Xung
quanh "hòn Vọng Phu" ở Thanh Hóa
Xung
quanh "hòn Vọng Phu" ở Thanh Hóa
Mấy
ngày nay dư luận báo chí và mạng xã hội khá ồn ào xung quanh việc UBND tỉnh
Thanh Hóa đã chi 17 tỉ đồng để “gia cố” hòn Vọng Phu trên núi Nhồi (còn gọi là
núi An Hoạch ở TP Thanh Hóa cũ), và hình ảnh “trắng sáng” lạ thường của nó sau
khi hoàn thành dự án.
Việc
dám chi một số tiền lớn để bảo tồn một di sản thiên nhiên - văn hóa, nếu có giá
trị sâu rộng, thiết nghĩ là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên, vấn đề là khi nhìn
hình ảnh hòn Vọng Phu này ở mọi hướng, cá nhân tôi không thấy có chút gì giống
với dáng hình một người phụ nữ hoặc phụ nữ bồng con/ dắt con cả. Thêm nữa, nếu
đây là một sự tích đã có từ xa xưa thì hẳn đã rất nhiều người biết đến và thành
truyện “kể đêm đêm” cho trẻ con nghe như sự tích nàng Tô Thị ở Lạng Sơn, nhưng
có lẽ rất nhiều người, ngay cả người Thanh Hóa, chỉ biết đến “hòn Vọng Phu” này
khi có vụ “gia cố" 17 tỉ đồng. Điều này làm tôi rất băn khoăn và tự đặt
câu hỏi, liệu khối đá này được gọi là “hòn vọng phu” từ khi nào? Vốn xa xưa đã
gọi thế hay chỉ mới gần đây?
Trong
sách “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi (in lần đầu năm
1993, in lần gần nhất có bổ sung năm 2023, tôi tra ở bản sau), ở bài “Sự tích
đá Vọng phu” có câu: “Điều cần để ý là ở Việt Nam những núi đá có hình người dắt
con hay bồng con mang tên là đá Vọng Phu, thì ngoài Bình Định ra, còn có Lạng
Sơn và Thanh Hóa”. Đây là câu duy nhất trong 8 trang của bài này có nhắc tới
“đá Vọng Phu ở Thanh Hóa”, nhưng không kèm theo bất kỳ câu chuyện cổ tích nào.
Trong khi đó, Nguyễn Đổng Chi đã kể các chuyện về sự tích đá Vọng Phu của Bình
Định, Lạng Sơn…, đá Vọng phu của người Chăm, người Ê-đê…, và chuyện của các nước
khác trên thế giới. Phải chăng chuyện “chờ chồng hóa đá” ở núi Nhồi Thanh Hóa
không hấp dẫn hay lúc đó vẫn chưa có??
Tôi
tiếp tục tìm kiếm.
Trong
sách “Tinh hoa văn hóa xứ Thanh” của nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ (thân phụ
anh Hoàng
Tuấn Công) ở bài “Làng đá An Hoạch” (tr.117), tác giả dẫn sách “Thanh
Hóa kỷ thắng” [khắc in năm 1906] của Vương Duy Trinh, cho biết những thông tin
lý thú:
“Phía
trái chùa độ 450 bước có núi tên là Hinh Sơn cổ tự 馨山古寺 (Có lẽ vốn xưa cũng
có một ngôi chùa cổ nay đã mất-HTP). Bên tả núi ấy, đá núi đã bị lấy gần hết,
chỉ còn một trụ đá cao 100 thước làm cột mốc. Đó là Thạch trụ 石柱 (trụ đá). Xa hơn,
khoảng chừng 50 - 60 bước, có một hang đá sâu hơn 100 trượng. Người xưa nói
“Cân phủ nhược phi nhân tích đáo, lư đồng thùy biện hóa công huyền” 斤斧若非人跡到,爐銅誰辨化公玄. (Không có vết tích
búa rìu của con người để lại, ai có thể phân biệt được cái lò đồng của hóa
công?). Đời Thành Thái năm thứ 7 [tức năm 1895 – TH chú], Đốc quận Hà Đình Nguyễn
Thuật đề trên trụ đá mấy chữ: “Kiệt nhiên trung trì”傑然中峙 (Vòi vọi giữa đất trời)”.
Đặc
biệt hơn:
“Sách
Đại Nam nhất thống chí và sách Đại Thanh nhất thống chí (Trung Quốc) đều chỉ ca
ngợi sắc đá trắng mịn, tiếng đá vang trong, có thể dùng làm khí dụng như
chiêng, khánh, bia kệ,... Vương Duy Trinh cho biết, hòn cao là Thạch Trụ, do
người thợ đá xưa để lại làm cột mốc, sau khi đã lấy đi gần hết ngọn núi cao,
toàn đá tốt, theo lệnh nhà cầm quyền. Tác giả Thanh Hóa kỷ thắng viết: “Bên tả
núi ấy, đá đã bị lấy mất gần hết chỉ còn một trụ đá cao 100 thước (40m) làm cột
mốc. Đó là Thạch Trụ”. Bởi không lên tận nơi, xem tận mắt nên người đời có người
hiếu sự bịa đặt thành núi Vọng Phu! Hòn thạch trụ còn gọi “Thiên trụ thạch”.
Như
vậy, trong sách của Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh đầu thế kỷ 20, khối đá
này chỉ được gọi là “thạch trụ”, “thiên thạch trụ”, chứ không thấy gọi là “hòn
Vọng Phu”. Thêm nữa, tác giả cho biết, nó không phải là thiên tạo, mà là sản phẩm
có sự góp phần của con người (do ngọn núi bị lấy hết và chừa lại mà thành cái
trụ này để làm mốc).
Tác
giả - Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh còn trực tiếp phủ nhận “núi vọng phu”
và gọi đó là “sự bịa đặt”, do người đời “hiếu sự” nhưng không lên tận nơi để
xem nên mới bày đặt ra như vậy.
Khi
tôi lên tận nơi xem thì thấy phủ kín mặt núi ở mọi phía là một lớp đá dăm chỗ mỏng
chỗ dày, nghĩa là toàn bộ quả núi này đã bị khai thác. Biết về làng đá An Hoạch
thì ta cũng sẽ biết rằng, việc khai thác đá ở núi này đã diễn ra cả nghìn năm
cho đến gần đây. Đá núi An Hoạch nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn đi vào sử
sách phong kiến Trung Quốc, nên việc bị khai thác như thế, há cũng chẳng phải
điều gì lạ lùng.
Nhà
thơ yêu nước đầu thế kỷ XX trong bài thơ “Vịnh núi Thiên trụ” có mấy câu: Hỡi
ông cao ngất đứng trên ngàn/ Liệu có tình chi với thế gian/ Sớm tối chỉ trông
mây với gió/ Non sông nào biết mất hay còn”.
Nguyễn
Đôn Dự gọi cái trụ đá này là “ông”, chứ không phải cô hay nàng!
Đây
là những tra cứu ban đầu của tôi, bạn nào có thông tin gì cũ/cổ hơn, thì xin
chia sẻ giúp.
Chưa
xét đến giá trị thẩm mỹ và chất lượng công trình, điều làm tôi băn khoăn đi tìm
(trong sự hi vọng) là: việc bỏ ra 17 tỉ đồng là một vụ đầu tư “đúng nơi đúng chỗ”,
“đáng đồng tiền bát gạo” cho một di sản thiên nhiên - văn hóa, chứ không phải
do nhầm lẫn mà thành ra gia cố cho một cục đá nhân tạo cả về xuất thân cũng như
“câu chuyện cổ tích” mới được thêu dệt ra gần đây.
Thái
Hạo
Hình
:
https://www.facebook.com/photo?fbid=1267584395248577&set=a.225469346126759
Cụ Hoàng Tuấn Phổ cũng là phụ thân anh Hoàng
Tuấn Can - người mà trong thời gian qua đã góp nhiều lời bàn về dự án
"gia cố 17 tỉ đồng" này.
Thêm: Trong sách Thanh Hóa kỷ thắng, Vương Duy Trình cho
biết trụ đá này cao 100 thước (40 mét), tuy nhiên hiện tại nó chỉ cao khoảng 20
mét, vậy hòn đá trong sách của VDT và hòn này có phải là một không? Vì qua sự
mô tả và vì 4 chữ "kiệt nhiên trung trĩ" vẫn còn trên thân cục đá
này, nên chắc hẳn là một.
Vậy tại sao từ 40 mét mà giờ chỉ còn 20 mét? Phải chăng
do nhiều biến động theo thời gian mà nó bị gãy dần và chỉ còn lại như hiện nay?
Và việc gia cố với 17 tỉ đồng lần này có đảm bảo cho trụ đá sẽ đứng vững trong
tương lai, hay sẽ tiếp tục đổ sập?
Khi dự án " gia cố hòn Vọng Phu" bắt đầu khởi động
( tháng 7, 2025 ), anh đã có bài viết, và rằng : " Tạo hoá sinh ra hòn đá
nhô cao lên trên đỉnh núi - thiên trụ (sử sách chép như vậy chứ sử sách không
nói đây là hòn Vọng Phu)
Hòn Vọng Phu, có lẽ là vào thời cách mạng, một bộ phận
dân gian vận tên vào cho nó, để nói về hình ảnh người thiếu phụ ôm con ngóng
trông chồng đi chính chiến.
Các làng xã phía Nam núi Nhồi thì gọi đây là đỉnh "
núi Ba cô ba cọc "
Bài viết:
https://www.facebook.com/share/p/1AuHNmpP8L/
***
Xung
quanh “hòn Vọng Phu” ở Thanh Hóa (2)
Việc
chính quyền tỉnh Thanh Hóa chi 17 tỉ đồng để “gia cố” “hòn Vọng Phu” này, hôm
qua tôi đã có bài tra cứu về gốc tích và tên gọi của nó. Bước đầu, với những tư
liệu có được, tạm kết luận rằng, đến đầu thế kỷ 20 khối đá này vẫn còn được gọi
là “thạch trụ”, “thiên thạch trụ” và do người dân khai thác đá chừa lại mà
thành (để làm mốc), chứ không phải hoàn toàn thiên tạo và cũng không được gọi
là “hòn Vọng Phu”. Tổng đốc Thanh Hóa, tác giả của “Thanh Hóa kỷ thắng” Vương
Duy Trinh còn khẳng định: việc tưởng tượng ra “hòn vọng phu” là bịa đặt. Xem
bài viết ở đây: https://www.facebook.com/share/p/1AwZRCCfjP/
Ở
bài này, tôi muốn đề cập đến vấn đề khác, là thực địa.
1.
Lúc
15 giờ hôm qua, khi leo lên tới chỗ “hòn Vọng phu” (HVP), thấy 5 công nhân đang
làm việc. Họ nối 2 chiếc thang tre vào nhau, tổng chiều cao khoảng 10 mét, bắc
lên vách của HVP, dùng vòi nước áp suất lớn xịt rửa. Tuy có dây thừng cột lơi
chiếc thang vào vách đá nhưng nhìn rất chông chênh, nguy hiểm. Việc xịt rửa này
chắc là do báo chí và mạng xã hội phản ánh và phản đối về hình ảnh “tráng sáng”
lạ thường của HVP sau công tác gia cố.
Tôi
lại gần HVP và dùng tay di lên lớp bột trắng đang phủ kín bề mặt của nó, thì thấy
rất dễ bong tróc. Đây có thể chỉ là lớp mạt đá được sinh ra do quá trình khoan
lỗ từ trên cao hoặc do vật liệu dùng để gia cố, chảy xuống và phủ lên mà thành.
Có lẽ chỉ cần vài cơn mưa lớn thì sẽ trôi đi, hoặc theo thời gian thì lớp màu
trắng kia cũng biến đổi, sẽ đen nâu lại thôi.
Đó
là mới ở tầng dưới, chứ còn phần trên cao chót vót cũng trắng xóa, thì dùng
thang tre kiểu này là không thể thực hiện được và mức độ đe dọa còn cao hơn nữa.
Tôi hỏi một anh trong đội, là công việc vất vả nguy hiểm như thế này, tiền công
mỗi ngày có được 1 triệu không anh. Anh ta cười lớn, trả lời: làm gì có anh, tụi
em lao động phổ thông thôi.
Tóm
lại, thiết nghĩ không cần phải làm cái công việc mạo hiểm và nguy hiểm là leo
lên vách cao để xịt rửa như vậy. Cứ để tự nhiên, chỉ qua vài tháng mưa nắng là
màu tự nhiên sẽ trở lại thôi. Cứ sợ dư luận rồi cố mà làm trong điều kiện không
an toàn thế này, lỡ có tai nạn xảy ra thì hậu quả khôn lường.
2.
Cụm
di tích nghệ thuật và thắng cảnh núi An Hoạch (núi Nhồi), được công nhận Di
tích quốc gia năm 1992, là quần thể di tích gắn liền với đá quý và nghề khắc đá
truyền thống tại TP Thanh Hóa, bao gồm Hòn Vọng Phu, Chùa Quan Thánh, Đình Thượng,
Chùa Hinh Sơn, Lăng Quận Mãn, cùng hệ thống bia đá, tượng khắc tinh xảo trong
hang động…
Tuy
nhiên, trên đường đi vào núi Nhồi, từ bên ngoài khi còn cách HVP khoảng 1km,
trên đường Trịnh Huy Quang đã bắt đầu thấy bụi đá mù mịt, cây lá và nhà cửa của
người dân đều trắng xóa. Có lẽ vì bụi quá nên người ta dùng nước tưới lên con
đường đầy ổ gà nên thành ra lầy lội, bẩn thỉu kinh khủng. Tiếng máy cắt đá,
nghiền đá, tiếng của các khu khai thác từ xa dội lại, mỗi lúc một ồn ào hơn. Xe
tải lớn chạy rầm rộ. Phải nói rằng, xung quanh núi Nhồi là một vùng ô nhiễm nặng
nề. Khung cảnh vô cùng nhếch nhác, lộn xộn, bẩn thỉu.
Dưới
chân núi Nhồi là khu dân cư thuộc Thành phố Thanh Hóa (cũ), nhà cửa đông đúc;
đây lại là một quần thể di tích được xếp hạng là Di tích quốc gia, nhưng không
hiểu sao một nghề gây ô nhiễm nghiêm trọng như khai thác và chế biến/chế tác đá
(bằng máy móc hiện đại chứ không phải thủ công như xưa) lại không được di dời
ra bên ngoài? Để dân và di tích sống trong khói bụi và ô nhiễm ở mức nặng nề
như thế, liệu có phù hợp?
Thú
thực nếu là khách du lịch, nghe nói đến những vẻ đẹp của cụm di tích quốc gia
nhiều giá trị này mà tìm tới, có lẽ họ sẽ một đi không trở lại. Vì ở đây giống
một công trường đang hoạt động hết công suất hơn là một khu đô thị có di tích cổ
kính lâu đời.
3.
Mặc
dù đã tới nơi và nhìn thấy HVP ngay trên đầu, nhưng tôi phải hỏi thăm rất lâu mới
tìm được đường lên. Đó là một cái cổng chỉ rộng khoảng… 1 mét. Theo chia sẻ của
một người dân, thì cái ngõ 1 mét này là do chính ông cắt đất cho vị thấy cúng/
thầy bói để ông ta có đường lên núi. Ông thầy dựng nhà/ am ngay ở chân HVP.
Hàng năm, mỗi dịp lê tết, khách đến cầu cúng rất nhiều.
Cũng
theo chia sẻ của người dân này, việc HVP bị sét đánh là do ông thầy cúng/ thầy
bói này mang tôn (kim loại) lợp mái nhà dưới chân HVP. Cái này thì khó kết luận
chắc chắn, chỉ là suy đoán chủ quan thôi, nhưng điều tôi băn khoăn là tại sao một
di tích quốc gia lại có thể cho người dân (thầy cúng) lên dựng nhà thờ cúng và
sinh hoạt ở đó được? Khâu quản lý và bảo tồn có lẽ đang bị thả nổi chăng?
Lại
nữa, từ trên đỉnh núi ở vị trí HVP, tiếng máy từ các mỏ/ xưởng rầm rộ vọng tới.
Tôi không biết là họ khai thác đá tại chỗ để chế biến hay là chuyển ở nơi khác
về, nhưng thấy mấy quả núi đá xung quanh thì đã bị xẻ nát, màu còn mới nguyên.
Thêm
nữa, từ trên vị trí HVP, nhìn về hướng Đông là TP Thanh Hóa, hướng Tây là một
quần thể núi non và đồng ruộng rất đẹp. Có những quả núi đứng cô đơn như một
hòn đảo giữa một hồ nước, rất giống cảnh ở Vịnh Hạ Long. Tuy nhiên, ngay chân
núi Nhồi có một hồ nước hiện đang bị san lấp, không biết họ định xây dựng công
trình gì ở đó.
Tóm
lại, ô nhiễm môi trường (bụi bẩn, lầy lội, tiếng ồn…) và một “quy hoạch” nhếch
nhác đang dần hiện ra.
Việc
một quần thể di tích quốc gia bị đặt trong bối cảnh này, quả thật không có lời
giải thích nào hợp lý cả. Đó là chưa nói, từ núi Nhồi đi ra đại lộ Lê Lợi (con
đường lớn nhất và là trung tâm của TP Thanh Hóa) chỉ khoảng 1 km!
Theo
tôi, cần tạo cho quần thể di tích quốc gia núi Nhồi (An Hoạch) một không gian
phù hợp, để vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị văn hóa, chứ không thể bỏ mặc
trong ô nhiễm nghiêm trọng và sự lộn xộn như vậy được.
4.
Nói
chuyện với một người dân dưới chân núi Nhồi, ông cho biết là đã ở đây từ những
năm 1990, tuy nhiên đến nay chưa có sổ đỏ và cũng không được cấp, vì đã làm rồi
mà không được. Có thể một ngày nào đó, họ sẽ phải di dời mà không được đền bù đất
đai. Cũng theo ông, cả khu này đều thế chứ không riêng ông.
Chưa
bàn đến các các quy định của pháp luật xem việc đó đúng sai ra sao, nhưng nếu
nhiều hộ dân xung xung quanh núi Nhồi, một ngày bất thình lình nào đó buộc phải
di dời mà không được công nhận quyền sử dụng đất, không được đền bù đất đai,
thì họ sẽ đi đâu, về đâu? Cuộc sống của ông bà, con cái, cháu chắt họ sẽ ra
sao?
Thiết
nghĩ, HVP hay di tích lịch sử văn hóa nào cũng vậy, giữ gìn quá khứ rốt cuộc
cũng chỉ có ý nghĩa nếu nó mang lại giá trị cho hiện tại, cho tương lai và cho
người dân. Tôi bỗng thấy lòng chùng xuống khi nghĩ đến cảnh hàng chục, hàng
trăm hộ dân một ngày bất kỳ phải ra khỏi căn nhà của mình mà không biết phải
nương tựa vào đâu. Có lẽ chính quyền cần nghiên cứu và quan tâm đến vấn đề này
một cách sâu sát và thiết thực hơn. Dân có an thì nước mới thịnh.
5.
Điều
cuối cùng tôi muốn nói, là bất kỳ di sản văn hóa, lịch sử nào cũng phải được
nuôi dưỡng trong một tổng thể hữu cơ, từ cảnh quan, môi trường, dân cư, sinh kế,
kết nối quá khứ với hiện tại, tinh thần với đời sống, văn hóa với kinh tế…
Không một di tích nào có thể sống được một cách lành mạnh nếu bị tách rời khỏi
chỉnh thể ấy.
Vì
thế, không chỉ đầu tư cho một hạng mục cụ thể nào đó mà không tính và bao quát
những phương diện khác, để vừa nuôi sống di sản, vừa mang lại sinh kế lành lạnh
của cư dân, vừa giữ được cảnh quan môi trường, làm nền cho những giá trị trường
cửu.
Xây
dựng, trùng tu, giữ gìn các hạng mục trong cụm di tích quốc gia núi Nhồi, phải
đồng thời mang lại cho nó một môi trường xanh, sạch, đẹp, phồn thịnh. Tôi tin rằng,
nếu “dọn dẹp” sạch sẽ khu vực này, di dời các nhà xưởng, mỏ đá, xây dựng lại cơ
sở hạ tầng đường sá, phát triển nghề thủ công về đá (không lạm dụng máy móc) và
buôn bán đồ đá mỹ nghệ…, thì du lịch sẽ phát triển, giá trị di sản cũng sẽ được
phát huy. Cư dân nơi đây sẽ được sống giữa di sản và sự phát triển thịnh vượng,
an bình.
Rất
mong những sự thay đổi tích cực và đồng bộ trong thời gian tới, để thấy di sản
sống dậy và thực sự mang lại vẻ đẹp cho hiện tại và tương lai của quê hương…
Thái
Hạo
--------
HÌNH :
https://www.facebook.com/photo?fbid=1268056261868057&set=pcb.1268058535201163
Một
công nhân đang rửa vách đá
.
https://www.facebook.com/photo?fbid=1268056295201387&set=pcb.1268058535201163
Một
công nhân khác đang dùng máy chà để chà sạch lớp "sơn" màu trắng
.
https://www.facebook.com/photo?fbid=1268056281868055&set=pcb.1268058535201163
Hồ
nước dưới chân núi Nhồi đang bị san lấp
.
https://www.facebook.com/photo?fbid=1268056325201384&set=pcb.1268058535201163
Cổng
lên "hòn Vọng Phu"
.
https://www.facebook.com/photo?fbid=1268056348534715&set=pcb.1268058535201163
Một
địa điểm rất bụi bặm và hình một quả núi đã bị khai thác nham nhở
.
https://www.facebook.com/photo?fbid=1268057738534576&set=pcb.1268058535201163
Giàn
giáo dựng để gia cố HVP và bên cạnh là một ngọn núi đã bị khai thác nham nhở (ảnh
Báo Người Lao Động)
.
https://www.facebook.com/photo?fbid=1268060128534337&set=pcb.1268058535201163
Căn
nhà của ông thầy cúng (đã bị gỡ mái để phục vụ công tác trùng tu/gia cố HVP).
.
.
Hiện
trạng hòn Vọng Phu sau dự án đầu tư 17 tỉ đồng ở Thanh Hóa | Báo Pháp Luật TP.
Hồ Chí Minh
https://plo.vn/hien-trang-hon-vong-phu-sau-du-an-dau-tu-17-ti-dong-o-thanh-hoa-post891872.html
****
Xung
quanh “hòn Vọng Phu” ở Thanh Hóa (Kỳ 2)
Thái Hạo - Báo Tiếng Dân
18/01/2026
https://baotiengdan.com/2026/01/18/xung-quanh-hon-vong-phu-o-thanh-hoa-ky-2/#google_vignette
Xung
quanh “hòn Vọng Phu” ở Thanh Hóa (Kỳ 1)
Thái Hạo - Báo Tiếng Dân
18/01/2026
https://baotiengdan.com/2026/01/18/xung-quanh-hon-vong-phu-o-thanh-hoa-ky-1/#google_vignette
No comments:
Post a Comment