Sunday, February 22, 2026

ĂN MỘT MIẾNG TẾT, NHỚ MỘT ĐỜI QUÊ (Vũ Đình Trọng / Người Việt Online)

 




Ăn một miếng Tết, nhớ một đời quê

Vũ Đình Trọng

February 21, 2026 : 12:35 PM

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/an-mot-mieng-tet-nho-mot-doi-que/

 

Có những mùa Tết, chỉ cần gắp một miếng thịt kho hay cắt một khoanh bánh tét, ta bỗng nghe mùi khói rơm trở về. Cái mùi ấy… nó không ngột ngạt, mà chỉ phảng phất chút cay cay, thơm nhẹ. Như con nước ngoài sông đang lớn chậm, sóng nhẹ nhàng vỗ về… Rồi có tiếng ai đó, gọi thì thầm bên vườn sau: “Thắm ơi!…”

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/02/DP-Tran-Van-Chi-1.jpg

Hình bìa tác phẩm “Hương Vị Ngày Xưa & Món Ngon Miền Nam” của Nam Sơn Trần Văn Chi. (Hình: Nhà sách Tự Lực)

 

Miếng ăn chưa kịp nuốt, mà ký ức đã dậy lên – dắt ta trở về căn bếp thấp mái quen thuộc, nơi mùa Xuân đến bằng hơi ấm của lửa và tiếng cười của cả một gia đình.

 

Ở xứ người, Tết thường đến bằng lịch treo tường và vài cành mai, cành đào đặt trước cửa. Mâm cơm vẫn đủ. Thịt kho vẫn mềm. Bánh tét vẫn dẻo. Nước mắm vẫn thơm. Vậy mà ngồi xuống rồi, ta vẫn thấy thiếu một điều gì đó – không phải thiếu món, mà thiếu nhịp.

 

Mở lại “Hương Vị Ngày Xưa & Món Ngon Miền Nam” của Nam Sơn Trần Văn Chi, tôi hiểu vì sao mình thiếu nhịp ấy.

 

Ông không bắt đầu bằng món ăn, mà bắt đầu bằng đất, bằng hai chữ “Lục Tỉnh:” “Gọi Lục Tỉnh, mới lột tả hết ý nghĩa đất đai, lịch sử con người đã một thời theo chân chúa Nguyễn xuôi Nam…”

 

Tết miền Nam vì vậy không chỉ là mấy ngày đầu năm. Nó là kết tinh của một nếp sống – một cách ngồi chung quanh cái mâm tròn.

 

Mâm cơm – nơi Tết bắt đầu

 

Nam Sơn viết giản dị: “Trên mâm cơm thường có bốn món ăn căn bản (ngoài cơm) là: món canh, món kho, món rau, và món xào.”

 

Bốn món ấy, nghe qua tưởng bình thường. Nhưng trong cái bình thường ấy là cả một nếp nhà.

 

Chén nước mắm đặt giữa mâm. Mọi người cùng chấm. Không ai đòi phần riêng. Người lớn gắp cho trẻ nhỏ. Trẻ nhỏ chờ ông bà cầm đũa trước.

 

“Ăn coi nồi, ngồi coi hướng.”

 

Câu nói ấy không chỉ là lời nhắc. Nó là cách người ta dạy nhau sống.

 

Miền Nam không chuộng cầu kỳ: “Đến miền Nam, Lục Tỉnh lại phá thế ‘khuôn thước,’ không ưa ‘cầu kỳ’ mà chọn ‘chơn thực,’ thực tế và linh hoạt…”

 

Thịt kho tàu – nồi Tết của miền sông nước

 

Cái “chơn thực” ấy nằm ngay trong nồi thịt kho.

 

“Người miệt vườn gọi là ‘thịt kho rệu,’ nước trong veo, màu sậm…”

 

Bây giờ ta nấu nhanh hơn, lửa mạnh hơn, bếp gọn hơn. Còn ngày xưa, nồi thịt ba rọi phải riu riu suốt buổi chiều 30. Trẻ con mở nắp nhìn rồi đậy lại, nuốt nước miếng cái “ực!” Người lớn cười cười: “Để mai nghe con.”

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/02/DP-Tran-Van-Chi-2.jpg

Nhà văn Nam Sơn Trần Văn Chi trong một buổi ra mắt ba tác phẩm của ông hồi năm 2024. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

 

Đêm cúng Giao Thừa xong, tô thịt kho được đổ lại vào nồi. Sáng Mùng Một, ngoại dậy sớm, bắt ấm nước pha trà, rồi không quên nhóm lửa lại, cho nồi thịt kho riu riu chín rục.
Nồi thịt phải kho hai lần, với lửa riu riu, ăn mới thật sự ngon. Muốn ăn ngon, phải biết chờ, ngoại nói thế.

 

Cái chờ đợi ấy làm nên vị Tết.

 

Và khi thịt kho đã chín, mâm cơm không chỉ có món cúng, mà còn có những món để mọi người cùng ngồi lâu hơn một chút.

 

Món thịt kho tàu không chỉ dùng để ăn cơm, người ta còn cuốn nó chung với đủ thứ rau hái ngoài vườn, ngắt đọt ở ven sông, để tạo ra một mùi thơm không mâm cơm nào ở thành thị có được.

 

Nam Sơn viết: “Nước chấm là nước thịt, dầm với tròng đỏ trứng thêm ít tương ớt, ít nước tương ngon, nêm với nước chanh cho vừa ăn.”

 

“Bánh tráng nhúng sơ, gói với rau thơm, một ít cải chua, hoặc giá chua, thịt xé nhỏ, trải đều trên rau, rồi nhẹ tay gói lại không quá chặt cũng không quá lỏng (ngày Tết người ta còn kèm thêm củ kiệu nữa). Đoạn từ từ chấm vào chén nước chấm, cho vào miệng, vừa nhai vừa thường thức. Cắn miếng ớt hiểm, và tiếp theo là một ngụm rượu, bia thì còn gì bằng.”

 

Gỏi cuốn – mùa Xuân trong đôi tay

 

Có một thứ cuốn nữa, mà không nhắc tới không được, đó là món gỏi cuốn.

 

Nam Sơn viết: “Ăn gỏi cuốn điệu nghệ, ngon nhứt là ta phải ‘tự biên tự diễn.’”

 

Cái “tự biên tự diễn” ấy hợp với Tết hơn cả. Nhưng cũng có người, vì mê cái “tự biên tự diễn” ấy, mà muốn giữ riêng cho mình.

 

Đó là dượng Ba.

 

Tôi nhớ dì Ba tôi hồi xưa đẹp lắm. Đẹp nết, đẹp cả người, và đẹp nhất là đôi tay.

 

Hồi còn con gái, dì có đôi tay búp măng trắng hồng, mịn màng. Cứ mỗi lần Tết về, dì lại ngồi gần ngoại để cuốn gỏi.

 

Bàn tay dì uyển chuyển nhúng bánh tráng, lấy rau, xếp thịt, đặt con tôm cho ngay ngắn, rồi nhẹ nhàng cuốn lại – vừa đủ chặt. Cuốn xong, dì nâng bằng hai tay, đưa sang ngoại.

 

Ngoại cầm lấy, gật đầu, chấm vào chén nước mắm pha.

 

Chú Sáu – nhà kế bên – qua chúc Tết mà cứ hết nhìn dì Ba, lại nhìn đôi tay ấy. Cái nhìn say đắm, lặng lẽ.

 

Ba cái Tết sau, hai người nên duyên.

 

Từ đó, mỗi mùa Xuân về, dượng Ba lại ngồi rung đùi chờ vợ cuốn cho một cái gỏi cuốn đầu năm, mà không cần “tự biên, tự diễn” chi cả. Ánh mắt của dượng không còn bối rối như thuở trai trẻ, mà là thứ hạnh phúc yên ổn của người đã có được điều mình từng nhìn ngắm.
Hồi đó chỉ có dượng Ba mới hiểu, hương vị gỏi cuốn không chỉ nằm ở nguyên liệu. Nó nằm ở bàn tay dì Ba.

 

Ngày nay ta có thể mua gỏi cuốn làm sẵn. Nhưng thiếu đi đôi tay ấy, miếng cuốn không còn kể được câu chuyện nào nữa.

 

Cháo vịt – khép lại năm cũ

 

Người miền Nam xưa thường tránh ăn vịt vào Mùng Một Tết. Sợ “xui như vịt.” Vì thế, vịt thường được nấu vào ngày 29 hoặc 30 Tết – như một cách khép lại điều không may.

 

“Vịt chặt ra từng miếng vừa gắp, cháo nêm với tiêu, hành lá và nước mắm ngon, ăn kèm với rau thơm trộn bắp chuối hột, chấm với nước mắm gừng thì hết chỗ chê!”

 

Chiều cuối năm, nồi cháo vịt sôi lục bục. Mùi gừng đập dập thơm lên. Bên ngoài, pháo đã treo sẵn chờ Giao Thừa… Người lớn nói chuyện năm cũ. Trẻ con húp cháo nóng.

 

Ăn xong, như thể đã để lại phía sau những điều không vui.

 

Sáng Mùng Một, mâm cơm chuyển sang thịt kho, bánh tét, canh khổ qua – những món mang ước vọng mới.

 

Không chỉ là một miếng Tết

 

Ở xứ người, Tết vẫn đến đúng ngày, vẫn có lịch treo tường đỏ chói, vẫn có cành mai vàng đặt trong lọ thủy tinh, vẫn có mâm cơm bày ra đủ món. Món gỏi cuốn vẫn đủ bánh tráng, rau thơm các loại, tôm tươi, thịt ba rọi. Nước mắm vẫn thơm. Bánh tét vẫn dẻo. Tôi cố gắng nấu nồi thịt kho trứng riu riu trên bếp điện, nồi thịt vẫn sôi lăn tăn như hồi xưa.


Những món ăn ngày Tết dù đượm tình người tha hương, nhưng lòng vẫn có một khoảng trống khó lấp đầy.

 

Tôi cố ăn thật chậm, để ký ức ở lại lâu hơn một chút.

 

Bỗng dưng nghe như có tiếng ai gọi khẽ từ rất xa: “Thắm ơi…” Không phải tiếng thật, chỉ là tiếng vọng trong đầu. Rồi có mùi khói rơm phảng phất đâu đây, lẫn với cơn gió hơi se lạnh đầu Xuân, lẫn với tiếng cười của lũ trẻ chạy quanh sân, lẫn với cái cách ngoại khẽ khàng gắp cho mình miếng bánh tét nóng hổi.

 

Ký ức lặng lẽ quay lại, như con nước lớn chậm ngoài sông quê.

 

Chỉ là một miếng Tết, mà cả một đời quê ùa về… [đ.d.]

 


“Hương Vị Ngày Xưa và Món Ngon Miền Nam” – tác giả Nam Sơn Trần Văn Chi.

Nhà xuất bản Sống

Sách có bán tại nhà sách Tự Lực, điện thoại 888-204-7749.

 

 

 

 

 


No comments: