Việt
Nam cuối thu 2025 (Phần 7): Những cái bẫy
Nguyễn Xuân Thọ - Báo Tiếng Dân
31/01/2026
https://baotiengdan.com/2026/01/31/viet-nam-cuoi-thu-2025-phan-7-nhung-cai-bay/
Tiếp
theo phần 1 — phần 2 — phần 3 — phần 4 — phần 5 và phần 6
Tôi luôn mừng về những tiến bộ, dù nhỏ nhoi
mà tôi cảm nhận ở quê nhà. Mỗi lời chào trong thang máy, mỗi cử chỉ đẹp ở siêu
thị đều chứng tỏ sự phát triển của văn minh. Điện, internet, đường ô tô về đến
mọi miền quê, tự chủ về lương thực, xuất siêu sang cả Mỹ… là những thực tế
không thể chối cãi.
Tất nhiên phát triển luôn đi kèm với phá hoại
thiên nhiên và thay đổi xã hội truyền thống; ở đâu, thời nào cũng vậy. Năm 1970
người ta phát hiện ra cá sông Rhein (Đức) chết gần hết. Năm 1985, dòng sông đã
sạch như bây giờ, hai bên bờ luôn có người câu cá. 40 năm sau chiến tranh, Đức
không chỉ là một quốc gia công nghiệp hàng đầu, mà thiên nhiên đã được khôi phục.
Năm 1953, Hàn Quốc ra khỏi chiến tranh, phải
trải qua 5 chế độ độc tài cho đến cuộc bầu cử dân chủ năm 1987. Chỉ sau đó vài
năm đã có những tổ chức dân sự sang Việt Nam tìm hiểu về tội ác của quân đội
Hàn ở đây. 35 năm sau chiến tranh, người Hàn đã vượt qua những khuôn phép của
phong kiến Á châu, biết biểu thị ý kiến độc lập với chính quyền.
50 năm sau chiến tranh, Việt Nam cũng phát
triển. Nhiều người tự hào và thỏa mãn. Nhưng sự phát triển chậm chạp đến mức mà
những hậu quả của phát triển đang đe dọa tương lai. Ai cũng nói là: Ô nhiễm môi
trường, thiên tai, bệnh tật, băng hoại đạo đức, suy đồi giáo dục, chùa chiền
thành nơi kinh doanh… là do phát triển gây ra. Nhưng không hề có chính sách chống
lại các tệ nạn này. Các hoạt động môi trường cũng như nỗ lực nâng cao ý thức
công dân luôn kèm theo nguy hiểm, rủi ro, tù tội. Muốn đi tu theo cách chân thiện
cũng bị cản trở.
Tôi ghé thăm em Lena vào lúc em vừa dọn
xong căn nhà nhỏ sau khi thợ chữa cái mái tôn bị dột. Một mình thui thủi dọn vật
liệu vương vãi từ tầng trên xuống tầng dưới thì người tỏ mắt như tôi cũng thấy
mệt mỏi. Em nói rằng chỉ vài tháng nữa anh Hùng ra tù, em sẽ đỡ cô đơn, vất vả.
Tay giáo quèn “Hùng Gàn”, chồng em, chỉ vì muốn tự ứng cử đại biểu quốc hội mà
đi tù.
Hôm rồi Hoàng Thị Hồng Thái bị bắt cũng vì
cáo buộc tuyên truyền gì đó. Tôi không quen biết, cũng chưa bao giờ đọc những
bài viết của cô. Tôi đưa lên Facebook không phải để ca ngợi cô, mà để bày tỏ sự
bức xúc. Trang của cô có 122.000 người đọc chắc không thể là bậy bạ, tục tĩu.
Tôi không thấy điều gì đặc biệt trong các bài viết của cô nên không bình luận.
Có thể chúng không thuận tai người nọ người kia. Chuyện bình thường mà.
Điều không bình thường là một phụ nữ đơn thân
nuôi 5 đứa con (một cháu có bệnh), một anh giáo quèn với người vợ khiếm thị lại
có thể gây nguy hiểm cho một chính quyền binh hùng tướng mạnh đang lãnh đạo một đất nước xếp hạng 33 trong nền kinh tế toàn cầu.
Bất bình thường hơn nữa là mọi đoàn thể bảo vệ
phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật đều dửng dưng với những chuyện như vậy. Người
Việt nhân ái xưa nay sẵn sàng giúp đỡ những người gặp nạn, từ những người nghèo
thiếu tiền chữa bệnh, đến những nạn nhân bị lũ lụt. Nhưng lòng nhân ái đó dừng
lại khi ngửi thấy mùi “chính trị”.
Những ví dụ trên, cũng như những con người
trong suốt, nói đến từ “nhậy cảm” một cách khô khốc mà tôi kể trong bài trước,
cho thấy, sợ hãi đang là cái bẫy trói chặt xã hội. Ở Việt Nam tôi đã đến nhiều
vùng, gặp gỡ đủ các tầng lớp mà không bao giờ thấy ai đòi lật đổ chế độ. Phê
phán thì có, nhưng cũng chỉ nhiều như ở Đức là cùng. Nước Đức lành vì không ai
phải sợ, mạnh vì dân biết phê phán.
Lãnh đạo Việt Nam đều từ công an, quân đội ra
nên họ thừa hiểu mối đe dọa từ đâu. Thực tế gần đây là: Số bản án dành cho những
ông quan đầy thế lực cao gấp hàng chục lần so với số bản án dành cho những người
bị coi là “dân chủ” thấp cổ bé họng kia. Tuy kiên quyết chống tham nhũng, đốt
lò các kiểu, nhưng vấn nạn này vẫn lừng lững tiến tới. Trong khi đó các phản biện
dân sự giảm đi rõ rệt. Giả sử ngày mai Trung Quốc có đưa cả hạm đội tàu cá tràn
vào biển Đông thì sẽ chẳng còn ai rỗi hơi xuống đường phản đối nữa, để rồi vừa
bị ăn đòn, vừa bị gửi tên về địa phương.
Cai trị bằng sợ hãi luôn có hiệu quả, vì sợ
là bản năng sinh tồn của con người.
Nhưng “sợ hãi” lại là cái bẫy trói chặt xã hội
vào trì trệ. Bẫy vì nó tạo ra cảm giác ổn định cho người dùng nỗi sợ để cai trị.
Giờ đây dù muốn phá cái bẫy cũng khó, vì ám ảnh của nó rất lâu dài. Ngược lại,
những kẻ bị trị tìm cách giấu nỗi sợ bằng cách khuyên răn con cháu: “Đừng dính
đến chính trị làm gì, vì nó bẩn lắm”. Hệ quả là cả vài thế hệ khiếp nhược.
Một xã hội bị mắc trong cái bẫy đó chỉ đủ sức
tồn tại nhưng không bao giờ mạnh. Sao lại nghĩ là Việt Nam không mạnh?
Mạnh thì đã không sợ những tiếng nói phản biện
từ một thiểu số không đáng kể!
Cũng như cái bẫy “Thu nhập trung bình”, nó
khiến dân nghèo có ăn, trung lưu thỏa mãn, lãnh đạo đắc chí. Mọi nỗ lực sống
còn để vượt lên dễ bị triệt tiêu. Hậu quả là 50 năm sau kết thúc chiến tranh, một
dân tộc cần cù, thông minh, chịu đựng hy sinh trên một mảnh đất màu mỡ, có nguồn
nước dồi dào, không lúc nào thiếu năng lượng mặt trời, nhưng vẫn là quốc gia
nghèo dưới trung bình. Thu nhập đầu người của ta năm 2025 = 4.750 USD, xếp thứ 126/197 nước. Mức thu nhập trung bình của
thế giới là 14.500 USD/người, dưới đó là nghèo, trên đó là giàu. Nghĩa là còn rất
xa mới hết nghèo.
Vậy mà đã có người tự đắc, rằng chẳng bao lâu
nữa Viêt Nam sẽ nằm trong 25 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Điều đó cho dù có
đúng cũng không thể giúp người Việt vượt qua cái ngưỡng 14.500 USD/người. Nếu
duy trì đều mức tăng trưởng 8%/năm thì đến 2036, Việt Nam sẽ tham gia câu lạc bộ
nghìn tỷ USD. Với dân số lúc đó khoảng hơn 110 triệu thì bình quân đầu người vẫn
dưới 10.000 USD. Như vậy phải đến 2040, nếu vẫn tiếp tục duy trì 8% năm, tổng
GDP mới đat 1600 tỷ USD để có thu nhập đầu người 15.000 USD. Nhưng từ nay đến
lúc đó lại có cái bẫy “Chưa giàu đã già” đang ngồi chờ trước mặt. Lực lượng lao
động dồi dào đang giảm đi so với tỷ lệ người về hưu, sống lâu đang tăng lên.
Cãi nhau về vị thế Việt Nam trong nền kinh tế
thế giới làm gì, khi chính lãnh đạo công nhận nguy cơ tụt hậu và quyết tâm phải
vươn mình. Mối đe dọa tụt hậu về kinh tế nói trên chỉ là một trong nhiều mối đe
dọa khác về địa chính trị, về môi trường, xã hội đang làm nhức đầu các nhà lãnh
đạo kỹ trị.
Nhưng thời đại đã thay đổi. Công nghiệp cơ
khí, đúc thép, luyện than, bán tài nguyển đã tụt hạng cạnh tranh so với điện tử
hightech, chip, AI, những thứ không đến bằng cơ bắp như thời “Có sức người sỏi
đá cũng thành cơm”.
Chip hay AI không đến từ cuộc nhậu với CEO của Nvidia, từ
cái bắt tay với các ông trùm tư bản, càng không từ các nghị quyết. Chúng là kết
quả của trí tuệ. Trí tuệ sáng tạo không thể phát triển khi sống trong sợ hãi,
khi từ bé đã học theo khuôn phép, khi luôn phải thi theo đáp án, khi muốn mở miệng
phải tự kiểm duyệt trước.
Năm 2005 Intel vào Việt Nam. Lúc đó ai cũng hy vọng ngành
bán dẫn Việt Nam sẽ khởi sắc. 20 năm sau, Intel Vietnam vẫn chỉ là nơi làm vỏ
và đóng gói chips, công nghiệp bán dẫn vẫn đang ở giai đoạn “chuẩn bị cất
cánh”. Trong số 470 tỷ USD xuất khẩu năm 2025, chỉ có 20% là phần của doanh
nghiệp Việt nam, còn 80% là gia công bằng sức lao động rẻ mạt cho các công ty
nước ngoài. Trong thời đại “chủ nghĩa độc tài số” (digital Dictatur), các công
ty phần mềm Việt Nam vẫn là những kẻ nô lệ số (digital Slave) nhọc nhằn.
Cách đây 10 năm tôi đã viết “Tự do và con người sáng tạo”:
https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1468978406453561
Những thành tựu về số hóa của Việt nam trong hành chính,
thương mại, ngân hàng mà tôi nêu trong các bài trước, nếu không nhằm mục tiêu bảo
vệ công dân, mà chỉ lo kiểm soát họ, duy trì ổn định chính trị thì tất cả những
cái bẫy trên đây luôn úp chụp lên xã hội.
Những lời kêu gọi trí thức, doanh nhân đóng ý kiến bỗng
trở nên sáo rỗng khi những ý kiến thẳng thắn bị ngăn chặn. Người trên thì bị mờ
mắt, người dưới thì giả vờ.
Khi đó bất chấp mọi ưu thế về địa chính trị, về tài
nguyên, bất chấp những vị lãnh đạo đầy tham vọng với một dân tộc đầy tiềm năng,
chúng ta mãi mãi nằm trong khối quốc gia nhờ nhờ, không nổi cũng không chìm
trong cái thế giới lang sói mà thủ tướng Canada Mark Carney đã miêu tả:
“Nếu anh không ngồi vào bàn thì anh sẽ trở
thành món trong thực đơn”.
Không ai mời mình vào bàn, nếu không tự giành lấy một chỗ
ngồi. Chỗ ngồi đó không dành cho một xã hội thiếu niềm tin.
(Hết)
No comments:
Post a Comment