Michael Kimmage / The Foreign Affairs
https://dcvonline.net/2026/10/24/the-gioi-ma-trump-muon/
HÌNH
:
https://dcvonline.net/wp-content/uploads/2026/10/Trump-et-al.webp
Cristiana
Couceiro trình bầy; nguồn ảnh: Reuters, Getty Images
Quyền
lực Mỹ trong thời đại mới của chủ nghĩa dân tộc
Trong
hai thập niên sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, chủ nghĩa toàn cầu ngày càng lấn
át chủ nghĩa dân tộc. Đồng thời, sự phát triển của những hệ thống và mạng lưới
ngày càng phức tạp — về định chế, tài chánh và kỹ thuật — đã làm lu mờ vai trò
của cá nhân trong chính trị. Nhưng vào đầu thập niên 2010, một chuyển biến sâu
xa đã bắt đầu. Nhờ biết vận dụng những phương tiện của thế kỷ này, một nhóm
nhân vật có sức thu hút quần chúng đã làm sống lại những hình tượng tiêu biểu của
thế kỷ trước: người lãnh đạo cứng rắn, quốc gia vĩ đại và nền văn minh đầy kiêu
hãnh.
Có
thể nói, chuyển biến đó bắt đầu tại Russia. Năm 2012, Vladimir Putin chấm dứt
cuộc thí nghiệm ngắn ngủi: rời chức tổng thống, làm thủ tướng suốt bốn năm, để
một đồng minh ngoan ngoãn giữ chức tổng thống. Putin trở lại cương vị cao nhất,
củng cố quyền lực, đè bẹp mọi phe đối lập và dồn sức phục hồi “thế giới
Russia”, lấy lại địa vị cường quốc mà Russia đã đánh mất sau khi Liên bang Xô
viết sụp đổ, đồng thời chống lại sự thống trị của Mỹ và đồng minh của nước này.
Hai
năm sau, Xi Jinping lên nắm quyền tột đỉnh tại China. Mục tiêu của ông tương tự
Putin, nhưng tham vọng lớn hơn nhiều — và China có khả năng thực hiện những
tham vọng đó vượt xa Russia. Năm 2014, Narendra Modi, người nuôi hoài bão lớn
lao cho India, hoàn tất sự nghiệp chính trị để trở thành thủ tướng, đồng thời
đưa chủ nghĩa dân tộc Hindu thành ý thức hệ chủ đạo của nước ông. Cũng trong
năm ấy, Recep Tayyip Erdogan, người đã trải qua hơn một thập niên làm thủ tướng
Turkey với phong cách điều hành cứng rắn, trở thành tổng thống. Chẳng bao lâu,
Erdogan biến nền dân chủ đa đảng của Turkey thành một chế độ chuyên quyền, nơi
mọi quyền lực tập trung vào một người.
Có
lẽ bước ngoặt quan trọng nhất trong tiến trình này diễn ra năm 2016, khi Donald
Trump đắc cử tổng thống Mỹ. Ông hứa sẽ “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” và đặt
“nước Mỹ lên trên hết” — những khẩu hiệu cô đọng tinh thần dân túy, chủ nghĩa
dân tộc và chống toàn cầu hóa vốn đã âm ỉ cả bên trong lẫn bên ngoài phương
Tây, ngay cả khi trật tự quốc tế tự do do Mỹ lãnh đạo đang hình thành và phát
triển. Trump không đơn thuần cưỡi lên làn sóng toàn cầu. Quan niệm của ông về
vai trò của Mỹ trên thế giới bắt nguồn từ những truyền thống riêng của nước Mỹ,
tuy chịu ảnh hưởng của phong trào America First thời kỳ đầu những năm 1930 ít
hơn chủ nghĩa chống cộng cánh hữu trong thập niên 1950.
Sau
một nhiệm kỳ, việc Trump thất cử trước Joe Biden năm 2020 dường như báo hiệu sự
phục hồi của trật tự cũ. Mỹ đang tìm lại đường lối đối ngoại sau Chiến tranh Lạnh,
sẵn sàng củng cố trật tự tự do và ngăn chặn làn sóng dân túy. Tuy nhiên, sau
khi Trump trở lại chính trường một cách ngoạn mục, giờ đây có vẻ như chính
Biden, chứ không phải Trump, mới là người đi chệch hướng trong một thời gian ngắn.
Trump
cùng những nhân vật cổ võ cho sự vĩ đại của quốc gia đang định hình nghị trình
toàn cầu. Họ tự xem là những người lãnh đạo cứng rắn, ít coi trọng những hệ thống
dựa trên luật lệ, những liên minh hay diễn đàn đa quốc gia. Họ đề cao hào quang
trong quá khứ và tương lai của đất nước họ cai trị, đồng thời khẳng định quyền
cai trị của đó như thể một thiên mệnh thiêng liêng. Dù chương trình hành động của
họ có thể chủ trương thay đổi triệt để, chiến lược chính trị của họ vẫn dựa vào
những khuynh hướng bảo thủ. Họ vượt qua đầu những tầng lớp tinh hoa tự do,
thành thị và có tầm nhìn quốc tế để hướng đến những thành phần cử tri khao khát
truyền thống và mong được thuộc về một cộng đồng.
CỘNG
HƯỞNG GIỮA NHỮNG NỀN VĂN MINH
Ở
phương diện nào đó, những nân vật lãnh đạo này và quan niệm của họ gợi nhớ đến
thuyết “xung đột giữa những nền văn minh” mà lý thuyết gia chính trị Samuel
Huntington nêu ra vào đầu thập niên 1990, xung đột toàn cầu phần lớn phát sinh
từ những khác biệt văn minh sau Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, giới lãnh đạo ngày
nay vận dụng quan niệm đó theo cách phô diễn và linh động hơn là tuyệt đối hóa
hay cuồng tín. Đây là một phiên bản nhẹ hơn của thuyết xung đột văn minh: một
loạt cử chỉ và một phong cách lãnh đạo có thể biến cuộc cạnh tranh — cũng như sự
hợp tác — về quyền lợi kinh tế và địa chính trị thành cuộc đối đầu giữa những
quốc gia tự xem mình là đại diện cho những nền văn minh có sứ mạng chinh phục.
Đôi
khi, cuộc đối đầu này chỉ hiện hữu trên ngôn từ. Nhờ vậy, những người lãnh đạo
có thể sử dụng ngôn ngữ và câu chuyện về văn minh mà không cần tuân theo khuôn
mẫu của Huntington hay những ranh giới có phần đơn giản hóa mà ông dự báo.
(Russia theo Chính Thống giáo đang giao chiến với Ukraine cũng theo Chính Thống
giáo, chứ không phải với Turkey theo Hồi giáo.)
Tại
đại hội đảng Cộng hòa năm 2020, người ta giới thiệu Trump là “người bảo vệ nền
văn minh phương Tây”. Giới lãnh đạo Kremlin phát triển quan niệm Russia là một
“quốc gia-văn minh”, dùng danh xưng này để biện minh cho nỗ lực khống chế
Belarus và khuất phục Ukraine. Tại Hội nghị Thượng đỉnh vì Dân chủ năm 2024,
Modi mô tả dân chủ là “sinh khí của nền văn minh India”. Trong một bài diễn văn
năm 2020, Erdogan tuyên bố: “Nền văn minh của chúng ta là nền văn minh chinh phục.”
Còn trong bài diễn văn năm 2023 trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
China, lãnh tụ Xi Jinping ca ngợi những giá trị của một công trình nghiên cứu
quốc gia về nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa. Ông gọi đó là “nền văn minh vĩ
đại duy nhất chưa từng bị gián đoạn và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay dưới hình
thức một quốc gia”.
Trật
tự mà những người lãnh đạo này tạo dựng trong những năm tới sẽ tùy thuộc rất
nhiều vào nhiệm kỳ thứ hai của Trump. Suy cho cùng, chính trật tự do Mỹ lãnh đạo
đã khuyến khích sự hình thành những cơ cấu siêu quốc gia sau Chiến tranh Lạnh.
Bây giờ, khi Mỹ đã tham gia cuộc tranh tài giữa những quốc gia trong thế kỷ
XXI, Washington thường sẽ là bên quyết định nhịp điệu.
Dưới
thời Trump, giới hoạch định chính sách tại Ankara, Beijing, Moscow, New Delhi
và Washington, cũng như tại nhiều thủ đô khác, sẽ mặc nhiên cho rằng thế giới
không còn một hệ thống duy nhất hay một bộ luật lệ được tất cả chấp nhận. Trong
môi trường địa chính trị đó, ý niệm mong manh về “phương Tây” sẽ càng suy yếu;
cùng lúc, vị thế của Âu châu cũng sẽ giảm sút. Sau Chiến tranh Lạnh, Washington
từng xem Âu châu là đối tác đại diện cho “thế giới phương Tây”.
Những
nước Âu châu đã quen trông đợi Mỹ lãnh đạo tại lục địa này, đồng thời duy trì một
trật tự dựa trên luật lệ ở bên ngoài Âu châu, dù không nhất thiết phải theo
khuôn mẫu do Mỹ đặt ra. Nay, nhiệm vụ củng cố trật tự đó — suy sụp từ nhiều năm
nay — sẽ rơi vào tay Âu châu. Nhưng Âu châu chỉ là một liên minh lỏng lẻo giữa
những quốc gia, không có quân đội chung và cũng chẳng có đủ sức mạnh quân sự tổ
chức chặt chẽ. Hơn nữa, những nước này đang trải qua một thời kỳ mà giới lãnh đạo
suy yếu nghiêm trọng.
Chính
phủ Trump có khả năng thành công trong việc thiết lập một trật tự quốc tế mới,
vốn đã âm thầm hình thành từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, nước Mỹ chỉ có thể thịnh
vượng nếu Washington nhận ra mối nguy hiểm của quá nhiều đường rạn nứt giữa những
quốc gia đang giao cắt với nhau, rồi kiên nhẫn dùng ngoại giao rộng mở để hóa
giải những rủi ro ấy. Trump và nội các phải xem việc kiểm soát xung đột là điều
kiện tiên quyết để nước Mỹ trở nên vĩ đại, chứ không phải vật cản trên con đường
đó.
CĂN
NGUYÊN THẬT SỰ CỦA CHỦ NGHĨA TRUMP
Giới
phân tích thường truy tìm sai nguồn gốc chính sách đối ngoại của Trump khi quy
nó về thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến. Khi phong trào America First nguyên thủy
phát triển mạnh trong thập niên 1930, Mỹ chỉ có lực lượng quân sự khiêm tốn và
chưa giữ địa vị siêu cường. Những người ủng hộ America First hơn hết muốn duy
trì tình trạng ấy; họ tìm cách tránh xung đột.
Trái
lại, Trump hết sức coi trọng địa vị siêu cường của Mỹ, như ông nhiều lần nhấn mạnh
trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai. Chắc chắn ông sẽ gia tăng ngân
sách quốc phòng. Hơn nữa, khi đe dọa chiếm Greenland và Kinh đào Panama, hoặc
tìm cách giành quyền kiểm soát hai nơi đó bằng những phương thức khác, ông đã
chứng tỏ không ngại đối đầu. Trump muốn giảm bớt những cam kết của Washington với
những định chế quốc tế và thu hẹp phạm vi những liên minh của Mỹ, nhưng ông tuyệt
nhiên không có ý định rút nước Mỹ khỏi võ đài thế giới.
Căn
nguyên thật sự của chính sách đối ngoại Trump nằm trong thập niên 1950. Nó bắt
nguồn từ làn sóng chống cộng dâng cao trong mười năm đó, nhưng không phải từ
khuynh hướng chống cộng của khối tự do chủ trương cổ võ dân chủ, phát huy
chuyên môn kỹ trị và tích cực dấn thân vào công việc quốc tế. Tổng thống Harry
Truman, Dwight Eisenhower và John F. Kennedy từng đại diện cho khuynh hướng này
khi đối phó với mối đe dọa Xô viết.
Quan
niệm của Trump bắt nguồn từ những phong trào chống cộng cánh hữu trong thập
niên 1950. Những phong trào đó đặt phương Tây đối đầu với kẻ thù, dựa vào những
hình ảnh và biểu tượng tôn giáo, đồng thời nghi ngờ chủ nghĩa tự do Mỹ là quá mềm
yếu, quá xa rời căn tính quốc gia và quá thế tục để bảo vệ đất nước.
Di
sản chính trị này có thể được lần theo qua ba cuốn sách.
Cuốn
thứ nhất là Witness của nhà báo Mỹ Whittaker Chambers, một cựu đảng
viên cộng sản và điệp viên Xô viết, sau này đoạn tuyệt với đảng và trở thành
người bảo thủ về chính trị. Xuất bản năm 1952, Witness là bản tuyên ngôn
của Chambers nhằm tố cáo những người theo chủ nghĩa tự do ở Mỹ có cảm tình với
cộng sản và hành động phản bội của họ, những điều theo ông, đã tiếp sức cho
Liên Xô.
Một
quan niệm tương tự đã thúc đẩy James Burnham, tư tưởng gia bảo thủ hàng đầu về
chính sách đối ngoại thời hậu chiến. Trong cuốn Suicide of the West
xuất bản năm 1964, ông chỉ trích giới hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ là những
kẻ bất trung vì thói trưởng giả, đồng thời duy trì “những nguyên tắc mang
tính quốc tế và phổ quát, thay vì xuất phát từ địa phương hay quốc gia”.
Burnham chủ trương xây dựng chính sách đối ngoại trên nền tảng “gia đình, cộng
đồng, Giáo hội, đất nước và, ở phạm vi xa nhất, nền văn minh — không phải nền
văn minh nói chung, mà là nền văn minh cụ thể đã hình thành qua lịch sử, nơi
tôi là một thành viên”.
https://dbbpgqhpf47d1x.archive.is/q76yG/300ae1d448fb22debc59bba3209eec16701d62ab.webp
Tác
phẩm nghệ thuật khắc họa Trump, Putin và Xi tại một phòng triển lãm ở Crimea,
Ukraine, tháng 2 năm 2025. Ảnh: Alexey Pavlishak / Reuters.
Một
trong những người thừa kế tư tưởng Burnham là Pat Buchanan, một nhà báo trẻ.
Buchanan ủng hộ Barry Goldwater trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, từng làm
phụ tá cho Tổng thống Richard Nixon và đến năm 1992 đã mở một cuộc tranh cử sơ
bộ đầy thách thức đối với tổng thống đương nhiệm thuộc đảng Cộng hòa, George H.
W. Bush.
Chính
tư tưởng của Buchanan báo trước thời đại Trump rõ rệt nhất. Năm 2002, Buchanan
xuất bản cuốn The Death of the West. Trong sách, ông nhận xét rằng “người
da trắng nghèo đang ngả sang cánh hữu”, đồng thời cho rằng “nhà tư bản
toàn cầu và người bảo thủ chân chính là Cain và Abel”, hai anh em trong
Kinh Thánh có mối quan hệ thù địch.
Dù
mang nhan đề The Death of the West (Sự suy vong của phương Tây),
Buchanan vẫn nuôi hy vọng về phương Tây — theo cách ông phân biệt thế giới
“chúng ta” với “bọn họ” — và tin chắc chủ nghĩa toàn cầu sắp tan rã. Ông viết:
“Vì
đây là một dự án của giới tinh hoa, và vì những kiến trúc sư của nó chẳng được ai
biết đến hay yêu mến, chủ nghĩa toàn cầu sẽ đâm đầu vào Rạn San Hô Lớn của lòng
ái quốc.”
Pat
Buchanan
Trump
tiếp thu truyền thống bảo thủ kéo dài nhiều chục năm này không phải bằng cách
nghiên cứu những nhân vật kể trên, mà bằng bản năng và những ứng biến trong lúc
vận động tranh cử. Giống Chambers, Burnham và Buchanan — những người đứng ngoài
giới tinh hoa nhưng say mê quyền lực — Trump thích phá bỏ những khuôn phép cũ,
muốn đảo lộn hiện trạng và căm ghét giới tinh hoa tự do cùng những chuyên gia
chính sách đối ngoại.
Thoạt
nhìn, Trump có vẻ khó trở thành người thừa kế những nhân vật đó và những phong
trào mà họ góp phần định hình, vì tư tưởng của họ thấm đẫm luân lý Kitô giáo và
đôi khi cả tinh thần thượng lưu. Nhưng Trump đã khôn khéo và thành công khi tự
trình bày mình không phải là một hình mẫu tao nhã của những giá trị văn hóa và
văn minh phương Tây, mà là người kiên quyết bảo vệ những giá trị đó trước kẻ
thù từ bên ngoài lẫn bên trong.
NHỮNG
NGƯỜI MUỐN ĐẢO LẠI TRẬT TỰ
Việc
Trump không ưa chủ nghĩa quốc tế mang tính phổ quát đưa ông đến gần Putin, Xi,
Modi và Erdogan. Năm người lãnh đạo này đều nhận thức được những giới hạn trong
chính sách đối ngoại, nhưng đồng thời cũng có một sự bất an khiến họ không thể
chịu ngồi yên. Họ đều thúc đẩy thay đổi, song vẫn hoạt động trong những giới hạn
do chính mình đặt ra.
Putin
không tìm cách biến Trung Đông thành một khu vực mang bản sắc Russia. Xi không
tìm cách cải tạo Africa, Latin America hay Trung Đông theo hình mẫu China. Modi
không tìm cách dựng lên những bản sao giả tạo của India ở nước ngoài. Erdogan
cũng không ép Iran hay thế giới Arab trở nên giống Turkey hơn. Trump tương tự,
không quan tâm đến việc biến Mỹ hóa thành mục tiêu chính sách đối ngoại. Quan
niệm của ông về tính ngoại lệ của nước Mỹ đặt Mỹ thành một thực thể riêng biệt,
đối lập với thế giới bên ngoài vốn không mang bản sắc Mỹ.
Chủ
nghĩa xét lại trật tự quốc tế có thể hện hữu song song với việc những nước này
cùng tránh xây dựng một hệ thống toàn cầu và với sự suy yếu của trật tự quốc tế.
Đối với Xi, lịch sử và sức mạnh China — chứ không phải Hiến chương Liên Hiệp Quốc
hay những mong muốn của Washington — mới là trọng tài quyết định địa vị của
Taiwan, vì China là bất cứ điều gì ông tuyên bố.
India
không nằm cạnh một điểm nóng toàn cầu như Taiwan, nhưng nước này vẫn tranh chấp
biên giới với China và Pakistan. Những tranh chấp đó chưa được giải quyết kể từ
khi India giành độc lập năm 1947. Theo quan niệm của Modi, India kết thúc ở đâu
là do ông quyết định.
Chủ
nghĩa xét lại của Erdogan thể hiện cụ thể hơn. Để giúp đồng minh Azerbaijan
giành lợi thế, Turkey đã tạo điều kiện cho Azerbaijan trục xuất người Armenia
khỏi vùng lãnh thổ tranh chấp Nagorno-Karabakh, không phải qua thương thuyết mà
bằng sức mạnh quân sự. Tư cách thành viên NATO của Turkey — đi kèm cam kết
chính thức về dân chủ và sự toàn vẹn biên giới — không ngăn cản Erdogan hành động
như vậy.
Turkey
cũng đã thiết lập sự hiện diện quân sự tại Syria. Điều này chưa hẳn là khôi phục
Đế quốc Ottoman. Erdogan không chủ trương chiếm giữ lãnh thổ Syria vĩnh viễn.
Tuy nhiên, những dự án quân sự và chính trị của Turkey tại Nam Caucasus và
Trung Đông mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với Erdogan. Chúng chứng minh sự vĩ
đại của Turkey và cho thấy Turkey sẽ hiện diện ở bất cứ nơi nào Erdogan cho rằng
nước mình phải có mặt.
Giữa
làn sóng xét lại trật tự quốc tế đang dâng cao, cuộc chiến của Russia chống
Ukraine là câu chuyện trọng tâm. Nhân danh sự “vĩ đại” của Russia và cai trị một
đất nước mà theo ông không có giới hạn lãnh thổ rõ ràng, Putin thường xuyên viện
dẫn lịch sử trong những bài diễn văn. Sergey Lavrov, ngoại trưởng Russia, từng
nói đùa rằng những cố vấn thân cận nhất của Putin chính là “Ivan Bạo Chúa,
Peter Đại Đế và Catherine Đại Đế”.
Nhưng
điều Putin thực sự quan tâm là tương lai, chứ không phải quá khứ. Cuộc xâm lăng
Ukraine năm 2022 là một bước ngoặt địa chính trị, tương tự những biến cố mà thế
giới chứng kiến vào các năm 1914, 1939 và 1989. Putin phát động chiến tranh nhằm
chia cắt hoặc thuộc địa hóa Ukraine. Ông muốn cuộc xâm lăng này trở thành tiền
lệ để biện minh cho những cuộc chiến tương tự tại những khu vực khác, đồng thời
có thể khơi dậy trong những nước khác, kể cả China, ý muốn thử sức với những cuộc
phiêu lưu quân sự có thể đảo lộn trật tự.
Putin
đã viết lại luật chơi và vẫn tiếp tục làm như vậy. Dù cuộc xâm lăng diễn ra bất
lợi cho Russia, nó không khiến nước này bị cô lập hoàn toàn trên trường quốc tế.
Putin đã khiến ý tưởng dùng chiến tranh quy mô lớn để chiếm lãnh thổ trở nên
bình thường trở lại. Ông làm điều đó ngay tại Âu châu, nơi trước kia từng là biểu
tượng của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.
Những
cuộc xung đột ngày nay là một phiên bản nhẹ hơn của thuyết xung đột giữa những
nền văn minh.
Tuy
nhiên, cuộc xâm lăng Ukraine không hề báo hiệu sự cáo chung của ngoại giao quốc
tế. Trái lại, xét trên một số phương diện, cuộc chiến đã thúc đẩy ngoại giao khởi
động trở lại. Chẳng hạn, nhóm BRICS, tập hợp China, India và Russia cùng với
Brazil, South Africa và những nước ngoài phương Tây khác, đã mở rộng quy mô và
có lẽ cũng đoàn kết hơn. Ở phía bên kia, liên minh những nước ủng hộ Ukraine
nay đã vượt xa phạm vi xuyên Đại Tây Dương. Liên minh này còn có Australia,
Japan, New Zealand, Singapore và South Korea. Chủ nghĩa đa phương vẫn còn và
phát triển; chỉ có điều nó không bao trùm toàn thế giới.
Trong
bức tranh địa chính trị biến đổi muôn hình vạn trạng này, những mối quan hệ
luôn thay đổi và vô cùng phức tạp. Putin và Xi đã xây dựng quan hệ đối tác,
nhưng chưa hẳn là một liên minh. Xi không có lý do gì phải bắt chước Putin
trong việc liều lĩnh đoạn tuyệt với Âu châu và Mỹ. Dù là đối thủ, Russia và
Turkey ít ra vẫn có thể điều chỉnh hoạt động để tránh đụng độ tại Trung Đông và
Nam Caucasus.
India
dè chừng China. Một số nhà phân tích thường mô tả China, Iran, North Korea và
Russia như một “trục” liên minh, nhưng thực tế đây là bốn quốc gia khác biệt
sâu sắc, với quyền lợi và quan niệm về thế giới thường xuyên mâu thuẫn nhau.
Chính
sách đối ngoại của những nước này nhấn mạnh lịch sử và bản sắc riêng, cùng quan
niệm rằng những người lãnh đạo có sức thu hút quần chúng phải anh dũng bảo vệ
quyền lợi của Russia, China, India hay Turkey. Điều đó cản trở sự hội tụ giữa họ
và khiến việc hình thành những liên minh bền vững trở nên khó khăn. Một trục
liên minh đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, trong khi quan hệ giữa những nước này lại
linh động, dựa trên trao đổi lợi ích và chịu ảnh hưởng mạnh của cá tính từng
người lãnh đạo. Không có gì hoàn toàn trắng đen, không có gì bất di bất dịch và
cũng chẳng có gì không thể thương lượng.
Môi
trường đó rất phù hợp với Trump. Ông không bị những đường ranh chia cắt theo
tôn giáo và văn hóa trói buộc quá nhiều. Ông thường coi trọng cá nhân hơn chính
phủ, và quan hệ riêng hơn những liên minh chính thức. Germany là đồng minh NATO
của Mỹ, còn Russia là đối thủ lâu đời, nhưng trong nhiệm kỳ đầu, Trump đã xung
đột với Thủ tướng Germany Angela Merkel trong khi đối xử với Putin bằng thái độ
tôn trọng. Những nước khiến Trump đối đầu gay gắt nhất lại chính là những nước
thuộc phương Tây. Nếu Huntington còn sống để chứng kiến điều này, hẳn ông sẽ vô
cùng bối rối.
VIỄN
ẢNH CHIẾN TRANH
Trong
nhiệm kỳ đầu của Trump, tình hình quốc tế tương đối yên ổn. Không có cuộc chiến
lớn nào. Russia dường như đã bị ngăn chặn tại Ukraine. Trung Đông có vẻ đang bước
vào một thời kỳ tương đối ổn định, một phần nhờ Hiệp định Abraham do chính phủ
Trump thúc đẩy, gồm những thỏa thuận nhằm củng cố trật tự khu vực.
China
dường như có thể bị răn đe tại Taiwan; nước này chưa bao giờ tiến gần đến mức
xâm lăng hòn đảo. Trên thực tế, dù không phải lúc nào lời nói cũng như vậy,
Trump hành xử như một tổng thống Cộng hòa điển hình. Ông gia tăng những cam kết
quốc phòng của Mỹ đối với Âu châu và chào đón hai quốc gia mới gia nhập NATO.
Ông không ký kết thỏa thuận nào với Russia. Ông dùng lời lẽ cứng rắn với China
và tìm cách giành lợi thế tại Trung Đông.
Nhưng
ngày nay, một cuộc chiến lớn đang diễn ra tại Âu châu, Trung Đông rơi vào hỗn
loạn và hệ thống quốc tế cũ gần như tan nát. Nhiều yếu tố kết hợp có thể dẫn đến
thảm họa: luật lệ và biên giới tiếp tục bị xói mòn; những dự án khẳng định sự
vĩ đại của từng quốc gia va chạm với nhau, trong khi những người lãnh đạo thất
thường và phương tiện truyền thông xã hội với tốc độ truyền tin chóng mặt càng
làm tình hình thêm căng thẳng; những quốc gia vừa và nhỏ ngày càng tuyệt vọng
vì bất mãn trước quyền hành không bị kiểm soát của những cường quốc và lo sợ hậu
quả của tình trạng vô chính phủ trên trường quốc tế.
Thảm
họa có thể bùng nổ tại Ukraine hơn là tại Taiwan hay Trung Đông, vì nguy cơ chiến
tranh thế giới và chiến tranh nguyên tử lớn nhất hiện nằm ở Ukraine.
Ngay
cả dưới trật tự dựa trên luật lệ, sự toàn vẹn lãnh thổ cũng chưa bao giờ là
nguyên tắc tuyệt đối — nhất là đối với những quốc gia nằm gần Russia. Tuy
nhiên, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, Âu châu và Mỹ vẫn cam kết bảo vệ
nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ. Khoản đầu tư khổng lồ của họ vào Ukraine thể hiện
một quan niệm riêng về an ninh Âu châu: nếu người ta có thể dùng vũ lực để thay
đổi biên giới, Âu châu — nơi những đường biên giới từ lâu thường gây bất mãn và
thù hận — sẽ rơi vào một cuộc chiến toàn diện.
Hòa
bình tại Âu châu chỉ có thể có nếu người ta không dễ dàng tùy tiện thay đổi
biên giới. Trong nhiệm kỳ đầu, Trump từng nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ quyền
lãnh thổ, hứa xây một “bức tường lớn và đẹp” dọc biên giới Mỹ-Mexico. Nhưng khi
ấy, ông chưa phải đối phó với một cuộc chiến lớn tại Âu châu. Đến nay, rõ ràng
niềm tin của ông vào tính thiêng liêng của biên giới phần lớn chỉ áp dụng cho
biên giới Mỹ.
Tổng
thống Mỹ Donald Trump ôm Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi trong lễ “Namaste Trump”
tại sân vận động Sardar Patel Gujarat ở Ahmedabad, Ấn Độ, ngày 24 tháng 2 năm
2020. REUTERS/Al Drago
Trong
khi đó, China và India có dè dặt trước cuộc chiến của Russia, nhưng cùng với
Brazil, Philippines và nhiều cường quốc khu vực khác, họ đã có quyết định để lại
hệ quả lâu dài là duy trì quan hệ với Russia, ngay cả khi Putin ra sức phá hủy
Ukraine. Đối với những nước tự nhận là “trung lập” này, chủ quyền của Ukraine
không có ý nghĩa đáng kể. Họ coi trọng một nước Russia ổn định dưới quyền Putin
và những thỏa thuận năng lượng, võ khí đang tiếp diễn hơn nhiều.
Những
nước đó có thể đánh giá thấp nguy cơ khi chấp nhận chủ nghĩa xét lại của
Russia. Chính thái độ đó có thể dẫn đến một cuộc chiến lan rộng thay vì mang lại
ổn định. Viễn cảnh Ukraine bị chia cắt hoặc bị đánh bại sẽ khiến những nước
láng giềng của Ukraine kinh hoàng.
Estonia,
Latvia, Lithuania và Poland là những thành viên NATO, vốn trông cậy vào cam kết
phòng thủ chung theo Điều 5 của hiệp ước. Tuy nhiên, cam kết đó dựa vào sức mạnh
của Mỹ — mà Mỹ lại ở rất xa. Nếu Poland và những nước cộng hòa vùng Baltic nhận
thấy Ukraine sắp thất trận, khiến chủ quyền của chính họ bị đe dọa, họ có thể
quyết định trực tiếp tham chiến. Russia có thể đáp trả bằng cách mở rộng chiến
tranh sang lãnh thổ của họ.
Một
kết cục tương tự cũng có thể xảy ra nếu Washington, những nước Tây Âu và Moscow
đạt được một thỏa thuận lớn chấm dứt chiến tranh theo những điều kiện có lợi
cho Russia, nhưng lại khiến những nước láng giềng Ukraine trở nên cực đoan hơn.
Lo sợ Russia xâm lăng một mặt, đồng thời sợ đồng minh bỏ rơi mặt khác, họ có thể
chuyển sang tấn công trước. Ngay cả khi Mỹ đứng ngoài cuộc trong một cuộc chiến
lan khắp Âu châu, France, Germany và United Kingdom có lẽ cũng không thể giữ
thái độ trung lập.
Nếu
cuộc chiến ở Ukraine lan rộng như vậy, kết cục sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến uy tín
của Trump và Putin. Lòng tự ái sẽ chi phối hành động, như nó vẫn thường xảy ra
trong quan hệ quốc tế. Putin không thể chấp nhận thua Ukraine; Trump cũng không
thể để mình “đánh mất” Âu châu. Đối với bất cứ tổng thống Mỹ nào, việc phung
phí sự thịnh vượng và khả năng phô trương sức mạnh mà Mỹ có được nhờ sự hiện diện
quân sự tại Âu châu sẽ là một nỗi nhục nhã.
Động
lực tâm lý thúc đẩy leo thang chiến tranh sẽ rất mạnh. Trong một hệ thống quốc
tế đặt nặng cá nhân, nhất là khi ngoại giao qua phương tiện kỹ thuật số thiếu kỷ
luật làm tình hình thêm kích động, động lực đó có thể xuất hiện ở những nơi
khác. Chẳng hạn, nó có thể châm ngòi xung đột giữa China và India, hoặc giữa
Russia và Turkey.
VIỄN
ẢNH HÒA BÌNH
Bên
cạnh những kịch bản tồi tệ nhất ấy, hãy xét đến việc nhiệm kỳ thứ hai của Trump
cũng có thể cải thiện tình hình quốc tế đang xuống dốc. Sự kết hợp giữa quan hệ
thực tế, không phô trương với Beijing và Moscow, cách ngoại giao linh động tại
Washington, cùng một chút may mắn về chiến lược, có thể không tạo ra những đột
phá lớn nhưng vẫn giúp duy trì một hiện trạng tốt đẹp hơn.
Không
phải chấm dứt chiến tranh Ukraine, mà là giảm cường độ giao tranh. Không phải
giải quyết dứt điểm vấn đề Taiwan, mà là thiết lập những giới hạn an toàn để
ngăn một cuộc chiến lớn tại vùng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Không phải giải
quyết xung đột Israel-Palestine, mà là đưa Mỹ đến một hình thức hòa hoãn với
Iran đang suy yếu, đồng thời tạo điều kiện xuất hiện một chính phủ có thể hoạt
dộng tại Syria.
Trump
có thể không trở thành một người kiến tạo hòa bình hoàn toàn, nhưng ông vẫn có
thể góp phần đưa thế giới đến một thời kỳ ít chiến tranh hơn.
Dưới
thời Biden và những người tiền nhiệm là Barack Obama và George W. Bush, Russia
và China phải đối phó với sức ép có tính hệ thống từ Washington. Moscow và
Beijing đứng ngoài trật tự quốc tế tự do, một phần do chính lựa chọn của họ, một
phần vì họ không phải là những nền dân chủ. Những người lãnh đạo Russia và
China phóng đại sức ép ấy, như thể Washington thực sự theo đuổi chính sách thay
đổi chế độ của họ. Tuy nhiên, họ không hoàn toàn sai khi nhận thấy Washington
ưu tiên chủ nghĩa chính trị đa nguyên, những quyền tự do dân sự và nguyên tắc
phân quyền.
Kể
từ khi Trump trở lại Tòa Bạch Ốc, sức ép đó đã giảm đi. Hình thức tổ chức chính
phủ tại Russia và China không phải là điều khiến Trump bận tâm, vì ông tuyệt đối
phản đối việc xây dựng quốc gia từ bên ngoài và thay đổi chế độ chính trị. Dù
những nguyên nhân gây căng thẳng vẫn còn, bầu không khí chung sẽ bớt nặng nề
hơn, và những cuộc tiếp xúc ngoại giao có thể diễn ra thường xuyên hơn.
Washington,
Beijing và Moscow có thể linh động nhượng bộ lẫn nhau nhiều hơn trong những vấn
đề nhỏ, đồng thời cởi mở hơn với thương thuyết và những biện pháp xây dựng lòng
tin tại những vùng đang có chiến tranh hay tranh chấp.
Nếu
Trump và nhóm của ông biết vận dụng, ngoại giao linh động — tức khéo léo kiểm
soát những căng thẳng thường trực và những cuộc xung đột liên tiếp — có thể đem
lại lợi ích rất lớn. Trump là vị tổng thống ít mang tư tưởng Wilson nhất kể từ
chính Woodrow Wilson. Ông không quan tâm đến những cơ cấu hợp tác quốc tế bao
quát như Liên Hiệp Quốc hay Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu Châu.
Thay
vào đó, ông cùng những cố vấn, nhất là những người xuất thân từ giới kỹ thuật số,
có thể lên võ đài thế giới với tư duy của một công ty khởi nghiệp: một doanh
nghiệp vừa thành lập, có thể chẳng bao lâu nữa sẽ giải thể, nhưng đủ khả năng
phản ứng nhanh chóng và sáng tạo trước hoàn cảnh nhất thời.
Ukraine
sẽ là phép thử đầu tiên. Thay vì vội vã tìm kiếm hòa bình, chính phủ Trump nên
tập trung bảo vệ chủ quyền Ukraine, điều mà Putin sẽ không bao giờ chấp nhận.
Cho phép Russia hạn chế chủ quyền Ukraine có thể tạo ra vẻ ngoài ổn định, nhưng
lại mở đường cho chiến tranh tái diễn.
Thay
vì theo đuổi một nền hòa bình hão huyền, Washington nên giúp Ukraine xác định
những quy tắc giao chiến với Russia. Dựa vào những quy tắc đó, hai bên có thể từng
bước giảm tầm mức và cường độ chiến tranh.
Khi
đó, Mỹ có thể tách riêng vấn đề xung đột khỏi những lãnh vực khác trong quan hệ
với Russia, như Washington từng làm với Liên Xô suốt thời Chiến tranh Lạnh. Hai
bên có thể tiếp tục bất đồng về Ukraine, nhưng vẫn đi tìm những điểm đồng thuận
trong việc ngăn chặn phổ biến võ khí nguyên tử, kiểm soát võ khí, biến đổi khí
hậu, đại dịch, chống khủng bố, Bắc Cực và thám hiểm không gian.
Việc
tách riêng những vấn đề xung đột với Russia sẽ phục vụ một quyền lợi cốt lõi của
Mỹ, cũng là điều Trump hết sức coi trọng: ngăn chặn một cuộc trao đổi võ khí
nguyên tử giữa Mỹ và Russia.
Chính
Biden, chứ không phải Trump, mới là người đi chệch hướng.
Một
phong cách ngoại giao ứng biến có thể giúp chính phủ tận dụng tốt hơn những cơ
hội bất ngờ do hoàn cảnh đưa tới. Những cuộc cách mạng tại Âu châu năm 1989 là
một thí dụ điển hình.
Sự
cáo chung của chủ nghĩa cộng sản và sự sụp đổ của Liên Xô đôi khi được diễn giải
như một thành quả xuất sắc trong kế hoạch chiến lược của Mỹ. Tuy nhiên, Bức tường
Berlin sụp đổ năm đó hầu như không liên quan đến chiến lược của Mỹ, còn sự tan
rã của Liên Xô cũng không phải là điều chính phủ Mỹ dự đoán sẽ xảy ra. Tất cả
phần lớn là kết quả của tình cờ và may mắn.
Ê-kíp
an ninh quốc gia của Tổng thống George H. W. Bush rất xuất sắc, không phải vì họ
dự đoán hay kiểm soát được biến cố, mà vì họ biết phản ứng thích hợp trước những
gì xảy ra. Họ tránh làm quá mức, chẳng hạn chọc giận Liên Xô, nhưng cũng không
làm quá ít, để rồi để vuột mất một nước Germany thống nhất khỏi NATO.
Theo
tinh thần ấy, chính phủ Trump phải luôn sẵn sàng chụp lấy thời cơ. Muốn tận dụng
tối đa những cơ hội xuất hiện, Washington không được sa lầy vào những hệ thống
và cơ cấu cứng nhắc.
Tuy
nhiên, tận dụng may mắn cũng đòi hỏi sự chuẩn bị và khả năng ứng biến. Về
phương diện này, Mỹ có hai lợi thế lớn.
Thứ
nhất là mạng lưới liên minh, giúp Washington gia tăng đáng kể ảnh hưởng và khả
năng xoay xở. Thứ hai là nghệ thuật vận dụng kinh tế phục vụ quốc gia của Mỹ,
giúp mở rộng khả năng có thị trường và những nguồn tài nguyên thiết yếu, thu
hút đầu tư từ bên ngoài, đồng thời duy trì hệ thống tài chánh Mỹ ở vị trí trung
tâm của nền kinh tế toàn cầu.
Chủ
nghĩa bảo hộ và những chính sách kinh tế mang tính cưỡng ép có thể cần thiết
trong một số trường hợp, nhưng phải phục vụ một tầm nhìn rộng lớn và lạc quan
hơn về sự thịnh vượng của nước Mỹ. Tầm nhìn đó phải dành ưu tiên cho những đồng
minh và đối tác lâu năm.
Ngày
nay, không còn khái niệm quen thuộc nào về trật tự thế giới hoàn toàn phù hợp:
hệ thống quốc tế không còn đơn cực, lưỡng cực hay đa cực. Nhưng ngay cả trong một
thế giới không có cơ cấu ổn định, chính phủ Trump vẫn có thể sử dụng sức mạnh Mỹ,
những liên minh và nghệ thuật vận dụng kinh tế phục vụ quốc gia để giảm căng thẳng,
hạn chế xung đột và tạo dựng một nền tảng hợp tác tối thiểu giữa những nước lớn
cũng như nhỏ.
Đó
có thể là cách giúp Trump thực hiện mong muốn của mình: để nước Mỹ ở vào tình
thế tốt đẹp hơn khi nhiệm kỳ thứ hai kết thúc so với lúc ông bắt đầu.
------------------------------
Tác
giả:
Michael Kimmage là giám đốc Viện Kennan thuộc Wilson Center, đồng thời là tác
giả cuốn The Abandonment of the West: The History of an Idea in American
Foreign Policy (Sự từ bỏ phương Tây: Lịch sử một khái niệm trong chính sách
đối ngoại Mỹ).
Người
dị:h:
Trần Giao Thủy
©
2026 DCVOnline
Nếu
đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ
DCVOnline.net”
Nguồn: The World Trump
Wants | Michael Kimmage | The Foreign Affairs | February 25, 2025
No comments:
Post a Comment