẹn hò với bạn gái mới. Tuy nhiên, hai người vẫn cùng nhau nuôi dưỡng Elián, và Elizabeth trực tiếp chăm sóc con ít nhất hai ngày mỗi tuần.

 

Juan Miguel có họ hàng có thể liên lạc được ở Mỹ, nhưng anh là một người ủng hộ nhiệt thành của Đảng Cộng sản Cuba. Trong khi đó, Elizabeth không có mối liên hệ hải ngoại nào được biết đến, nhưng dưới ảnh hưởng của bạn trai mới – “kẻ dẫn đường” (mule) chuyên đưa người qua lại giữa Miami và đảo Cuba – cô ngày càng bị thu hút bởi nước Mỹ và cuối cùng đã biến điều đó thành hành động.

 

Ngày 21/11/1999 (ngày phóng tàu Thần Châu 1) là một ngày cuối tuần. Juan Miguel đang trực ca, còn Elián 5 tuổi thì ở cùng mẹ theo thỏa thuận. Vào lúc 4 giờ sáng, Elizabeth, sau thời gian dài chuẩn bị, đã lén đưa con trai đi cùng bạn trai và 10 người Cuba khác, lên một chiếc thuyền máy bằng nhôm được cải tiến và ra khơi hướng về “ngọn hải đăng nước Mỹ” trong mơ. Thế nhưng, họ đã gặp phải một cơn bão, động cơ chết máy, thuyền bị ngập nước rồi lật úp trên vùng biển quốc tế ở phía Đông Fort Lauderdale, Florida.

 

Mẹ của Elián cuối cùng đã không thể nhìn thấy hình dáng của nước Mỹ. Nhưng trong khoảnh khắc cuối cùng, bà đã đặt cậu bé Elián vào một chiếc lốp bơm hơi, giúp cậu bé trôi dạt một mình trên biển suốt hai ngày một cách kỳ diệu, cho đến khi được các ngư dân Mỹ cứu sống. Những người này trực tiếp giao cậu bé cho Lực lượng Tuần duyên Mỹ ngay trên biển.

 

Ngày 22/11, Juan Miguel phát hiện Elián mất tích và lập tức đoán rằng vợ cũ đã đưa cậu bé sang Mỹ. Anh vô cùng tức giận nhưng bất lực, nên đành gọi ngay cho người chú mang quốc tịch Mỹ và hiện đang sống ở Miami của mình là Lázaro, để thông báo rằng cháu trai của ông có thể đã mẹ cậu đưa sang Mỹ và nhờ ông để mắt tìm kiếm cậu bé. Không lâu sau, Cục Di trú và Nhập tịch Mỹ (INS) – tiền thân của ICE – đã bàn giao đứa trẻ cho Lázaro, và Juan Miguel cũng biết được rằng vợ cũ của mình đã chết đuối, còn con trai thì đã đến Mỹ.

 

Dựa trên thỏa thuận “chân ướt, chân ráo” mà Clinton đạt được với Cuba năm 1994, người Cuba vượt biên nếu bị Tuần duyên bắt giữ trước khi đặt chân lên đất Mỹ sẽ bị đưa trả về Cuba, không được nhập cảnh, không được nhận tư cách quay số di trú và cùng lắm thì bị trục xuất sang nước thứ ba. Vấn đề nằm ở chỗ:

 

Thứ nhất, mẹ của Elián đã đưa cậu đi mà hoàn toàn không có sự đồng ý của cậu, và việc một đứa trẻ 6 tuổi có “quyền đồng ý” hay không là một điểm mù pháp lý. Thứ hai, mẹ của Elián và hôn phu đều đã chết đuối, trong khi người giám hộ hợp pháp còn lại (Juan Miguel) của cậu thì đang ở Cuba. Vậy là Lázaro đã trở thành một trong những người có quan hệ huyết thống gần nhất với Elián trong phạm vi pháp lý Mỹ, nhưng tư cách giám hộ của ông rõ ràng thấp hơn nhiều so với cha ruột của đứa trẻ. Thứ ba, do nửa năm trước đó quân đội Mỹ vừa bị dư luận chỉ trích dữ dội vì vụ “dùng vòi rồng bắn lật thuyền vượt biên”, nên lần này họ đã trực tiếp trao Elián cho Lázaro để tránh rắc rối. Hành động này tuy sai quy định, nhưng về khách quan đã thực sự khiến cậu bé “đặt chân lên đất Mỹ”.

 

Vụ việc này đã chạm đến một khoảng trống lớn trong hệ thống pháp luật vốn “nghĩ gì làm nấy” của Mỹ. Điều đó khiến chính phủ và bộ máy thực thi pháp luật thời Clinton – do tầng lớp người da trắng nói tiếng Anh miền Bắc chi phối – tự mâu thuẫn trong lập trường ở giai đoạn đầu, và đến giai đoạn sau thậm chí còn xuất hiện một cục diện quái lạ khi chính phủ Cộng sản Cuba, người dân Cuba bình thường và chính phủ liên bang Mỹ cùng đứng về một phe để đối đầu với tầng lớp tinh hoa người Mỹ gốc Cuba.

 

Việc chú ý đến bối cảnh này là cực kỳ quan trọng, bởi nó cho chúng ta thấy rõ thực chất cuộc chiến này là giữa ai với ai:

 

Với đầy định kiến, Lázaro cho rằng nếu Elián đã đến Mỹ thành công thì đương nhiên phải ở lại để ông nuôi dưỡng, có được thân phận công dân Mỹ và có một tương lai tươi sáng. Việc đưa cậu trở lại sự “tăm tối”, nghèo đói và một “gia đình nguyên sinh” cộng sản vừa trải qua nạn đói không khác gì đẩy cậu về với “hang quỷ” – điều mà “lương tri cơ bản của con người” trong ông không thể chấp nhận. Xuất phát từ tình yêu mù quáng dành cho đứa trẻ, ông đã tự chỉ định con gái mình (tức cô họ của Elián) Marisleysis làm “người giám hộ” mà không có sự đồng ý của Juan Miguel. Marisleysis có ngoại hình ưa nhìn, trong giai đoạn đầu đã thu hút được không ít sự đồng cảm của cộng đồng.

 

Tuy nhiên, với tư cách là một người cha bình thường và một người ủng hộ trung thành của Đảng Cộng sản Cuba, Juan Miguel kiên quyết khẳng định quyền giám hộ của mình và yêu cầu người chú trao trả con trai. Tuy chỉ là một nhân viên phục vụ nhà hàng, nhưng khu nghỉ dưỡng Varadero là một trong những nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất của Cuba trong thập niên 1990, nên với tư cách là nhân viên doanh nghiệp nhà nước có yếu tố đối ngoại, anh đủ khả năng gây ảnh hưởng lên chính phủ. Ngay sau đó, các cơ quan truyền thông như tờ Granma của Đảng Cộng sản Cuba đã đăng tải bức thư ngỏ của Juan Miguel gửi chính phủ liên bang Mỹ, yêu cầu họ ngăn chặn hành vi bắt cóc của những người họ hàng vô lương tâm ở Miami, và giải cứu con trai anh khỏi nanh vuốt của những kẻ xấu xa này.

 

Ngày 21/1/2000, bà nội Mariela và bà ngoại Raquel của đứa trẻ cùng bay từ Havana đến Miami. Thông qua một nữ tu người Dominica, họ đã gặp cậu bé Elián. Sau đó, họ đến Washington để “vận động hành lang” Bộ trưởng Tư pháp của chính quyền Clinton và một số nghị sĩ Quốc hội. Chuyến đi Mỹ này không giúp họ giành lại được cháu trai, nhưng đã thành công trong việc thuyết phục Bộ Tư pháp Mỹ công nhận “Juan Miguel là người đại diện hợp pháp duy nhất của đứa trẻ” (sự công nhận này được giữ vững cho đến phút cuối), đồng thời đập tan ý đồ của những nghị sĩ thuộc cả hai đảng muốn nhanh chóng thông qua một đạo luật “thủ đoạn” nhằm trực tiếp biến Elián thành công dân Mỹ.

 

Tuy nhiên, ngay sau khi cả hai trở về Cuba, một số tin đồn kỳ lạ bắt đầu lan truyền trên các tờ báo địa phương ở Miami, chẳng hạn như “Bà ngoại Raquel của Elián đã nói với nữ tu trung gian rằng bà cũng muốn đào tẩu sang Mỹ”, hay “Việc Elizabeth ly hôn và vượt biên đều là do Juan Miguel bạo hành vợ”. Tuy những thông tin này lập tức bị chính vị nữ tu bác bỏ, nhưng các tờ báo đã đăng tải tin đồn ban đầu vẫn tuyên bố giữ nguyên nội dung đưa tin ngay cả sau khi bị phủ nhận.

 

Nhìn lại sự việc, đây rõ ràng là mánh khóe của nhánh Lázaro thuộc gia tộc González tại Miami và các nhà tài trợ đứng sau họ.

 

Ban đầu, Lázaro và những người khác đã gọi điện cho Juan Miguel, đề nghị anh sang Mỹ định cư để giải quyết mọi tranh chấp, họ thậm chí còn đề nghị cấp cho anh một căn nhà và một chiếc xe hơi làm chi phí an cư. Tuy nhiên, Juan Miguel đã kiên quyết, đồng thời quay sang phanh phui sự việc này trên truyền thông Cuba và Mỹ.

 

Tiếp đó, nhánh Lázaro tại Miami bắt đầu thực hiện chiến thuật “ba gọng kìm”:

 

1.    Xây dựng luận điệu rằng “gia đình ở Cuba đang bị chính phủ Đảng Cộng sản ép buộc, những gì họ thể hiện không phải là ý nguyện thực sự”;

 

2.    Tăng cường việc tẩy não đối với Elián:

 

Hai chiến thuật này tiếp tục được áp dụng cho đến ngày 14/4, khi vụ việc đã gần như ngã ngũ. Khi Juan Miguel đích thân bay từ Havana đến Miami để đón con trai, thì một đoạn video bất ngờ lan truyền trong cộng đồng người Mỹ gốc Cuba ở Nam Florida, trong đó Elián nói với cha mình rằng “Con muốn ở lại Mỹ”. Tuy nhiên, có thể nghe loáng thoáng thấy trong video có một giọng nói tiếng Tây Ban Nha đang “mớm lời” cho cậu bé. Truyền thông Cuba lập tức vạch trần điều này, từ đó châm ngòi cho một cuộc chiến về nhận thức giữa hai bên mà theo góc nhìn của người Mỹ thì cuối cùng đã bị cho qua trong im lặng.

 

3.    Với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các chính trị gia địa phương ở Miami và các tổ chức chống Cuba, gia đình Lázaro đã lập một đội ngũ luật sư hùng hậu để sẵn sàng khởi kiện chính phủ liên bang Mỹ nếu cần thiết.

 

Do hiệu ứng “chim sợ cành cong” mà các nhóm này tạo ra, không một luật sư nào ở Nam Florida dám nhận làm đại diện của Juan Miguel.

 

Cuối cùng, Juan Miguel đã liên hệ với một người chú khác của mình là Manuel – anh trai của Lázaro và đang làm thợ sửa xe buýt trường học tại Miami. Quyết định đứng về phía Juan Miguel, Manuel tìm được một tổ chức nhân quyền ở Chicago chuyên bảo vệ quyền lợi của các ông bố (trong các vụ ly hôn), nhờ đó giúp cháu mình tìm được luật sư. Tuy nhiên, vào cuối tháng 2, sau khi Manuel đại diện cho cháu tới nhà em trai Lázaro để đàm phán, vừa về tới nhà thì đột ngột phát bệnh nặng và được xe cứu thương đưa đi. Cùng lúc đó, vị thẩm phán liên bang vốn dự định ra phán quyết về đơn xin tị nạn cũng bất ngờ bị đột quỵ, không thể tiếp tục xử án.

 

Trong khoảng thời gian này còn xảy ra một sự việc không liên quan trực tiếp đến toàn bộ vụ việc: Một quan chức cao cấp của Cục Di trú Liên bang Mỹ phụ trách các vấn đề quanh Nam Florida đã “ngã ngựa” tại Miami và bị khui ra là một thành viên ngầm của Đảng Cộng sản Cuba.

 

Ngày 21/3, một thẩm phán liên bang mới đã bác bỏ yêu cầu của gia đình Lázaro và các tổ chức chống Cuba ở Miami về việc “cưỡng chế cấp tị nạn cho Elián”. Sau đó, Thị trưởng hạt Dade (lúc đó vừa đổi tên thành hạt Miami-Dade) là Penelas – một người gốc Cuba – tuyên bố rằng nếu chính phủ liên bang muốn giành lại Elián, chính quyền địa phương sẽ từ chối cung cấp bất kỳ sự hỗ trợ nào, kể cả lực lượng cảnh sát.

 

Như đã đề cập trước đó, hai người bà từng đến Mỹ để “đòi” Elián González đã thuyết phục được Bộ trưởng Tư pháp Janet Reno của chính quyền Clinton. Sau phán quyết của tòa án, Janet Reno đã ra lệnh đưa Elián González trở lại Cuba và ấn định thời hạn cưỡng chế thi hành là ngày 13/4.

 

Tuy nhiên, với sự hậu thuẫn bởi một nhóm đông đảo các “tinh hoa chống Cuba” ở Florida và Miami, gia đình Lázaro đã từ chối hợp tác. Theo các bằng chứng hiện có, gia đình Lázaro thực chất không hề giàu có, nhưng với sự bảo trợ của nhóm này, họ đã huy động được một cách khó tin một nhóm đông đảo các phần tử xã hội đen, những kẻ hữu khuynh vũ trang và những kẻ cuồng tín túc trực ngày đêm bên ngoài nhà Lázaro để “kháng nghị”. Họ yêu cầu chính phủ liên bang “giữ lại” quyền giám hộ của Lázaro, đảm bảo rằng không đưa đứa trẻ trở về Cuba, không đưa đứa trẻ rời khỏi Miami (họ cho rằng Cuba – lúc đó còn chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ – sẽ cử các nhà ngoại giao đến “bắt cóc” cậu bé), và đã đối đầu với lực lượng đặc nhiệm liên bang trong suốt hơn một tuần.

 

Do cảm quan về sự việc dần trở nên giống như một vụ bắt giữ con tin, cuối cùng, với sự phê chuẩn trực tiếp từ Clinton, rạng sáng ngày 22/4/2000, chính phủ liên bang Mỹ đã điều động hơn 130 nhân viên đặc nhiệm liên bang và đặc vụ di trú, phát động một cuộc đột kích mà về hình thức khá tương đồng với chiến dịch “bắt cóc Maduro” năm nay: Đầu tiên, lực lượng đặc nhiệm giải tán hơn 20 phần tử chống Cuba có vũ trang đang chặn cửa nhà để “kháng nghị”; sau đó, các đặc vụ vũ trang thuộc hệ thống biên phòng phá cửa xông vào, giành lấy Elián từ tay nhóm người thân ở Miami, rồi lập tức dùng chuyên cơ đưa cậu bé tới Căn cứ Không quân Andrews ở Washington để bàn giao cho Juan Miguel – người đã bay từ Cuba sang Mỹ từ trước để đón con.

 

Nhiều người lầm tưởng rằng vụ việc này đã kết thúc sau khi bức ảnh đặc nhiệm Mỹ bế Elián được công bố. Trên thực tế, sau khi hoàn tất việc “giành người”, Elián vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội và cảnh sát Mỹ. Để đưa cậu bé trở về Cuba, Juan Miguel và chính phủ Cuba đã phải tiếp tục đấu tranh với nhóm họ hàng tại Miami thêm hơn hai tháng, cho đến khi đối phương cạn kiệt mọi chiêu trò cả về pháp lý lẫn tuyên truyền.

 

Vào ngày 22/4, luật sư người Mỹ của Juan Miguel là Craig đã công bố bức ảnh gia đình Elián đoàn tụ hạnh phúc (tại Căn cứ Không quân Andrews).

 

Tuy nhiên, nhóm họ hàng của Elián ở Miami (nhánh Lázaro) không thể tin rằng cậu bé mà họ đã nuôi dưỡng suốt 5 tháng lại có thể nở nụ cười sau khi trở về với “gia đình nguyên sinh cộng sản tà ác” của mình. Marisleysis – cô họ của Elián đã nhắc đến ở trên – ngay trong ngày hôm đó đã mua vé máy bay tới Washington và triệu tập truyền thông xuyên đêm để đưa ra một tuyên bố gây sốc: Bức ảnh trên là sự ngụy tạo của Clinton và Đảng Cộng sản Cuba. Đứa trẻ trong ảnh có “đường chân tóc quá đẹp”, trang phục cũng không giống với Elián khi cậu bé bị đưa đi, nên rõ ràng không phải là Elián; hơn nữa, theo “lẽ thường” thì không một đứa trẻ Cuba nào có thể mỉm cười sau khi đã đến Mỹ rồi lại nghe tin mình sẽ bị đưa trở lại Cuba, do đó đứa trẻ đang mỉm cười kia chắc hẳn là một “diễn viên nhí” được chính phủ Cuba đưa sang để diễn trò!

 

Để “vạch trần sự thật”, Marisleysis đã tìm đến một thượng nghị sĩ cực hữu cuồng tín có tên Bob Smith – người đã dẫn dắt cô thực hiện một màn trình diễn “xông thẳng vào Căn cứ Không quân Andrews”, nhưng đã lập tức bị cảnh vệ đuổi ra ngoài.

 

Tất nhiên, cũng giống như “thuyết âm mưu bà ngoại đào tẩu” trước đó, thuyết âm mưu mới do gia đình ở Miami tung ra này đã nhanh chóng bị Joan Campbell – nữ tu người Mỹ tham gia đón tiếp gia đình ở Cuba – và Cục Di trú Mỹ bác bỏ. Ngay cả tờ Miami Herald – vốn có lập trường nghiêng mạnh về phía chống Cuba – cũng thừa nhận rằng các biên tập viên hình ảnh kỹ thuật số của họ không tìm thấy bất kỳ dấu vết cắt ghép nào trong bức ảnh.

 

Để ủng hộ gia đình Juan Miguel, Đảng và chính phủ Cuba một mặt tổ chức nhiều cuộc tuần hành quần chúng quy mô lớn trong nước để thị uy với Mỹ, mặt khác lấy lý do “bảo đảm việc học tập của Elián” để đưa giáo viên tiểu học và bạn cùng lớp của cậu từ Cuba sang Mỹ để cùng học tập với cậu. Họ thậm chí còn mang cho cậu cả khăn quàng đỏ (chú thích: màu khăn thực tế là màu xanh lam đại diện cho cấp thấp, Đội thiếu niên Tiền phong Cuba phỏng theo mô hình Đông Đức, chia làm hai giai đoạn theo độ tuổi). Diễn ngôn mới “đội viên Thiếu niên Tiền phong Elián do bị một nhóm người gây chuyện nên buộc phải lưu lại thủ đô Mỹ để học đuổi chương trình” đã thâm nhập vào dòng dư luận chủ lưu nói tiếng Anh tại Mỹ và đã thành công trong việc làm suy yếu hiệu quả của tuyên truyền đối lập. Đến ngày 1/6, Tòa án Phúc thẩm Mỹ phán quyết rằng gia đình ở Miami không đủ tư cách pháp nhân để tiếp tục khởi kiện. Vào ngày 28/6, Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ đơn kháng cáo cuối cùng, và ngay trong ngày hôm đó, Elián cùng với cha mẹ, anh trai, giáo viên và bạn cùng lớp đã bay trở lại Havana trên chuyên cơ do chính phủ Cuba thuê.

 

“Sự phân cực chính trị kiểu Mỹ”: “Xã hội người Cuba” thời Elián và hệ sinh thái chính trị nền tảng của nó

 

Em yêu dấu, lâu rồi không gặp! Cuba dạo này thế nào? Mà này, hai ta nói tiếng Anh làm gì, cứ dùng thứ tiếng quê hương của mình đi. Cho anh biết, dạo này em thế nào? Đã tìm thấy hạnh phúc chưa? Anh sống rất tốt ở đây, còn em thì sao? Em ổn chứ?

 

Em đang khóc ở Miami, còn anh thì đang tự tại ở Havana; Miami không có khách sạn Capri, không có vũ công của Tropicana. Này em yêu, anh quyết ở lại đây, sẽ không rời bỏ nơi này…” (Havana tự tại – ca khúc thịnh hành năm 2012 của Cuba, do Carlos the Jackal/“El Chacal” thể hiện).

 

Việc người viết dành nhiều dung lượng để tái hiện chi tiết vụ việc Elián là nhằm cung cấp một nền tảng thông tin đủ vững chắc để trả lời câu hỏi đã đặt ra ở đầu bài: Làm thế nào để đánh giá lòng trung thành của người Cuba? Dù trong hơn 20 năm qua, nền tảng này và “hệ sinh thái chính trị” tương ứng đã có những bước phát triển và thay đổi, nhưng những quy luật cơ bản thì vẫn hoàn toàn có thể áp dụng.

 

Theo người viết, ngay từ năm 2000, “hệ sinh thái biên giới Cuba – Mỹ” đã sở hữu những đặc điểm có sự khác biệt rõ nét so với các đường biên đối địch ý thức hệ thời Chiến tranh Lạnh khác như Vĩ tuyến 38, Bức tường Berlin hay Phố Anh – Trung (Hồng Kông – Thâm Quyến):

 

1) Tồn tại một “xã hội người Cuba (nghĩa rộng)” vượt khỏi Cuba và cộng đồng người nói tiếng Tây Ban Nha ở Nam Florida, Mỹ

 

Như đã phân tích ở phần trước, ngay từ cuối những năm 1990, tỷ lệ người Cuba có người thân và bạn bè ở Mỹ là rất cao, gần như bất kỳ ai cũng có thể duy trì liên lạc thường xuyên với họ hàng ở Mỹ, ngoài ra còn có cả những “kẻ dẫn đường” như bạn trai mới của Elizabeth.

 

Điều này có nghĩa là:

 

1.    Người dân Cuba bình thường hiểu rất rõ về cuộc sống tại Mỹ: Cả ở mặt tích cực so với Cuba, đó là mức lương cực cao, hàng hóa phong phú, điện lực ổn định và triển vọng nghề nghiệp đầy hứa hẹn cho giới trẻ (người viết nhấn mạnh ở đây rằng, đây là so với Cuba; tình hình ở Cuba khác với Trung Quốc, độc giả không nên áp đặt từ trải nghiệm cá nhân). Và cả ở mặt tiêu cực so với Cuba, đó là những khó khăn mà tầng lớp lao động cấp thấp phải đối mặt, ít nhất thì thế hệ nhập cư đầu tiên gần như không thể tiếp cận dịch vụ y tế hay giáo dục đại học chính quy, kèm theo đó là sự thiếu hụt cơ chế bảo hiểm rủi ro cho tầng lớp trung lưu (tức là một “ngưỡng chết”, trong khi cần lưu ý rằng mạng lưới an sinh xã hội của chính Cuba hiện cũng không ổn định). Như đã đề cập ở phần trước, Juan Miguel – người đã lựa chọn ủng hộ Đảng Cộng sản Cuba – là một nhân viên tham gia hằng ngày vào việc duy trì “thế giới hoa lệ” cho khách du lịch châu Âu và Canada – điều mà bản thân anh không thể tận hưởng. Thế nhưng điều đó không hề khiến Juan Miguel nảy sinh dù chỉ một chút ý định đào thoát ra nước ngoài.

 

2.    Văn hóa dân gian phi chính trị của Mỹ (bao gồm dòng chủ lưu nói tiếng Anh và cộng đồng người Mỹ gốc Cuba nói tiếng Tây Ban Nha), từ các lễ hội âm nhạc và giải bóng chày đến ẩm thực và các xu hướng thời trang, lan tỏa vào xã hội Cuba một cách tự nhiên và liên tục. Ví dụ, món “bánh mì kẹp Cuba” nổi tiếng ở Mỹ và Mexico thực chất chỉ mới “du nhập ngược” về Cuba từ Mỹ trong khoảng 10 năm trở lại đây theo sự trỗi dậy của ngành ăn uống tư nhân ở Cuba; giải Grammy của Mỹ luôn có sức hấp dẫn rất lớn đối với giới nhạc sĩ chủ lưu Cuba, và Cuba đương đại cũng không kiểm duyệt hay “xóa tên” các nghệ sĩ gạo cội đã rời đi sau cách mạng. Tương tự, các ca khúc thịnh hành, các ngôi sao bóng chày và các yếu tố văn hóa khác của Cuba cũng lan tỏa một cách tự nhiên vào thế giới nói tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ. Chẳng hạn như ca sĩ reggae “El Chacal” được đề cập ở đầu phần này, tuy lời bài hát Havana tự tại (2012) mang sắc thái châm biếm “người đào tẩu”, nhưng điều đó không ngăn ca khúc này được ưa chuộng tại Miami và các khu người Cuba hải ngoại khác, và danh tiếng của bản thân “El Chacal” cũng lan rộng cả trong và ngoài nước.

 

Tất cả những này dẫn đến sự tồn tại của một cộng đồng vượt biên giới, trải rộng khắp Cuba, cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha ở Nam Florida, cộng đồng gốc Cuba ở Quintana Roo (Mexico), và cộng đồng kiều bào Cuba ở Tây Ban Nha. Cộng đồng này có sự tương đồng cao độ về nhận thức bản sắc văn hóa – dân tộc, tách biệt hoặc tách biệt một phần khỏi văn hóa chủ lưu nói tiếng Anh ở Mỹ, và thường xuyên tham gia các hoạt động giao lưu vật chất và thông tin. Hơn nữa, các thành viên của nó cũng không bị phân tách một cách nghiêm ngặt theo quốc tịch. Cộng đồng này có thể được nghiên cứu như một chỉnh thể gọi là “xã hội người Cuba (nghĩa rộng)”.

 

Người viết cho rằng, “phạm vi mở rộng có ý nghĩa” của khái niệm xã hội người Cuba này tại Mỹ chỉ giới hạn ở Miami (Nam Florida) và một phần khu vực đô thị Tampa – nơi tiếng Anh không phải ngôn ngữ phổ biến trong cộng đồng. Ngoại trưởng Mỹ đương nhiệm Marco Rubio (gốc Cuba, sinh ra ở khu vực này, nhưng gia đình ông thông thạo tiếng Anh và có thể di chuyển linh hoạt giữa các tiểu bang) có thể tạm coi là một phần của cộng đồng này; trong khi Thượng nghị sĩ bang Texas Ted Cruz (cũng gốc Cuba, nhưng sinh ra trong một gia đình song ngữ giàu có ở Canada) lại là một “người Cuba thượng lưu” thuần túy, gần như không có chung ngôn ngữ với toàn bộ cộng đồng này.

 

2) Bên trong “xã hội Cuba” như một chỉnh thể này tồn tại sự chia rẽ sâu sắc về nhận thức chính trị

 

Thứ nhất, rõ ràng có những người Cuba thực sự ủng hộ Đảng Cộng sản Cuba và không có ý định ở lại Mỹ.

 

Juan Miguel, mẹ anh, người vợ sau của anh, giáo viên tiểu học của Elián và mẹ của Elizabeth đều được chính phủ Cuba đưa sang Mỹ. Vào thời điểm đó, Cuba và Mỹ chưa thiết lập quan hệ ngoại giao và họ hoàn toàn có thể tùy ý xin tị nạn ở Mỹ, nhưng điều đó đã không xảy ra.

 

Thứ hai, ở Miami cũng có những người Mỹ gốc Cuba tin rằng Cuba tốt hơn Mỹ (ít nhất là đối với Elián).

 

Manuel – người chú làm thợ sửa xe buýt trường học của Juan Migue – chính là một ví dụ điển hình. Ngoài ra vào thời điểm đó, Đảng Cộng sản Cuba đã phát triển được ít nhất một mạng lưới ngầm trong Cục Di trú Mỹ (chính là người bị phát hiện mà đã đề cập ở trên). Trên thực tế, Cuba đã sớm thâm nhập sâu vào bộ máy cấp liên bang Mỹ, và thậm chí đến nay, họ vẫn đang vận hành một vài hệ thống hậu cần ở Miami mà các bên thường “nhắm một mắt, mở một mắt”.

 

Thứ hai, trên đảo Cuba cũng tồn tại hai nhóm người không đồng tình với Đảng Cộng sản Cuba: Những người muốn tự mình đến Mỹ và những người qua lại giữa Mỹ và Cuba để làm ăn.

 

Điều khiến Cuba khác biệt so với các nước xã hội chủ nghĩa Á – Âu khác là, kể từ đầu thế kỷ 21 đến nay, môi trường dư luận ở Cuba cách mạng luôn rất cởi mở. Không chỉ có các nhóm đối lập chính trị công khai trong quần chúng, mà ở cấp độ chính thức còn có cả trang web Tranh luận Cuba. Cộng với sự trỗi dậy của kinh tế tư nhân và việc Raúl nới lỏng hoàn toàn quyền xuất cảnh cho công dân vào năm 2013, những người Cuba không tin vào chủ nghĩa cộng sản hay không thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba có thể trực tiếp rời khỏi đất nước, hoặc vừa lĩnh khẩu phần lương thực trợ cấp, vừa công khai chỉ trích đích danh Raúl và Díaz-Canel mà không cần phải giả vờ ủng hộ họ.

 

Do đó, phần lớn người thuộc hai nhóm này luôn lộ diện công khai ở Cuba, và mối quan hệ giữa họ với những người ủng hộ Đảng Cộng sản Cuba rất giống mối quan hệ giữa hai khối cử tri cơ sở của hai đảng lớn ở Mỹ: Công khai không ưa nhau nhưng vẫn chấp nhận sống chung. Cặp vợ chồng “đã ly hôn nhưng vẫn sinh con” Juan Miguel và Elizabeth chính là ví dụ hoàn hảo cho mối quan hệ này.

 

Cuối cùng, lấy nhánh gia đình Lázaro, Thị trưởng hạt Miami-Dade khi đó, cùng các tổ chức hoạt động chính trị ở Nam Florida làm đại diện, có thể thấy các chính trị gia chính thống xuất thân từ cộng đồng người Mỹ gốc Cuba đều rất chống Cuba.

 

Một khi những người này tham gia vào chính trị, bất kể họ nghiêng về Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa ở Mỹ, nhận thức chính trị của họ về Đảng Cộng sản và hệ tư tưởng Marx – Lenin đều trở nên cực kỳ cực đoan (vượt xa người dân Mỹ bình thường ở khu vực nói tiếng Anh mà vốn không mấy quan tâm đến chính trị). Họ coi việc lật đổ Đảng Cộng sản Cuba và chính phủ cách mạng như một kiểu “sứ mệnh đạo đức”, tuyệt đối không thỏa hiệp vì lợi ích kinh tế, và hoàn toàn từ chối bất kỳ diễn ngôn nào có lợi cho Đảng Cộng sản Cuba, thậm chí sẵn sàng đổi trắng thay đen không chút do dự.

 

Những hành động chống Trung Quốc điên rồ của Rubio sau khi lên nắm quyền chỉ là biểu hiện chân thực của bản sắc “gia truyền” của cộng đồng này. Khi đến Miami, bản thân người viết cũng từng chú ý thấy rằng, ít nhất là cho tới năm 2024, sân bay quốc tế Miami vẫn không treo quốc kỳ năm sao của Trung Quốc hay cờ đỏ sao vàng của Việt Nam, mà thay vào đó là treo cờ ngụy của tập đoàn Tưởng Giới Thạch và cờ ba sọc của tập đoàn Bảo Đại.

 

3) Kể từ năm 1978, sự chia rẽ này không lấy biên giới và quốc tịch làm ranh giới phân chia rõ ràng

 

Do tỷ lệ người Cuba có họ hàng hoặc bạn bè ở Mỹ là rất cao, nên việc một công dân Cuba có “quan hệ hải ngoại” hay không hầu như không liên quan đến việc người đó có phải là người cộng sản hay có ủng hộ cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba hay không. Trên thực tế, chính anh em nhà Castro cũng có rất nhiều anh chị em phản cách mạng sống tại Mỹ.

 

Đồng thời, cần phải chỉ ra một sự thật trái ngược với định kiến: Không phải tất cả người Mỹ gốc Cuba đều chống Đảng Cộng sản. Vào những năm 1960, một số kẻ cực đoan đã lợi dụng con đường nhập cư hợp pháp để đưa hàng loạt trẻ em xuất thân từ các gia đình trung lưu Cuba sang Mỹ, nhưng không cho chúng đoàn tụ với cha mẹ ruột. Những “đứa trẻ Peter Pan” này lớn lên trong môi trường phân biệt chủng tộc và bắt nạt ở Mỹ những năm 1960, và chịu sự bài xích của cánh hữu da trắng. Dưới ảnh hưởng của bầu không khí nổi loạn cánh tả thời Phong trào Dân quyền, nhiều người trong số họ đã nảy sinh tình cảm ngưỡng mộ đối với quê hương xa xôi và cuộc cách mạng mà họ gần như không còn ký ức. Sau đó, họ thành lập “Lữ đoàn Antonio Maceo” (Brigada Antonio Maceo), và vào tháng 12/1977, họ đã lần đầu tiên thành công trong việc cử 55 người trở về thăm Cuba cách mạng, và đến nay vẫn là một lực lượng quan trọng đối với Đảng Cộng sản Cuba trong việc tìm kiếm sự ủng hộ tại Mỹ.

 

Một mặt, người Mỹ gốc Cuba có thể ủng hộ chính phủ cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo; mặt khác, kể từ thập niên 90, những người phản đối Đảng Cộng sản Cuba cũng có thể bị chính phủ Mỹ trả ngược lại Cuba theo chính sách “chân ướt, chân ráo”, buộc phải tiếp tục mang thân phận công dân Cuba. Sau chuyến thăm thành công của Lữ đoàn Maceo đến Cuba năm 1977, Cuba dần cho phép các công dân Mỹ tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản hoặc ủng hộ cách mạng được nhập tịch (Cuba cho phép song tịch). Đến cuối những năm 1990, do khó khăn kinh tế, tầm quan trọng của kiều hối từ người Mỹ gốc Cuba đối với tài chính quốc gia tăng lên hằng năm, và việc “kén chọn” quan điểm chính trị của họ cũng dần bị làm nhạt đi. Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau cải cách chính sách và việc sửa đổi Luật Di trú năm 2024, khái niệm “đào tẩu sang Mỹ” thậm chí đã không còn được áp dụng nghiêm ngặt đối với thường dân. Những người Cuba đã đạt được quốc tịch hoặc quyền cư trú lâu dài tại các quốc gia khác (bao gồm cả Mỹ) vẫn có thể giữ quốc tịch Cuba, thậm chí giữ lại bất động sản cũ ở Cuba.

 

Cục diện này khiến cho sự “chia rẽ quan điểm chính trị” nêu trên không thể được phân định một cách đơn giản theo đường biên giới hay hộ chiếu; kiểu suy luận “ai cầm hộ chiếu xanh Cuba là người yêu nước, ai cầm hộ chiếu Mỹ là kẻ đào tẩu” là hoàn toàn không xác đáng ở Cuba.

 

4) Kể từ năm 1980, sự chia rẽ này cũng không còn được phân chia rõ ràng theo địa vị kinh tế (thuộc tính giai cấp)

 

Như chúng ta đã thấy ở phần trước, Elizabeth – mẹ của Elián, người chọn “tìm đến tự do” – không hề có người thân tại Mỹ (nghĩa là không có nguồn kiều hối), điều kiện kinh tế cũng chẳng hề khá giả và đã tham gia vào một cuộc vượt biên đầy mạo hiểm.

 

Trước sự kiện vượt biên quy mô lớn tại cảng Mariel năm 1980, những người Cuba lưu vong, ngay cả ở Mỹ, cũng bị coi là tàn dư của giới mại bản cùng các thế lực tay sai cho chế độ độc tài. Các thế lực thân Cuba ở Mỹ thời bấy giờ (chẳng hạn như Brigada Venceremos) thậm chí còn ngầm mặc định rằng “tất cả người Mỹ gốc Cuba đều là những kẻ phản cách mạng” – chính sự “phân biệt đối xử dựa trên xuất thân tả khuynh” này đã dẫn đến sự hình thành của Lữ đoàn Maceo nêu trên. Tuy nhiên, sau sự kiện Mariel và cho đến thời của Elián, những người “rời bỏ Cuba” dần trở thành những người nghèo ở tầng lớp đáy có lập trường chính trị chống Đảng Cộng sản Cuba, và tính chất của họ về cơ bản chuyển thành di dân kinh tế núp dưới danh nghĩa “trốn khỏi chủ nghĩa cộng sản”.

 

Sau khi đại dịch COVID-19 bùng phát, những người rời Cuba tiếp tục diễn biến thành hai nhóm: Tầng lớp nghèo nhất không thể đáp ứng nhu cầu sinh tồn cơ bản (do phong tỏa vì dịch bệnh…), và “tầng lớp trung lưu mới” rời Cuba hợp pháp bằng đường bay miễn thị thực sang Nicaragua. Sau khi đến Mỹ, những người này đã hình thành cộng đồng riêng, hầu như không cố gắng hòa nhập vào xã hội nói tiếng Anh, và vẫn giữ lối sống cùng thói quen “Sociolism” mà đã hình thành trong thời Cuba kinh tế kế hoạch hóa, không khác mấy so với mô thức hành vi của người nhập cư bất hợp pháp đến từ các quốc gia Mỹ Latinh khác. Hiện nay, khó có thể nói rằng người Mỹ gốc Cuba nhất định là tầng lớp tinh hoa bóc lột bị tước tài sản trong thời Batista hay hậu duệ của họ.

 

Tổng kết

 

Câu chuyện của Elián là hình ảnh thu nhỏ về cuộc đấu tranh nội bộ giữa hai nhóm “người Cuba” trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh – những người chia sẻ bản sắc văn hóa và lịch sử chung nhưng lại bị chia rẽ sâu sắc về tư tưởng và quan điểm chính trị. Cha mẹ của Elián – những người cùng nhau cấu thành nên dân tộc Cuba ngày nay – lại đang tranh giành quyền giám hộ thế hệ tiếp theo một cách quyết liệt và cực đoan.

 

Hai nhóm người với hệ tư tưởng đối lập này cùng tồn tại trong một không gian “cộng đồng tưởng tượng” – nơi mà cơ sở kinh tế bị ngăn cách nhưng kiến trúc thượng tầng lại thông suốt và có thể quan sát lẫn nhau. Lực lượng chống Đảng Cộng sản Cuba có một khối cử tri cơ bản rất lớn, có tiếng nói và tiềm lực kinh tế, trong khi Đảng Cộng sản Cuba cũng sở hữu một khối cơ sở quần chúng đông đảo, chân thực và có mức độ trung thành khá cao. Với cục diện này, người viết có niềm tin khá lớn vào sự thuần khiết ngắn hạn của Đảng Cộng sản Cuba. Người viết không cho rằng chính quyền Trump có thể dễ dàng tái hiện một chiến dịch quân sự kiểu “đột kích Venezuela” tại Cuba, chí ít là không tin rằng họ có thể dễ dàng tìm được nội gián hay người đại diện cấp cao trong nội bộ Cuba.

 

Trên thực tế, trong vụ việc Elián xảy ra năm 2000, Đảng Cộng sản Cuba và chính phủ Cuba cho đến nay đã giành được thắng lợi: Elián đã được bồi dưỡng thành một đảng viên cộng sản trung thành, thậm chí năm 2023 còn được bầu làm đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, về dài hạn, một “môi trường ý thức hệ” mang tính “phân cực kiểu Mỹ” như vậy rất không ổn định và không thể kéo dài mãi. Đối với Đảng Cộng sản Cuba, đó là một sợi dây bị kéo căng quá mức và chưa từng được nghỉ ngơi; một khi gặp phải những cú sốc ngoại sinh mới như biến động kinh tế, sự phát triển của nó sẽ trở nên vô cùng khó lường.

 

Để Cách mạng Cuba có thể tiếp tục tồn tại và vượt qua được trở ngại lớn cuối cùng trước khi cục diện Tây Bán cầu xảy ra biến động lớn, đã đến lúc cơ sở kinh tế của nó phải được cải thiện bằng mọi giá.