Đỗ Tùng dịch
Cuộc cạnh tranh to lớn về quyền lực ở Châu Á không
phải chỉ là kiểm soát các tuyến đường thủy quan yếu ở Biển Đông, mà còn về việc
kiểm soát nguồn nước ngọt của châu Á. Tương lai của nguồn nước ở Châu Á - khoảng
bốn tỷ người phụ thuộc vào đó - đang nằm trong tay của Trung Cộng. Qua sự chiếm
đóng ở Tây Tạng, Trung Cộng kiểm soát đầu nguồn của mười trong số mười một con
sông lớn của châu Á. Cho đến nay, Trung Cộng đã dùng chính sách hợp tác một
cách tương đối để chia sẻ nguồn nước với các quốc gia láng giềng như là một phần
của việc củng cố một cách hệ thống “quyền lực mềm” của Trung Cộng đối với các
nước ở phía hạ lưu. Nhưng biến đổi khí hậu và sự tăng trưởng nhanh chóng đang
đe dọa làm đảo lộn sự cân bằng ngoại giao tinh tế này. Điều gì sẽ xảy ra khi
cơn khát của chính Trung Cộng vượt xa tài nguyên của nó? Và các lựa chọn của
Trung Cộng sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích của Hoa Kỳ trong chiến lược đối
với khu vực châu Á-Thái Bình Dương?
Trung Cộng đã tự đặt mình vào vị trí dẫn đầu thế giới
về chính sách chống biến đổi khí hậu và đặt ra các mục tiêu đầy tham vọng trong
việc bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do tốc độ mở rộng đô thị cũng như tăng trưởng
về công nghiệp và việc thực thi qua loa các quy định kiểm soát ô nhiễm, Trung Cộng
tiếp tục tiêu thụ than đá nhiều bằng tổng cọng phần còn lại của thế giới.
Phương cách của Trung Cộng trong việc chống lại biến đổi khí hậu và khan hiếm
tài nguyên, trong đó nhấn mạnh các giải pháp kỹ thuật nhiều hơn việc quản lý tốt
tài nguyên, đã dẫn đến các dự án cơ sở hạ tầng khổng lồ. Trung Cộng đã chọn lựa
cách giải quyết vấn đề thiếu nước nghiêm trọng bằng cách xây dựng một loạt các
đập thủy điện để tăng sự điều khiển các con sông lớn và đồng thời tạo ra điện
năng.
Các dự án xây dựng này cho phép Trung Cộng giữ nước
lại hay xả nước xuống hạ lưu tùy lúc thích hợp, làm cho các quốc gia ở hạ lưu
trở thành con tin trước các quyết định của Bắc Kinh. Ví dụ, các đập thủy điện của
Trung Cộng dọc theo sông Brahmaputra đã được chứng minh là nguồn gốc xung đột với
Ấn Độ, làm trầm trọng thêm các tranh chấp biên giới lâu nay. Các nhà phê bình
chỉ trích dự án chuyển nước hướng Nam-Bắc của Trung Cộng, là dự án chuyển nước
từ sông Brahmaputra đến các khu công nghiệp và các thành phố ở miền bắc Trung Cộng.
Mặc dù lãnh đạo Trung Cộng đã từ chối các kế hoạch này, các kỹ sư vẫn đẩy mạnh
dự án. Hiện nay Trung Cộng đã xây nhiều đập nước và đã kiểm soát dòng chảy của
sông Mekong. Tuy nhiên, những phàn nàn về sông Mê Công đã bị bóp nghẹt, so với
sự phản đối kịch liệt của Ấn Độ đối với Brahmaputra, một phần vì Trung Cộng
không sợ những phản đối từ các nước nhỏ hơn như Lào, Thái Lan và Campuchia.
Cho đến nay, lợi ích của Trung Cộng là duy trì các
điều khoản thân thiện với các nước láng giềng, và sự hợp tác phù hợp với chiến
lược của chính phủ Trung Cộng nhằm mở rộng ảnh hưởng trong khu vực thông qua một
cuộc "tấn công bằng sự quyến rũ". Ví dụ trong năm 2016, khi Việt Nam
bị nạn hạn hán trầm trọng nhất trong 100 năm trở lại, thì Trung Cộng đã xả thêm
nước ở các đập trên thượng lưu sông Mekong để giải quyết khẩn cấp cho vùng đồng
bằng sông Cửu Long.
Đồng thời Trung Cộng vẫn luôn luôn từ chối tham gia
vào bất kỳ thỏa ước nào về dòng nước xuyên biên giới. Điều này có nghĩa là thái
độ hợp tác của Trung Cộng chỉ kéo dài khi nào nó còn đáp ứng nhu cầu chính trị
của Bắc Kinh. Trong cuộc xung đột quân sự giữa hai nước Trung Ấn tại Doklam mùa
hè năm ngoái, Trung Cộng đình chỉ việc chia sẻ số liệu thủy văn, là số liệu Ấn
Độ dùng để dự báo lũ lụt chính xác hơn. Việc ngưng cung cấp số liệu bị cáo buộc
đã góp phần vào một loạt các trận lũ lụt ở vùng đông bắc Ấn Độ làm 75 người chết
và 400.000 người mất nhà cửa. Các quan chức địa phương phía Ấn Độ cho rằng thảm
họa này là do việc Trung Cộng từ chối chia sẻ số liệu mực nước, vì lượng mưa ở Ấn
Độ thấp hơn mức dự kiến và do đó không phải là yếu tố
gây ra lũ lụt. Sự việc này là một dấu hiệu đáng lo ngại rằng Trung Cộng sẵn
sàng dùng nguồn nước như một tiềm năng vũ khí trong các tranh chấp khu vực.
Hơn nữa, trong khi nước là một nguồn quyền lực mềm
và có thể là một quyền lực cứng của Trung Cộng, nó cũng là một mối quan tâm về
sinh tồn. Đất nước Trung Cộng phải đối mặt với những hạn chế nghiêm trọng về
nguồn cung cấp nước cũng như phẩm chất nước càng lúc càng xấu đi, và chính những
lo ngại nội bộ này đã thúc đẩy việc phát triển cơ sở hạ tầng về nước. Lượng nước
tái tạo bình quân trên đầu người hàng năm của Trung Cộng là khoảng 2.140 mét khối,
so với trên 10.000 mét khối ở nước Mỹ. Hơn nữa, kể từ những năm 1990, thiệt hại
từ hạn hán tương đương với 1,1 phần trăm tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của
Trung Cộng, hoặc khoảng 41 tỷ đô la.
Hiện nay nguồn nước là một trong những công cụ thúc
đẩy rộng lớn hơn của Trung Cộng để củng cố quyền lực trong khu vực châu Á.
Trong mười năm nữa, khi nước trở nên khan hiếm hơn và nhu cầu về nước tăng lên,
việc tính toán sẽ đơn giản hơn và sẽ là điều đáng lo ngại hơn. Cho dù duy trì sự
thân thiện với các nước láng giềng có thể là lợi ích chiến lược của Trung Cộng,
cơn khát của chính người dân xứ sở họ sẽ luôn luôn là ưu tiên số một.
Tiên đoán về thời tiết trong tương lai giải thích nỗi
lo sợ này. Biến đổi khí hậu về căn bản sẽ thay đổi các dạng hình thời tiết trên
khắp châu Á, bắt đầu với sự gia tăng nhiệt độ đáng kể. Đến những năm 2030, một
nửa số mùa hè sẽ nóng hơn so với mùa hè nóng kỷ lục của bốn mươi năm qua. Các
khu vực cao như dãy núi Himalaya - nơi hầu hết nguồn nước cung cấp cho các con
sông của châu Á được trữ trong các núi băng hà - sẽ ấm nhanh hơn nữa. Nguồn nước
ngọt ở hầu hết các vùng trong châu Á, đặc biệt ở các lưu vực sông lớn, sẽ giảm
đi.
Sự cạnh tranh ngày càng tăng đối với các nguồn tài
nguyên càng ngày càng ít sẽ có hệ lụy nghiêm trọng về an ninh đối với châu Á. Lợi
thế thượng nguồn của Trung Cộng cùng với việc xây dựng liên tục các cơ sở hạ tầng
về nguồn nước sẽ bảo đảm Trung Cộng là kẻ thắng cuộc. Đối với các nước ở hạ lưu
dựa vào những con sông để cung cấp nguồn dinh dưỡng tối quan trọng cho nông
nghiệp, cho con người và cho các hệ sinh thái, kết quả như vậy sẽ có những hệ lụy
sâu sắc.
Các chuyên viên về phát triển tiếp tục thúc đẩy các
khuôn khổ về nguồn nước xuyên biên giới như là giải pháp cho các tranh chấp về
tài nguyên nước của châu Á. Đó là một phương pháp đúng đắn, nhưng Trung Cộng dường
như không bao giờ muốn bị ràng buộc bởi bất kỳ loại thỏa thuận chính thức nào.
Điều đó khiến các nước hạ nguồn không còn sự lựa chọn nào hơn là chấp nhận hiện
trạng, và tiếp tục chiến lược hiện tại của họ là thu hút đầu tư của Trung Cộng
và gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.
Đối với Hoa Kỳ, điều đó làm cho việc quản lý quan hệ
Trung-Mỹ thậm chí còn cấp thiết hơn. Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ đã xác định
vùng Nam Á là đặc biệt dễ bị tổn thương do mất an ninh nguồn nước. Nhưng đến
nay Mỹ chẳng có hành động gì nhiều để giảm thiểu những mối đe dọa này.
Nhật Bản, đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở châu Á,
đã nhiều lần lên tiếng quan ngại về sự suy giảm vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ
trong việc đối phó với biến đổi khí hậu. Một lo lắng được nêu ra tại một cuộc họp
gần đây do Bộ Ngoại giao Nhật Bản tổ chức là Nhật Bản đã nhận được tín hiệu lẫn
lộn về độ tin cậy của sự hỗ trợ từ Mỹ và việc Mỹ rút khỏi vai trò lãnh đạo
trong vấn đề khí hậu có thể làm xói mòn thêm ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á.
Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với an ninh
nguồn nước của châu Á có thể khiến các nước láng giềng của Trung Cộng phải gắn
bó chặt chẽ hơn với Trung Cộng là quốc gia đang kiểm soát các nguồn nước. Sự
liên kết này có thể làm suy yếu ảnh hưởng của Hoa Kỳ và thúc đẩy khu vực này hướng
tới một cơ cấu lãnh đạo đa cực có lợi cho Trung Cộng. Những nỗ lực của các nhà
hoạch định chính sách quốc phòng và an ninh để đối trọng với một nước Trung Cộng
đang lên nếu phớt lờ những hệ lụy của an ninh nguồn nước thì sẽ phải chịu những
hậu quả nghiêm trọng.
----------------
Nguồn :
And
Beijing may not always be interested in sharing.
September 24, 2018
No comments:
Post a Comment