Friday, February 6, 2026

NHÂN QUYỀN CỦA RIÊNG AI? (Nina Hòa Bình Lê / Việt Báo)

 



 

Nhân Quyền của Riêng Ai?

Nina Hòa Bình Lê

06/02/2026

https://vietbao.com/p112a324473/nhan-quyen-cua-rieng-ai-

 

Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.

 

Những chiếc ghe rời Việt Nam thời ấy trong một bối cảnh rất rõ ràng. Người Việt bỏ quê hương ra đi vì nhân phẩm bị chà đạp, bắt không cần án, “học tập cải tạo” vô hạn định, đánh tư sản, đuổi khỏi nhà, đàn áp tôn giáo, phân biệt con em “Mỹ ngụy”, mọi tiếng nói trái ý đều bị chụp mũ là “phản động”, bị kết tôi chống phá chính quyền. Hàng hàng lớp lớp người Việt bỏ xứ ra đi vì ở quê hương, con người không đứng trước luật mà đứng dưới gót chân nhà nước. Khi quyền lực không bị tòa án độc lập, báo chí tự do hay bất cứ cơ chế kiểm soát nào ghìm lại, thì “nhân quyền” không còn là khái niệm để tranh luận – nó đơn giản là điều vắng mặt trong đời sống thường nhật.

 

Ở đầu kia của hành trình, điều cứu họ không chỉ là lòng từ tâm của vài ông thuyền trưởng hay mấy bà sơ. Đằng sau những tấm lòng đó là một trật tự pháp luật và đạo lý được dựng lên sau Thế chiến thứ hai: Công ước Tị nạn1, phán quyết của tòa án, hệ thống luật Hoa Kỳ, và cả một truyền thống chính trị thế giới thừa nhận một điều rất đơn giản: người chạy trốn khỏi các chế độ đàn áp nhân quyền có quyền gõ cửa các quốc gia xin che chở. Nhân quyền trong quy chế dành cho người tị nạn không phải là món quà chính quyền “thương thì cho, ghét thì thôi”, mà là nghĩa vụ ràng buộc. Người Việt chúng ta may mắn vì thời đó, Hoa Kỳ vẫn còn biết giữ luật chơi, vẫn nhớ mình đã đặt bút ký vào đâu.

Lẽ ra, kinh nghiệm đó phải là cái gương treo giữa nhà cho cộng đồng người Việt tị nạn. Chúng ta có được hôm nay không phải nhờ “trời thương”, mà nhờ một thế giới trong đó quyền lực bị giới hạn bởi luật lệ và thiết chế, coi nhân quyền là chuẩn mực chung chứ không phải món hàng treo ra mặc cả trong phòng kín. Vậy mà trong lúc này, cái khung bảo vệ nhân quyền – mà nước Mỹ từng là một trong những cây cột chính – lại đang bị tháo gỡ ngay tại Washington. Người tháo ốc không ai xa lạ: một tổng thống nổi tiếng về chuyện phá luật nhanh hơn đọc luật.

Trong bài “Will Human Rights Survive the Donald Trump Era?” 2Philippe Bolopion nhắc lại một điều tưởng ai cũng biết: nhân quyền không đến hiển nhiên và cũng không phải là thứ được bảo hiểm trọn đời. Sau Thế chiến II, người ta dựng lên mớ quyền căn bản trên tro tàn trại tập trung, trên những thành phố bị san bằng, nhằm tiến đến một thỏa thuận tối thiểu: quyền lực nhà nước phải bị ràng buộc bởi luật pháp, định chế và chút ít lương tri. Chính cái khung đó – công ước, tòa án, các định chế đa phương – đã giữ cho những chiếc ghe như Bolinao 52 không bị bỏ mặc giữa biển.

Ngày nay, dưới áp lực dồn dập từ chính quyền Trump, và vốn từ lâu bị Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa phá rối, trật tự dựa trên luật lệ đang tuột khỏi tay. Bolopion đặt câu hỏi thẳng thừng: nhân quyền có sống nổi nếu những quy tắc làm nên nó bị dỡ bỏ hay không? Câu trả lời, ông nói, không nằm ở chuyện ngồi tiếc nuối “thời xưa” mà ở khả năng dựng nên những liên minh mới giữa các xã hội còn coi trọng nhân quyền, đủ sức che chở chuẩn mực chung ngay cả khi một siêu cường quay mặt đi.

 

Nguy ở chỗ chuyện xuống cấp không bắt đầu với ông Trump. Hai mươi năm qua, làn sóng dân chủ lùi đều như nước rút. Tòa án độc lập, báo chí tự do, những cơ chế buộc người cầm quyền phải chịu trách nhiệm lần lượt bị làm cho tê liệt. Các nền dân chủ dĩ nhiên chẳng phải thiên đường – chẳng có thiên đường nào trên mặt đất – nhưng cho tới giờ, chưa có kiểu chế độ nào bảo vệ nhân quyền khá hơn nó. Sự trở lại của Trump ở Nhà Trắng chỉ làm cho mọi thứ diễn ra nhanh hơn, thô bạo hơn, và phần nào, “thành thật” hơn về cách chính quyền coi nhẹ luật.

Trong một thời gian ngắn, chính quyền Trump đã công khai chĩa mũi dùi vào các trụ cột của chế độ pháp quyền: thách thức tính độc lập của tư pháp, coi thường lệnh tòa, nhét bàn tay chính trị vào những cơ quan lẽ ra phải độc lập, và sử dụng sức mạnh nhà nước để hăm dọa mọi tiếng nói chỉ trích – từ ký giả, đại học, hãng luật cho tới giới nghệ sĩ, truyền thông. Với những ai từng sống dưới chế độ toàn trị, những tín hiệu đó không lạ: khi kẻ nắm chính quyền hết sợ luật pháp vì không phải chịu hậu quả tương xứng, không chỉ những cột trụ chống đỡ nền dân chủ gãy đổ, mà toàn bộ hệ thống nhân quyền sớm muộn cũng trôi theo. 

Vượt ra ngoài biên giới Hoa Kỳ, chính quyền Trump liên tiếp thử giới hạn luật quốc tế trong việc sử dụng võ lực, đồng thời phớt lờ những cam kết mà nước Mỹ đã từng đặt bút ký. Chỉ trong thời gian ngắn, Washington đã kịp làm một việc mà các đối thủ của Mỹ mơ ước từ lâu: cắt rời vai trò “lãnh đạo thế giới tự do” khỏi ngay chính danh nghĩa nhân quyền. Nhân quyền bị kéo xuống thành thứ công cụ trong các bản phúc trình, Hoa Kỳ rút khỏi các diễn đàn đa phương then chốt, các chương trình viện trợ cứu người bị cắt ngân sách, hủy bỏ; cạnh đó, những nhà độc tài được Trump chiếu cố nồng hậu, đồng minh dân chủ bị xem nhẹ, Tòa án Hình sự Quốc tế bị đem ra doạ nạt.

 

Bên trong nước Mỹ, chỗ phơi trần rõ nhất sự đổi hướng ấy là di trú. Một chính quyền có quyền đặt chính sách biên giới, chuyện đó không ai cãi. Nhưng không một chính quyền nào, nếu còn coi trọng nhân quyền, lại có quyền chối bỏ quyền xin tị nạn, hay coi con người như kiện hàng có thể trả lui bất cứ lúc nào. Dưới thời Trump, những lệnh cấm nhập cư theo quốc tịch, bắt người xin tị nạn phải chờ trong cảnh hiểm nguy, giam trẻ em trong điều kiện tệ hại, cắt chương trình nhận người tị nạn, hủy bỏ những chương trình tị nạn khẩn cấp… đã làm nhạt đi hình ảnh “đất hứa” mà thế hệ thuyền nhân Việt từng biết. Với người đã từng lênh đênh trên biển, đây không phải chuyện tranh luận trên giấy. Đây là lời cảnh cáo: con đường từng mở cho mình đang từ từ đóng lại trước mặt người đến sau. Và nếu vỗ tay cổ vũ, thì ngày xưa việc người Việt trốn chạy cộng sản còn ý nghĩa gì?

 

Thực tế ở Minnesota và nhiều nơi khác cho thấy nhân quyền không phải là món xa xôi treo trên tường Liên Hiệp Quốc. Đó là chuyện rất cụ thể: khi một chiến dịch truy quét di trú dẫn tới người chết trên đường phố; khi dân chúng, nhà thờ, nghiệp đoàn, sinh viên xuống đường đòi hỏi phải điều tra, phải trả lời; khi luật sư và báo chí bám theo từng vụ án để buộc cơ quan liên bang phải trả lời, phải trả tự do cho em bé 5 tuổi3 bị bắt giam. Tất cả những điều đó là nhân quyền trong hành động – không phải khẩu hiệu, mà là quyền được sống, được phản đối, được buộc chính quyền phải trả lời.

Một hệ thống bảo vệ nhân quyền không “sống” được nhờ may mắn. Nó chỉ đứng vững khi các chính quyền và xã hội dân sự cùng chung tay xây nên những cơ cấu đủ vững để không bị lật bởi mỗi một nhiệm kỳ tổng thống. Nguy hiểm nhất là khi công chúng nuốt trọn lời hứa dối trá của chủ nghĩa độc đoán: hy sinh một chút quyền của người khác để đổi lấy “an ninh” cho riêng mình. Lịch sử đã cho thấy, khi người ta im lặng trước việc quyền của kẻ khác bị tước đoạt, thì đến lượt mình, sẽ không còn ai lên tiếng thay nữa.

Nghịch lý đau lòng nằm ngay trong cộng đồng người Việt ở Mỹ: những người từng trốn công an, tránh trại cải tạo, sống nơm nớp vì lệnh bắt không giấy, giam giữ không bản án, nay lại lên giọng cổ vũ “biện pháp mạnh” với di dân, tị nạn khác, gọi họ là “xâm lăng”, “đe dọa an ninh”, “ăn bám”. Những người Việt này quên mất rằng chính mình ngày xưa ra đi trên những chiếc ghe không giấy tờ, không visa, không chiếu khán, không có quy chế gì ngoài thân phận gửi vào lòng tử tế của thế giới. Họ chỉ được gọi là “tị nạn hợp pháp” sau này, nhờ những công ước và chương trình tiếp nhận của những bộ luật được tranh đấu dai dẳng mà hôm nay chính họ đang quay lưng chống lại.

 

Từ năm 1975 đến 1997, riêng Hoa Kỳ đã nhận vào trên bốn trăm ngàn người Việttị nạn từ biển và các trại ở Đông Nam Á. Cộng đồng tị nạn Việt tại Mỹ không chỉ là những người “được cứu”, mà là một phần của xã hội dân sự nơi mình định cư. Với ký ức sống về con đường tìm tự do và về sự đàn áp tại quê nhà, họ có lợi thế đạo lý để đứng ở tuyến đầu bảo vệ dân chủ và nhân quyền, thay vì làm khán giả im lặng hay ngoảnh mặt với người đến sau. Đối với người Việt, đó không phải là lý luận sách vở, mà là món nợ: bảo vệ những nguyên tắc đã từng cứu mình – tòa án độc lập, báo chí tự do, quyền xin tị nạn, trật tự quốc tế dựa trên luật lệ và lương tâm con người – để những chiếc ghe Bolinao đến sau còn hy vọng được cứu vớt.

 

Cuối cùng, Bolinao 52 không chỉ là một bi kịch giữa biển Đông. Đó là tấm gương soi lại thái độ của chúng ta hôm nay. Nếu chúng ta quên rằng 52 người sống sót ấy được cứu chính nhờ một trật tự tôn trọng nhân quyền mà quay lưng đứng về phía kẻ đang phá trật tự đó – thì những cái chết trên biển năm xưa hóa vô nghĩa.


Trân quý quyền của mình mà phủi tay trước quyền của người khác không phải là bảo vệ nhân quyền. Đó chỉ là giữ khư khư một thứ ‘nhân quyền của riêng mình’  – một thứ nhân quyền có dây rút: gặp “phe ta” thì nới, gặp người khác thì siết.

Đó là cách nhanh nhất để phản bội chính lý do người Việt chúng ta được gọi là ‘người tị nạn’.

 

Nina HB Lê

 

---------------------------

Chú thích & tham khảo:

(1) Hoa Kỳ gia nhập Nghị định thư 1967 về Quy chế Người Tị Nạn năm 1968 và về sau ban hành Refugee Act 1980, đặt nền pháp lý cho việc tiếp nhận và tái định cư hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ. Quyết định đó không hề “được lòng” cử tri: một thăm dò CBS–New York Times lúc bấy giờ cho thấy 62% người Mỹ phản đối việc nhận thêm người tị nạn. Bất chấp điều đó, Tổng thống Jimmy Carter vẫn tuyên bố: “Chúng tôi sẵn sàng hành động với lòng trắc ẩn vốn từ lâu đã là đặc tính của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mỗi khi phải đối diện với những hoàn cảnh khủng hoảng nhân đạo như thế này.”

(2) Bài “Liệu Nhân Quyền Có Sống Nổi Qua Thời Donald Trump?” của Philippe Bolopion, đăng trên trang Human Rights Watch ngày 31-1-2026.

(3) Em bé 5 tuổi Liam Conejo Ramos và cha bị ICE bắt tại Minnesota, sau đó bị giam tại trại Dilley, Texas, rồi được tòa liên bang ra lệnh trả tự do, đã trở thành tâm điểm phản đối chính sách di trú của chính quyền Trump trong những tuần cuối tháng 1-2026.

(4) Số liệu về khoảng trên 400.000 người Việt tị nạn được Hoa Kỳ tiếp nhận từ 1975 đến cuối thập niên 1990 được rút ra từ các thống kê về “boat people” và chương trình tái định cư Đông Dương của Hoa Kỳ.

 

 

 

 



No comments: