Monday, October 26, 2026

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt

 



Bà Aung San Suu Kyi lần đầu trò chuyện với con trai sau hơn 5 năm

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt

24/10/2026

https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/news/20261023de64508/

 

https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/upld/thumbnails/news/20261023de64508_E0000092971_L.jpg

 

Bà Aung San Suu Kyi, nhà lãnh đạo phong trào dân chủ Myanmar đang bị giam giữ, đã trò chuyện với con trai thứ là ông Kim Aris lần đầu tiên sau hơn 5 năm. Ông cho biết rất mừng khi xác nhận được rằng mẹ mình vẫn còn sống và một lần nữa kêu gọi sớm trả tự do cho bà.

 

Ông Aris cho biết đã trực tiếp nói chuyện với mẹ qua điện thoại trong khoảng 20 phút vào hôm thứ Năm tại Đại sứ quán Myanmar ở London. Giới chức Myanmar cũng xác nhận cuộc trò chuyện này đã diễn ra.

 

Trả lời phỏng vấn của NHK, ông Aris nói rằng người mẹ 81 tuổi của mình có vẻ rất vui khi nghe thấy giọng con trai, nhưng bà nói là đang bị đau ở tay phải và tình trạng sức khỏe của bà vẫn đáng lo ngại suốt 5 năm qua.

 

Ông nói: “Tôi không biết liệu mẹ tôi có thực sự được điều trị thích hợp hay không. Mẹ tôi không thể chia sẻ nhiều hơn về điều này”.

 

Ông Aris cho biết lại được nghe giọng nói của mẹ là điều có ý nghĩa lớn lao “không từ ngữ nào có thể diễn tả”, nhưng ông nói thêm rằng “không được nhầm lẫn khoảnh khắc này với sự tự do”.

 

Ông cho biết: “Quan trọng nhất là mẹ tôi cần được trả tự do. Ngay từ đầu, bà không nên bị giam giữ”.

 

Bà Aung San Suu Kyi bị bắt giữ trong cuộc đảo chính năm 2021. Năm nay, chính quyền do quân đội hậu thuẫn cho biết bà đã được chuyển sang quản thúc tại gia. Gần đây, giới chức cũng công bố những hình ảnh nói là của bà Aung San Suu Kyi. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ bà đang ở đâu.

 



 


THẾ GIỚI MÀ TRUMP MUỐN (Michael Kimmage | The Foreign Affairs)

 



Thế giới mà Trump muốn

Michael Kimmage  /  The Foreign Affairs 

Oct 24, 2026

https://dcvonline.net/2026/10/24/the-gioi-ma-trump-muon/

 

HÌNH :

https://dcvonline.net/wp-content/uploads/2026/10/Trump-et-al.webp

Cristiana Couceiro trình bầy; nguồn ảnh: Reuters, Getty Images

 

Quyền lực Mỹ trong thời đại mới của chủ nghĩa dân tộc

 

Trong hai thập niên sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, chủ nghĩa toàn cầu ngày càng lấn át chủ nghĩa dân tộc. Đồng thời, sự phát triển của những hệ thống và mạng lưới ngày càng phức tạp — về định chế, tài chánh và kỹ thuật — đã làm lu mờ vai trò của cá nhân trong chính trị. Nhưng vào đầu thập niên 2010, một chuyển biến sâu xa đã bắt đầu. Nhờ biết vận dụng những phương tiện của thế kỷ này, một nhóm nhân vật có sức thu hút quần chúng đã làm sống lại những hình tượng tiêu biểu của thế kỷ trước: người lãnh đạo cứng rắn, quốc gia vĩ đại và nền văn minh đầy kiêu hãnh.

 

Có thể nói, chuyển biến đó bắt đầu tại Russia. Năm 2012, Vladimir Putin chấm dứt cuộc thí nghiệm ngắn ngủi: rời chức tổng thống, làm thủ tướng suốt bốn năm, để một đồng minh ngoan ngoãn giữ chức tổng thống. Putin trở lại cương vị cao nhất, củng cố quyền lực, đè bẹp mọi phe đối lập và dồn sức phục hồi “thế giới Russia”, lấy lại địa vị cường quốc mà Russia đã đánh mất sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, đồng thời chống lại sự thống trị của Mỹ và đồng minh của nước này.

 

Hai năm sau, Xi Jinping lên nắm quyền tột đỉnh tại China. Mục tiêu của ông tương tự Putin, nhưng tham vọng lớn hơn nhiều — và China có khả năng thực hiện những tham vọng đó vượt xa Russia. Năm 2014, Narendra Modi, người nuôi hoài bão lớn lao cho India, hoàn tất sự nghiệp chính trị để trở thành thủ tướng, đồng thời đưa chủ nghĩa dân tộc Hindu thành ý thức hệ chủ đạo của nước ông. Cũng trong năm ấy, Recep Tayyip Erdogan, người đã trải qua hơn một thập niên làm thủ tướng Turkey với phong cách điều hành cứng rắn, trở thành tổng thống. Chẳng bao lâu, Erdogan biến nền dân chủ đa đảng của Turkey thành một chế độ chuyên quyền, nơi mọi quyền lực tập trung vào một người.

 

Có lẽ bước ngoặt quan trọng nhất trong tiến trình này diễn ra năm 2016, khi Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ. Ông hứa sẽ “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” và đặt “nước Mỹ lên trên hết” — những khẩu hiệu cô đọng tinh thần dân túy, chủ nghĩa dân tộc và chống toàn cầu hóa vốn đã âm ỉ cả bên trong lẫn bên ngoài phương Tây, ngay cả khi trật tự quốc tế tự do do Mỹ lãnh đạo đang hình thành và phát triển. Trump không đơn thuần cưỡi lên làn sóng toàn cầu. Quan niệm của ông về vai trò của Mỹ trên thế giới bắt nguồn từ những truyền thống riêng của nước Mỹ, tuy chịu ảnh hưởng của phong trào America First thời kỳ đầu những năm 1930 ít hơn chủ nghĩa chống cộng cánh hữu trong thập niên 1950.

 

Sau một nhiệm kỳ, việc Trump thất cử trước Joe Biden năm 2020 dường như báo hiệu sự phục hồi của trật tự cũ. Mỹ đang tìm lại đường lối đối ngoại sau Chiến tranh Lạnh, sẵn sàng củng cố trật tự tự do và ngăn chặn làn sóng dân túy. Tuy nhiên, sau khi Trump trở lại chính trường một cách ngoạn mục, giờ đây có vẻ như chính Biden, chứ không phải Trump, mới là người đi chệch hướng trong một thời gian ngắn.

 

Trump cùng những nhân vật cổ võ cho sự vĩ đại của quốc gia đang định hình nghị trình toàn cầu. Họ tự xem là những người lãnh đạo cứng rắn, ít coi trọng những hệ thống dựa trên luật lệ, những liên minh hay diễn đàn đa quốc gia. Họ đề cao hào quang trong quá khứ và tương lai của đất nước họ cai trị, đồng thời khẳng định quyền cai trị của đó như thể một thiên mệnh thiêng liêng. Dù chương trình hành động của họ có thể chủ trương thay đổi triệt để, chiến lược chính trị của họ vẫn dựa vào những khuynh hướng bảo thủ. Họ vượt qua đầu những tầng lớp tinh hoa tự do, thành thị và có tầm nhìn quốc tế để hướng đến những thành phần cử tri khao khát truyền thống và mong được thuộc về một cộng đồng.

 

CỘNG HƯỞNG GIỮA NHỮNG NỀN VĂN MINH

 

Ở phương diện nào đó, những nân vật lãnh đạo này và quan niệm của họ gợi nhớ đến thuyết “xung đột giữa những nền văn minh” mà lý thuyết gia chính trị Samuel Huntington nêu ra vào đầu thập niên 1990, xung đột toàn cầu phần lớn phát sinh từ những khác biệt văn minh sau Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, giới lãnh đạo ngày nay vận dụng quan niệm đó theo cách phô diễn và linh động hơn là tuyệt đối hóa hay cuồng tín. Đây là một phiên bản nhẹ hơn của thuyết xung đột văn minh: một loạt cử chỉ và một phong cách lãnh đạo có thể biến cuộc cạnh tranh — cũng như sự hợp tác — về quyền lợi kinh tế và địa chính trị thành cuộc đối đầu giữa những quốc gia tự xem mình là đại diện cho những nền văn minh có sứ mạng chinh phục.

 

Đôi khi, cuộc đối đầu này chỉ hiện hữu trên ngôn từ. Nhờ vậy, những người lãnh đạo có thể sử dụng ngôn ngữ và câu chuyện về văn minh mà không cần tuân theo khuôn mẫu của Huntington hay những ranh giới có phần đơn giản hóa mà ông dự báo. (Russia theo Chính Thống giáo đang giao chiến với Ukraine cũng theo Chính Thống giáo, chứ không phải với Turkey theo Hồi giáo.)

 

Tại đại hội đảng Cộng hòa năm 2020, người ta giới thiệu Trump là “người bảo vệ nền văn minh phương Tây”. Giới lãnh đạo Kremlin phát triển quan niệm Russia là một “quốc gia-văn minh”, dùng danh xưng này để biện minh cho nỗ lực khống chế Belarus và khuất phục Ukraine. Tại Hội nghị Thượng đỉnh vì Dân chủ năm 2024, Modi mô tả dân chủ là “sinh khí của nền văn minh India”. Trong một bài diễn văn năm 2020, Erdogan tuyên bố: “Nền văn minh của chúng ta là nền văn minh chinh phục.” Còn trong bài diễn văn năm 2023 trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản China, lãnh tụ Xi Jinping ca ngợi những giá trị của một công trình nghiên cứu quốc gia về nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa. Ông gọi đó là “nền văn minh vĩ đại duy nhất chưa từng bị gián đoạn và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay dưới hình thức một quốc gia”.

 

Trật tự mà những người lãnh đạo này tạo dựng trong những năm tới sẽ tùy thuộc rất nhiều vào nhiệm kỳ thứ hai của Trump. Suy cho cùng, chính trật tự do Mỹ lãnh đạo đã khuyến khích sự hình thành những cơ cấu siêu quốc gia sau Chiến tranh Lạnh. Bây giờ, khi Mỹ đã tham gia cuộc tranh tài giữa những quốc gia trong thế kỷ XXI, Washington thường sẽ là bên quyết định nhịp điệu.

 

Dưới thời Trump, giới hoạch định chính sách tại Ankara, Beijing, Moscow, New Delhi và Washington, cũng như tại nhiều thủ đô khác, sẽ mặc nhiên cho rằng thế giới không còn một hệ thống duy nhất hay một bộ luật lệ được tất cả chấp nhận. Trong môi trường địa chính trị đó, ý niệm mong manh về “phương Tây” sẽ càng suy yếu; cùng lúc, vị thế của Âu châu cũng sẽ giảm sút. Sau Chiến tranh Lạnh, Washington từng xem Âu châu là đối tác đại diện cho “thế giới phương Tây”.

 

Những nước Âu châu đã quen trông đợi Mỹ lãnh đạo tại lục địa này, đồng thời duy trì một trật tự dựa trên luật lệ ở bên ngoài Âu châu, dù không nhất thiết phải theo khuôn mẫu do Mỹ đặt ra. Nay, nhiệm vụ củng cố trật tự đó — suy sụp từ nhiều năm nay — sẽ rơi vào tay Âu châu. Nhưng Âu châu chỉ là một liên minh lỏng lẻo giữa những quốc gia, không có quân đội chung và cũng chẳng có đủ sức mạnh quân sự tổ chức chặt chẽ. Hơn nữa, những nước này đang trải qua một thời kỳ mà giới lãnh đạo suy yếu nghiêm trọng.

 

Chính phủ Trump có khả năng thành công trong việc thiết lập một trật tự quốc tế mới, vốn đã âm thầm hình thành từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, nước Mỹ chỉ có thể thịnh vượng nếu Washington nhận ra mối nguy hiểm của quá nhiều đường rạn nứt giữa những quốc gia đang giao cắt với nhau, rồi kiên nhẫn dùng ngoại giao rộng mở để hóa giải những rủi ro ấy. Trump và nội các phải xem việc kiểm soát xung đột là điều kiện tiên quyết để nước Mỹ trở nên vĩ đại, chứ không phải vật cản trên con đường đó.

 

CĂN NGUYÊN THẬT SỰ CỦA CHỦ NGHĨA TRUMP

 

Giới phân tích thường truy tìm sai nguồn gốc chính sách đối ngoại của Trump khi quy nó về thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến. Khi phong trào America First nguyên thủy phát triển mạnh trong thập niên 1930, Mỹ chỉ có lực lượng quân sự khiêm tốn và chưa giữ địa vị siêu cường. Những người ủng hộ America First hơn hết muốn duy trì tình trạng ấy; họ tìm cách tránh xung đột.

 

Trái lại, Trump hết sức coi trọng địa vị siêu cường của Mỹ, như ông nhiều lần nhấn mạnh trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai. Chắc chắn ông sẽ gia tăng ngân sách quốc phòng. Hơn nữa, khi đe dọa chiếm Greenland và Kinh đào Panama, hoặc tìm cách giành quyền kiểm soát hai nơi đó bằng những phương thức khác, ông đã chứng tỏ không ngại đối đầu. Trump muốn giảm bớt những cam kết của Washington với những định chế quốc tế và thu hẹp phạm vi những liên minh của Mỹ, nhưng ông tuyệt nhiên không có ý định rút nước Mỹ khỏi võ đài thế giới.

 

Căn nguyên thật sự của chính sách đối ngoại Trump nằm trong thập niên 1950. Nó bắt nguồn từ làn sóng chống cộng dâng cao trong mười năm đó, nhưng không phải từ khuynh hướng chống cộng của khối tự do chủ trương cổ võ dân chủ, phát huy chuyên môn kỹ trị và tích cực dấn thân vào công việc quốc tế. Tổng thống Harry Truman, Dwight Eisenhower và John F. Kennedy từng đại diện cho khuynh hướng này khi đối phó với mối đe dọa Xô viết.

 

Quan niệm của Trump bắt nguồn từ những phong trào chống cộng cánh hữu trong thập niên 1950. Những phong trào đó đặt phương Tây đối đầu với kẻ thù, dựa vào những hình ảnh và biểu tượng tôn giáo, đồng thời nghi ngờ chủ nghĩa tự do Mỹ là quá mềm yếu, quá xa rời căn tính quốc gia và quá thế tục để bảo vệ đất nước.

 

Di sản chính trị này có thể được lần theo qua ba cuốn sách.

 

Cuốn thứ nhất là Witness của nhà báo Mỹ Whittaker Chambers, một cựu đảng viên cộng sản và điệp viên Xô viết, sau này đoạn tuyệt với đảng và trở thành người bảo thủ về chính trị. Xuất bản năm 1952, Witness là bản tuyên ngôn của Chambers nhằm tố cáo những người theo chủ nghĩa tự do ở Mỹ có cảm tình với cộng sản và hành động phản bội của họ, những điều theo ông, đã tiếp sức cho Liên Xô.

 

Một quan niệm tương tự đã thúc đẩy James Burnham, tư tưởng gia bảo thủ hàng đầu về chính sách đối ngoại thời hậu chiến. Trong cuốn Suicide of the West xuất bản năm 1964, ông chỉ trích giới hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ là những kẻ bất trung vì thói trưởng giả, đồng thời duy trì “những nguyên tắc mang tính quốc tế và phổ quát, thay vì xuất phát từ địa phương hay quốc gia”. Burnham chủ trương xây dựng chính sách đối ngoại trên nền tảng “gia đình, cộng đồng, Giáo hội, đất nước và, ở phạm vi xa nhất, nền văn minh — không phải nền văn minh nói chung, mà là nền văn minh cụ thể đã hình thành qua lịch sử, nơi tôi là một thành viên”.

 

https://dbbpgqhpf47d1x.archive.is/q76yG/300ae1d448fb22debc59bba3209eec16701d62ab.webp

Tác phẩm nghệ thuật khắc họa Trump, Putin và Xi tại một phòng triển lãm ở Crimea, Ukraine, tháng 2 năm 2025. Ảnh: Alexey Pavlishak / Reuters.

 

Một trong những người thừa kế tư tưởng Burnham là Pat Buchanan, một nhà báo trẻ. Buchanan ủng hộ Barry Goldwater trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, từng làm phụ tá cho Tổng thống Richard Nixon và đến năm 1992 đã mở một cuộc tranh cử sơ bộ đầy thách thức đối với tổng thống đương nhiệm thuộc đảng Cộng hòa, George H. W. Bush.

 

Chính tư tưởng của Buchanan báo trước thời đại Trump rõ rệt nhất. Năm 2002, Buchanan xuất bản cuốn The Death of the West. Trong sách, ông nhận xét rằng “người da trắng nghèo đang ngả sang cánh hữu”, đồng thời cho rằng “nhà tư bản toàn cầu và người bảo thủ chân chính là Cain và Abel”, hai anh em trong Kinh Thánh có mối quan hệ thù địch.

 

Dù mang nhan đề The Death of the West (Sự suy vong của phương Tây), Buchanan vẫn nuôi hy vọng về phương Tây — theo cách ông phân biệt thế giới “chúng ta” với “bọn họ” — và tin chắc chủ nghĩa toàn cầu sắp tan rã. Ông viết:

 

“Vì đây là một dự án của giới tinh hoa, và vì những kiến trúc sư của nó chẳng được ai biết đến hay yêu mến, chủ nghĩa toàn cầu sẽ đâm đầu vào Rạn San Hô Lớn của lòng ái quốc.”

Pat Buchanan

 

Trump tiếp thu truyền thống bảo thủ kéo dài nhiều chục năm này không phải bằng cách nghiên cứu những nhân vật kể trên, mà bằng bản năng và những ứng biến trong lúc vận động tranh cử. Giống Chambers, Burnham và Buchanan — những người đứng ngoài giới tinh hoa nhưng say mê quyền lực — Trump thích phá bỏ những khuôn phép cũ, muốn đảo lộn hiện trạng và căm ghét giới tinh hoa tự do cùng những chuyên gia chính sách đối ngoại.

 

Thoạt nhìn, Trump có vẻ khó trở thành người thừa kế những nhân vật đó và những phong trào mà họ góp phần định hình, vì tư tưởng của họ thấm đẫm luân lý Kitô giáo và đôi khi cả tinh thần thượng lưu. Nhưng Trump đã khôn khéo và thành công khi tự trình bày mình không phải là một hình mẫu tao nhã của những giá trị văn hóa và văn minh phương Tây, mà là người kiên quyết bảo vệ những giá trị đó trước kẻ thù từ bên ngoài lẫn bên trong.

 

NHỮNG NGƯỜI MUỐN ĐẢO LẠI TRẬT TỰ

 

Việc Trump không ưa chủ nghĩa quốc tế mang tính phổ quát đưa ông đến gần Putin, Xi, Modi và Erdogan. Năm người lãnh đạo này đều nhận thức được những giới hạn trong chính sách đối ngoại, nhưng đồng thời cũng có một sự bất an khiến họ không thể chịu ngồi yên. Họ đều thúc đẩy thay đổi, song vẫn hoạt động trong những giới hạn do chính mình đặt ra.

 

Putin không tìm cách biến Trung Đông thành một khu vực mang bản sắc Russia. Xi không tìm cách cải tạo Africa, Latin America hay Trung Đông theo hình mẫu China. Modi không tìm cách dựng lên những bản sao giả tạo của India ở nước ngoài. Erdogan cũng không ép Iran hay thế giới Arab trở nên giống Turkey hơn. Trump tương tự, không quan tâm đến việc biến Mỹ hóa thành mục tiêu chính sách đối ngoại. Quan niệm của ông về tính ngoại lệ của nước Mỹ đặt Mỹ thành một thực thể riêng biệt, đối lập với thế giới bên ngoài vốn không mang bản sắc Mỹ.

 

Chủ nghĩa xét lại trật tự quốc tế có thể hện hữu song song với việc những nước này cùng tránh xây dựng một hệ thống toàn cầu và với sự suy yếu của trật tự quốc tế. Đối với Xi, lịch sử và sức mạnh China — chứ không phải Hiến chương Liên Hiệp Quốc hay những mong muốn của Washington — mới là trọng tài quyết định địa vị của Taiwan, vì China là bất cứ điều gì ông tuyên bố.

 

India không nằm cạnh một điểm nóng toàn cầu như Taiwan, nhưng nước này vẫn tranh chấp biên giới với China và Pakistan. Những tranh chấp đó chưa được giải quyết kể từ khi India giành độc lập năm 1947. Theo quan niệm của Modi, India kết thúc ở đâu là do ông quyết định.

 

Chủ nghĩa xét lại của Erdogan thể hiện cụ thể hơn. Để giúp đồng minh Azerbaijan giành lợi thế, Turkey đã tạo điều kiện cho Azerbaijan trục xuất người Armenia khỏi vùng lãnh thổ tranh chấp Nagorno-Karabakh, không phải qua thương thuyết mà bằng sức mạnh quân sự. Tư cách thành viên NATO của Turkey — đi kèm cam kết chính thức về dân chủ và sự toàn vẹn biên giới — không ngăn cản Erdogan hành động như vậy.

 

Turkey cũng đã thiết lập sự hiện diện quân sự tại Syria. Điều này chưa hẳn là khôi phục Đế quốc Ottoman. Erdogan không chủ trương chiếm giữ lãnh thổ Syria vĩnh viễn. Tuy nhiên, những dự án quân sự và chính trị của Turkey tại Nam Caucasus và Trung Đông mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với Erdogan. Chúng chứng minh sự vĩ đại của Turkey và cho thấy Turkey sẽ hiện diện ở bất cứ nơi nào Erdogan cho rằng nước mình phải có mặt.

 

Giữa làn sóng xét lại trật tự quốc tế đang dâng cao, cuộc chiến của Russia chống Ukraine là câu chuyện trọng tâm. Nhân danh sự “vĩ đại” của Russia và cai trị một đất nước mà theo ông không có giới hạn lãnh thổ rõ ràng, Putin thường xuyên viện dẫn lịch sử trong những bài diễn văn. Sergey Lavrov, ngoại trưởng Russia, từng nói đùa rằng những cố vấn thân cận nhất của Putin chính là “Ivan Bạo Chúa, Peter Đại Đế và Catherine Đại Đế”.

 

Nhưng điều Putin thực sự quan tâm là tương lai, chứ không phải quá khứ. Cuộc xâm lăng Ukraine năm 2022 là một bước ngoặt địa chính trị, tương tự những biến cố mà thế giới chứng kiến vào các năm 1914, 1939 và 1989. Putin phát động chiến tranh nhằm chia cắt hoặc thuộc địa hóa Ukraine. Ông muốn cuộc xâm lăng này trở thành tiền lệ để biện minh cho những cuộc chiến tương tự tại những khu vực khác, đồng thời có thể khơi dậy trong những nước khác, kể cả China, ý muốn thử sức với những cuộc phiêu lưu quân sự có thể đảo lộn trật tự.

 

Putin đã viết lại luật chơi và vẫn tiếp tục làm như vậy. Dù cuộc xâm lăng diễn ra bất lợi cho Russia, nó không khiến nước này bị cô lập hoàn toàn trên trường quốc tế. Putin đã khiến ý tưởng dùng chiến tranh quy mô lớn để chiếm lãnh thổ trở nên bình thường trở lại. Ông làm điều đó ngay tại Âu châu, nơi trước kia từng là biểu tượng của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.

 

Những cuộc xung đột ngày nay là một phiên bản nhẹ hơn của thuyết xung đột giữa những nền văn minh.

Tuy nhiên, cuộc xâm lăng Ukraine không hề báo hiệu sự cáo chung của ngoại giao quốc tế. Trái lại, xét trên một số phương diện, cuộc chiến đã thúc đẩy ngoại giao khởi động trở lại. Chẳng hạn, nhóm BRICS, tập hợp China, India và Russia cùng với Brazil, South Africa và những nước ngoài phương Tây khác, đã mở rộng quy mô và có lẽ cũng đoàn kết hơn. Ở phía bên kia, liên minh những nước ủng hộ Ukraine nay đã vượt xa phạm vi xuyên Đại Tây Dương. Liên minh này còn có Australia, Japan, New Zealand, Singapore và South Korea. Chủ nghĩa đa phương vẫn còn và phát triển; chỉ có điều nó không bao trùm toàn thế giới.

 

Trong bức tranh địa chính trị biến đổi muôn hình vạn trạng này, những mối quan hệ luôn thay đổi và vô cùng phức tạp. Putin và Xi đã xây dựng quan hệ đối tác, nhưng chưa hẳn là một liên minh. Xi không có lý do gì phải bắt chước Putin trong việc liều lĩnh đoạn tuyệt với Âu châu và Mỹ. Dù là đối thủ, Russia và Turkey ít ra vẫn có thể điều chỉnh hoạt động để tránh đụng độ tại Trung Đông và Nam Caucasus.

 

India dè chừng China. Một số nhà phân tích thường mô tả China, Iran, North Korea và Russia như một “trục” liên minh, nhưng thực tế đây là bốn quốc gia khác biệt sâu sắc, với quyền lợi và quan niệm về thế giới thường xuyên mâu thuẫn nhau.

 

Chính sách đối ngoại của những nước này nhấn mạnh lịch sử và bản sắc riêng, cùng quan niệm rằng những người lãnh đạo có sức thu hút quần chúng phải anh dũng bảo vệ quyền lợi của Russia, China, India hay Turkey. Điều đó cản trở sự hội tụ giữa họ và khiến việc hình thành những liên minh bền vững trở nên khó khăn. Một trục liên minh đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, trong khi quan hệ giữa những nước này lại linh động, dựa trên trao đổi lợi ích và chịu ảnh hưởng mạnh của cá tính từng người lãnh đạo. Không có gì hoàn toàn trắng đen, không có gì bất di bất dịch và cũng chẳng có gì không thể thương lượng.

 

Môi trường đó rất phù hợp với Trump. Ông không bị những đường ranh chia cắt theo tôn giáo và văn hóa trói buộc quá nhiều. Ông thường coi trọng cá nhân hơn chính phủ, và quan hệ riêng hơn những liên minh chính thức. Germany là đồng minh NATO của Mỹ, còn Russia là đối thủ lâu đời, nhưng trong nhiệm kỳ đầu, Trump đã xung đột với Thủ tướng Germany Angela Merkel trong khi đối xử với Putin bằng thái độ tôn trọng. Những nước khiến Trump đối đầu gay gắt nhất lại chính là những nước thuộc phương Tây. Nếu Huntington còn sống để chứng kiến điều này, hẳn ông sẽ vô cùng bối rối.

 

VIỄN ẢNH CHIẾN TRANH

 

Trong nhiệm kỳ đầu của Trump, tình hình quốc tế tương đối yên ổn. Không có cuộc chiến lớn nào. Russia dường như đã bị ngăn chặn tại Ukraine. Trung Đông có vẻ đang bước vào một thời kỳ tương đối ổn định, một phần nhờ Hiệp định Abraham do chính phủ Trump thúc đẩy, gồm những thỏa thuận nhằm củng cố trật tự khu vực.

 

China dường như có thể bị răn đe tại Taiwan; nước này chưa bao giờ tiến gần đến mức xâm lăng hòn đảo. Trên thực tế, dù không phải lúc nào lời nói cũng như vậy, Trump hành xử như một tổng thống Cộng hòa điển hình. Ông gia tăng những cam kết quốc phòng của Mỹ đối với Âu châu và chào đón hai quốc gia mới gia nhập NATO. Ông không ký kết thỏa thuận nào với Russia. Ông dùng lời lẽ cứng rắn với China và tìm cách giành lợi thế tại Trung Đông.

 

Nhưng ngày nay, một cuộc chiến lớn đang diễn ra tại Âu châu, Trung Đông rơi vào hỗn loạn và hệ thống quốc tế cũ gần như tan nát. Nhiều yếu tố kết hợp có thể dẫn đến thảm họa: luật lệ và biên giới tiếp tục bị xói mòn; những dự án khẳng định sự vĩ đại của từng quốc gia va chạm với nhau, trong khi những người lãnh đạo thất thường và phương tiện truyền thông xã hội với tốc độ truyền tin chóng mặt càng làm tình hình thêm căng thẳng; những quốc gia vừa và nhỏ ngày càng tuyệt vọng vì bất mãn trước quyền hành không bị kiểm soát của những cường quốc và lo sợ hậu quả của tình trạng vô chính phủ trên trường quốc tế.

 

Thảm họa có thể bùng nổ tại Ukraine hơn là tại Taiwan hay Trung Đông, vì nguy cơ chiến tranh thế giới và chiến tranh nguyên tử lớn nhất hiện nằm ở Ukraine.

 

Ngay cả dưới trật tự dựa trên luật lệ, sự toàn vẹn lãnh thổ cũng chưa bao giờ là nguyên tắc tuyệt đối — nhất là đối với những quốc gia nằm gần Russia. Tuy nhiên, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, Âu châu và Mỹ vẫn cam kết bảo vệ nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ. Khoản đầu tư khổng lồ của họ vào Ukraine thể hiện một quan niệm riêng về an ninh Âu châu: nếu người ta có thể dùng vũ lực để thay đổi biên giới, Âu châu — nơi những đường biên giới từ lâu thường gây bất mãn và thù hận — sẽ rơi vào một cuộc chiến toàn diện.

 

Hòa bình tại Âu châu chỉ có thể có nếu người ta không dễ dàng tùy tiện thay đổi biên giới. Trong nhiệm kỳ đầu, Trump từng nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ, hứa xây một “bức tường lớn và đẹp” dọc biên giới Mỹ-Mexico. Nhưng khi ấy, ông chưa phải đối phó với một cuộc chiến lớn tại Âu châu. Đến nay, rõ ràng niềm tin của ông vào tính thiêng liêng của biên giới phần lớn chỉ áp dụng cho biên giới Mỹ.

 

https://www.reuters.com/resizer/v2/https%3A%2F%2Farchive-images.prod.global.a201836.reutersmedia.net%2F2020%2F02%2F25%2F2020-02-25T123513Z_14581_MRPRC2W6F9QXJSG_RTRMADP_0_INDIA-USA-TRUMP.JPG?auth=c388f1ba0e9aa3456e7721a55deea96a2b868a48562ae2da7af7e7c83e7c0309&width=1920&quality=80

Tổng thống Mỹ Donald Trump ôm Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi trong lễ “Namaste Trump” tại sân vận động Sardar Patel Gujarat ở Ahmedabad, Ấn Độ, ngày 24 tháng 2 năm 2020. REUTERS/Al Drago

 

Trong khi đó, China và India có dè dặt trước cuộc chiến của Russia, nhưng cùng với Brazil, Philippines và nhiều cường quốc khu vực khác, họ đã có quyết định để lại hệ quả lâu dài là duy trì quan hệ với Russia, ngay cả khi Putin ra sức phá hủy Ukraine. Đối với những nước tự nhận là “trung lập” này, chủ quyền của Ukraine không có ý nghĩa đáng kể. Họ coi trọng một nước Russia ổn định dưới quyền Putin và những thỏa thuận năng lượng, võ khí đang tiếp diễn hơn nhiều.

 

Những nước đó có thể đánh giá thấp nguy cơ khi chấp nhận chủ nghĩa xét lại của Russia. Chính thái độ đó có thể dẫn đến một cuộc chiến lan rộng thay vì mang lại ổn định. Viễn cảnh Ukraine bị chia cắt hoặc bị đánh bại sẽ khiến những nước láng giềng của Ukraine kinh hoàng.

 

Estonia, Latvia, Lithuania và Poland là những thành viên NATO, vốn trông cậy vào cam kết phòng thủ chung theo Điều 5 của hiệp ước. Tuy nhiên, cam kết đó dựa vào sức mạnh của Mỹ — mà Mỹ lại ở rất xa. Nếu Poland và những nước cộng hòa vùng Baltic nhận thấy Ukraine sắp thất trận, khiến chủ quyền của chính họ bị đe dọa, họ có thể quyết định trực tiếp tham chiến. Russia có thể đáp trả bằng cách mở rộng chiến tranh sang lãnh thổ của họ.

 

Một kết cục tương tự cũng có thể xảy ra nếu Washington, những nước Tây Âu và Moscow đạt được một thỏa thuận lớn chấm dứt chiến tranh theo những điều kiện có lợi cho Russia, nhưng lại khiến những nước láng giềng Ukraine trở nên cực đoan hơn. Lo sợ Russia xâm lăng một mặt, đồng thời sợ đồng minh bỏ rơi mặt khác, họ có thể chuyển sang tấn công trước. Ngay cả khi Mỹ đứng ngoài cuộc trong một cuộc chiến lan khắp Âu châu, France, Germany và United Kingdom có lẽ cũng không thể giữ thái độ trung lập.

 

Nếu cuộc chiến ở Ukraine lan rộng như vậy, kết cục sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến uy tín của Trump và Putin. Lòng tự ái sẽ chi phối hành động, như nó vẫn thường xảy ra trong quan hệ quốc tế. Putin không thể chấp nhận thua Ukraine; Trump cũng không thể để mình “đánh mất” Âu châu. Đối với bất cứ tổng thống Mỹ nào, việc phung phí sự thịnh vượng và khả năng phô trương sức mạnh mà Mỹ có được nhờ sự hiện diện quân sự tại Âu châu sẽ là một nỗi nhục nhã.

 

Động lực tâm lý thúc đẩy leo thang chiến tranh sẽ rất mạnh. Trong một hệ thống quốc tế đặt nặng cá nhân, nhất là khi ngoại giao qua phương tiện kỹ thuật số thiếu kỷ luật làm tình hình thêm kích động, động lực đó có thể xuất hiện ở những nơi khác. Chẳng hạn, nó có thể châm ngòi xung đột giữa China và India, hoặc giữa Russia và Turkey.

 

VIỄN ẢNH HÒA BÌNH

 

Bên cạnh những kịch bản tồi tệ nhất ấy, hãy xét đến việc nhiệm kỳ thứ hai của Trump cũng có thể cải thiện tình hình quốc tế đang xuống dốc. Sự kết hợp giữa quan hệ thực tế, không phô trương với Beijing và Moscow, cách ngoại giao linh động tại Washington, cùng một chút may mắn về chiến lược, có thể không tạo ra những đột phá lớn nhưng vẫn giúp duy trì một hiện trạng tốt đẹp hơn.

 

Không phải chấm dứt chiến tranh Ukraine, mà là giảm cường độ giao tranh. Không phải giải quyết dứt điểm vấn đề Taiwan, mà là thiết lập những giới hạn an toàn để ngăn một cuộc chiến lớn tại vùng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Không phải giải quyết xung đột Israel-Palestine, mà là đưa Mỹ đến một hình thức hòa hoãn với Iran đang suy yếu, đồng thời tạo điều kiện xuất hiện một chính phủ có thể hoạt dộng tại Syria.

 

Trump có thể không trở thành một người kiến tạo hòa bình hoàn toàn, nhưng ông vẫn có thể góp phần đưa thế giới đến một thời kỳ ít chiến tranh hơn.

 

Dưới thời Biden và những người tiền nhiệm là Barack Obama và George W. Bush, Russia và China phải đối phó với sức ép có tính hệ thống từ Washington. Moscow và Beijing đứng ngoài trật tự quốc tế tự do, một phần do chính lựa chọn của họ, một phần vì họ không phải là những nền dân chủ. Những người lãnh đạo Russia và China phóng đại sức ép ấy, như thể Washington thực sự theo đuổi chính sách thay đổi chế độ của họ. Tuy nhiên, họ không hoàn toàn sai khi nhận thấy Washington ưu tiên chủ nghĩa chính trị đa nguyên, những quyền tự do dân sự và nguyên tắc phân quyền.

 

Kể từ khi Trump trở lại Tòa Bạch Ốc, sức ép đó đã giảm đi. Hình thức tổ chức chính phủ tại Russia và China không phải là điều khiến Trump bận tâm, vì ông tuyệt đối phản đối việc xây dựng quốc gia từ bên ngoài và thay đổi chế độ chính trị. Dù những nguyên nhân gây căng thẳng vẫn còn, bầu không khí chung sẽ bớt nặng nề hơn, và những cuộc tiếp xúc ngoại giao có thể diễn ra thường xuyên hơn.

 

Washington, Beijing và Moscow có thể linh động nhượng bộ lẫn nhau nhiều hơn trong những vấn đề nhỏ, đồng thời cởi mở hơn với thương thuyết và những biện pháp xây dựng lòng tin tại những vùng đang có chiến tranh hay tranh chấp.

 

Nếu Trump và nhóm của ông biết vận dụng, ngoại giao linh động — tức khéo léo kiểm soát những căng thẳng thường trực và những cuộc xung đột liên tiếp — có thể đem lại lợi ích rất lớn. Trump là vị tổng thống ít mang tư tưởng Wilson nhất kể từ chính Woodrow Wilson. Ông không quan tâm đến những cơ cấu hợp tác quốc tế bao quát như Liên Hiệp Quốc hay Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu Châu.

 

Thay vào đó, ông cùng những cố vấn, nhất là những người xuất thân từ giới kỹ thuật số, có thể lên võ đài thế giới với tư duy của một công ty khởi nghiệp: một doanh nghiệp vừa thành lập, có thể chẳng bao lâu nữa sẽ giải thể, nhưng đủ khả năng phản ứng nhanh chóng và sáng tạo trước hoàn cảnh nhất thời.

 

Ukraine sẽ là phép thử đầu tiên. Thay vì vội vã tìm kiếm hòa bình, chính phủ Trump nên tập trung bảo vệ chủ quyền Ukraine, điều mà Putin sẽ không bao giờ chấp nhận. Cho phép Russia hạn chế chủ quyền Ukraine có thể tạo ra vẻ ngoài ổn định, nhưng lại mở đường cho chiến tranh tái diễn.

 

Thay vì theo đuổi một nền hòa bình hão huyền, Washington nên giúp Ukraine xác định những quy tắc giao chiến với Russia. Dựa vào những quy tắc đó, hai bên có thể từng bước giảm tầm mức và cường độ chiến tranh.

 

Khi đó, Mỹ có thể tách riêng vấn đề xung đột khỏi những lãnh vực khác trong quan hệ với Russia, như Washington từng làm với Liên Xô suốt thời Chiến tranh Lạnh. Hai bên có thể tiếp tục bất đồng về Ukraine, nhưng vẫn đi tìm những điểm đồng thuận trong việc ngăn chặn phổ biến võ khí nguyên tử, kiểm soát võ khí, biến đổi khí hậu, đại dịch, chống khủng bố, Bắc Cực và thám hiểm không gian.

 

Việc tách riêng những vấn đề xung đột với Russia sẽ phục vụ một quyền lợi cốt lõi của Mỹ, cũng là điều Trump hết sức coi trọng: ngăn chặn một cuộc trao đổi võ khí nguyên tử giữa Mỹ và Russia.

 

Chính Biden, chứ không phải Trump, mới là người đi chệch hướng.

 

Một phong cách ngoại giao ứng biến có thể giúp chính phủ tận dụng tốt hơn những cơ hội bất ngờ do hoàn cảnh đưa tới. Những cuộc cách mạng tại Âu châu năm 1989 là một thí dụ điển hình.

 

Sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản và sự sụp đổ của Liên Xô đôi khi được diễn giải như một thành quả xuất sắc trong kế hoạch chiến lược của Mỹ. Tuy nhiên, Bức tường Berlin sụp đổ năm đó hầu như không liên quan đến chiến lược của Mỹ, còn sự tan rã của Liên Xô cũng không phải là điều chính phủ Mỹ dự đoán sẽ xảy ra. Tất cả phần lớn là kết quả của tình cờ và may mắn.

 

Ê-kíp an ninh quốc gia của Tổng thống George H. W. Bush rất xuất sắc, không phải vì họ dự đoán hay kiểm soát được biến cố, mà vì họ biết phản ứng thích hợp trước những gì xảy ra. Họ tránh làm quá mức, chẳng hạn chọc giận Liên Xô, nhưng cũng không làm quá ít, để rồi để vuột mất một nước Germany thống nhất khỏi NATO.

 

Theo tinh thần ấy, chính phủ Trump phải luôn sẵn sàng chụp lấy thời cơ. Muốn tận dụng tối đa những cơ hội xuất hiện, Washington không được sa lầy vào những hệ thống và cơ cấu cứng nhắc.

 

Tuy nhiên, tận dụng may mắn cũng đòi hỏi sự chuẩn bị và khả năng ứng biến. Về phương diện này, Mỹ có hai lợi thế lớn.

 

Thứ nhất là mạng lưới liên minh, giúp Washington gia tăng đáng kể ảnh hưởng và khả năng xoay xở. Thứ hai là nghệ thuật vận dụng kinh tế phục vụ quốc gia của Mỹ, giúp mở rộng khả năng có thị trường và những nguồn tài nguyên thiết yếu, thu hút đầu tư từ bên ngoài, đồng thời duy trì hệ thống tài chánh Mỹ ở vị trí trung tâm của nền kinh tế toàn cầu.

 

Chủ nghĩa bảo hộ và những chính sách kinh tế mang tính cưỡng ép có thể cần thiết trong một số trường hợp, nhưng phải phục vụ một tầm nhìn rộng lớn và lạc quan hơn về sự thịnh vượng của nước Mỹ. Tầm nhìn đó phải dành ưu tiên cho những đồng minh và đối tác lâu năm.

 

Ngày nay, không còn khái niệm quen thuộc nào về trật tự thế giới hoàn toàn phù hợp: hệ thống quốc tế không còn đơn cực, lưỡng cực hay đa cực. Nhưng ngay cả trong một thế giới không có cơ cấu ổn định, chính phủ Trump vẫn có thể sử dụng sức mạnh Mỹ, những liên minh và nghệ thuật vận dụng kinh tế phục vụ quốc gia để giảm căng thẳng, hạn chế xung đột và tạo dựng một nền tảng hợp tác tối thiểu giữa những nước lớn cũng như nhỏ.

 

Đó có thể là cách giúp Trump thực hiện mong muốn của mình: để nước Mỹ ở vào tình thế tốt đẹp hơn khi nhiệm kỳ thứ hai kết thúc so với lúc ông bắt đầu.

 

------------------------------

Tác giả: Michael Kimmage là giám đốc Viện Kennan thuộc Wilson Center, đồng thời là tác giả cuốn The Abandonment of the West: The History of an Idea in American Foreign Policy (Sự từ bỏ phương Tây: Lịch sử một khái niệm trong chính sách đối ngoại Mỹ).

 

Người dị:h: Trần Giao Thủy

© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


Nguồn: The World Trump Wants | Michael Kimmage | The Foreign Affairs | February 25, 2025

 

 

 

 

 


BÀ AUNG SAN SUU KYI LẦN ĐẦU TRÒ CHUYỆN VỚI CON TRAI SAU HƠN 5 NĂM (NHK World-Japan Tiếng Việt)

 



Bà Aung San Suu Kyi lần đầu trò chuyện với con trai sau hơn 5 năm

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt

24/10/2026

https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/news/20261023de64508/

 

https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/upld/thumbnails/news/20261023de64508_E0000092971_L.jpg

 

Bà Aung San Suu Kyi, nhà lãnh đạo phong trào dân chủ Myanmar đang bị giam giữ, đã trò chuyện với con trai thứ là ông Kim Aris lần đầu tiên sau hơn 5 năm. Ông cho biết rất mừng khi xác nhận được rằng mẹ mình vẫn còn sống và một lần nữa kêu gọi sớm trả tự do cho bà.

 

Ông Aris cho biết đã trực tiếp nói chuyện với mẹ qua điện thoại trong khoảng 20 phút vào hôm thứ Năm tại Đại sứ quán Myanmar ở London. Giới chức Myanmar cũng xác nhận cuộc trò chuyện này đã diễn ra.

 

Trả lời phỏng vấn của NHK, ông Aris nói rằng người mẹ 81 tuổi của mình có vẻ rất vui khi nghe thấy giọng con trai, nhưng bà nói là đang bị đau ở tay phải và tình trạng sức khỏe của bà vẫn đáng lo ngại suốt 5 năm qua.

 

Ông nói: “Tôi không biết liệu mẹ tôi có thực sự được điều trị thích hợp hay không. Mẹ tôi không thể chia sẻ nhiều hơn về điều này”.

 

Ông Aris cho biết lại được nghe giọng nói của mẹ là điều có ý nghĩa lớn lao “không từ ngữ nào có thể diễn tả”, nhưng ông nói thêm rằng “không được nhầm lẫn khoảnh khắc này với sự tự do”.

 

Ông cho biết: “Quan trọng nhất là mẹ tôi cần được trả tự do. Ngay từ đầu, bà không nên bị giam giữ”.

 

Bà Aung San Suu Kyi bị bắt giữ trong cuộc đảo chính năm 2021. Năm nay, chính quyền do quân đội hậu thuẫn cho biết bà đã được chuyển sang quản thúc tại gia. Gần đây, giới chức cũng công bố những hình ảnh nói là của bà Aung San Suu Kyi. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ bà đang ở đâu.

 

 

 




TIN VUI CHO NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC và BỆNH UNG THƯ (Giao Thanh Pham)

 



TIN VUI CHO NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC và BỆNH UNG THƯ  

Giao Thanh Pham

24/10/2026   ͏19:11   

https://www.facebook.com/giao.pham.127/posts/pfbid0BjNfyEs9pZNjUAhRRkbLYmsxkMkcfN9vq42dwmshqMK84bmumvEkRqyXHjgGqvMal

 

Hôm qua, cô Linh Le có nhắn tin:

 

“Anh Giao ơi, anh có biết là bệnh viện Tâm Anh mới nhập về 1 cái máy “xạ trị” ung thư mới nhất, tối tân nhất và có giá ‘khủng nhất’ trên thế giới hiện nay không?”

 

Tôi ngạc nhiên, chả hiểu sao, một người ưa mò mẫm và tìm tòi như tôi lại không biết chuyện này. Mới nhớ ra rằng thì là mà … kiến thức con người thường giới hạn, riêng mình thì lại vô cùng giới hạn hơn nữa (mà lại cứ tưởng bở). Một lần nữa, cám ơn cô Linh đã cho biết thông tin này.

 

Cái máy mà bệnh viện Tâm Anh mới mua và nhập về ngày hôm qua có tên: MEVION S250-FIT PROTON THERAPY SYSTEM, được sản xuất bởi Mevion Medical Systems, một công ty có trụ sở tại Littleton, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

 

Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là: Proton Therapy System chữa trị ung thư ra sao? Thì đây là câu trả lời.

Hiện nay, có bốn phương pháp điều trị ung thư chính có thể kết hợp với nhau, bao gồm: phẫu thuật, hóa trị, liệu pháp miễn dịch và xạ trị.

 

Trong lĩnh vực xạ trị, ưu điểm vượt trội của liệu pháp chùm tia proton so với xạ trị bằng photon hoặc tia X chính là khả năng giảm thiểu tối đa tác động lên các tế bào và các mô bình thường và lành mạnh khác trên cơ thể của bệnh nhân. Xạ trị thông thường xử dụng các hạt photon đi xuyên qua mô, tác động vào khối u ở sâu bên trong rồi tiếp tục đi ra khỏi cơ thể, vô tình gây chiếu xạ lên cả những mô lành khác.

 

Liệu pháp proton là một hình thức xạ trị tiên tiến, xử dụng chùm hạt proton để nhắm mục tiêu chính xác vào các tế bào ung thư. Nhờ đặc tính hạt của mình, các proton phóng ra ít năng lượng hơn trên đường di chuyển đến khối u và không gây ảnh hưởng đến các mô nằm phía sau hoặc chung quanh khối u đó. Nhờ vậy, liệu pháp proton có thể tập trung liều bức xạ cao trực tiếp bắn thẳng vào mục tiêu, đồng thời hạn chế tối đa sự phơi nhiễm của các mô lành xung quanh, từ đó giúp giảm thiểu các tác dụng phụ so với phương pháp xạ trị truyền thống.

 

Quá trình này bắt đầu tại nguồn ion, nơi các nguyên tử hydro được tách thành electron và proton. Các proton này sau đó được đưa vào một máy gia tốc vòng (cyclotron) để tăng tốc. Khi đạt đến mức năng lượng cao, các proton được dẫn đến phòng điều trị thông qua một hệ thống khung quay (gantry). Hệ thống này cho phép tiếp cận bệnh nhân từ mọi góc độ (360°), tạo sự linh hoạt trong việc xây dựng phác đồ điều trị cho các khối u phức tạp.

 

Liệu pháp chùm tia proton mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm tác dụng phụ, cải thiện chất lượng cuộc sống và mang lại kết quả điều trị tích cực cho bệnh nhân. Phương pháp này thường được chỉ định cho các bệnh nhân có khối u đặc nằm trong hoặc gần các cơ quan nhạy cảm cần được bảo tồn, chẳng hạn như các trường hợp ung thư não, ung thư vùng đầu cổ hoặc ung thư lồng ngực. Tác động tích cực lâu dài của liệu pháp này đặc biệt có ý nghĩa đối với bệnh nhi ung thư, giúp duy trì chất lượng cuộc sống cho các em. Liệu pháp proton đang thay đổi cách chúng ta điều trị ung thư.

 

Loại máy này đã và đang được xử dụng khá giới hạn ở Mỹ và trên thế giới. Đây cũng là máy đầu tiên có mặt tại Việt Nam nói riêng và trên toàn cõi Á Châu nói chung ngoại trừ Trung Quốc. (Xem bản đồ bên dưới). Và Nam Hàn (theo lời kể lại của cô Tri Phạm)

 

Hi vọng, nhờ có thêm máy này, các nạn nhân ung thư ở Việt Nam sẽ có thêm một phương pháp chữa trị ung thư hoàn thiện hơn, đỡ tác hại hơn. Có thể lúc đầu ra quân giá cả sẽ cao vượt ra khỏi tầm tay của đa số người dân thường, nhưng một khi đạt được kết quả khả quan, chắc chắn các bệnh nhân ung thư ở Việt Nam sẽ tìm mọi cách để có thể chạy chữa tốt hơn.

 

Một hi vọng khác, đó là vấn đề Cung và Cầu. Cũng như khoảng chục năm trước đây, Việt Nam không hề có những loại máy móc tân tiến và hiện đại để truy tầm (tầm soát) các loại bệnh khó biết trong cơ thể như Trụy Tim và Ung Thư. Thế nhưng vài năm gần đây, các bệnh viện quốc tế như Tâm Anh và Vinmec đã bỏ ra hàng triệu đô để nhập về hàng loạt các loại máy vô cùng hiện đại như MRI Tesla của GE và máy CT Scan Somatom Force VB30 của Siemmens cũng là do Nhu Cầu ngày một nhiều hơn thì bắt buộc Nguồn Cung phải gia tăng để bắt kịp.

 

*** Bấm vào link dưới đây để biết thêm chi tiết:

https://mevion.com/.../mevion-s250-fit-proton-therapy-system

.

 




Saturday, October 24, 2026

NGƯỜI VIỆT ONLINE – NGÀY 24/10/2026

 



Người Việt

NGÀY 24/10/2026

https://www.nguoi-viet.com/

.


GKN họp với cộng đồng, bắt đầu bồi thường vụ rò rỉ hóa chất

 

Lấn biển ở Cần Giờ có lấn lướt an sinh, an toàn tài chính, kinh tế?  

 

Giá dầu sưởi tăng vọt, thêm gánh nặng tranh cử cho đảng Cộng Hòa

 

San Bernardino: Khoản bồi thường $51.8 triệu trong vụ cảnh sát bắn chết người

 

Bà Nigeria dùng giấy tờ giả để xin passport Mỹ, vừa bị tước quốc tịch

 

Nữ vận động viên Mỹ chinh phục bờ biển California trong điều kiện khắc nghiệt

 

Pháp: Biểu tình, bạo lực bùng phát tại Paris và Marseille

 

Đến khi ‘BÀ’ ra tay, các ông ngừng ‘nổ’ …

 

Đưa tin Novaland ‘toang, mất khả năng trả nợ,’ ông Sài Gòn bị bắt

 

Chủ nhân nhiều ngôi nhà cổ ở Hội An phải ‘sống khổ’

 

Nga và Ukraine ngừng bắn tại Oleshky nhờ nỗ lực của Melania Trump

 

Báo Đan Mạch mô tả Tô Lâm là ‘tên độc tài quyền lực nhất sau thời Hồ Chí Minh’

 

Ukraine: Hệ thống vệ tinh Starlink và Starshield được khôi phục

 

Đà Lạt: Du khách Mỹ nhảy xuống hồ Tuyền Lâm cứu thoát người tự vẫn

 

Hà Nội: Phường Vĩnh Hưng bắt dân ký cam kết ‘không tuần hành, treo băng rôn’  

 

Paris đóng cửa bảo tàng, nhiều cửa hàng nữ trang cao cấp ngưng bán

 

Tình báo cảnh giác: Iran chuẩn bị những cuộc ám sát nhắm vào công dân Mỹ

 

Lê Thanh Xuân – Biệt Kích STRATA-USA

 

Ly dị, ly thân: Làm sao xin thẻ xanh 10 năm?

 

Với $500,000 ở Houston, chọn nhà nhỏ gần phố hay nhà rộng ngoại ô?

 

Lãnh đạo thiểu số Hakeem Jeffries vận động cho Derek Trần và ‘Lấy Lại Hạ Viện’

 

Trung Tâm Cao Đài Anaheim tổ chức ca nhạc ‘Hát Cho Nepal’

 

Nhà không rao bán công khai, người mua lo bỏ lỡ cơ hội

 

Có nên đánh Iran lần nữa?

 

Trump Đòi Nữ Dân Biểu Ilhan Omar Từ Chức: Tố dùng “Tên Giả”, Lật lại vụ hôn nhân mờ ám

 

Trump trước giờ G: Chiêu khen “vòng 3”, đòn “cây gậy” dọa cắt tiền cứu trợ, có “October Surprise” nào?

 

Sống lâu, sống khỏe (Kỳ 6)

 

 





NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt / NGÀY 24/10/2026

 



 

 

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt

NGÀY 24/10/2026

https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/

.

Tin tức

Xem thêm tin tức

·       

 

Bão Champi gây mưa lớn tại quần đảo Sakishima ở phía tây nam Nhật Bản

Cập nhật 14 giờ trước

 

·       

 

KDDI giải thích về vụ cháy quy mô lớn tại Mông Cổ

Cập nhật 14 giờ trước

 

·       

 

Đệ nhất phu nhân Mỹ làm trung gian thỏa thuận ngừng bắn tại thành phố Ukraine

Cập nhật 15 giờ trước

 

·       

 

Pháp và Anh diễn tập mô phỏng tấn công hạt nhân

Cập nhật 14 giờ trước

 

·       

 

Lãnh đạo Trung Quốc kêu gọi đoàn kết nhân dịp kỷ niệm 90 năm cuộc Vạn lý Trường chinh

Cập nhật 15 giờ trước

 

·       

 

Sagawa: Có thể đã rò rỉ tới 53,23 triệu dữ liệu khách hàng

Cập nhật 14 giờ trước

 

·       

 

Phát hiện hươu con chết trong tình trạng mất một phần thân thể gần Công viên Nara

Cập nhật 15 giờ trước

 

·       

 

Bà Aung San Suu Kyi lần đầu trò chuyện với con trai sau hơn 5 năm

Cập nhật 14 giờ trước

 

     *

Phát trực tiếp & Nghe lại

 

Phát trực tiếp & Nghe lại