Đại chiến lược đằng
sau chính sách đối ngoại của Trump
A. Wess Mitchell - Foreign
Policy
Nguyễn
Thị Kim Phụng,
biên dịch
https://nghiencuuquocte.org/2026/01/22/dai-chien-luoc-dang-sau-chinh-sach-doi-ngoai-cua-trump/
Đừng
bận tâm những người chỉ trích. Logic về củng cố vị thế định hình nên Chiến lược
An ninh Quốc gia mới là hoàn toàn hợp lý.
Hai
luồng chỉ trích cơ bản đã xuất hiện sau khi chính quyền Trump công bố Chiến lược
An ninh Quốc gia (NSS) mới của Mỹ vào tháng trước. Một số nhà phê bình cho rằng
văn kiện này thiếu tầm nhìn chiến lược thống nhất, và chỉ đơn thuần là một danh
sách mong muốn mang tính giao dịch nhằm làm hài lòng các phe phái đối lập trong
chính quyền. Những người khác lại cho rằng nó thể hiện sự rút lui khỏi cạnh
tranh, theo đó ngầm chấp nhận – và thậm chí khuyến khích – các cường quốc đối
thủ tìm kiếm sự thống trị trong khu vực của họ.
Hai
luồng chỉ trích này tương ứng với hai luồng quan điểm chính sách đối ngoại chủ
đạo trong chính trường Mỹ suốt 30 năm qua. Đối với nhóm thứ nhất, chủ yếu gồm
những tiếng nói từ cánh tả chính thống, ý nghĩa của NSS nằm ở việc họ xem đó là
quyết định ngầm từ bỏ sự ủng hộ của Mỹ đối với cái gọi là trật tự quốc tế dựa
trên luật lệ. Đối với nhóm thứ hai, chủ yếu gồm những tiếng nói từ cánh hữu
chính thống, ý nghĩa của NSS nằm ở sự từ bỏ vị thế quân sự vượt trội của Mỹ ở
châu Âu và châu Á, đồng thời sẵn sàng chấp nhận những lập trường nhượng bộ đối
với Nga và Trung Quốc.
Cả
hai phe đều xem cuộc tấn công của Mỹ vào Venezuela là bằng chứng xác thực cho lập
luận của mình. Điểm chung trong cả hai lời chỉ trích là nhận thức rằng chính
sách đối ngoại của Trump không chỉ là bước ngoặt rời khỏi cách làm việc thông
thường của Mỹ ở nước ngoài, mà còn là sự từ bỏ hoàn toàn kỷ luật của đại chiến
lược – dù là trong hình thức thể chế hay quân sự – để đổi lấy một thứ hoàn toàn
khác: ý thức hệ, chủ nghĩa giao dịch, và các chiến thuật ngắn hạn.
Nhưng
cả hai luồng chỉ trích đều không đúng trọng tâm. Các hành động chiến lược của
Trump, và rộng hơn là NSS, thực chất bắt nguồn từ một logic rõ ràng và thuyết
phục, được xây dựng vững chắc trên nền tảng của đại chiến lược. Trong lịch sử,
logic này được gọi là củng cố (consolidation): nỗ lực của một cường quốc nhằm
chủ động củng cố vị thế của mình để gia tăng sức mạnh mà họ có thể sử dụng theo
thời gian. Củng cố vị thế có nghĩa là chấp nhận những đánh đổi ngắn hạn, trong
khi nỗ lực cải tạo các yếu tố cấu trúc cơ bản để cường quốc đó có thể vượt qua
hoặc giảm thiểu những đánh đổi đó trong tương lai. Nói cách khác, nó là sự đánh
đổi rủi ro ngắn hạn lấy lợi ích dài hạn.
Củng
cố là một chiến lược lâu đời được nhiều cường quốc thành công nhất trong lịch sử
sử dụng để ổn định vị thế của họ trong những thời khắc nguy hiểm. Nó phản ánh một
thực tế phổ quát trong cuộc sống, kinh doanh, và chiến lược: Các hệ thống bị
dàn trải quá mức thường dễ sụp đổ. Trong trường hợp của Mỹ, củng cố vị thế là
phản ứng hợp lý đối với hai vấn đề chiến lược tối quan trọng – thứ nhất, nước
này không đủ sức mạnh quân sự để chiến đấu với tất cả các đối thủ cùng một lúc,
nếu cần. Và thứ hai, sức mạnh kinh tế và công nghệ tổng thể của nước này đang dần
suy yếu so với Trung Quốc, đối thủ đáng gờm nhất trong lịch sử Mỹ.
Cả
hai vấn đề đều bắt nguồn từ các chính sách trước đây, khi Mỹ mở rộng cam kết
quân sự ở nước ngoài nhưng lại bỏ quên những nguồn sức mạnh nền tảng mà quyền lực
của Mỹ thực sự dựa vào. Kết quả là khoảng cách ngày càng lớn giữa các phương tiện
mà Washington có trong tay và các mục tiêu mà họ muốn đạt được bằng cách sử dụng
những phương tiện đó. Khoảng cách này là có thật và sẽ không tự thu hẹp lại.
Tìm cách thu hẹp hoặc ứng phó với khoảng cách giữa mục tiêu và phương tiện
chính là cốt lõi của đại chiến lược.
Có
thể xem NSS như một khuôn khổ để chủ động quản lý khoảng cách đó, thông qua hai
hướng: vừa tăng cường các nguồn lực mà Mỹ có trong tay (bằng cách tái cấu trúc
quan hệ thương mại, cân bằng lại các liên minh, và huy động nguồn lực của Mỹ
cũng như toàn khu vực châu Mỹ), vừa giảm bớt các mục tiêu hoặc mối đe dọa trước
mắt mà những nguồn lực này phải đối phó (thông qua ngoại giao chiến lược, hòa
hoãn, và răn đe). Về mặt chính sách, điều này được thể hiện qua năm trụ cột
chính: củng cố Tây bán cầu; duy trì cân bằng quyền lực thuận lợi ở châu Á; giao
phó quốc phòng châu Âu cho người châu Âu; giao phó sự ổn định Trung Đông cho
các liên minh khu vực; và tận dụng năng lượng của Mỹ và việc bãi bỏ quy định để
thúc đẩy mạnh mẽ các công nghệ cạnh tranh của Mỹ.
Tất
cả các trụ cột này đều tuân theo logic cạnh tranh hướng tới sự củng cố vị thế.
https://foreignpolicy.com/wp-content/uploads/2026/01/USA-VENEZUELA-MADURO-CAPTURE-NEW-YORK.jpg
Tổng
thống Venezuela Nicolás Maduro được các đặc vụ liên bang Mỹ hộ tống đến một tòa
án ở Manhattan để đối mặt với các cáo buộc liên bang của Mỹ, tại Thành phố New
York ngày 05/01/2026. Ảnh: Adam Gray/Reuters.
Trụ
cột đầu tiên là nội dung hứng chịu nhiều chỉ trích nhất. Những người chỉ trích
cho rằng, bằng việc tái khẳng định mạnh mẽ Học thuyết Monroe, chính quyền đang
ngầm từ bỏ logic cạnh tranh vì nó chuyển hướng nguồn lực của Mỹ khỏi mối đe dọa
hàng đầu là Trung Quốc. Nhưng việc tái tập trung vào khu vực sân nhà không nhất
thiết mâu thuẫn với nguyên tắc cạnh tranh. Trong cuốn sách gần đây của tôi,
trong đó nghiên cứu các sự kiện địa chính trị diễn ra xuyên suốt 1.400 năm đại
chiến lược, tôi nhận thấy rằng khi bị đe dọa bởi nguy cơ chiến tranh đa mặt trận
vượt quá khả năng chiến thắng trước mắt, phần lớn các cường quốc đã phản ứng bằng
cách bảo vệ khu vực sân nhà của mình trước tiên. Bảo vệ biên giới, đẩy lùi các
đối thủ khỏi vùng lân cận, và đảm bảo khả năng kiểm soát các khu vực tài nguyên
liền kề là những điều kiện tiên quyết để duy trì cạnh tranh ở những nơi xa hơn.
Nhờ
vị trí địa lý độc đáo của Tây bán cầu, Mỹ sở hữu khả năng đặc biệt để củng cố vị
thế mà không làm phân tán sự chú ý khỏi các đối thủ chính. Trong khi Nga và
Trung Quốc nằm trong các khu vực đầy rẫy các cường quốc công nghiệp đối địch và
được vũ trang mạnh mẽ, Mỹ lại nằm trong một khu vực có sự bất đối xứng quyền lực
rõ rệt hơn nhiều, nghiêng hẳn về phía họ. Không giống như Nga đối với Đông Âu
và Trung Quốc đối với Đông Á, Mỹ không có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nào ở Mỹ
Latinh. Washington có thể dễ dàng đạt được mục tiêu của mình ở đó thông qua các
cuộc phô trương sức mạnh định kỳ mà không cần triển khai lực lượng thường trực
quy mô lớn trong khu vực. Hải quân Mỹ có thể hiện diện ở Đông Thái Bình Dương
hôm nay và Tây Thái Bình Dương 10 ngày sau đó.
Vì
vậy, việc chuyển hướng sang Tây bán cầu tự nó không nhất thiết là sự chuyển hướng
khỏi Trung Quốc, nước rõ ràng sẽ tiếp tục là mối đe dọa bên ngoài hàng đầu xét
về tư thế quân sự và mua sắm vũ khí. Miễn là chính quyền không để mình bị cuốn
vào một nỗ lực xây dựng quốc gia kéo dài và tốn kém tại Venezuela – và có những
dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ muốn tránh điều đó – thì sự tập trung hiện tại vào
Mỹ Latinh sẽ giúp củng cố chứ không làm suy yếu quyền lực và uy tín của Mỹ ở
châu Á. Quyền tiếp cận dầu mỏ của Venezuela, bao gồm cả việc dùng nguồn này để
bồi thường cho các doanh nghiệp Mỹ từng bị quốc hữu hóa tài sản trong quá khứ,
càng củng cố thêm quyền lực của Mỹ, đồng thời tước đoạt các nguồn tài nguyên đó
khỏi Trung Quốc. Việc Mỹ tiếp cận hoặc kiểm soát tài nguyên ở Greenland, nếu điều
đó cuối cùng trở thành hiện thực, cũng tuân theo logic củng cố tương tự.
Trụ
cột thứ hai của NSS, liên quan trực tiếp đến Trung Quốc, cũng làm dấy lên nhiều
quan ngại. Bằng cách định hình quan hệ với Bắc Kinh chủ yếu trên phương diện
kinh tế, các nhà phê bình cho rằng chính quyền đang phát tín hiệu rút lui khỏi
cách tiếp cận cạnh tranh vốn được nhấn mạnh trong NSS thời chính quyền Trump đầu
tiên. Nhưng một động thái hướng tới hòa hoãn địa kinh tế với Trung Quốc không
nhất thiết là thiếu tính cạnh tranh. Một số trường hợp thú vị nhất mà tôi đã
phân tích trong cuốn sách của mình liên quan đến các cường quốc cần phải cùng tồn
tại với một đối thủ kinh tế, trong khi cũng chuẩn bị cho khả năng chiến tranh
chống lại chính đối thủ đó.
Trong
trường hợp của Mỹ, cần lưu ý thêm hai thực tế nữa. Thứ nhất, khi NSS được công
bố, chính quyền đang trong quá trình đàm phán thương mại toàn diện với Trung Quốc.
Thứ hai, do nhiều năm bỏ bê nền tảng công nghiệp quốc phòng, Mỹ cần thời gian để
đảm bảo chuỗi cung ứng của mình và chuẩn bị tốt hơn để răn đe và, nếu cần, để
chiến đấu trong một cuộc chiến tiềm tàng với Trung Quốc. Những nỗ lực của chính
quyền nhằm thúc đẩy tái công nghiệp hóa có mục tiêu thông qua các chính sách
thương mại và thuế quan có đi có lại, bãi bỏ quy định, và tăng sản lượng năng
lượng trong nước nhiều khả năng sẽ giúp cải thiện tình hình theo thời gian. Và
các cải cách mua sắm mới đây của Bộ Quốc phòng, tập trung vào việc tạo điều kiện
cho các công ty nhỏ hơn và linh hoạt hơn tiếp cận các hợp đồng quân sự, có tiềm
năng đẩy nhanh sản xuất quốc phòng của Mỹ.
Nhưng
hiện tại, Mỹ cần không gian để ‘thở.’ Một chiến lược nhấn mạnh ngoại giao để
tìm ra giải pháp hòa giải tạm thời với Trung Quốc trong khi vẫn vun đắp các yếu
tố sức mạnh dài hạn là phản ứng hợp lý đối với tình hình hiện tại. Bắc Kinh chắc
chắn đã nhận ra rằng mọi trụ cột khác của NSS đều nhằm mục đích giải phóng nguồn
lực của Mỹ để tập trung vào việc răn đe thái độ hung hăng của Trung Quốc.
Các
binh sĩ Mỹ tham gia cuộc tập trận quân sự chung Mỹ-Romania tại Smardan,
Romania, ngày 10/03/2022. Ảnh: Andreea Campeanu /Getty Images
Nội
dung về châu Âu trong NSS có lẽ là gây tranh cãi nhất. Trọng tâm chính – giao
trách nhiệm lớn hơn về an ninh của lục địa già cho chính người dân nơi đây – là
một phản ứng đáng lẽ phải xuất hiện trước đây rất lâu, bởi thực tế là Mỹ hiện
thiếu lực lượng quân sự thông thường đủ để tham chiến đồng thời ở châu Âu và
châu Á. Ít được đề cập hơn, nhưng cũng quan trọng không kém đối với sự thành
công của chiến lược củng cố, là việc chính quyền Mỹ tập trung vào việc phản đối
các khuôn khổ pháp lý mang tính trừng phạt của châu Âu. Nếu không được điều chỉnh,
những quy định này có nguy cơ bào mòn và làm suy yếu năng lực đổi mới của Mỹ
trong các lĩnh vực công nghệ – những lĩnh vực sẽ quyết định phần lớn kết quả của
cuộc cạnh tranh lâu dài với Trung Quốc.
Các
nhà phê bình cho rằng sự chỉ trích thẳng thừng của NSS đối với nền chính trị
châu Âu hiện hành xuất phát từ ý thức hệ chứ không phải chiến lược. Nhưng tình
trạng ở châu Âu mà NSS lên án – kết hợp nguy hiểm giữa sự trì trệ kinh tế tự
gây ra, các nhóm người nhập cư chưa hòa nhập ngày càng lớn, và sự đàn áp ngôn
luận – thực sự là một mối đe dọa mang tầm vóc văn minh đối với châu Âu, và rộng
hơn là đối với phương Tây. Nỗ lực của Mỹ nhằm “giúp châu Âu điều chỉnh lại quỹ
đạo hiện nay,” như cách NSS diễn đạt, mang bản chất chiến lược, bởi nó cố gắng
ngăn chặn quá trình suy yếu dần của một nửa thế giới phương Tây. Có rất nhiều
ví dụ lịch sử về những cường quốc hành xử theo cách tương tự đối với các đồng
minh có nền văn minh tương đồng ở gần mình. Xin dẫn chứng một ví dụ nổi bật.
Hãy xem xét cách Otto von Bismarck, đại diện hàng đầu của chính trị thực dụng,
đã can thiệp thường xuyên và mạnh mẽ để tác động đến chính trị nội bộ của Đế quốc
Áo-Hung theo hướng có lợi cho Đức.
Có
lẽ điều dễ đoán nhất là, trụ cột của NSS về việc giảm ưu tiên khu vực Trung
Đông sẽ dẫn đến những dự đoán về “khoảng trống quyền lực” gây ra thảm họa khôn
lường. Nhưng ở mức độ còn lớn hơn cả ở châu Âu, chính sách gần đây của Mỹ đã tạo
ra các điều kiện thuận lợi cho cân bằng quyền lực Trung Đông, hỗ trợ việc giảm
quy mô hiện diện quân sự của Mỹ. Các cuộc không kích của Israel và Mỹ vào Iran
hồi năm ngoái đã làm suy yếu đáng kể sức mạnh quân sự của đối thủ chính trong
khu vực mà Mỹ đã triển khai lực lượng chống lại. Hiệp định Abraham và các nỗ lực
ngoại giao tiếp theo của Mỹ nhằm khuyến khích Israel và các nước Ả Rập xích lại
gần nhau đã mang lại sự ổn định cho khu vực mà chỉ mới vài năm trước đây người
ta còn không thể tưởng tượng nổi. Dù Trung Đông luôn có khả năng tạo ra những bất
ngờ, nhưng sẽ là không hợp lý nếu xem khu vực này ngang hàng với châu Á hay
châu Âu trong việc phân bổ nguồn lực quân sự của Mỹ.
Các
mục tiêu quốc tế của chính quyền Trump đều có liên quan đến mục tiêu trong nước
bao quát là phục hồi vị thế quyền lực lâu dài của Mỹ thông qua sự kết hợp giữa
tái công nghiệp hóa, bãi bỏ quy định kinh tế, sản xuất năng lượng, và tạo ra
các yếu tố cần thiết để duy trì sự thống trị trong các công nghệ mới nổi sẽ định
hình cạnh tranh với Trung Quốc. Các yếu tố quốc tế và trong nước của chiến lược
có xu hướng hoạt động song song: tập trung nhiều hơn vào Tây bán cầu giúp ổn định
lãnh thổ Mỹ; cân bằng quyền lực giữa các chủ thể khu vực ở châu Âu và Trung
Đông giải phóng nguồn lực để tập trung nhiều hơn vào Trung Quốc; ngoại giao chiến
lược với Trung Quốc giúp có thêm thời gian để xây dựng lại sức mạnh quốc gia;
nhấn mạnh sự hài hòa về quy định với Mỹ khuyến khích đổi mới công nghệ trong nước;
và đầu tư trong nước vào công nghiệp và năng lượng giúp thiết lập nền tảng kinh
tế cho một cán cân quyền lực thuận lợi hơn cho Mỹ ở tất cả các khu vực theo thời
gian.
Trump
phát biểu trước các nhân viên trên tàu sân bay USS George Washington tại căn cứ
hải quân Mỹ ở Yokosuka, Nhật Bản, ngày 28 tháng 10 năm 2025. Ảnh: Andrew
Caballero-Reynolds/AFP via Getty Images
Điều
này không có nghĩa là chiến lược này hoàn hảo hoặc sẽ không gặp phải những
thách thức nghiêm trọng. Có hai vấn đề đặc biệt có khả năng định hình di sản
chiến lược của chính quyền Mỹ hiện tại. Vấn đề đầu tiên, nhiều khả năng sẽ xuất
hiện trong thời gian ngắn, liên quan đến phản ứng của các đối thủ. Logic cốt
lõi của củng cố vị thế là câu giờ để đạt được vị thế tốt hơn, theo đó ngầm chấp
nhận rủi ro trong ngắn hạn. Các đối thủ của Mỹ có thể nhìn thấu logic này cũng
như viễn cảnh mà nó mang lại là một nước Mỹ mạnh hơn – và họ cũng có thể quyết
định xem liệu điều đó có trở thành hiện thực hay không. Họ có thể lựa chọn tận
dụng lợi thế của mình trong ngắn hạn để gây sức ép. Sự can dự ngoại giao chặt
chẽ của Trump với Nga và Trung Quốc mang đến cho cả hai triển vọng khả thi về lợi
ích chung – trong hợp tác kinh tế và ổn định chiến lược – qua đó làm giảm động
lực để đối đầu ngay lập tức và leo thang với Mỹ.
Thách
thức thứ hai mang tính dài hạn hơn và liên quan đến các đồng minh của Mỹ. Ở mức
độ lớn hơn bất kỳ yếu tố nào khác, ngoại trừ sự phục hưng trong nước, thành
công của củng cố vị thế phụ thuộc vào việc sử dụng khéo léo các đồng minh. Các
đồng minh không chỉ đóng vai trò thiết yếu trong việc gánh vác gánh nặng quốc
phòng lớn hơn, mà còn trong việc tập hợp dân số, của cải, và đổi mới cho cuộc cạnh
tranh công nghệ và công nghiệp dài hạn. Trung Quốc có lợi thế ban đầu nhờ quy
mô của họ. Nhưng Mỹ có thể bù đắp bằng cách vừa huy động các đồng minh gánh vác
gánh nặng quốc phòng lớn hơn, vừa tích hợp họ sâu hơn vào nền tảng công nghiệp
và công nghệ của Mỹ. Các chính sách của Trump đã tạo ra động lực mạnh mẽ để khiến
nhiều đồng minh thay đổi các phương pháp an ninh và quy định cũ, vốn cản trở sức
mạnh của phương Tây trong cạnh tranh địa chính trị. Nhưng vẫn cần thêm nhiều
năm làm việc để định hướng các hoạt động sôi nổi do những cú sốc của Trump tạo
ra thành một khuôn khổ khả thi để tập hợp sức mạnh chống lại Nga và Trung Quốc.
Những
bất ổn về phản ứng của các đối thủ và đồng minh cho thấy chiến lược củng cố vị
thế luôn tiềm ẩn rủi ro. Tuy nhiên, trái ngược với nhận định của nhiều nhà phê
bình, chiến lược củng cố được nêu ra trong NSS nhìn chung phù hợp với đại chiến
lược truyền thống mà Mỹ đã theo đuổi từ những ngày đầu trở thành cường quốc. Đại
chiến lược đó có thể được tóm tắt là thống trị khu vực của mình trong khi duy
trì cân bằng quyền lực ở ba khu vực lớn bên ngoài: châu Á, châu Âu, và Trung
Đông. Nếu Mỹ có từng đi chệch khỏi mục tiêu đó, thì đó là vào thời hậu Chiến
tranh Lạnh, khi nước này chấp nhận logic bành trướng, cố gắng biến đổi toàn bộ
thế giới, kể cả các đối thủ, theo hình ảnh của mình. Bằng cách từ bỏ mục tiêu
rõ ràng là không thể đạt được đó, NSS mới hướng tới một mục tiêu khiêm tốn,
nhưng khả thi hơn. Ở mức độ lớn hơn bất kỳ cường quốc nào khác hiện nay, Mỹ –
nhờ lợi thế đặc biệt về địa lý, kinh tế và dân số – có khả năng thực hiện kiểu
‘phục hưng quốc gia’ này với xác suất thành công khá cao.
Cuối
cùng, những ưu điểm của chiến lược củng cố vị thế cần được cân nhắc so với các
lựa chọn thay thế. Một chiến lược biệt lập công khai – điều mà NSS không theo
đuổi – có thể gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu mà Washington đang cố gắng
tránh. Trong khi đó, việc vượt lên trên cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc bằng
con đường tự do để tiến tới hòa hợp toàn cầu, thông qua luật pháp quốc tế và
các thể chế đa phương, là một giấc mơ hão huyền. Cũng không thể giả vờ rằng
đánh đổi là không cần thiết, và rằng Mỹ có thể đơn giản bỏ qua khoản nợ quốc
gia 38 nghìn tỷ đô la và vượt qua tình thế lưỡng nan trên nhiều mặt trận bằng
cách đột ngột tăng ngân sách quốc phòng lên gấp nhiều lần. Chúng ta có thể sớm
rơi vào tình huống đó nếu chiến tranh toàn cầu xảy ra, nhưng trách nhiệm của
các nhà lãnh đạo Mỹ là phải cố gắng tránh kịch bản đó theo những cách đặt sự an
toàn và phúc lợi của người dân Mỹ lên làm mục tiêu cao nhất. Chủ động đối mặt với
những đánh đổi và củng cố vị thế của Mỹ là điều mà NSS mới đang cố gắng thực hiện.
Và tất cả chúng ta nên kỳ vọng chiến lược này sẽ thành công.
----------------------
A.
Wess Mitchell
là chuyên gia tại The Marathon Initiative, cựu trợ lý ngoại trưởng phụ trách
châu Âu và Á-Âu trong chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu tiên, và là tác giả cuốn
sách “Great Power Diplomacy: The Skill of Statecraft from Atilla the Hun to
Kissinger.”
Nguồn: A. Wess Mitchell, “The
Grand Strategy Behind Trump’s Foreign Policy,” Foreign Policy, 14/01/2026.
No comments:
Post a Comment