Khi Mỹ mượn văn minh
Hy Lạp để kéo Châu Âu “cùng thuyền”
Đới
Duy Lai - 戴维来| 雅典归来:我在鲁比奥深情演讲背后看见了什么 , Sohu
Lê Thị Thanh Loan, biên dịch - Nghiên Cứu Quốc Tế
https://nghiencuuquocte.org/2026/10/16/khi-my-muon-van-minh-hy-lap-de-keo-chau-au-cung-thuyen/
“Athens
đã ươm mầm cho nền dân chủ. Plato và Aristotle đã mang đến cho chúng ta triết học
phương Tây. Hiểu biết của chúng ta về pháp luật, mỹ đức, tư cách công dân và thể
chế cộng hòa đều bắt nguồn từ các thành bang Hy Lạp. Cho đến rất nhiều thuật ngữ
chính trị của chúng ta – như dân chủ, bạo chính, và bản thân từ ‘chính trị’ –
cũng đều khởi nguồn từ đây.”
Khi
Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio phát biểu những lời này trên ngọn đồi Pnyx ở
Athens, phía sau ông là Đền Parthenon đang tắm mình trong ánh hoàng hôn. Địa điểm
này rõ ràng đã được lựa chọn kỹ lưỡng: Đồi Pnyx là một trong những biểu tượng
quan trọng của nền dân chủ Hy Lạp cổ đại, nơi từng diễn ra Hội đồng Công dân
Athens cổ đại và được cho là nơi các nhà chính trị kiệt xuất như Pericles hay
Demosthenes từng diễn thuyết.
Điều
khiến người ta ít nhiều ngỡ ngàng là ngay từ đầu, bài phát biểu của Rubio đã
tràn ngập những hoài niệm về nền văn minh phương Tây khởi nguồn từ Hy Lạp. Điều
này hoàn toàn trái ngược với thái độ xa cách của chính quyền Trump đối với quan
hệ xuyên Đại Tây Dương, đồng thời cho thấy Rubio cố ý thể hiện mong muốn tái
quy tụ phương Tây quanh một sự đồng thuận về nền văn minh.
Chỉ
một tuần trước khi Rubio hết lời ca ngợi nền dân chủ phương Tây, một cuộc thảo
luận hoàn toàn khác đã diễn ra: Diễn đàn Dân chủ Athens lần thứ 14 được tổ chức
từ ngày 29/9 đến 1/10. Với tư cách đơn vị đồng tổ chức, tờ The New York
Times đã đứng ra tổ chức phiên tranh luận khai mạc. Chủ đề của diễn đàn năm
nay là: “Liệu nền dân chủ còn có thể ứng phó với những thách thức hiện tại?”
Khác với cảm xúc dạt dào mà Rubio thể hiện, bản thân chủ đề này đã phản ánh cuộc
khủng hoảng quản trị mà nội bộ phương Tây đang trải qua, cũng như nỗi âu lo đối
với thể chế dân chủ của chính họ. Đáng chú ý, diễn đàn lần này đã mời Giáo sư
Trương Duy Vi (Zhang Weiwei) – người lâu nay vốn luôn giữ quan điểm phê phán đối
với mô hình dân chủ phương Tây – tham gia diễn thuyết và tranh biện. Tôi cũng
có cơ hội đi cùng đoàn tham dự diễn đàn.
Chỉ
trong vòng một tuần, hai hình thức tự vấn khác nhau của phương Tây đã xuất hiện
tại cùng một thành phố. Một cách nhìn đến từ giới học thuật, truyền thông và
chính giới Mỹ – châu Âu, khi họ liên tục truy vấn tại diễn đàn rằng nền dân chủ
đang gặp phải vấn đề gì. Cách nhìn còn lại đến từ Ngoại trưởng Mỹ: Đứng trước
những di tích cổ, ông kêu gọi châu Âu khơi lại ngọn lửa nhiệt huyết, đồng thời
cảnh báo rằng: “Hoặc hành động ngay lúc này, hoặc sẽ hoàn toàn đánh mất khả
năng lựa chọn hành động.”
Nhiều
ý kiến bình luận cho rằng bài phát biểu lần này của Rubio rất giàu cảm xúc. Tuy
nhiên, nếu đọc kỹ toàn văn, có thể nhận thấy bài phát biểu này không đơn thuần
là một lời “tỏ tình” dành cho châu Âu, mà còn trình bày một cách hệ thống về
cách nhìn của chính quyền Trump hiểu về phương Tây, châu Âu và mối quan hệ
xuyên Đại Tây Dương. Muốn hiểu được lối tư duy này, có lẽ cần đặt bài phát biểu
của Rubio bên cạnh bài phát biểu mà Phó Tổng thống J. D. Vance đưa ra tại
Munich.
Vance
hỏi: “Các vị đang bảo vệ điều gì?”. Rubio đáp: “Nền văn minh phương Tây.”
Trước
hết, hãy cùng nhìn lại bài phát biểu nổi tiếng của Vance tại Hội nghị An ninh
Munich.
Tháng
2 năm 2025, Vance tham dự Hội nghị An ninh Munich với tư cách Phó Tổng thống Mỹ.
Bằng giọng điệu dân túy bảo thủ, thẳng thừng và sắc bén, ông công khai chỉ
trích giới tinh hoa đương quyền châu Âu có mặt bên dưới. Ông nói, điều khiến
mình lo ngại nhất về châu Âu “không phải là Nga, không phải Trung Quốc, cũng
không phải bất kỳ chủ thể bên ngoài nào”, mà là “mối đe dọa đến từ bên trong” –
tức việc châu Âu đang đi chệch khỏi những giá trị nền tảng mà họ cùng chia sẻ với
Mỹ.
Ngay
lại hội nghị, Vance thẳng thừng chỉ trích việc Romania hủy bỏ kết quả bầu cử tổng
thống và cách các thể chế EU quản lý mạng xã hội, đồng thời đích danh cáo buộc
Anh, Đức, Thụy Điển và một số nước khác đã kết án, thậm chí bắt giữ những người
phản đối phá thai, những người có quan điểm tôn giáo khác biệt và người dùng mạng,
dưới danh nghĩa chống “thông tin sai lệch” và “ngôn từ thù ghét”. Ông cũng phản
đối việc các đảng phái chính thống dựng lên một “bức tường lửa” nhằm ngăn đảng
Sự lựa chọn vì nước Đức (AfD). Vance còn đưa ra một câu chất vấn ngược mà đến
nay vẫn thường xuyên được trích dẫn: “Tôi đã nghe rất nhiều về những thứ mà các
ông muốn đề phòng, nhưng rốt cuộc thì các ông đang bảo vệ điều gì?”
Bài
phát biểu này khi đó đã gây chấn động lớn tại châu Âu. Các cơ quan truyền thông
như Die Welt, Frankfurter Allgemeine Zeitung của Đức và Financial
Times của Anh cho rằng bài phát biểu đánh dấu việc những bất đồng về ý thức
hệ giữa Mỹ và châu Âu đã chính thức bộc lộ công khai. Nhiều quan chức châu Âu
chỉ trích Vance vì can thiệp vào công việc nội bộ của châu Âu. Tuy nhiên, cũng
có một số người thuộc phe bảo thủ châu Âu cho rằng ông đã nói lên tiếng lòng của
một bộ phận cử tri châu Âu.
Một
năm sau, vào tháng 2 năm 2026, Rubio bước lên chính bục diễn thuyết ấy, nhưng với
một giọng điệu hoàn toàn khác. Ông nói: “Mái nhà của chúng ta có thể nằm ở Tây
Bán cầu, nhưng chúng ta mãi mãi là đứa con của châu Âu.” Ông điểm từ Dante,
Shakespeare đến Mozart, Beethoven, từ Nhà nguyện Sistine đến Nhà thờ lớn
Cologne, cho tới cả The Beatles và The Rolling Stones. Tiếng vỗ tay phía dưới hội
trường kéo dài không dứt, nhiều người đứng dậy bày tỏ sự tán thưởng. Sau sự kiện,
von der Leyen cho biết bà cảm thấy “rất yên tâm”.
Tám
tháng sau, tại Athens, Rubio tiếp tục đào sâu chủ đề này. Ngay khi mở đầu bài
phát biểu, ông nói rằng trên khắp thế giới có rất nhiều di tích vĩ đại, trong
đó không ít nơi “dường như là điểm kết thúc của lịch sử”, là tàn tích của những
nền văn minh xa xưa đã vượt khỏi ký ức nhân loại. Nhưng Đền Acropolis ở Athens
thì khác.
Ông
kể về việc người Ba Tư đốt phá Acropolis vào năm 480 trước Công nguyên, về việc
người Athens xây dựng lại nơi này trên đống đổ nát, rồi đến thời Pericles, đền
Parthenon được hoàn thành. Ông nói về tinh thần thumos của người Hy Lạp – tức
“ngọn lửa của đam mê, sức mạnh, dũng khí và niềm tự hào”, nói về “cá tính mạnh
mẽ cùng hoài bão không ngừng nghỉ”, nói về khát khao phát kiến, mạo hiểm, dấn
thân vào rủi ro và vinh quang. Ông cũng nhắc đến Socrates – người thà chết chứ
không từ bỏ sự thật, 300 chiến binh Sparta chiến đấu đến người cuối cùng, và
Achilles – người chọn ở lại Troy để truy cầu vinh quang bất tử.
Để
kéo gần khoảng cách với dòng chảy lịch sử này, Rubio xúc động nói: “Tôi đứng
đây hôm nay, với tư cách là Ngoại trưởng của nền cộng hòa này, với tư cách là
chắt của những người di cư từ Tây Ban Nha đến Tân Thế giới. Tôi đứng đây là để
làm minh chứng cho một món nợ ân tình mà dù thời gian trôi qua hay khoảng cách
muôn trùng cũng không thể xóa nhòa.”
Đặt
những đoạn này cạnh nhau, có thể thấy Rubio thực chất đang trả lời câu hỏi của
Vance. Vance hỏi châu Âu: “Rốt cuộc thì các ông đang bảo vệ điều gì?”. Câu trả
lời của Rubio là: Một nền văn minh chung. Như chính Rubio nói: “Chúng ta ngày
nay phải bảo vệ nền văn minh này với tất cả nhiệt huyết, như cách tổ tiên của
chúng ta đã làm.” Bằng một tập hợp diễn ngôn được kể theo cách ôn hòa hơn và có
vẻ bao dung hơn – rằng Mỹ và châu Âu “cùng nhau bảo vệ nền văn minh cổ điển
phương Tây” – Rubio đang tìm cách hàn gắn liên minh Mỹ – châu Âu.
Hai
hình thái “Châu Âu”: Thay lãnh đạo hay thay linh hồn?
Truyền
thông Châu Âu thường dùng hình ảnh “cảnh sát tốt – cảnh sát tồi” (good cop –
bad cop) để mô tả thái độ của hai nhân vật chủ chốt của Mỹ này đối với Châu Âu.
Thế nhưng sự khác biệt giữa hai người không chỉ dừng lại ở giọng điệu, mà còn ở
cách hiểu của họ về câu hỏi “Châu Âu là
gì?”.
.
Điều
Vance chủ yếu nói đến là Châu Âu ở phương diện thể chế và chính trị. Ông quan
tâm đến tự do ngôn luận, kết quả bầu cử và việc thể hiện ý chí của công chúng;
đối tượng bị ông chỉ trích chủ yếu là một số chính sách hiện hành và các đảng
phái đương quyền tại Châu Âu. Đây đều là những yếu tố thuộc phần “lớp da” của Châu
Âu, có thể thay đổi theo các cuộc bầu cử và sự điều chỉnh chính sách. Hàm ý
trong lập luận của Vance là chỉ cần Châu Âu thay một chính phủ cánh hữu,Cchâu
Âu sẽ có thể trở lại đúng quỹ đạo của liên minh Mỹ – Châu Âu.
Trong
khi đó, Rubio lại bàn về Châu Âu ở chiều kích phả hệ lịch sử và diễn ngôn văn
minh. Tại Athens, ông mô tả người Mỹ là những người “sinh ra ở Athens, được
nhào nặn bởi Rome, rửa tội trong thế giới Kitô giáo, tôi luyện trong lò luyện Châu
Âu thời Trung cổ, mang bản tính truy cầu tự do của người Anh, và rồi băng qua Đại
Tây Dương để tái sinh trên bờ cõi Tân Thế giới.” Ông quy mối liên kết Mỹ – Châu
Âu về một lịch sử, đức tin Kitô giáo, văn hóa, di sản, ngôn ngữ và huyết thống
chung. Trong cách diễn đạt của Rubio, Mỹ không phải là một vị quan tòa đứng
trên cao phán xét Châu Âu, mà là người kế thừa nền văn minh Châu Âu. Cách nói
này nghe rất đỗi ấm áp, nên đương nhiên dễ được người Châu Âu đón nhận hơn.
Tuy
nhiên, nếu đặt hai bài phát biểu cạnh nhau, ta sẽ thấy những điều Rubio phủ định
thậm chí còn nhiều hơn Vance.
Vance
chỉ trích các chính sách cụ thể như kiểm soát ngôn luận, chính sách nhập cư hay
việc phong tỏa các đảng phái dân túy – những điều chỉ cần thay đổi một bộ máy
chính quyền là có thể điều chỉnh về cơ bản.
Rubio
thì chạm đến một tầng sâu hơn. Tại Munich, ông nói rằng liên minh mà Mỹ mong muốn
không phải là một liên minh dùng để vận hành nhà nước phúc lợi toàn cầu và chuộc
lại những tội lỗi mà các thế hệ trước được cho là đã gây ra. Đến Athens, ông diễn
đạt rõ hơn: “Người Phương Tây chúng ta bắt đầu cảm thấy xấu hổ về những phẩm chất
khiến chúng ta khác biệt… Bằng cách nào đó, sự thịnh vượng của chúng ta lại trở
thành nguồn gốc của cảm giác tội lỗi”; “từ ‘chủ nghĩa dân tộc’ đã trở thành một
từ mang nghĩa tiêu cực. Vì thế, chúng ta phá bỏ các tượng đài, lên án chính lịch
sử của mình”, thậm chí “dạy con cái mình phải cảm thấy xấu hổ về đất nước mà
chúng sẽ thừa kế”. Ông chỉ trích nhiều hệ tư tưởng ngày nay “đã thoái hóa thành
một thế giới tuyệt đối an toàn, không có rủi ro, không có thất bại”, đồng thời
chỉ trích việc Phương Tây trao quyền quyết định cho “các cơ quan quan liêu toàn
cầu vượt xa tầm kiểm soát của chúng ta”.
Những
phát biểu này đều nhắm đến những vấn đề cụ thể. Những từ ngữ như “chuộc tội” và
“lên án chính lịch sử của mình” khó có thể không khiến người ta liên tưởng đến
quá trình phản tỉnh lịch sử thời hậu chiến của nước Đức – điều vốn là nền tảng
để Cộng hòa Liên bang Đức tái hòa nhập vào cộng đồng quốc tế. Những lời chỉ
trích về một thế giới “tuyệt đối an toàn”, “không có rủi ro” nhắm vào mô hình
phúc lợi xã hội mà châu Âu vốn tự hào; còn “các bộ máy quan liêu toàn cầu” là
cách ám chỉ EU – mô hình nhất thể hóa trong đó các quốc gia thành viên phải nhượng
lại một phần chủ quyền. Rubio đặc biệt nhấn mạnh rằng việc tái thiết các thể chế
và liên minh “không phải để xóa bỏ chủ quyền của những quốc gia cấu thành nên
chúng, mà là để bảo vệ chủ quyền ấy”. Điều này chẳng khác nào công khai ủng hộ
các xu hướng chống hội nhập đang nổi lên bên trong Châu Âu.
Vì
vậy, có thể nói Vance muốn Châu Âu thay một thế hệ lãnh đạo, còn Rubio muốn Châu
Âu thay đổi linh hồn. Ông muốn Châu Âu từ bỏ mô hình Châu Âu tự do chủ nghĩa
hình thành sau năm 1945, với những giá trị nền tảng là hòa giải, phúc lợi xã hội,
hội nhập và các quy tắc, để quay trở lại hình thái Châu Âu cũ vốn tôn sùng chủ
nghĩa dân tộc, vinh quang và sự chinh phục.
Danh
sách các anh hùng Phương Tây mà Rubio đưa ra tại Athens thể hiện khá rõ điều
này: “Những phẩm chất đã giúp Alexander chinh phục toàn bộ thế giới mà ông biết
đến cũng tái hiện ở Caesar, Charlemagne và Cortés.” Việc Columbus “phát hiện ra
Châu Mỹ” được xem là biểu tượng của tinh thần khám phá, còn điểm kết thúc của
diễn ngôn là hành trình từ “một nước cộng hòa ven biển còn non trẻ” trở thành
“một đế quốc trải dài khắp lục địa”.
Cortés
là nhà thực dân Tây Ban Nha đã chinh phục Đế chế Aztec. Việc liệt nhân vật vào
hàng ngũ anh hùng là điều hoàn toàn “không đúng đắn về mặt chính trị” trong hệ
thống diễn ngôn Châu Âu đương đại. Đối với người dân Mỹ Latinh, cũng như các cộng
đồng rộng lớn hơn thuộc Phương Nam Toàn Cầu (Global South), bản thân danh sách
anh hùng này chính là một chú giải cho lịch sử của chủ nghĩa thực dân. Điều đó
cũng phần nào lý giải vì sao những “giá trị phổ quát” mà Phương Tây đề cao ngày
càng khó tạo được tiếng vang tại Phương Nam toàn cầu.
Trong
và ngoài diễn đàn: Một góc nhìn khác về sự tự vấn của Phương Tây
Trong
khi đó, bầu không khí tại Diễn Đàn Dân Chủ Athens lại hoàn toàn trái ngược với
hội trường được dàn dựng công phu cho bài phát biểu của Rubio. Các học giả và
nhà hoạt động với những lập trường khác nhau tại diễn đàn đã thẳng thắn nêu ra
những vấn đề thực sự mà nền dân chủ Phương Tây đang phải đối mặt – cũng chính
là những vấn đề mà Rubio cố tình né tránh trên Đồi Pnyx.
Ngay
tại diễn đàn, tôi đã được lắng nghe một tiếng nói khác từ Nước Mỹ. Trong bài
phát biểu của mình, một vị khách mời người Mỹ chỉ trích việc Mỹ cắt giảm viện
trợ dân chủ thông qua Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID), cho rằng điều
này làm suy yếu sự phối hợp giữa “liên minh các quốc gia dân chủ”, đồng thời chủ
trương Châu Âu nên tăng cường hợp tác theo chiều ngang với các nước như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Australia và Canada. Đây là tư duy mà giới chính trị đương quyền Mỹ vốn
theo đuổi lâu nay: Tập hợp đồng minh dựa trên sự phân chia nhị nguyên giữa “dân
chủ” và “chuyên chế”. Trong khi đó, Rubio muốn dùng một “cộng đồng văn minh Phương
Tây” mang tính loại trừ cao hơn và có tính tiến công mạnh mẽ hơn để thay thế
cách tiếp cận này. Đối với Châu Âu, vấn đề giờ đây không chỉ còn là có nên đi
theo Mỹ hay không, mà còn là nên đi theo kịch bản nào của nước Mỹ.
Rõ
ràng, niềm tin của thế hệ trẻ Châu Âu vào nền dân chủ Phương Tây đang dần xói
mòn, và cả số liệu lẫn những gì diễn ra tại diễn đàn đều xác nhận điều này. Có
khách mời thẳng thắn thừa nhận rằng: “Không nên mặc định rằng công dân luôn đặt
tự do, sự tham gia và các thủ tục dân chủ lên trên hết.” Khi tình trạng bất an
về kinh tế gia tăng, con người có thể sẽ coi trọng an ninh, sự ổn định và thịnh
vượng hơn. Khảo sát Thanh Niên Châu Âu mới nhất do Quỹ TUI của Đức công
bố cho thấy, trong số 8.024 người được hỏi từ 16 đến 26 tuổi tại bảy quốc gia Châu
Âu, chỉ khoảng 26% hài lòng với cách vận hành thực tế của nền dân chủ ở đất nước
mình.
Fidias
Panayiotou – một thanh niên người Cyprus tham dự diễn đàn, từng gây bất ngờ khi
đắc cử nghị sĩ Nghị Viện Châu Âu ở tuổi 24 – đã thẳng thắn chia sẻ tại diễn đàn
rằng, nhiều người dân đã mất niềm tin vào nền chính trị của các đảng phái truyền
thống, cứ vài năm họ lại đi bỏ phiếu một lần, nhưng điều đó không bảo đảm những
người đắc cử sẽ thực hiện các cam kết của mình. Anh thử sử dụng ứng dụng điện
thoại để giúp cử tri trực tiếp tham gia biểu quyết tại nghị viện, đồng thời tìm
hiểu khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quá trình ra quyết định. Trên thực
tế, đây là một nỗ lực mượn công nghệ kỹ thuật số để tiến hành một cuộc điều chỉnh
mang màu sắc dân túy đối với thể chế đại diện truyền thống.
Những
thực tế chính trị được phơi bày trong báo cáo của Quỹ TUI hẳn cũng là điều mà
giới tinh hoa Phương Tây đã cảm nhận sâu sắc. Cuộc khủng hoảng thực sự mà Phương
Tây đang đối mặt chính là sức hấp dẫn của nền dân chủ chính thống đang lung lay
tận gốc rễ trong thế hệ trẻ. Trong khi Rubio hô hào trên bục diễn thuyết về việc
khơi dậy tinh thần “mạo hiểm và vinh quang”, người dân Châu Âu bình thường lại
quan tâm đến giá năng lượng, việc làm và nhà ở. Giữa câu chuyện lớn lao mà giới
tinh hoa theo đuổi và những kỳ vọng cụ thể của người dân đối với cuộc sống tồn
tại một khoảng cách lớn lao.
Trong
cuộc tranh luận trực tiếp tại hội trường, các học giả và khán giả Phương Tây đã
không còn sa lầy vào những cái nhãn thể chế trừu tượng. Họ bắt đầu truy vấn xem
logic quản trị “lấy nhân dân làm trung tâm” rốt cuộc là đang nói về phúc lợi
hay quyền lợi, đo lường ra sao, và liệu có thể duy trì bền vững hay không? Giáo
sư Trương Duy Vi đã dùng triết lý chính trị cổ điển Trung Hoa “Nước có thể chở
thuyền, cũng có thể lật thuyền” để diễn giải mối quan hệ biện chứng giữa việc cầm
quyền và lòng dân. Trên thực tế, trọng tâm của toàn bộ cuộc tranh luận nằm ở một
vấn đề thực tiễn: Hiệu quả quản trị. Những cuộc nội loạn cùng quá trình thịnh
suy của các thành bang Hy Lạp được Thucydides ghi lại trong Lịch sử cuộc chiến
tranh Peloponnese vẫn nhắc nhở chúng ta rằng, việc một thể chế liệu có thể
tồn tại lâu dài hay không, suy cho cùng phải xem nó có thể cung cấp an ninh, sự
ổn định và phồn vinh một cách bền vững và hiệu quả cho các thành viên trong xã
hội hay không, tức là có thực hiện được “lương chính thiện trị” (quản trị tốt)
hay không.
Trở
lại bài phát biểu của Rubio ở Athens, ông ca ngợi chi tiêu quốc phòng của Châu
Âu đang “tăng vọt”. Động lực chính của sự gia tăng này đến từ cam kết tại Hội Nghị
Thượng Đỉnh NATO ở The Hague, theo đó đến năm 2035, các nước sẽ nâng chi tiêu
quốc phòng lên mức 5% GDP. Xét một cách khách quan, sự thay đổi này vừa chịu
tác động từ sức ép lâu dài của Mỹ, vừa xuất phát từ những lo ngại an ninh của
chính Châu Âu sau khi xung đột Nga – Ukraine bùng nổ. Trong một cuộc hội thảo
kín mà chúng tôi tham dự sau đó tại Rome, phát biểu của một nhà ngoại giao kỳ cựu
người Italy thể hiện khá rõ quan điểm này. Ông nói thẳng: “Mỗi bước đi của tiến
trình nhất thể hóa Châu Âu đều không thể thiếu sự thúc đẩy của Mỹ; kỳ vọng Mỹ
và Châu Âu hoàn toàn tách rời nhau là điều phi thực tế.”
Sự
phụ thuộc chiến lược vào Mỹ khiến các lợi ích địa chính trị cụ thể của Châu Âu
đang được tái cấu trúc, đồng thời làm nảy sinh những rạn nứt và phân hóa. Chính
quyền Trump thích làm việc riêng rẽ với từng quốc gia Châu Âu, rồi đưa một số
nước trong đó lên làm “hình mẫu”. Gần đây, Mỹ, Đan Mạch và Greenland đã ký kết
một thỏa thuận mới về đất hiếm và quốc phòng; phía Mỹ lập tức quảng bá thỏa thuận
này như một hình mẫu của tình hữu nghị xuyên Đại Tây Dương. Trong bài phát biểu
tại Athens, Rubio tuyên bố tình hữu nghị xuyên Đại Tây Dương “không phải là một
cuộc chơi có tổng bằng không”, đồng thời nhấn mạnh: “Chúng ta muốn cùng thắng,
và chúng ta phải cùng thắng.” Ông ca ngợi Hy Lạp là “đồng minh mẫu mực” trong
các lĩnh vực năng lượng, di cư và quốc phòng, đồng thời “chân thành hy vọng
toàn thể Châu Âu có thể noi theo cách làm của các bạn”. Trong các vấn đề quốc
phòng và địa chính trị, liên minh xuyên Đại Tây Dương từ lâu đã rơi vào tình thế
đan xen phức tạp giữa sự ràng buộc chiến lược và những toan tính lợi ích thực dụng.
“Màn
bộc lộ cảm xúc chân thành” rốt cuộc đã tiết lộ điều gì?
Không
ít bài bình luận dùng cụm từ “bộc lộ tình cảm chân thành” để mô tả bài phát biểu
của Rubio trên Đồi Pnyx. Quả thực, bài diễn văn của ông giàu cảm xúc và có sức
biểu đạt mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ trong bối cảnh cán cân quyền lực xuyên
Đại Tây Dương đang thay đổi, có thể nhận thấy bài phát biểu này còn truyền tải
ít nhất ba tín hiệu sâu xa hơn.
Thứ
nhất,
cảm giác cấp bách trước sự thay đổi tương quan sức mạnh.
Bài
phát biểu mở đầu bằng câu chuyện về những “tàn tích”. Rubio nói rằng nhiều tàn
tích trên thế giới “dường như đánh dấu điểm kết thúc của lịch sử”, nhưng thành
Acropolis ở Athens đã được tái thiết sau khi bị thiêu hủy. Đây không phải là một
lựa chọn ngẫu nhiên. Trong bối cảnh trật tự đa cực đang tăng tốc hình thành và
thế giới phi Phương Tây đang trỗi dậy, liệu Phương Tây có đi đến một “điểm kết
thúc của lịch sử” theo một cách khác hay không – đó mới là vấn đề thực sự khiến
giới hoạch định chính sách Mỹ quan tâm.
Tiếp
đó, ông tuyên bố: “Mười năm tới và những quyết định mà chúng ta đưa ra sẽ viết
nên chương tiếp theo của thế kỷ này”, đồng thời cảnh báo Phương Tây “hoặc phải
hành động ngay bây giờ, hoặc sẽ hoàn toàn đánh mất khả năng lựa chọn hành động”.
Cách ông nhấn mạnh tính cấp bách của thời cơ cho thấy tâm thế của Mỹ thiên về
phòng thủ hơn là ung dung, tự tại.
Thứ
hai,
mượn lời Lincoln để thừa nhận những rạn nứt sâu sắc.
Rubio
nói: “Dù cảm xúc mãnh liệt đôi khi khiến mối dây liên kết trong tình hữu nghị Mỹ
– Châu Âu trở nên căng thẳng, nhưng chúng ta tuyệt đối không được để chúng phá
vỡ mối liên kết ấy.” Câu này gần như phỏng theo đoạn kết bài diễn văn nhậm chức
đầu tiên của Abraham Lincoln năm 1861: “Dù cảm xúc có thể làm căng thẳng, nhưng
chúng ta tuyệt đối không được để nó cắt đứt sợi dây liên kết tình cảm giữa
chúng ta.”
Khi
Lincoln nói những lời ấy, có 7 bang Miền Nam nước Mỹ tuyên bố ly khai khỏi Liên
bang. Đó vốn là lời ông gửi đến những “đồng bào bất mãn”. Việc Rubio mượn câu
nói này hàm chứa hai tầng ý nghĩa. Thứ nhất, ông định nghĩa quan hệ Mỹ – Châu
Âu như chuyện nội bộ của một gia đình, nhấn mạnh rằng mối liên kết giữa hai bên
không thể bị cắt đứt. Thứ hai, ông gián tiếp thừa nhận rằng sau những va chạm về
thuế quan, những sóng gió xoay quanh vấn đề Greenland và các tranh luận ý thức
hệ, bất đồng giữa Mỹ và Châu Âu đã trở nên nghiêm trọng đến mức cần được hàn gắn
một cách nghiêm túc.
Thứ
ba,
sự song hành của diễn ngôn về lòng biết ơn và những yêu cầu về lợi ích.
Rubio
nói về “món nợ ân tình không gì có thể xóa nhòa”, đồng thời viện dẫn lời chính
trị gia Mỹ thế kỷ XIX Daniel Webster để bày tỏ món nợ ân tình mà nước Mỹ dành
cho Hy Lạp. Qua đó, ông đặt nước Mỹ vào vị thế vừa là người kế thừa một nền văn
minh, vừa là bên mang ơn. Tuy nhiên, phần lớn những kỳ vọng cụ thể được nêu ra
trong bài phát biểu lại hướng về phía châu Âu: Chẳng hạn, yêu cầu các nước tiến
tới mục tiêu chi tiêu quốc phòng bằng 5% GDP đã được xác định tại Hội nghị thượng
đỉnh The Hague, phối hợp với Mỹ trong các vấn đề Bắc Cực, cũng như tăng cường
điều phối trong lĩnh vực năng lượng, di cư và những vấn đề khác.
Mỹ
là bên bày tỏ tình cảm, còn Châu Âu là bên phải gánh chịu phần lớn chi phí.
Dùng câu chuyện về nền văn minh để củng cố sự đồng thuận, rồi hiện thực hóa lợi
ích thông qua những chương trình nghị sự cụ thể – đó là cách tiếp cận điển hình
của chính sách ngoại giao “Nước Mỹ trên hết” trong việc xử lý quan hệ đồng
minh. Dĩ nhiên, việc Châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng cũng xuất phát từ những
cân nhắc an ninh của chính mình, chứ không thể quy tất cả cho sức ép từ phía Mỹ.
Trước
màn “bộc lộ tình cảm chân thành” của Rubio, người Châu Âu cũng không hoàn toàn
bị thuyết phục. Không ít tiếng nói trong dư luận Châu Âu đã chỉ ra dụng ý ẩn
sau diễn ngôn về nền văn minh: Trói buộc Mỹ và Châu Âu vào cùng một “con thuyền
văn minh”, nhưng rốt cuộc vẫn là buộc Châu Âu phải trả tiền cho chiến lược địa
chính trị của Mỹ.
Bài
bình luận Rubio đã chọn nhầm người Athens đăng trên tạp chí Anh The
Spectator đánh giá khá cao bài phát biểu của Rubio, cho rằng đây là một
trong những bài diễn thuyết hay nhất của các chính trị gia Phương Tây trong những
năm gần đây, đồng thời nhận định rằng bài phát biểu đã phân tích khá chính xác
những vấn đề của Phương Tây.
Tuy
nhiên, tác giả cũng thu hút sự chú ý của người đọc đến những mỹ đức mà Rubio lựa
chọn: “Hoài bão không ngừng nghỉ”, “mạo hiểm và vinh quang”, “thách thức mọi giới
hạn”, cùng bảng danh sách các anh hùng kéo dài từ Alexander, Caesar đến Cortés.
Tác giả chỉ ra rằng, đây không phải là những tín điều mà Pericles từng đề cao.
Pericles chủ trương cố thủ trong thành, dựa vào sức mạnh hải quân và kiềm chế
tham vọng đế quốc; ông nổi tiếng với sự thận trọng. Những gì Rubio cổ vũ như
“hoài bão không ngừng nghỉ” và “sự thiếu kiên nhẫn đối với mọi ranh giới và giới
hạn” thực chất lại thuộc về Alcibiades.
Năm
415 TCN, chính tại ngọn đồi này, Alcibiades đã thuyết phục Hội Đồng Công Dân
Athens tiến hành cuộc viễn chinh đến Sicily. Hai năm sau, toàn bộ đạo quân viễn
chinh bị tiêu diệt; thất bại này trở thành bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến từ
thịnh sang suy của Athens. Theo tác giả, khẩu hiệu “hoặc hành động ngay bây giờ”
chính là kiểu luận điệu mang màu sắc Alcibiades. Còn cuộc chiến của Mỹ nhằm vào
Iran – đã kéo dài bảy tháng, trong khi eo biển Hormuz đến nay vẫn chưa được mở
lại – chính là “Sicily” của nước Mỹ.
----------------------------------
Tác
giả Đới Duy Lai là Giáo sư thuộc Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Đại học Phúc Đán.
Nguồn:
Đới Duy Lai, 戴维来| 雅典归来:我在鲁比奥深情演讲背后看见了什么 , Sohu,
12/10/2026.
No comments:
Post a Comment