Việt
Nam nhìn nhận thế nào về cuộc đột kích Venezuela của Mỹ?
Khang Vũ - The
Diplomat
Viên
Đăng Huy,
biên dịch - Nghiên
Cứu Quốc Tế
https://nghiencuuquocte.org/2026/01/16/viet-nam-nhin-nhan-the-nao-ve-cuoc-dot-kich-venezuela-cua-my/
Việc
Tổng thống Mỹ Donald Trump sử dụng vũ lực để bắt giữ Tổng thống Venezuela
Nicolás Maduro, việc chính quyền của ông tuyên bố Washington có quyền dùng vũ lực
chiếm Greenland, cùng những đe dọa sử dụng lực lượng quân sự chống lại
Colombia, Cuba và Mexico cho thấy Mỹ đang tập trung vào việc khẳng định sự thống
trị tại Tây Bán Cầu, như đã đề ra trong Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) năm
2025. Việc một cường quốc xem thường chủ quyền của các nước nhỏ đã vô tình tạo
ra một tiền lệ nguy hiểm, làm giảm đi rào cản đạo đức cho các cường quốc khác
hành động tương tự. Điều này càng trở nên rõ rệt khi Washington vừa ép Ukraine
phải đổi đất lấy hòa bình với Nga.
Nhiều
nhà phân tích nhanh chóng đưa ra sự so sánh giữa hành vi hung hăng của ông
Trump đối với các nước láng giềng và các hành vi của Trung Quốc. Họ lo ngại rằng
việc Mỹ xem nhẹ chủ quyền và áp dụng tư duy lẽ phải thuộc về kẻ mạnh có thể hợp
thức hóa một cuộc tấn công của Trung Quốc vào Đài Loan, cũng như việc nước này
sử dụng vũ lực chống lại các nước láng giềng ở Biển Đông hoặc tại lục địa Đông
Nam Á.
Việc
Mỹ bắt giữ ông Maduro gợi lên hai nỗi lo lớn cho các nhà hoạch định chính sách
đối ngoại của Việt Nam. Thứ nhất, nó mở ra một trật tự thế giới dựa trên sự
phân chia vùng ảnh hưởng thay vì hợp tác đa phương, vốn là định hướng mà Việt
Nam luôn kiên trì theo đuổi. Việc Washington rút khỏi khu vực sẽ làm suy yếu
chiến lược đa phương hóa ngoại giao của Hà Nội, bởi một cường quốc ngoài khu vực
sẽ bị gạt ra khỏi Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong kịch bản này, việc Trung
Quốc sử dụng vũ lực có thể bị phớt lờ dựa trên nguyên tắc Washington và Bắc
Kinh tôn trọng vùng ảnh hưởng của nhau. Thứ hai, lời đe dọa lật đổ chính quyền
cộng sản Cuba của ông Trump khiến Hà Nội lo ngại rằng những phát ngôn chống cộng
của ông không chỉ là lời nói suông, nhất là khi Cuba và Việt Nam đã duy trì mối
quan hệ thân thiết trong nhiều thập kỷ.
Tuy
nhiên, việc Mỹ xoay trục sang Tây Bán Cầu không hoàn toàn là tin xấu đối với Việt
Nam. Nếu Mỹ tập trung nhiều hơn vào khu vực láng giềng của mình và chấp nhận
vùng ảnh hưởng của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (ít nhất là
trong phạm vi Chuỗi đảo thứ nhất và lục địa Đông Nam Á), Việt Nam sẽ chịu ít áp
lực hơn từ Washington trong việc phải chọn bên giữa Trung Quốc và Mỹ.
Lịch
sử đã chứng minh rằng bất cứ khi nào có từ hai cường quốc trở lên hiện diện tại
Đông Dương, Hà Nội thường rơi vào áp lực phải chọn bên. Hà Nội đã đứng về phía
Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Sau khi Mỹ rút quân hoàn
toàn khỏi Đông Dương và Thái Lan vào năm 1976, Liên Xô và Trung Quốc đã tìm
cách lấp đầy khoảng trống quyền lực. Hà Nội bị buộc phải ngả về phía Moscow do
Trung Quốc ủng hộ Khmer Đỏ tại Campuchia. Việt Nam chỉ có thể chấm dứt cuộc chiến
Đông Dương lần thứ ba sau khi Moscow cắt giảm sự hiện diện quân sự tại đây và
tôn trọng vùng ảnh hưởng của Trung Quốc. Kể từ năm 1991, Đông Dương về cơ bản
đã trở thành sân sau của Trung Quốc, khi Việt Nam, Lào và Campuchia áp dụng
chính sách ngoại giao không liên kết để tôn trọng vị thế quyền lực thống trị của
Trung Quốc.
Do
đó, Trung Quốc coi việc Mỹ tiếp cận Việt Nam là một nỗ lực nhằm tranh giành
vùng ảnh hưởng của họ. Bắc Kinh đã chia rẽ quan hệ đối tác Mỹ – Việt bằng cách
đe dọa Hà Nội trên biển trong khi bày tỏ sự ủng hộ đối với chính quyền trong nước.
Nếu Washington có thể đảm bảo với Bắc Kinh rằng họ không có ý định lôi kéo Việt
Nam hoặc các nước châu Á khác vào một liên minh chống Trung Quốc bằng cách tập
trung vào Tây Bán Cầu, Trung Quốc sẽ cảm thấy an tâm hơn để thực hiện các thỏa
thuận với láng giềng nhằm giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Việc Liên Xô rút khỏi
Đông Dương là một ví dụ điển hình, vì nó làm giảm nhận thức về mối đe dọa từ Việt
Nam của Trung Quốc và thúc đẩy Bắc Kinh ký hiệp định biên giới trên đất liền và
Vịnh Bắc Bộ với Hà Nội để phân định lãnh thổ và vùng nước tranh chấp theo tỷ lệ
gần như 50/50 vào năm 1999 và 2000. Điều này cũng cho thấy đàm phán song phương
với Trung Quốc sẽ không làm tổn hại đến vị thế thương lượng của Việt Nam so với
đàm phán đa phương.
Việc
Mỹ sử dụng vũ lực với láng giềng không nhất thiết đồng nghĩa với việc Trung Quốc
cũng sẽ làm tương tự. Giống như Mỹ, Trung Quốc tận hưởng vị thế quyền lực thống
trị trong khu vực láng giềng, nhưng họ sẽ không dùng đến vũ lực nếu việc đó làm
tăng đáng kể khả năng các nước láng giềng liên kết lại để đối trọng với họ. Nỗi
sợ về sự phản tác dụng địa chính trị này dường như vắng bóng trong chính quyền
Trump khi ông đe dọa nhiều láng giềng, bao gồm cả các đồng minh NATO, cùng một
lúc. Trung Quốc sẽ chỉ dùng đến vũ lực chống lại những bên vốn đã dựa vào một
cường quốc ngoài khu vực để đối trọng với họ, chẳng hạn như Philippines. Việt
Nam không chọn bên hay liên minh với một cường quốc khác để chống lại Trung Quốc;
do đó, Hà Nội sẽ không là mục tiêu của sự cưỡng ép ngay cả khi các chuẩn mực chủ
quyền bị vi phạm ở nơi khác. Một lần nữa, Việt Nam sẽ không phải chọn bên chừng
nào chỉ có một cường quốc thống trị tại Đông Dương. Và điều này có nghĩa là
chính sách đối ngoại đa phương của Hà Nội sẽ vẫn được giữ vững.
Việc
hạ thấp tầm quan trọng của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong Chiến lược An
ninh Quốc gia của chính quyền Trump cũng đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ không gây ra
mối đe dọa chính trị đối với chính quyền Việt Nam, ngay cả khi họ đang đe dọa
trực tiếp chính quyền Cuba. Điều này không có nghĩa là Hà Nội sẽ không cảnh
giác với ý đồ của Mỹ. Tuy nhiên, từ góc độ của Mỹ, nếu không có nhu cầu cấp
bách phải lôi kéo Việt Nam vào liên minh chống Trung Quốc, họ sẽ không tìm cách
tạo ra một chính phủ thân Mỹ bằng mọi giá.
Việc
Mỹ đẩy trách nhiệm ngăn chặn Trung Quốc cho các đồng minh và đối tác tại Ấn Độ
Dương – Thái Bình Dương sẽ khiến Washington mất đi cả cây gậy và củ cà rốt
trong việc điều tiết cách các nước này ứng xử với Trung Quốc. Khó có thể tưởng
tượng Washington sẽ khuyến khích Việt Nam kiềm chế Trung Quốc thế nào nếu chính
họ không duy trì được sự hiện diện tại khu vực; việc chuyển giao một vài tàu tuần
duyên cho Việt Nam khó có thể tạo ra sự khác biệt trước sự mất cân bằng quyền lực
quá lớn với Trung Quốc. Cũng khó có thể hình dung Washington dùng thuế quan chống
lại Hà Nội để đạt được mục đích đó, vì Trung Quốc đã bắn tin cho Việt Nam rằng
họ sẵn sàng mua thêm hàng xuất khẩu của Việt Nam. Một nước Mỹ ít đòn bẩy đối với
Việt Nam hơn không thể chỉ bảo Việt Nam cách quản lý đất nước.
Sự
xoay trục của Mỹ sang Tây Bán Cầu và sự tan vỡ của trật tự quốc tế thành các
vùng ảnh hưởng sẽ củng cố cách Hà Nội xây dựng đại chiến lược dựa trên địa lý.
Thời điểm đơn cực của Mỹ bắt đầu sau Chiến tranh Lạnh đã tạo ra một ảo tưởng rằng
các vùng ảnh hưởng không còn tồn tại trong chính trị quốc tế, và địa lý không
còn quan trọng vì Mỹ có thể ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Với việc Washington
thừa nhận trong NSS rằng họ không thể xây dựng một quân đội đủ sức ngăn chặn
Trung Quốc ở bất cứ đâu trong Chuỗi đảo thứ nhất, Việt Nam nên tránh đặt cược
vào bất kỳ sự hỗ trợ nào của Mỹ để thoát khỏi vùng ảnh hưởng của Trung Quốc, bởi
không có cường quốc bên ngoài nào có thể đối trọng với sức mạnh quân sự của
Trung Quốc tại lục địa châu Á. Câu hỏi đặt ra cho Việt Nam trong tương lai
không phải là làm thế nào để chống lại vùng ảnh hưởng của Trung Quốc, mà là làm
thế nào để hưởng lợi từ nó.
--------------------
Khang
Vũ
là nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Khoa Chính trị học, Đại học Boston.
Nguồn: Khang Vũ, “The
U.S. Raid on Venezuela: The View from Hanoi”, The Diplomat,
13/01/2026
No comments:
Post a Comment