Thạc sĩ, giảng viên
Thứ sáu, 5/5/2023, 00:00
(GMT+7)
https://vnexpress.net/chong-chenh-hoi-huong-4601250.html
Vài tháng trước tôi gặp lại
Nguyễn Văn Phương - quê ở Đồng Tháp, là học trò cũ từng đi xuất khẩu lao động
Hàn Quốc theo chương trình EPS-Topik (Visa E9) - tại trị trấn An Thới, thành phố
Phú Quốc. Phương nói em vừa ra đảo, tính tìm việc lâu dài.
Phương là một trong những
lao động xuất khẩu Hàn Quốc "đời đầu". Nhờ chăm chỉ tăng ca và với tỷ
giá won chênh lệch so với đồng Việt Nam lúc đó, Phương có trong tay gần một tỷ
đồng sau 4 năm 10 tháng ở Hàn. Cậu dọn lại mảnh vườn của cha, mua xe bán tải, mở
một trang trại bò vào năm 2015. Nhưng sau vài tháng, gặp dịch bệnh, bò phần lớn
bị chết, số còn lại cũng dặt dẹo, cậu phải bán luôn chiếc xe để trả nợ. Mất trắng
công sức tích cóp nơi xứ người, Phương loay hoay tìm việc.
4-5 năm tiếp theo, Phương
phụ vợ bán vải ngoài chợ huyện nhưng không khấm khá lên được. Đôi lần cậu định
đăng ký xuất khẩu lao động theo dạng nông nghiệp thời vụ (visa C4) do tỉnh Đồng
Tháp ký kết với huyện Cheorwon và Yeoncheon, Hàn Quốc. Song suy đi tính lại,
Phương chọn mang cả vợ con ra đảo. Không chỉ gia đình Phương mà em vợ của cậu
là Quang (từng đi xuất khẩu Hàn Quốc về) cũng tính theo chân anh chị ra Phú Quốc
làm nghề mua bán kiểng công trình cho các dự án xây dựng tại thành phố đảo.
Thống kê của Cục Quản lý
Lao động ngoài nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố đầu năm 2022
cho biết, Việt Nam có khoảng 500.000 lao động hợp pháp, đang làm việc tại hơn
40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Con số này sẽ còn tăng mạnh. Năm nay, tính riêng
thị trường Hàn Quốc, số người đăng ký đi xuất khẩu tăng đột biến. Kỳ thi tuyển
lao động đi làm tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS, diễn ra từ 8/5 đến 10/6, chỉ
chọn 12.000 người, song số đăng ký lên tới gần 23.500, cao nhất trong 10 năm
qua.
Mức tăng kỷ lục này có thể
giải thích bằng nhiều nguyên nhân. Sau dịch, thị trường trong nước thiếu việc
làm vì doanh nghiệp phá sản hoặc khan hiếm đơn hàng. Trong khi Hàn Quốc là điểm
đến quen thuộc, đã mở rộng cửa với nhân lực Việt Nam gần 20 năm nay. Hàn Quốc
yêu cầu không quá khắt khe so với những thị trường lao động khác, lại có chính
sách gia hạn đến 10 năm cho lao động trung thành, hoặc chuyển đổi visa từ E9
(lao động phổ thông không tay nghề) thành visa E7 (được bảo lãnh gia đình) dành
cho lao động tay nghề cao.
Không ít người lường được
thách thức mình sẽ phải đối mặt nơi xa xứ, nhưng trước bài toán kinh tế của gia
đình, họ vẫn phải chọn con đường xuất khẩu lao động.
Mỗi năm Việt Nam đưa khoảng
100.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, nguồn kiều hối gửi về trị giá hơn 3
tỷ USD, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho các gia đình và có
đóng góp nhất định cho nền kinh tế. Nhưng một thách thức lớn họ phải đối mặt là
tìm kiếm một công việc ổn định lâu dài hậu hồi hương. Phần lớn địa phương chỉ mới
quan tâm đến chuyện xuất khẩu nhân lực, chứ chưa có kế hoạch và các chế độ hỗ
trợ, tạo việc làm cho người lao động trở về.
Giải pháp thường thấy là
các phiên giao dịch việc làm. Tuy nhiên, nhiều nhà tổ chức thừa nhận, họ khó
tìm được điểm gắn kết giữa việc và người, cung không gặp được cầu do vênh nhau
về đòi đòi mức lương, tay nghề... Nhiều lao động hồi hương khó chấp nhận mức
lương ở quê nhà, so sánh với thu nhập họ từng nhận được khi làm việc xa xứ.
Trong khi chủ doanh nghiệp cũng không muốn tuyển những lao động hầu như không
có tay nghề. Loanh quanh, luẩn quẩn một thời gian, không ít người lại đi xuất
khẩu lần nữa. Một vòng quay sinh kế thiếu bền vững cứ thế tái diễn.
Người lao động chưa được
hướng nghiệp rõ ràng và đầy đủ trước và sau khi đi xuất khẩu. Thực tế,
"cái đã làm, đã học" với họ không phải là một nghề thực thụ nên khó
mà ứng dụng vào thực tế để trở thành sinh kế bền vững. Thứ họ mang về chỉ là một
số vốn, mà nếu chẳng may phá sản như Phương, họ sẽ trắng tay lại từ đầu.
Vì vậy, điều quan trọng
là đưa ra định hướng cụ thể và chi tiết hơn cho một quy trình đi và về của người
lao động. Đào tạo và định hướng nghề nghiệp cho nhóm đối tượng này là điều cần
thiết nhưng phải tránh cách tổ chức chỉ để cho đủ chứng chỉ, nhằm hợp thức hóa
hồ sơ trước đơn vị tuyển dụng xuất khẩu, như nhiều địa phương đang làm. Người lao
động phải được đào tạo thực để có tay nghề trước và sau khi trở về. Các địa
phương cũng cần gắn kết với phía tiếp nhận, đảm bảo chọn lao động theo đúng nghề
đã đào tạo để họ được trau dồi chuyên môn và ứng dụng vào thực tế trong thời
gian làm việc ở nước ngoài.
Mặt khác, tôi cho rằng chỉ
chú trọng giới thiệu công việc cho lao động hồi hương ở những khu công nghiệp
qua các phiên chợ như hiện nay là chưa hiệu quả. Để giải quyết nguồn lao động
di dân, chính phủ đang hướng đến cân bằng lại nguồn lực giữa đô thị và nông
thôn bằng các chương trình khuyến khích quy nông, quy thôn, tái cơ cấu ngành
nông nghiệp theo hướng kinh tế nông nghiệp và dịch vụ. Vì vậy, cần tính luôn
bài toán bổ sung lao động hồi hương vào khu vực này. Nhìn vào mức đóng góp
10-15% vào tổng GDP của ngành nông nghiệp Việt Nam, tôi tin rằng nông thôn
không thiếu việc.
Năm 1963, Chính phủ Hàn
Quốc tuyển dụng 5.000 thợ mỏ và 2.000 y tá đi xuất khẩu lao động sang Đức trong
ba năm. Số người dự tuyển lên tới 47.000. Tất cả họ đều làm việc trong điều kiện
cực nhọc, vất vả. Nhưng nguồn ngoại tệ họ gửi về đã đóng góp quan trọng trong
việc cải thiện cuộc sống các gia đình. Sau khi số lao động này hồi hương, nhờ
có tay nghề, họ sớm tìm được việc làm ở các Làng mới Saemaul-undong, mô hình
thuộc phong trào tái thiết, xây dựng Nông thôn mới của Hàn Quốc. Ngày nay, người
Hàn xem những người đi xuất khẩu lao động là một phần lịch sử phát triển của đất
nước họ.
Tôi nghĩ những lao động
xuất khẩu của Việt Nam cũng là một phần quan trọng để phát triển đất nước, và họ
đáng được hưởng những chính sách hỗ trợ thiết thực khi trở về.
Nguyễn Nam Cường
------------------------------------------------------
Lê Tuyết
Nhiều người sang Nhật lao
động đã mô tả công việc của mình bằng '3K': Kiken - Nguy hiểm, Kitsui - Khổ và
Kitanai - Bẩn.
Nguyễn Nam Cường
Thiếu việc làm ở đô thị lớn,
nhiều lao động hồi hương và rơi vào cảnh không kế sinh nhai trên chính quê
mình.
Lao động đăng ký đi Hàn Quốc
tăng đột biến
Kỳ thi tuyển chọn 12.000
lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS song số đăng ký lên tới
gần 23.500, cao nhất trong 10 năm qua
No comments:
Post a Comment