Thursday, January 22, 2026

MONG CHỜ GÌ Ở ĐẠI HỘI ĐẢNG CSVN LẦN THỨ 14? (Đặng Đình Mạnh / Người Việt Online)

 



Mong chờ gì ở đại hội đảng CSVN lần thứ 14?

Đặng Đình Mạnh

January 22, 2026 : 2:17 PM

https://www.nguoi-viet.com/tin-chinh/mong-cho-gi-o-dai-hoi-dang-csvn-lan-thu-xiv/

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của đảng Cộng Sản Việt Nam, diễn ra từ ngày 19 Tháng Giêng, 2026. Tuy nhiên, dưới con mắt của những người dân đã quá quen thuộc với các kịch bản cũ, đây chỉ là một sự kiện chính trị mang tính trình diễn nhằm củng cố quyền lực cho một nhóm lợi ích.

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/01/VN-dai-hoi-dang-14-maytinhbang-NhacNguyen-AFP-012026-1920x1280.jpg

Đảng viên “đại biểu” được lựa chọn tham dự đại hội đảng lần thứ XIV ở Hà Nội. (Hình: Nhạc Nguyễn/AFP/Getty Images)

 

Trong một hệ thống độc đảng, quyền bầu cử chỉ là hình thức, tại đó, sự hoài nghi đã thay thế hoàn toàn cho kỳ vọng. Hơn ai hết, người dân hiểu rằng, các kỳ đại hội đảng như thế này không hề dành cho họ, cho dù những người được bầu lên từ các kỳ đại hội lại nắm giữ tương lai của họ, của con cháu họ và vận mệnh của cả một đất nước.

 

Bối cảnh – 50 năm của những lời hứa hão và thực trạng tụt hậu

 

Sau nửa thế kỷ dưới sự dẫn dắt độc tôn của chế độ Cộng Sản, Việt Nam vẫn loay hoay trong tình trạng tụt hậu so với các lân bang. Những “thành tựu” kinh tế được ca ngợi thực chất là sự đánh đổi bằng việc vắt kiệt tài nguyên, tàn phá môi trường và biến người dân thành lao động giá rẻ cho tư bản nước ngoài.

 

Đảng đã từng hứa hẹn về một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, nhưng thực tế lại là sự xói mòn về khí chất dân tộc và sự bóp nghẹt các quyền tự do cơ bản. Người dân nhận ra một nghịch lý cay đắng: Đảng càng hứa hẹn nhiều, sự thực thi lại càng ít đi, hoặc đơn giản là đảng không có khả năng thực hiện những gì họ hứa hẹn. Quyền lực tập trung tuyệt đối đã tước đoạt quyền tự quyết vận mệnh dân tộc của hơn 100 triệu đồng bào.

 

Những “mong chờ” trong bóng tối của sự hoài nghi

 

Sự quan tâm của dư luận đối với Đại Hội 14 không xuất phát từ niềm tin vào sự đổi mới, hoặc cải cách gì cả, mà là từ sự chán chường trước một thực trạng bế tắc:

 

-Về nhân sự: Chỉ là bình mới rượu cũ và kết quả thanh trừng phe phái

 

Thay vì kỳ vọng vào những lãnh đạo có tâm có tầm, được cân nhắc, quyết định bằng chính lá phiếu bầu cử tự do của nhân dân, thì thực tế, nhân dân chỉ còn là khán giả, đứng bên lề mọi cuộc bầu cử để đưa ra những lãnh đạo nắm giữ vận mệnh đất nước và tương lai của dân tộc.

 

Trước kỳ đại hội, thậm chí từ năm 2024, nhân dân chỉ nhìn thấy nền chính trị Việt Nam như một đấu trường của các phe nhóm chính trị trong đảng. Trong đó, sự thay đổi nhân sự không nhằm mục đích phục vụ nhân dân, mà là sự sắp xếp ghế ngồi thông qua sự tương nhượng, thỏa hiệp để bảo vệ lợi ích nhóm và thanh trừng đối thủ dưới danh nghĩa chống tham nhũng.

 

Trong bối cảnh đó, hầu như nhân dân không hề có niềm tin về bất kỳ gương mặt “cải cách” nào trong hệ thống chính trị hiện nay cả. Bởi hệ thống này sẽ tự đào thải bất kỳ ai có ý định thay đổi bản chất độc tài của nó.

 

-Cải cách kinh tế – Miếng bánh vẽ cho các nhóm thân hữu

 

Các chính sách cải cách được đề ra, vốn là phao cứu sinh để đảng duy trì sự độc tài nay đã chạm ngưỡng giới hạn. Các thông điệp về “phát triển kinh tế số” hay “chống tham nhũng” chỉ còn là những khẩu hiệu trống rỗng. Người dân đã quá mệt mỏi với việc tham nhũng khi chúng đã trở thành bản chất của chế độ, là “máu trong huyết quản” của bộ máy. Họ hiểu rằng, những cải cách sắp tới, nếu có, cũng chỉ nhằm vỗ béo cho các doanh nghiệp sân sau và giới “tinh hoa” chính trị. Trong khi đó, gánh nặng nợ công và lạm phát vẫn đè nặng lên vai người lao động.


https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/01/VN-HRW-12-nguoi-bi-tu-HRW-100323.jpg

Chế độ Hà Nội ngày càng siết chặt nhân quyền. Bất cứ ai đòi hỏi dân chủ, đa nguyên đa đảng, tự do nghiệp đoàn, ngôn luận, báo chí, đều bị bỏ tù tại Việt Nam. (Hình: HRW)

 

Sự tuyệt vọng cùng cực và khát khao thay đổi thực thụ

 

Đối với một bộ phận không nhỏ dân chúng, Đại Hội 14 là minh chứng rõ nhất cho sự bất lực của chế độ trong việc tự chuyển hóa. Sự hoài nghi đã chuyển thành sự tuyệt vọng. Họ không còn trông chờ vào bất kỳ văn kiện hay nghị quyết nào của đảng Cộng Sản sẽ mang lại điều tích cực, lạc quan về một sự thay đổi.

 

Kỳ vọng duy nhất, dù âm thầm hay công khai, là sự sụp đổ của một hệ thống đã lỗi thời và không còn khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của thời đại. Họ nhận ra rằng, chừng nào đảng còn giữ độc quyền quyền lực, thì tự do và phẩm giá của người dân vẫn sẽ chỉ là những khái niệm xa xỉ trên mặt báo.

 

Đại Hội 14 thực chất là một buổi tổng kết nội bộ của một tổ chức đang cố gắng níu kéo sự tồn tại của mình bất chấp sự phản kháng công khai hoặc ngầm trong xã hội. Giữa những tràng pháo tay và những lời hứa bóng bẩy trên sân khấu đại hội là một khoảng cách mênh mông với thực tại đầy rẫy bất công và sự phẫn uất của người dân.

 

Sau tất cả, điều cốt lõi còn sót lại không phải là niềm tin vào đảng, mà là khát khao mãnh liệt của người dân Việt Nam về một tương lai mà ở đó, họ không còn bị lừa dối bởi những lời hứa suông và được thực sự cầm lái vận mệnh của chính mình. [kn]

 

 




TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG CANADA MARK CARNEY TẠI DAVOS (Hiệu Minh / Báo Tiếng Dân)

 



Toàn văn phát biểu của Thủ tướng Canada Mark Carney tại Davos

Hiệu Minh 

21/01/2026

https://baotiengdan.com/2026/01/21/toan-van-phat-bieu-cua-thu-tuong-canada-mark-carney-tai-davos/

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/01/1-82.jpg

Thủ tướng Canada Mark Carney phát biểu tại Davos. Nguồn: World Economic Forum

 

Đêm qua (20/01/2026) tại Diễn đàn Kinh tế Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã có bài phát biểu mang tính định hình thời đại. Bài dài nhưng đáng đọc đến cuối.

 

“Bạn không thể “sống trong lời nói dối” về lợi ích chung thông qua hội nhập khi hội nhập trở thành nguồn gốc của sự lệ thuộc của bạn.”

 

Một quốc gia tầm trung như Việt Nam giống Canada nên tham khảo.

 

Dưới đây là toàn văn bài phát biểu.

               

                                                       ***

 

“Thật là một niềm vui – và cũng là một nghĩa vụ – khi được ở bên cạnh các bạn vào thời điểm bước ngoặt này đối với Canada và thế giới.

 

Hôm nay, tôi sẽ nói về sự đổ vỡ trong trật tự thế giới, sự kết thúc của một câu chuyện hay, và sự khởi đầu của một thực tế tàn khốc, nơi địa chính trị giữa các cường quốc không bị ràng buộc bởi bất kỳ giới hạn nào.

 

Nhưng tôi cũng khẳng định với các bạn rằng các quốc gia khác, đặc biệt là các cường quốc tầm trung như Canada, không phải là bất lực. Họ có khả năng xây dựng một trật tự mới thể hiện các giá trị của chúng ta, như tôn trọng nhân quyền, phát triển bền vững, đoàn kết, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia.

 

Sức mạnh của những người yếu thế hơn bắt đầu từ sự trung thực.

 

Mỗi ngày chúng ta đều được nhắc nhở rằng chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên cạnh tranh giữa các cường quốc. Rằng trật tự dựa trên luật lệ đang phai nhạt. Rằng kẻ mạnh làm những gì họ có thể, và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu.

 

Câu châm ngôn này của Thucydides được trình bày như một điều không thể tránh khỏi – logic tự nhiên của quan hệ quốc tế đang tự khẳng định lại. Và đối mặt với logic này, có một xu hướng mạnh mẽ là các quốc gia sẽ thỏa hiệp để tồn tại. Để nhượng bộ. Để tránh rắc rối. Hy vọng rằng sự tuân thủ sẽ mang lại sự an toàn.

 

Điều đó sẽ không xảy ra.

 

Vậy chúng ta có những lựa chọn nào?

 

Năm 1978, nhà bất đồng chính kiến người Séc Václav Havel đã viết một bài luận có tên là ‘Sức mạnh của những người không có quyền lực’. Trong đó, ông đặt ra một câu hỏi đơn giản: hệ thống cộng sản duy trì sự tồn tại của nó như thế nào?

 

Câu trả lời của ông bắt đầu với một người bán rau quả. Mỗi sáng, người chủ cửa hàng này đều đặt một tấm biển trong cửa sổ của mình: “Công nhân toàn thế giới, đoàn kết!” Ông ta không tin điều đó. Không ai tin điều đó. Nhưng ông ta vẫn đặt tấm biển – để tránh rắc rối, để thể hiện sự tuân thủ, để hòa thuận. Và bởi vì mọi chủ cửa hàng trên mọi con phố đều làm như vậy, hệ thống vẫn tồn tại.

 

Không chỉ bằng bạo lực, mà còn thông qua sự tham gia của những người dân thường vào các nghi lễ mà họ biết rõ là sai trái.

 

Havel gọi đây là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ tính chân thực của nó mà từ sự sẵn lòng của mọi người trong việc hành động như thể nó là sự thật. Và sự mong manh của nó cũng đến từ cùng một nguồn: khi chỉ cần một người ngừng hành động – khi người bán rau gỡ bỏ tấm biển của mình – ảo tưởng bắt đầu rạn nứt.

 

Đã đến lúc các công ty và quốc gia phải gỡ bỏ những tấm biển của họ.

 

Trong nhiều thập kỷ, các quốc gia như Canada đã thịnh vượng dưới cái mà chúng ta gọi là trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Chúng ta đã tham gia các thể chế của nó, ca ngợi các nguyên tắc của nó và hưởng lợi từ tính dễ dự đoán của nó. Chúng ta có thể theo đuổi các chính sách đối ngoại dựa trên giá trị dưới sự bảo hộ của nó.

 

Chúng ta biết rằng câu chuyện về trật tự quốc tế dựa trên luật lệ một phần là sai sự thật.  Rằng kẻ mạnh nhất sẽ tự miễn trừ khi thuận tiện. Rằng các quy tắc thương mại được thực thi một cách bất đối xứng. Và rằng luật quốc tế được áp dụng với mức độ nghiêm ngặt khác nhau tùy thuộc vào danh tính của người bị buộc tội hoặc nạn nhân.

 

Câu chuyện hư cấu này rất hữu ích, và đặc biệt là bá quyền của Mỹ đã giúp cung cấp các hàng hóa công cộng: các tuyến đường biển mở, một hệ thống tài chính ổn định, an ninh tập thể và hỗ trợ các khuôn khổ giải quyết tranh chấp.

 

Vì vậy, chúng ta đã đặt tấm biển lên cửa sổ. Chúng ta đã tham gia vào các nghi lễ. Và phần lớn đã tránh chỉ ra những khoảng cách giữa lời nói suông và thực tế.

 

Thỏa thuận này không còn hiệu quả nữa.

 

Tôi xin nói thẳng: chúng ta đang ở giữa một sự đổ vỡ, chứ không phải một sự chuyển đổi.

 

Trong hai thập kỷ qua, một loạt các cuộc khủng hoảng về tài chính, y tế, năng lượng và địa chính trị đã phơi bày những rủi ro của sự hội nhập toàn cầu cực đoan.

 

đây hơn, các cường quốc bắt đầu sử dụng hội nhập kinh tế như vũ khí. Thuế quan như đòn bẩy. Cơ sở hạ tầng tài chính như sự cưỡng chế. Chuỗi cung ứng như những điểm yếu để bị khai thác.

 

Bạn không thể “sống trong lời nói dối” về lợi ích chung thông qua hội nhập khi hội nhập trở thành nguồn gốc của sự lệ thuộc của bạn.

 

Các thể chế đa phương mà các cường quốc tầm trung dựa vào – WTO, Liên Hợp Quốc, COP – kiến trúc giải quyết vấn đề tập thể – đã bị suy giảm đáng kể.

 

Kết quả là, nhiều quốc gia đang đi đến cùng một kết luận. Họ phải phát triển quyền tự chủ chiến lược lớn hơn: trong năng lượng, lương thực, khoáng sản thiết yếu, tài chính và chuỗi cung ứng.

 

Xu hướng này là dễ hiểu. Một quốc gia không thể tự nuôi sống mình, tự cung cấp nhiên liệu hoặc tự vệ thì có rất ít lựa chọn. Khi các quy tắc không còn bảo vệ bạn, bạn phải tự bảo vệ mình.

 

Nhưng chúng ta hãy nhìn nhận rõ ràng điều này sẽ dẫn đến đâu. Một thế giới của những pháo đài sẽ xuất hiện. nghèo hơn, dễ tổn thương hơn và kém bền vững hơn.

 

Và còn một sự thật khác: nếu các cường quốc từ bỏ ngay cả những quy tắc và giá trị giả tạo để theo đuổi quyền lực và lợi ích của mình một cách không bị cản trở, thì những lợi ích từ “chủ nghĩa giao dịch” sẽ khó nhân rộng hơn. Các cường quốc bá chủ không thể liên tục kiếm tiền từ các mối quan hệ của họ.

 

Các đồng minh sẽ đa dạng hóa để phòng ngừa rủi ro. Mua bảo hiểm. Tăng các lựa chọn. Điều này xây dựng lại chủ quyền – chủ quyền từng được xây dựng trên nền tảng…

 

Các quy tắc vẫn giữ nguyên, nhưng sẽ ngày càng được dựa trên khả năng chịu đựng áp lực.

 

Như tôi đã nói, quản lý rủi ro theo kiểu truyền thống có cái giá của nó, nhưng cái giá của quyền tự chủ chiến lược, của chủ quyền, cũng có thể được chia sẻ. Đầu tư tập thể vào khả năng phục hồi rẻ hơn so với việc mỗi người tự xây pháo đài riêng. Các tiêu chuẩn chung làm giảm sự phân mảnh. Sự bổ sung lẫn nhau tạo nên tổng tích cực.

 

Câu hỏi đặt ra cho các cường quốc tầm trung, như Canada, không phải là liệu có nên thích nghi với thực tế mới này hay không. Chúng ta phải thích nghi. Câu hỏi là liệu chúng ta thích nghi bằng cách đơn giản là xây những bức tường cao hơn – hay liệu chúng ta có thể làm điều gì đó tham vọng hơn.

 

Canada là một trong những quốc gia đầu tiên nghe thấy tiếng chuông cảnh tỉnh, dẫn đến việc chúng ta thay đổi căn bản lập trường chiến lược của mình.

 

Người Canada biết rằng giả định cũ, thoải mái của chúng ta rằng vị trí địa lý và tư cách thành viên liên minh tự động mang lại sự thịnh vượng và an ninh không còn đúng nữa.

 

Cách tiếp cận mới của chúng ta dựa trên điều mà Alexander Stubb gọi là “chủ nghĩa hiện thực dựa trên giá trị” – hay nói cách khác, chúng ta hướng đến sự có nguyên tắc và thực dụng.

 

Chúng tôi kiên định với các giá trị nền tảng: chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cấm sử dụng vũ lực trừ khi phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng nhân quyền.

 

Chúng tôi thực tế khi nhận ra rằng tiến bộ thường diễn ra từng bước, lợi ích khác nhau, và không phải đối tác nào cũng chia sẻ các giá trị của chúng tôi. Chúng tôi đang tham gia một cách rộng rãi, chiến lược và cởi mở. Chúng tôi chủ động đối mặt với thế giới như nó vốn có, chứ không chờ đợi một thế giới mà chúng tôi mong muốn.

 

Canada đang điều chỉnh các mối quan hệ của mình sao cho chiều sâu phản ánh các giá trị của chúng tôi. Chúng tôi ưu tiên sự tham gia rộng rãi để tối đa hóa ảnh hưởng của mình, xét đến tính biến động của trật tự thế giới, những rủi ro mà điều này gây ra và những gì sẽ xảy ra tiếp theo.

 

Chúng tôi không còn chỉ dựa vào sức mạnh của các giá trị mà còn dựa vào giá trị của sức mạnh.

 

Chúng tôi đang xây dựng sức mạnh đó ngay tại quê nhà.

 

Kể từ khi chính phủ của tôi nhậm chức, chúng tôi đã cắt giảm thuế thu nhập, thuế lợi tức vốn và thuế đầu tư kinh doanh, chúng tôi đã loại bỏ tất cả các rào cản liên bang đối với thương mại liên tỉnh và chúng tôi đang đẩy nhanh tiến độ đầu tư một nghìn tỷ đô la vào năng lượng, trí tuệ nhân tạo, khoáng sản quan trọng, các hành lang thương mại mới và hơn thế nữa. Chúng tôi đang tăng gấp đôi chi tiêu quốc phòng vào năm 2030 và đang thực hiện điều đó theo cách xây dựng các ngành công nghiệp trong nước.

 

Chúng tôi đang nhanh chóng đa dạng hóa ở nước ngoài. Chúng tôi đã nhất trí một quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Liên minh châu Âu, bao gồm việc tham gia SAFE, các thỏa thuận mua sắm quốc phòng của châu Âu.

 

Chúng tôi đã ký kết mười hai thỏa thuận thương mại và an ninh khác trên bốn châu lục trong sáu tháng qua.

 

Trong vài ngày qua, chúng tôi đã ký kết các quan hệ đối tác chiến lược mới với Trung Quốc và Qatar.

 

Chúng tôi đang đàm phán các hiệp định thương mại tự do với Ấn Độ, ASEAN, Thái Lan, Philippines, Mercosur.

 

Để giúp giải quyết các vấn đề toàn cầu, chúng tôi đang theo đuổi mô hình liên minh linh hoạt — các liên minh khác nhau cho các vấn đề khác nhau, dựa trên các giá trị và lợi ích.

 

Về vấn đề Ukraine, chúng tôi là thành viên cốt lõi của Liên minh các nước sẵn sàng hợp tác và là một trong những nước đóng góp lớn nhất tính theo đầu người cho quốc phòng và an ninh của nước này.

 

Về chủ quyền Bắc Cực, chúng tôi kiên quyết đứng về phía Greenland và Đan Mạch và hoàn toàn ủng hộ quyền duy nhất của họ trong việc quyết định tương lai của Greenland. Cam kết của chúng tôi đối với Điều 5 là không lay chuyển. Chúng tôi đang hợp tác với các đồng minh NATO (bao gồm cả các nước Baltic Bắc Âu để tăng cường an ninh cho sườn phía bắc và phía tây của liên minh, bao gồm cả thông qua các khoản đầu tư chưa từng có của Canada vào radar tầm xa, tàu ngầm, máy bay và lực lượng bộ binh.

 

Canada kiên quyết phản đối thuế quan đối với Greenland và kêu gọi các cuộc đàm phán tập trung để đạt được các mục tiêu chung về an ninh và thịnh vượng cho Bắc Cực.

 

Về thương mại đa phương, chúng tôi đang ủng hộ các nỗ lực xây dựng cầu nối giữa Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Liên minh châu Âu, tạo ra một khối thương mại mới gồm 1,5 tỷ người.

 

Về khoáng sản thiết yếu, chúng tôi đang thành lập các câu lạc bộ người mua dựa trên G7 để thế giới có thể đa dạng hóa nguồn cung, giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung tập trung.

 

Về trí tuệ nhân tạo (AI), chúng tôi đang hợp tác với các nền dân chủ cùng chí hướng để đảm bảo rằng cuối cùng chúng ta sẽ không bị buộc phải lựa chọn giữa các cường quốc bá chủ và các tập đoàn siêu lớn.

 

Đây không phải là chủ nghĩa đa phương ngây thơ. Nó cũng không phải là dựa vào các thể chế suy yếu. Đó là việc xây dựng các liên minh hiệu quả, giải quyết từng vấn đề một, với các đối tác có đủ điểm chung để cùng hành động. Trong một số trường hợp, đó sẽ là phần lớn các quốc gia.

 

Và Nó đang tạo ra một mạng lưới kết nối dày đặc giữa thương mại, đầu tư và văn hóa, mà chúng ta có thể dựa vào đó để đối phó với những thách thức và nắm bắt cơ hội trong tương lai.

 

Các cường quốc tầm trung phải hành động cùng nhau bởi vì nếu bạn không ngồi vào bàn đàm phán, bạn sẽ trở thành món ăn trên thực đơn.

 

Các cường quốc lớn có thể tự mình hành động. Họ có quy mô thị trường, năng lực quân sự, và đòn bẩy để áp đặt các điều khoản.

 

Các cường quốc tầm trung thì không. Nhưng khi chúng ta chỉ đàm phán song phương với một cường quốc bá chủ, chúng ta đang đàm phán từ thế yếu. Chúng ta chấp nhận những gì được đưa ra. Chúng ta cạnh tranh với nhau để trở thành bên nhượng bộ nhất.

 

Đây không phải là chủ quyền. Đó là việc thể hiện chủ quyền trong khi chấp nhận sự lệ thuộc.

 

Trong một thế giới cạnh tranh giữa các cường quốc lớn, các quốc gia ở giữa có một sự lựa chọn, cạnh tranh với nhau để giành được sự ưu ái hoặc kết hợp để tạo ra một con đường thứ ba có tác động.

 

Chúng ta không nên để sự trỗi dậy của quyền lực cứng làm lu mờ thực tế rằng sức mạnh của tính hợp pháp, tính chính trực và các quy tắc sẽ vẫn mạnh mẽ — nếu chúng ta chọn sử dụng nó cùng nhau.

 

Điều này đưa tôi trở lại với Havel.

 

Sống trong sự thật có nghĩa là gì đối với các cường quốc tầm trung?

 

Nó có nghĩa là gọi tên thực tại. Ngừng viện dẫn “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” như thể nó vẫn hoạt động như quảng cáo. Hãy gọi hệ thống đúng bản chất của nó: một thời kỳ cạnh tranh giữa các cường quốc đang gia tăng, nơi các cường quốc mạnh nhất theo đuổi lợi ích của họ bằng cách sử dụng hội nhập kinh tế như một vũ khí cưỡng chế.

 

Nó có nghĩa là hành động nhất quán. Áp dụng cùng một tiêu chuẩn cho các đồng minh và đối thủ. Khi các cường quốc tầm trung chỉ trích sự hăm dọa kinh tế từ một hướng nhưng lại im lặng khi nó đến từ hướng khác, chúng ta đang giữ nguyên tấm biển cảnh báo.

 

Nó có nghĩa là xây dựng những gì chúng ta tuyên bố tin tưởng. Thay vì chờ đợi trật tự cũ được khôi phục, hãy tạo ra các thể chế và thỏa thuận hoạt động như đã mô tả.

 

Và nó có nghĩa là giảm bớt đòn bẩy cho phép cưỡng chế. Xây dựng một nền kinh tế nội địa vững mạnh luôn phải là ưu tiên hàng đầu của mọi chính phủ. Đa dạng hóa quốc tế không chỉ là sự thận trọng về kinh tế; đó còn là nền tảng vật chất cho chính sách đối ngoại trung thực. Các quốc gia giành được quyền có lập trường nguyên tắc bằng cách giảm thiểu khả năng bị trả đũa.

 

Canada có những gì thế giới mong muốn. Chúng ta là một siêu cường năng lượng. Chúng ta nắm giữ trữ lượng khổng lồ các khoáng sản quan trọng. Chúng ta có dân số được giáo dục tốt nhất thế giới. Các quỹ hưu trí của chúng ta nằm trong số những nhà đầu tư lớn nhất và tinh vi nhất thế giới. Chúng ta có vốn, nhân tài và một chính phủ với năng lực tài chính to lớn để hành động quyết đoán.

 

Và chúng ta có những giá trị mà nhiều quốc gia khác khao khát.

 

Canada là một xã hội đa nguyên hoạt động hiệu quả. Không gian công cộng của chúng ta sôi động, đa dạng và tự do. Người Canada vẫn cam kết với sự phát triển bền vững.

 

Chúng ta là một đối tác ổn định, đáng tin cậy – trong một thế giới không hề ổn định – một đối tác xây dựng và coi trọng các mối quan hệ lâu dài.

 

Canada còn có một điều khác: sự nhận thức về những gì đang xảy ra và quyết tâm hành động phù hợp.

 

Chúng ta hiểu rằng sự đổ vỡ này đòi hỏi nhiều hơn là sự thích nghi. Nó đòi hỏi sự trung thực về thế giới như hiện tại. Chúng ta đang gỡ bỏ tấm biển khỏi cửa sổ.

 

Trật tự cũ sẽ không quay trở lại. Chúng ta không nên than khóc cho nó. Hoài niệm không phải là một chiến lược.

 

Nhưng từ sự đổ vỡ, chúng ta có thể xây dựng nên điều gì đó tốt đẹp hơn, mạnh mẽ hơn và công bằng hơn.

 

Đây là nhiệm vụ của các cường quốc tầm trung, những người sẽ mất nhiều nhất từ một thế giới của những pháo đài và được nhiều nhất từ một thế giới hợp tác thực sự.

 

Những kẻ mạnh có quyền lực của họ. Nhưng chúng ta cũng có thứ gì đó – khả năng ngừng giả vờ, gọi tên thực tế, xây dựng sức mạnh của chúng ta trong nước và hành động cùng nhau.

 

Đó là con đường của Canada. Chúng ta lựa chọn nó một cách công khai và tự tin.

 

Và đó là con đường rộng mở cho bất kỳ quốc gia nào sẵn sàng cùng chúng ta bước đi.

 

 



BÀI MỚI NGÀY 22/01/2026 (Bauxite Việt Nam)

 



Bauxite Việt Nam

NGÀY 22/01/2026

https://boxitvn.blogspot.com/

 .

BÀI MỚI

 

Tham vọng thu tóm Greenland của Trump: Hiện trạng, lược sử và triển vọng

05:07 | Posted by BVN1

Đỗ Kim Thêm

.

Bà ngoại vẫn đang chờ Hồ Duy Hải về nhà

04:57 | Posted by BVN1

LS Ngô Ngọc Trai

.

Thua xứng đáng, không mất niềm tin

04:52 | Posted by BVN1

Tô Văn Trường

 

.

21/01/2026

.

Họ là Trung Quốc

08:16 | Posted by BVN1

Tạ Duy Anh

.

Viết hết ra không… những gì được nghe kể lại?

08:13 | Posted by BVN1

Phan Thúy Hà

.

Đừng dùng ký ức cá nhân để kết tội một tác phẩm văn học

08:07 | Posted by BVN1

Nguyễn Xuân Vượng

.

Cô giáo khiếm thị và cái màn hình Braille

08:04 | Posted by BVN1

Nguyễn Xuân Thọ

.

Niềm tin trước giờ G – tiếng nói của lòng dân

07:56 | Posted by BVN1

Tô Văn Trường

.

20/01/2026

.

Không thể để mất Sông Hậu trong im lặng

08:38  20/01/2026 | Posted by BVN1

Phạm Phan Long, P.E.

.

Xung quanh “hòn Vọng Phu” ở Thanh Hóa (2)

08:21 | Posted by BVN1

Thái Hạo

.

52 năm trước, ngày 19-1-1974

08:15 | Posted by BVN1

Hoàng Dũng

.

19/01/2026

.

Sự thức tỉnh của công lý và trách nhiệm quốc tế (19/1/1974 – 19/1/2026)

08:33 | Posted by BVN4

Lê Thân – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng

.

Đại hội XIV của Việt Nam: Quyền lực, cải cách và thế hệ chính trị kế tiếp

08:11 | Posted by BVN4

Nguyễn Khắc Giang

 .

18/01/2026

 

 

 

 

 


BÀI MỚI NGÀY 22/01/2026 (Báo Tiếng Dân)

 



Báo Tiếng Dân

NGÀY 22/01/2026

https://baotiengdan.com/  

 

BÀI MỚI

 

Ông Giang và phe Quân đội đã chơi dao và bị đứt tay

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh  -  22/01/2026

.

Nói lại câu chuyện áo, quần và vị thế của luật sư

Ngô Anh Tuấn  -  22/01/2026

.

Nhớ Lê Hiếu Đằng

Bùi Chí Vinh  -  22/01/2026

.

Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Tư bản

Hiệu Minh   -  22/01/2026

.

Đại hội XIV và nghịch lý đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên an ninh hóa

Hoàng Trường  -  22/01/2026

.

Càng ngày, Trump càng giống … Trung Quốc

Nguyễn Hoàng Văn  -  22/01/2026

.

21/01/2026

.

Toàn văn phát biểu của Thủ tướng Canada Mark Carney tại Davos

Hiệu Minh  -  21/01/2026

.

Vì sao căng thẳng Bắc – Nam vẫn âm ỉ trong xã hội Việt Nam?

Nguyễn Anh Tuấn  -  21/01/2026

.

Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Nguyễn Quốc Khải   -  21/01/2026

.

Kenneth Rogoff: “Nhiều người ở Mỹ hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra”

Spiegel  -  Michael Brächer phỏng vấn Kenneth Rogoff  -  Nguyễn Văn Vui chuyển ngữ   -  21/01/2026

.

20/01/2026

.

Khi hòa bình trở thành sân khấu và kẻ xâm lược trở thành khách mời danh dự

Trung Ngôn  -  20/01/2026

.

Hòa bình sẽ bền vững đến đâu khi được thiết kế như một thương hiệu chính trị cá nhân?

Trúc Lam  -  20/01/2026

.

Hồ Duy Hải là một chàng trai yêu đời

Ngô Ngọc Trai  -  20/01/2026

.

Họ là Trung Quốc

Tạ Duy Anh  -  20/01/2026

.

5,6 triệu đảng viên; 9,5 triệu cán bộ và 100 triệu chúng dân

Tâm Chánh  -  20/01/2026

.

19/01/2026

.

Trump gửi thư cho Thủ tướng Na Uy: Do không được giải Nobel Hòa bình nên sẽ lấy Greenland

BBT Tiếng Dân  -  19/01/2026

.

Ý nghĩa của bài diễn văn “Tôi đã lên đến đỉnh núi”

Trần Quốc Sĩ  -  19/01/2026

 

 

 

 



TIN & BÀI NGÀY 21/01/2026

 



 

TIN & BÀI NGÀY 21/01/2026

 

 

21/01/2026

CÔNG CỤ CHỐNG CƯỠNG ÉP THƯƠNG MẠI CỦA LIÊN ÂU và HIỆU QUẢ (Minh Phương / RFI)

BẢO VỆ GROENDLAND và ĐAN MẠCH : RẮC RỐI PHÁP LÝ VỀ DIỀU KHOẢN PHÒNG THỦ CHUNG CỦA LIÊN HIỆP CHÂU ÂU (Thanh Phương / RFI)

THAM VỌNG GREENLAND CỦA TRUMP : HIỆN TRẠNG, LƯỢC SỬ và TRIỂN VỌNG (Đỗ Kim Thêm / Bauxite Việt Nam)

KHÔNG THỂ ĐỂ MẤT SÔNG HẬU TRONG IM LẶNG (Phạm Phan Long, P.E. / Bauxite Việt Nam)

CANADA MÔ PHỎNG PHẢN ỨNG TRƯỚC KỊCH BẢN BỊ HOA KỲ XÂM LƯỢC (Phan Minh / RFI)

TRUMP & GROENLAND

52 NĂM TRƯỚC, NGÀY 19-1-1974 (Hoàng Dũng  -  Bauxite Việt Nam)

ÔNG TRUMP KHIẾN TRẬT TỰ THẾ GIỚI RUNG CHUYỂN NHIỀU HƠN BẤT KỲ TỔNG THỐNG MỸ NÀO TỪ ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN (Lyse Doucet / BBC News Tiếng Việt)

HỘI ĐỒNG HÒA BÌNH DẢI GAZA : ÔNG TÔ LÂM CÓ VỘI VÀNG NHẬN LỜI MỜI CỦA ÔNG TRUMP? (BBC News Tiếng Việt)

ĐẢNG CSVN CHỌN 'TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT' LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT NHƯ THẾ NÀO? (BBC News Tiếng Việt)

KÝ SỰ VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG 1 – 2 – 3 (Tôn Thất Thông / Diễn Đàn Khai Phóng)

CHÍNH SÁCH TRỤC XUẤT CỦA CHÍNH QUYỀN TRUMP PHƠI BÀY BI KỊCH CỦA NGƯỜI VIỆT NHẬP CƯ (BBC News Tiếng Việt)

SỰ KIỆN 21/01/2026 | FULL (Hoàng Vy / Saigon TV 57.5)

NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ – NGÀY 21/01/2025

NHẬT BÁO CALITODAY – NGÀY 21/01/2026

NGƯỜI VIỆT NEWS – NGÀY 21/01/2026

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt – NGÀY 21/01/2026

ĐÀI PHÁT THANH QUỐC TẾ PHÁP – RFI | NGÀY 21/01/2026

BBC NEWS TIẾNG VIỆT – NGÀY 21/01/2026

BÀI MỚI NGÀY 21/01/2026 (Bauxite Việt Nam)

BÀI MỚI NGÀY 21/01/2026 (Báo Tiếng Dân)

TIN & BÀI NGÀY 20/012026








 


THAM VỌNG GREENLAND CỦA TRUMP : HIỆN TRẠNG, LƯỢC SỬ và TRIỂN VỌNG (Đỗ Kim Thêm / Bauxite Việt Nam)

 



Tham vọng thu tóm Greenland của Trump: Hiện trạng, lược sử và triển vọng

Đỗ Kim Thêm 

05:07  22/01/2026 | Posted by BVN1

https://boxitvn.blogspot.com/2026/01/tham-vong-thu-tom-greenland-cua-trump.html

 

Hiện trạng

 

Kể từ năm 2019, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần công khai bày tỏ mong muốn giành quyền kiểm soát Greenland, biến hòn đảo giàu tài nguyên và có vị trí chiến lược này trở thành một phần lãnh thổ của Hoa Kỳ.

 

Hiện nay, Mỹ ngày càng gia tăng áp lực về kinh tế, quân sự và ngoại giao nhằm thúc đẩy tham vọng thu tóm Greenland. Ngay trước Giáng sinh năm 2025, Tổng thống Trump tuyên bố rằng Hoa Kỳ “rất cần Greenland”, đồng thời bổ nhiệm Jeff Landry – Thống đốc bang Louisiana – làm đặc phái viên phụ trách vấn đề Greenland. Sau đó, ông cho biết sẽ đề cập đến tương lai của hòn đảo này “trong vòng hai tháng, hoặc thậm chí chỉ 20 ngày”.

 

Phản ứng của Đan Mạch và Greenland

 

Theo một cuộc khảo sát mới nhất, 85% người dân Greenland kiên quyết phản đối những tuyên bố ngày càng cứng rắn của Tổng thống Trump và cuộc thảo luận về khả năng Greenland tách khỏi Đan Mạch để giành độc lập trở nên sôi động hơn.

 

Gần đây nhất, hàng nghìn người dân tại Đan Mạch và Greenland đã xuống đường biểu tình, phản đối các yêu sách của ông Trump. Tại thủ đô Nuuk của Greenland, Thủ tướng Nielsen đã dẫn đầu đoàn biểu tình tiến đến trước lãnh sự quán Mỹ. Trước phản ứng mạnh mẽ này, ngày 4/1, Tổng thống Trump đăng tải thông điệp trên mạng xã hội với giọng điệu mềm mỏng hơn, nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ mong muốn cải thiện và tăng cường hợp tác với Greenland.

 

Do những động thái từ phía Mỹ, Greenland đã tiến hành bầu cử Quốc hội vào năm 2025. Kết quả cho thấy đại đa số người dân Greenland khẳng định không còn mong muốn duy trì sự lệ thuộc vào Đan Mạch. Tuy nhiên, do Greenland hiện vẫn nhận được khoảng 600 triệu euro mỗi năm từ Đan Mạch dưới hình thức trợ cấp phúc lợi xã hội, nhiều người dân lo ngại về những bất lợi nếu mối quan hệ này bị cắt đứt.

 

Egede, người tiền nhiệm của Thủ tướng Nielsen, nhiều lần nhấn mạnh: “Chúng tôi không muốn là người Đan Mạch và cũng không muốn là người Mỹ. Chúng tôi muốn trở thành người Greenland”. Vào đầu tháng 1 năm 2025, ông dứt khoát từ chối đề nghị của Donald Trump, đồng thời tái khẳng định mong muốn tách Greenland khỏi Đan Mạch. Ông tuyên bố: “Greenland đang bàn đến việc độc lập khỏi Đan Mạch, nhưng không một người Greenland nào muốn chuyển sang làm thuộc địa của một cường quốc khác”.

 

Kể từ năm 2009, Greenland đã có quyền tổ chức trưng cầu dân ý về các vấn đề quan trọng. Trước bối cảnh mới, chính quyền của Thủ tướng Nielsen – vừa giành chiến thắng trong cuộc bầu cử – đang tập trung vào việc xây dựng một nền kinh tế tự chủ, đồng thời tỏ ra thận trọng hơn trong các tuyên bố liên quan đến việc giành độc lập hoàn toàn.

 

Đe dọa liên tiếp của Trump

 

Trên thực tế, Donald Trump không phải là Tổng thống Mỹ đầu tiên quan tâm đến Greenland. Năm 1946, khi Greenland vẫn còn là thuộc địa của Đan Mạch, Tổng thống Harry Truman từng đề xuất mua hòn đảo này nhằm thiết lập một tài sản chiến lược trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, song đề nghị đó đã bị chính phủ Copenhagen bác bỏ.

 

Những lý do thúc đẩy tham vọng của Trump có nhiều điểm tương đồng. Có nhiều cách lý giải cho tham vọng đó. Về mặt địa lý, Greenland thuộc về lục địa Bắc Mỹ. Ngay từ năm 1823, Học thuyết Monroe đã khẳng định rằng toàn bộ khu vực Tây Bán Cầu nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Dựa trên tiền đề lịch sử này, một số lập luận tại Mỹ cho rằng Greenland “tự nhiên” thuộc về quỹ đạo chiến lược của Hoa Kỳ. Do đó, ý tưởng mua Greenland không phải là sáng kiến riêng của Donald Trump.

 

Ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên, vào năm 2019, ông đã công khai ý định mua Greenland để biến nơi đây thành lãnh thổ của Mỹ, nhưng không đạt được kết quả.

 

Khi bước vào nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Trump tái khẳng định mong muốn giành quyền kiểm soát Greenland, coi đây là vấn đề “lợi ích an ninh quốc gia tuyệt đối”. Ông nhấn mạnh rằng một thỏa thuận chuyển nhượng phải được thực hiện, và nếu không đạt được mục tiêu, ông không loại trừ khả năng sử dụng các biện pháp quân sự.

 

Năm 2024, ông tiếp tục thể hiện lập trường cứng rắn về việc tiếp quản Greenland. Đến mùa xuân năm 2025, ông lần lượt cử con trai mình – Trump Jr. – và sau đó là Phó Tổng thống Mỹ J.D. Vance tới Greenland để truyền đạt cùng một thông điệp.

 

Tinh thần quyết tâm này khiến dư luận tin rằng Donald Trump thực sự nghiêm túc với ý định mở rộng lãnh thổ nhằm “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, đồng thời tìm cách ghi dấu ấn thành tựu cá nhân trong lịch sử hiện đại.

 

Xung đột vì thế ngày càng leo thang. Tổng thống Trump tuyên bố rằng kể từ ngày 1/2/2026, Hoa Kỳ sẽ áp dụng mức thuế trừng phạt 10% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Đức, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Pháp, Anh và Hà Lan – những quốc gia bị cho là cản trở tham vọng của ông liên quan đến Greenland.

 

Theo kế hoạch, mức thuế này sẽ tăng lên 25% vào ngày 1/6/2026. Với các biện pháp gây sức ép liên tục, ông Trump hy vọng sẽ buộc các bên liên quan chấp nhận một thỏa thuận về việc mua Greenland. Các đe dọa thuế quan của ông được xem là phản ứng trực tiếp trước việc một số quốc gia NATO ở châu Âu tiến hành cuộc tập trận quân sự mang tên Arctic Endurance cũng như các hoạt động trinh sát trên hòn đảo này.

 

Lược sử Greenland

 

Khoảng 5.000 năm trước, Greenland hầu như không có cư dân sinh sống thường xuyên, kể cả người châu Âu. Tình trạng hoang sơ này kéo dài cho đến khi một nhóm cư dân được gọi là Paleo-Eskimo từ Canada di cư sang Greenland. Vào thế kỷ X, người Viking Erik the Red đã phát hiện ra hòn đảo và đặt tên cho nó là Greenland (Vùng đất Xanh), nhằm khuyến khích việc định cư. Từ thế kỷ XII trở đi, nhóm người Paleo-Eskimo này dần bị thay thế bởi các làn sóng người Inuit từ Canada. Ngày nay, phần lớn trong số khoảng 56.000 cư dân Greenland là hậu duệ của những người Inuit này và họ tự gọi mình là Kalaallit. Người Inuit chính là cộng đồng đã định hình nên bản sắc văn hóa và xã hội Greenland hiện đại. Đến thế kỷ XVIII, Greenland rơi vào ách đô hộ của Đan Mạch.

 

Tranh chấp chủ quyền giữa Na Uy và Đan Mạch về Greenland leo thang vào năm 1931, khi Na Uy chiếm đóng một phần Đông Greenland và đặt tên khu vực này là Vùng đất của Eirik Raude”, theo tên Erik the Red. Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt vào năm 1933, khi Tòa án Công lý Quốc tế Thường trực tại The Hague ra phán quyết khẳng định toàn bộ Greenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch.

 

Trong Thế chiến II, Đan Mạch bị Đức Quốc xã chiếm đóng. Ngay trước đó, Copenhagen đã kịp thời chuyển một lượng lớn hàng hóa, bao gồm dụng cụ săn bắn, rau củ và khoai tây, sang Greenland. Nhờ vậy, người dân Greenland có thể tự túc trong một thời gian nhất định, trước khi buộc phải hoàn toàn tự lo sinh kế.

 

Theo một đạo luật thời chiến, chính quyền Greenland - Đan Mạch được phép tuyên bố độc lập nếu việc liên lạc với mẫu quốc bị cắt đứt. Năm 1940, các quan chức hành chính cao nhất tại Greenland quyết định không công nhận chính phủ Đan Mạch, vốn đang nằm dưới sự kiểm soát của Đức. Trên thực tế, kể từ thời điểm này, Greenland vận hành như một lãnh thổ tự trị và đã yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ lương thực.

 

Với các đoàn tàu tiếp tế, Mỹ đã giúp Greenland tránh được nạn đói. Đổi lại, Hoa Kỳ được phép thiết lập các trạm khí tượng và căn cứ không quân trên đảo. Từ đây, không quân Mỹ có thể triển khai các chiến dịch hướng sang châu Âu. Vai trò chiến lược ngày càng gia tăng của Greenland khiến Washington lần đầu tiên chính thức đề xuất mua hòn đảo này vào năm 1946.

 

Mặc dù khoảng 90% dân số Greenland là người Inuit, khát vọng độc lập vẫn luôn hiện diện mạnh mẽ. Năm 1953, Greenland chính thức chuyển từ thân phận thuộc địa sang địa vị một tỉnh của Đan Mạch và được phân bổ hai ghế trong Quốc hội Đan Mạch. Tuy nhiên, sự phụ thuộc tài chính vẫn không thay đổi đáng kể, khi Đan Mạch tiếp tục đóng góp một phần lớn ngân sách cho hệ thống phúc lợi xã hội của Greenland.

 

Năm 1973, Greenland trở thành thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) với tư cách là một phần lãnh thổ của Đan Mạch, và sau đó gián tiếp trở thành thành viên của Liên minh châu Âu.

 

Phải đến năm 1979, những bước tiến đáng kể hướng tới quyền tự quyết mới được thực hiện. Greenland được trao quyền tự trị một phần, với quốc hội và chính phủ riêng, dù thẩm quyền ban đầu còn hạn chế. Năm 2009, quyền tự trị được mở rộng đáng kể, đưa Greenland tiến gần hơn đến trạng thái tự chủ hoàn chỉnh. Hiện nay, Copenhagen chủ yếu chỉ còn nắm quyền quyết định đối với chính sách đối ngoại và an ninh.

 

Ngoài hai lĩnh vực này, chính quyền Greenland có thẩm quyền quản lý hầu hết các vấn đề nội trị. Tuy nhiên, trên thực tế, các lĩnh vực then chốt như quyền đánh bắt cá và khai thác khoáng sản vẫn là những trụ cột kinh tế chính và chịu sự giám sát chặt chẽ.

 

Tầm quan trọng địa chiến lược

 

Đối với Hoa Kỳ, Greenland có tầm quan trọng địa chiến lược đặc biệt nhờ sự hiện diện của một căn cứ không quân, được trang bị bằng hệ thống cảnh báo sớm với tên lửa đạn đạo. Một lợi thế khác là vị trí địa lý của Greenland tạo nên tuyến đường ngắn nhất giữa châu Âu và Bắc Mỹ.

 

Biến đổi khí hậu đang làm tan băng ở Bắc Cực, khiến việc sử dụng các tuyến hàng hải mới trở nên khả thi hơn. Điều này làm gia tăng đáng kể giá trị chiến lược của Greenland, không chỉ về quân sự mà còn về kinh tế và vận tải toàn cầu.

 

Thỏa thuận quốc phòng giữa Đan Mạch và Hoa Kỳ về việc đồn trú quân đội đã tạo điều kiện cho Mỹ sử dụng Greenland như một bàn đạp chiến lược. Nhờ đó, việc mở rộng các căn cứ quân sự Mỹ trên đảo có thể được thực hiện mà không cần đàm phán lại từ đầu.

 

Trong bức tranh tổng thể, Hoa Kỳ đang bị đánh giá là tụt hậu so với Nga và Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh giành ảnh hưởng tại Bắc Cực. Trong nhiều thập niên, Nga đã kiên trì xây dựng và mở rộng chiến lược Bắc Cực. Gần đây hơn, Trung Quốc cũng bắt đầu đầu tư vào khai thác tài nguyên và cơ sở hạ tầng tại Greenland.

 

Điều cốt lõi đối với Washington là không muốn để cho bất kỳ cường quốc nào khác đạt được vị thế cạnh tranh đáng kể trên hòn đảo này. Việc tăng cường hiện diện quân sự tại Greenland giúp Mỹ giám sát hiệu quả vùng biển giữa Greenland, Iceland và Anh – khu vực được coi là “cửa ngõ chiến lược”. Theo lo ngại của Mỹ, đây chính là tuyến xâm nhập tiềm tàng của các tàu hải quân và tàu ngầm hạt nhân Nga.

 

Trước tham vọng của Tổng thống Trump, Nga cũng đã lên tiếng tuyên bố sẽ theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến mới liên quan đến Greenland và cán cân quyền lực tại Bắc Cực.

 

Tài nguyên phong phú

 

Theo các kết quả thăm dò địa chất, Greenland sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng. Tổng trữ lượng nguyên liệu thô được ước tính vào khoảng 35 triệu tấn, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của châu Âu trong nhiều thập niên. Ngoài ra, lòng đất Greenland còn chứa vàng, kim cương, uranium, kẽm, chì và đặc biệt là trữ lượng đất hiếm rất lớn, dù phần lớn vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ.

 

Cho đến nay, tiềm năng đất hiếm của Greenland vẫn chưa được khai thác với quy mô lớn, chủ yếu là do hai trở ngại chính: thời gian và chi phí đầu tư. Đối với nhiều doanh nghiệp Mỹ, triển vọng sinh lợi hiện vẫn thấp, trong khi phải mất nhiều thập niên, trước khi các nguồn nguyên liệu thô – bao gồm cả dầu khí – có thể được khai thác hiệu quả trên quy mô công nghiệp.

 

Tuy nhiên, chính phủ Greenland đã chủ động cấm khai thác dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, nhằm hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Thay vào đó, chính quyền tập trung vào việc phát triển thủy điện, đồng thời sẵn sàng tham gia các dự án lưu trữ CO₂ và hỗ trợ các sáng kiến thuộc phong trào chuyển đổi xanh toàn cầu.

 

Gia tăng xung đột giữa EU và Hoa Kỳ

 

Tình hình trở nên căng thẳng hơn với các biện pháp gây sức ép liên tiếp của Tổng thống Trump. Đức cùng nhiều quốc gia châu Âu đã ra tuyên bố chung cho rằng chính quyền Mỹ đang làm suy yếu nghiêm trọng mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, dù châu Âu vẫn bày tỏ sẵn sàng đối thoại trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

 

Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen đã lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ các mối đe dọa áp thuế của Washington, nhấn mạnh rằng châu Âu sẽ không chấp nhận việc bị Hoa Kỳ “tống tiền” bằng các biện pháp kinh tế.

 

Để đáp trả, Liên minh châu Âu đang soạn thảo các kế hoạch áp thuế trả đũa đối với hàng hóa Mỹ, bao gồm rượu whisky bourbon, phụ tùng máy bay, đậu nành và gia cầm. Đồng thời, EU dự kiến triệu tập khẩn cấp một hội nghị thượng đỉnh đặc biệt nhằm thống nhất các biện pháp đối phó cứng rắn trước các đe dọa thuế quan từ Tổng thống Mỹ.

 

Các nhà lãnh đạo EU đã tái khẳng định sự ủng hộ hoàn toàn đối với Đan Mạch và Greenland, đồng thời nhấn mạnh rằng hai bên có toàn quyền tự quyết định chính sách của mình. Sau những tuyên bố áp thuế của ông Trump vào giữa tháng Giêng, Đức, Pháp, Anh, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan tiếp tục công khai thể hiện tinh thần đoàn kết này.

 

Hiện nay, mối lo ngại chung của châu Âu là một “cuộc ly hôn” chiến lược với Hoa Kỳ đang bắt đầu, và một lằn ranh đỏ đã bị vượt qua. Vấn đề không còn thuần túy là thuế quan hay đánh giá tình hình kinh tế, mà là việc Tổng thống Trump sử dụng thuế quan như một công cụ gây áp lực chính trị, điều mà châu Âu coi là hoàn toàn không thể chấp nhận.

 

Châu Âu nhận thức rõ rằng các đe dọa của Trump mang tính chất cực kỳ nghiêm trọng. Vì vậy, EU đang thảo luận về các kịch bản phản ứng, bao gồm cả trường hợp xảy ra một cuộc tấn công vào Greenland – lãnh thổ thuộc Đan Mạch – và nghĩa vụ của 27 quốc gia thành viên theo điều khoản phòng thủ chung. Đáng chú ý, một chiến lược được gọi là bazooka thương mại” cũng đang được xem xét để đáp trả Hoa Kỳ.

 

Theo các quan chức EU, “bazooka thương mại” là một công cụ mạnh, có thể bao gồm các biện pháp như đình chỉ bằng sáng chế, loại trừ các công ty Mỹ khỏi các gói mua sắm công, hạn chế xuất khẩu và áp thuế đặc biệt đối với các tập đoàn công nghệ số của Mỹ.

 

Nếu Hoa Kỳ thực sự tiến tới việc sáp nhập Greenland, điều này sẽ tạo ra một tiền lệ cực kỳ nguy hiểm đối với trật tự châu Âu. Khi đó, Nga cũng có thể vin vào tiền lệ này để đưa ra các yêu sách lãnh thổ đối với các quốc gia Bắc Âu như Na Uy hoặc Phần Lan.

 

Cuộc xung đột quanh Greenland cho thấy vẫn còn nhiều diễn biến khó lường. Tuy nhiên, một thực tế hiển nhiên đã được phơi bày: nếu một cuộc chiến thương mại bùng nổ, thì cuối cùng tất cả các bên đều sẽ là những kẻ thua cuộc.

 

Kết luận

 

Vấn đề Greenland không chỉ là một tranh chấp lãnh thổ đơn thuần, mà bao gồm nhiều khía cạnh như cạnh tranh địa chính trị tại Bắc Cực, an ninh xuyên Đại Tây Dương, biến đổi khí hậu và cuộc đua kiểm soát tài nguyên chiến lược. Tham vọng của Tổng thống Donald Trump đối với Greenland phản ánh sự thay đổi trong tư duy chiến lược của Hoa Kỳ, khi lợi ích an ninh quốc gia và cạnh tranh quyền lực được đặt lên trên các chuẩn mực truyền thống về chủ quyền và luật pháp quốc tế.

 

Đối với Greenland, một thời khắc lịch sử mang tính bước ngoặt đang khởi đầu đầy bất trắc vì đang đứng giữa ba lựa chọn khó khăn: duy trì mối quan hệ phụ thuộc với Đan Mạch, tiến tới độc lập trong điều kiện kinh tế còn nhiều hạn chế, hoặc trở thành tâm điểm cạnh tranh giữa các cường quốc. Trong khi đó, Đan Mạch và Liên minh châu Âu buộc phải đối diện với một thực tế mới, trong đó ngay cả những nguyên tắc nền tảng của trật tự quốc tế hậu Thế chiến II cũng có thể bị thách thức.

 

Cuộc khủng hoảng Greenland vì thế không chỉ thử thách quan hệ Mỹ–châu Âu, mà còn đặt ra câu hỏi lớn về tương lai của luật pháp quốc tế, vai trò của các liên minh và giới hạn của quyền lực trong một thế giới ngày càng phân cực. Nếu không được kiểm soát bằng đối thoại và các cơ chế đa phương, xung đột quanh Greenland có nguy cơ tạo ra những tiền lệ nguy hiểm, làm suy yếu nền tảng ổn định vốn đã mong manh của trật tự toàn cầu.

 

Đ.K.T.

Tác giả gửi BVN