Friday, December 1, 2023

COP28 : KHAI MẠC HỘI NGHỊ KHÍ HẬU "QUAN TRỌNG NHẤT" KỂ TỪ PARIS 2015 (Trọng Thành / RFI)

 



COP28: Khai mạc Hội nghị Khí hậu ‘‘quan trọng nhất’’ kể từ Paris 2015

Trọng Thành  -  RFI

Đăng ngày: 30/11/2023 - 11:45

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20231130-cop28-khai-m%E1%BA%A1c-h%E1%BB%99i-ngh%E1%BB%.....%AB-paris-2015

 

Hôm nay, 30/11/2023, tại Dubai, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhật, hội nghị khí hậu lần thứ 28 của Liên Hiệp Quốc (COP28) khai mạc. Tham dự hội nghị kéo dài hai tuần lễ này có lãnh đạo của khoảng 180 quốc gia. Nước chủ nhà và Liên Hiệp Quốc hy vọng đây sẽ là một Hội nghị Khí hậu có ý nghĩa lịch sử, tương tự như Hội nghị Khí hậu Paris năm 2015.

 

https://s.rfi.fr/media/display/86f6940a-8f78-11ee-bce4-005056bf30b7/w:980/p:16x9/AP23334370048798.webp

COP28 tại Dubai, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, ngày 30/11/2023. AP - Peter Dejong

 

Theo lãnh đạo về khí hậu của Liên Hiệp Quốc, Simon Stiell, đây là ‘‘Hội nghị Khí hậu Liên Hiệp Quốc quan trọng nhất kể từ Paris 2015. Cộng đồng quốc tế sẽ phải đạt được những bước tiến khổng lồ, trong bối cảnh chúng ta mới chỉ tiến được các bước nhỏ.’’ Theo AFP, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, quốc gia thứ hai ở vùng Vịnh đăng cai Hội nghị Khí hậu sau Qatar, dự kiến tiếp đón tổng cộng hơn 97.000 người dự hội nghị (bao gồm phái đoàn các nước, giới truyền thông, ban tổ chức, các tổ chức phi chính phủ, các nhóm vận động hành lang, các kỹ thuật viên…), tức nhiều gấp hơn hai lần so với COP27.

 

Thông tín viên Nicolas Keraudren từ Dubai cho biết thêm về tình hình tại chỗ:  

 

‘‘Tham vọng của nước chủ nhà Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất cũng là biến hội nghị này thành một sự kiện đại chúng. Chẳng hạn như tại Dubai, từ nhiều ngày nay, các xe buýt của thành phố đã chuyển sang màu xanh, màu của COP28. Các doanh nghiệp địa phương cũng tranh thủ cơ hội để quảng cáo với biểu tượng của COP28. Trên biểu tượng hình cầu này, có hình ảnh những con người, các loài thú vật như lạc đà, hay các tấm pin mặt trời. 

 

Ngoài hơn 100.000 người được cấp giấy chính thức dự hội nghị, theo ban tổ chức, COP28 dự kiến mở cửa cho khoảng 400.000 người dân. Công chúng có thể tham gia vào nhiều hoạt động được, tổ chức bên lề các cuộc đàm phán, như hòa nhạc, triển lãm, hay hội thảo. Để tham gia, chỉ cần đặt chỗ miễn phí trên mạng. 

 

COP28 được tổ chức tại nơi đã diễn ra Triển lãm Thế giới 2021, do Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập đăng cai. Theo số liệu chính thức, sự kiện này đã thu hút khoảng 24 triệu khách’’.

 

 

Phó tổng thống Mỹ dự COP28

 

Về sự tham gia của Hoa Kỳ, Washington thay đổi kế hoạch vào giờ chót. Hôm qua, 29/11, Nhà Trắng ra thông báo cho biết ‘‘tổng thống đã yêu cầu phó tổng thống Kamala Harris thay mặt ông dự COP28, để thể hiện vị thế lãnh đạo của nước Mỹ về khí hậu’’. Phó tổng thống Harris sẽ tới Dubai vào ngày mai, 01/12, ngày thứ hai của hội nghị.

 

Cũng tại Dubai, trả lời báo giới hôm qua, đặc phái viên khí hậu của Mỹ John Kerry nhấn mạnh Hoa Kỳ và Trung Quốc, hai quốc gia phát thải thứ hai và thứ nhất thế giới (với 40% tổng lượng khí thải toàn cầu), đã ‘‘quyết định phối hợp các nỗ lực cho sự thành công của COP28’’, bởi ‘‘không có hành động kiên quyết của Trung Quốc và Mỹ, thế giới sẽ không thể giành được chiến thắng trong cuộc chiến này’’.

 

Đặc phái viên khí hậu Mỹ khẳng định là Hoa Kỳ sẽ thúc đẩy để nội dung ‘‘tăng tốc từ bỏ sử dụng các năng lượng hóa thạch mà không có các phương tiện thu giữ khí thải CO2 (unabated)’’ được ghi vào Tuyên bố chung của COP28.

 

---------------------------

Các nội dung liên quan

 

VIỆT NAM - COP28

Việt Nam điều chỉnh kế hoạch về khí hậu trước COP28

 

HOA KỲ - COP28

Khí hậu: Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ không dự COP28

 

COP 28 - KHÍ HẬU

Hướng đến bỏ ''than - dầu - khí’’: COP28 có tạo được bước ngoặt?

 





TRUNG QUỐC 'BÙ ĐẦU' CHUYỆN NỘI BỘ KHÔNG TÍNH XÂM LĂNG ĐÀI LOAN (Người Việt)

 



Trung Quốc ‘bù đầu’ chuyện nội bộ không tính xâm lăng Đài Loan

Người Việt

November 30, 2023

https://www.nguoi-viet.com/the-gioi/thai-anh-van-trung-quoc-qua-bu-dau-chuyen-noi-bo-khong-tinh-xam-lang-dai-loan/

 

ĐÀI BẮC, Đài Loan (NV) – Lãnh đạo Trung Quốc quá “bù đầu” với các vấn đề nội bộ nên không thể tính đến việc xâm lược Đài Loan, Tổng Thống Thái Anh Văn nhận định trong một cuộc phỏng vấn với nhật báo New York Times.

 

“Tôi nghĩ giới lãnh đạo Trung Quốc vào thời điểm này đang bị choáng ngợp vì những thách thức nội bộ. Và tôi nghĩ có lẽ đây không phải là lúc để họ tính đến một cuộc xâm lăng quy mô vào Đài Loan,” bà Thái nói trong cuộc phỏng vấn trên chương trình DealBook Summit.


https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2023/11/TS-tasi-1536x1025.jpg

Tổng Thống Thái Anh Văn của Đài Loan. (Hình: Annabelle Chih/Getty Images)

 

“Phần lớn là do những thách thức kinh tế, tài chính cũng như chính trị trong nước, ngoài ra, cộng đồng quốc tế đã tuyên bố rõ ràng rằng chiến tranh không phải là một lựa chọn và hòa bình, ổn định phục vụ lợi ích cho toàn thể mọi người,” bà Thái nhận định.

 

Trung Quốc, vốn coi Đài Loan theo thể chế dân chủ là lãnh thổ của mình, đã không ngừng tăng cường áp lực quân sự lên đảo quốc này trong nhiều năm qua, dẫn đến lo ngại về một cuộc xung đột có thể gây hậu quả toàn cầu.

 

Khi được hỏi về bình luận của bà Thái, Bộ Quốc Phòng Trung Quốc trả lời: “Cuối cùng và chắc chắn là Trung Quốc sẽ thống nhất.”

 

“Quân đội Trung Quốc sẽ thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,” ông Ngô Khiêm, phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Trung Quốc, tuyên bố trong cuộc họp báo hằng tháng ở Bắc Kinh.

 

Bà Thái và chính phủ Đài Bắc đã nhiều lần kêu gọi đàm phán với Trung Quốc nhưng bị từ chối, vì Bắc Kinh coi bà Thái và đảng Dân Tiến (DPP) là phe ly khai.

 

Bà Thái nói chỉ có người dân Đài Loan mới có thể quyết định tương lai của họ.

 

Đài Loan đang trong quá trình vận động cho cuộc bầu cử tổng thống và Quốc Hội sẽ được tổ chức vào ngày 13 Tháng Giêng, 2024. 

 

Bà Thái cho rằng việc Trung Quốc đang cố gắng can thiệp vào cuộc bầu cử ở Đài Loan là chuyện “không có gì bí mật.”

 

“Nhưng tôi nghĩ có lẽ Bắc Kinh không thành công trong nỗ lực gây ảnh hưởng đến cuộc bầu cử của chúng tôi. Chủ yếu vì Đài Loan là một nền dân chủ và dân chúng đều biết rằng chính họ mới là người đưa ra những quyết định tốt nhất về việc ai sẽ là nhà lãnh đạo tiếp theo của đất nước,” bà Thái nhấn mạnh. (MPL) [qd]

 

 




PHỤ NỮ TRẺ TRUNG QUỐC ĐANG THÁCH THỨC ĐẢNG CỘNG SẢN (Leta Hong Fincher   |   New York Times)

 



Phụ nữ trẻ Trung Quốc đang thách thức Đảng Cộng Sản

Leta Hong Fincher   |   New York Times

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch

30/11/2023

https://nghiencuuquocte.org/2023/11/30/phu-nu-tre-trung-quoc-dang-thach-thuc-dang-cong-san/

 

Áp lực phải kết hôn bắt đầu khi Amiee mới ngoài 20 tuổi.

 

Đến năm 25 tuổi, cha mẹ buộc tội cô làm họ mất mặt trước mọi người, vì lúc đó cô vẫn chưa có kế hoạch kết hôn. Cha cô cảnh báo rằng phụ nữ sẽ mất giá trong mắt đàn ông khi họ gần 30 tuổi, khi mà – theo tuyên truyền của chính phủ Trung Quốc – thời kỳ phù hợp để sinh con của họ đã qua. Năm Amiee 29 tuổi, mẹ cô dọa sẽ nhảy lầu nếu cô không chịu tìm một người chồng.

 

Trong những buổi họp mặt gia đình như Tết Nguyên Đán, cô kể rằng họ hàng nài nỉ cô giúp “cả gia tộc tìm được bình yên.” Còn ở nơi làm việc, cô bị áp lực phải tham gia những buổi hẹn hò lần đầu do công ty tổ chức, dưới sự giám sát của một số đồng nghiệp. “Mọi thứ thật đáng sợ,” cô nói.

 

Amiee – cô gái đang được giấu tên để tránh những hậu quả có thể xảy ra khi dám đặt câu hỏi về chính sách của chính phủ Trung Quốc – thực chất không phản đối hôn nhân. Đơn giản là cô chưa tìm được người bạn tâm giao của mình, và không muốn vội vàng kết hôn chỉ để làm hài lòng cha mẹ hoặc chính phủ, những người muốn tăng tỷ lệ sinh. Giờ đây, dù vẫn độc thân nhưng đã có sự nghiệp thành công trong lĩnh vực quan hệ công chúng, cuối cùng cô cũng được hưởng chút bình yên. Amiee năm nay 34 tuổi, đã qua thời kỳ mà chính phủ Trung Quốc cho là thời kỳ sinh sản tốt nhất của phụ nữ, và gia đình đã ngừng gây áp lực lên cô.

 

Tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện tương tự từ những phụ nữ độc thân ở khắp Trung Quốc, nơi chương trình tuyên truyền phân biệt giới tính của nhà nước gọi những phụ nữ độc thân có nghề nghiệp trên 27 tuổi là thặng nữ (sheng nu), hay phụ nữ còn thừa. Trong thời gian làm nghiên cứu thực địa ở Trung Quốc để lấy bằng Tiến sĩ Xã hội học, từ năm 2011 đến năm 2013, tôi đã trò chuyện với nhiều cô gái phải chịu đựng những mối quan hệ mà họ không mong muốn, phải chấp nhận những thỏa hiệp lớn về cá nhân, tài chính, và sự nghiệp. Tôi thực sự muốn bảo họ cứ mặc kệ tất cả.

 

Giờ đây, nhiều phụ nữ trẻ Trung Quốc đang làm chính xác điều đó, trì hoãn hoặc né tránh việc kết hôn và sinh con, tương tự như sự thay đổi của phụ nữ ở các xã hội Đông Á gia trưởng giàu có hơn, như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan. Trên tư cách cá nhân, những phụ nữ Trung Quốc này nhìn chung không sẵn lòng thách thức chính sách chính thức. Nhưng thông qua những lựa chọn sinh sản của mình, cùng nhau, họ đặt ra một vấn đề căn bản và phức tạp cho Đảng Cộng sản Trung Quốc.

 

Đối mặt với dân số ngày càng giảm và suy thoái kinh tế kéo dài, đảng muốn phụ nữ Trung Quốc phải ngoan ngoãn sinh con vì sự ổn định xã hội, kinh tế, và nhân khẩu học. Thay vào đó, nhiều phụ nữ Trung Quốc, những người hiện có nhiều tự do cá nhân và quyền kiểm soát cuộc sống của mình hơn so với thời kỳ đầu của chính quyền Cộng sản, đang âm thầm phản đối.

 

Vào cuối thập niên 1970, chính phủ đã áp dụng chính sách một con nhằm kiềm chế sự gia tăng dân số. Nhưng điều này lại dẫn đến tỷ lệ sinh giảm mạnh, dân số già đi, và mất cân bằng giới tính khi hàng triệu bào thai bé gái bị phá bỏ vì truyền thống ưu tiên sinh con trai nối dõi. (Tính đến năm 2020, tại Trung Quốc, số nam giới trong độ tuổi từ 20 đến 40 vẫn cao hơn khoảng 17,5 triệu so với số nữ giới, điều mà truyền thông chính phủ cảnh báo có thể trở thành mối đe dọa cho sự ổn định xã hội.) Vì lo lắng, chính phủ đã từ bỏ chính sách một con kể từ năm 2016, theo đó cho phép tất cả các cặp vợ chồng được có hai con, thậm chí còn nâng con số đó lên ba vào năm 2021.

 

Nhưng kỳ vọng về bùng nổ tỷ lệ sinh đã không trở thành hiện thực. Số lượng các cặp đôi đăng ký kết hôn đã giảm trong 9 năm liên tiếp tính đến năm 2022, xuống mức thấp nhất kể từ khi chính phủ bắt đầu công bố số liệu vào năm 1986. Số ca sinh mới cũng tiếp tục giảm, với chỉ 9,56 triệu trẻ được sinh ra vào năm ngoái, thấp nhất kể từ khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thành lập vào năm 1949. Dân số quốc gia đã giảm lần đầu tiên sau sáu thập niên vào năm 2022, cho phép Ấn Độ vượt qua Trung Quốc để trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới.

 

Nhiều nam giới Trung Quốc cũng đang lảng tránh việc kết hôn. Nhưng sự thay đổi nhân khẩu học này chủ yếu được thúc đẩy bởi sự không sẵn sàng của phụ nữ trong việc hy sinh sự nghiệp và lối sống, hoặc chấp nhận gánh nặng chi phí giáo dục trẻ em ngày càng lớn. Các cuộc khảo sát gần đây cho thấy phụ nữ trẻ Trung Quốc có cái nhìn tiêu cực hơn về hôn nhân so với nam giới. Một cuộc khảo sát của Đoàn Thanh niên Cộng sản công bố năm 2021 cho thấy 30,5% thanh niên thành thị từ 18 đến 26 tuổi cho biết họ “không tin vào hôn nhân” và 73,4% số người đưa ra câu trả lời đó là phụ nữ.

 

Đó là điều đảng không hề muốn nghe. Mao Trạch Đông từng có câu nói nổi tiếng rằng “phụ nữ nắm giữ một nửa bầu trời,” nhưng Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói rõ rằng việc buộc phụ nữ khuất phục là điều cần thiết trong kế hoạch hiện đại hóa Trung Quốc của ông. Năm nay, chính phủ đã bắt đầu một nỗ lực mới để khuyến khích phụ nữ kết hôn và sinh con, và tại một cuộc họp chính trị hàng đầu dành cho phụ nữ vào tháng 10, Tập đã kêu gọi xây dựng “một kiểu văn hóa hôn nhân và sinh con mới,” trong đó đảng cố gắng thuyết phục giới trẻ Trung Quốc sinh con. Năm ngoái, lần đầu tiên kể từ năm 1997, không có một phụ nữ nào trong số 24 thành viên được bổ nhiệm vào Bộ Chính trị mới của đảng.

 

Nhưng các chính sách đi lùi của Tập đang rõ ràng đang mâu thuẫn với vai trò truyền thống của phụ nữ Trung Quốc. Bên cạnh việc phải từ bỏ các quyền tự do cá nhân và nghề nghiệp, hôn nhân có thể trở thành điều hết sức nguy hiểm đối với phụ nữ Trung Quốc. Nhiều phụ nữ đã phải đối mặt với bạo lực gia đình, và sau đó là cuộc chiến khó khăn khi theo đuổi việc ly hôn tại tòa án. Năm 2021, chính phủ thậm chí còn khiến việc ly hôn trở nên khó khăn gấp bội cho phụ nữ khi áp đặt thời gian hoà giải bắt buộc đối với các cặp vợ chồng có ý định ly hôn.

 

Chính phủ của Tập đã tiến hành đàn áp rộng rãi các tổ chức xã hội dân sự, khiến các hành động nữ quyền công khai trở nên nguy hiểm. Hoàng Tuyết Cầm, một nhà báo và nhà hoạt động nữ quyền hàng đầu, người đã khởi xướng phong trào #MeToo của Trung Quốc bằng cách tạo ra một nền tảng mạng xã hội để đưa tin về hành vi quấy rối tình dục vào năm 2018, đã bị đưa ra xét xử vào tháng 9 sau hai năm bị giam giữ, với các cáo buộc mơ hồ về tội lật đổ. Không có bản án nào được công bố.

 

Xung đột về quyền kiểm soát sinh sản đang xuất hiện, một cuộc xung đột có ý nghĩa lớn đối với quyền của phụ nữ và tương lai nhân khẩu học của Trung Quốc. Đảng đã xác định chủ nghĩa nữ quyền phương Tây là mối đe dọa đối với các mục tiêu kế hoạch hóa dân số và là một ví dụ về sự xâm nhập của hệ tư tưởng thù địch từ nước ngoài. Việc kiểm duyệt các chủ đề nữ quyền trên mạng đã được tăng cường, song song với đó là các chương trình tuyên truyền của nhà nước với quan điểm sai lầm về phụ nữ.

 

Nhưng khi số lượng phụ nữ Trung Quốc theo học đại học đạt mức cao kỷ lục, mối quan tâm đến các vấn đề nữ quyền và khẳng định quyền sinh sản cũng tăng lên. Phụ nữ tiếp tục lên mạng để thách thức sự phân biệt giới tính cũng như sự đối xử bất bình đẳng, và trao đổi ý kiến với nhau. Trong bối cảnh ngành xuất bản của Trung Quốc bị kiểm duyệt gắt gao, các tác phẩm dịch của các nhà hoạt động vì nữ quyền như học giả người Nhật Chizuko Ueno đã trở thành sách bán chạy nhất ở Trung Quốc.

 

Khi cuộc đấu tranh về quyền kiểm soát sinh sản leo thang, chính phủ có thể mở rộng hỗ trợ tài chính hoặc các biện pháp khác để khuyến khích sinh con. Nhưng xét đến tâm lý của Tập, chính phủ nhiều khả năng sẽ tăng áp lực lên chủ nghĩa nữ quyền và quyền phụ nữ nói chung. Hiện tại, việc thắt ống dẫn tinh cũng đã trở nên khó khăn hơn.

 

Nhưng các lựa chọn của Đảng Cộng sản đang bị hạn chế. Trung Quốc không thể ép buộc phụ nữ kết hôn hoặc mang thai, và khó có thể nới lỏng các chính sách nhập cư chặt chẽ để bù đắp cho lực lượng lao động đang bị thu hẹp. Việc đặt thêm áp lực lên phụ nữ hoặc sử dụng những hành động quyết liệt như áp đặt lệnh cấm phá thai hoặc tránh thai trên toàn quốc có thể khiến thái độ của phụ nữ trở nên cứng rắn hơn, thậm chí dẫn đến một cuộc nổi dậy. Một điều chắc chắn là những phụ nữ trẻ, có học vấn đã đứng đầu các cuộc biểu tình ở một số thành phố vào cuối năm 2022, nhằm chống lại các chính sách kiểm soát đại dịch hà khắc của chính phủ.

 

Đảng Cộng sản đã phải đối mặt với nhiều đối thủ và người bất đồng chính kiến suốt những thập niên cai trị của mình, nhanh chóng bịt miệng và đẩy họ vào quên lãng. Tuy nhiên, đứng trước những phụ nữ trẻ của đất nước, các lãnh đạo nam giới của đảng có lẽ sẽ phải đối mặt với thách thức khó khăn nhất của mình.

 

------------------------

Leta Hong Fincher là chuyên gia về nữ quyền ở Trung Quốc và tác giả cuốn sách “Leftover Women: The Resurgence of Gender Inequality in China.” Bài viết có sự hỗ trợ của Yi Liu.

 

Nguồn: Leta Hong Fincher, “Young Chinese Women Are Defying the Communist Party,” New York Times, 26/11/2023

 

======================================================

 

Có Thể Bạn Quan Tâm:

1.    Các đặc tính và tệ nạn của văn hóa Trung Quốc

2.    Nhìn lại 50 năm chuyến thăm Trung Quốc của Nixon (P2)

3.    Chiến thuật tuyên truyền chiến tranh Ukraine của ĐCS Trung Quốc

4.    Đằng sau việc Trung Quốc phóng tên lửa vào EEZ của Nhật Bản

5.    Phụ nữ Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc xóa bỏ chính sách zero-covid

6.    Tại sao Đài Loan quan trọng với thế giới?

7.    Tại sao Trung Quốc đổi giọng điệu về quan hệ với Nhật Bản?

8.    Tướng lĩnh lão thành âm thầm gây áp lực lên Tập tại Bắc Đới Hà?

 

 

 

 


NAKBA : HƯỚNG TỚI KHUNG PHÁP LÝ ĐỂ XÓA BỎ 'THẢM HỌA' CỦA NGƯỜI PALESTINE (Rabea Eghbariah  |  The Nation)

 



Nakba: Hướng tới khung pháp lý để xóa bỏ ‘thảm họa’ của người Palestine

Rabea Eghbariah  |  The Nation

Phạm Vũ Thiều Quang, biên dịch

29/11/2023

https://nghiencuuquocte.org/2023/11/29/nakba-huong-toi-khung-phap-ly-de-xoa-bo-tham-hoa-cua-nguoi-palestine/

 

Lời giới thiệu của người dịch: Bài viết này được đăng trên The Nation, một tạp chí chính trị và văn hoá hàng đầu của Mỹ vào ngày 21/11, trước khi có thoả thuận tạm ngừng bắn giữa Israel và Hamas. Tác giả là Rabea Eghbariah, một luật sư nhân quyền người Palestine và là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Trường luật Harvard. Bài viết này về nạn diệt chủng ở Gaza được dự kiến xuất bản trên Tạp chí Luật Harvard (Harvard Law Review, HLR), nhưng bị từ chối vào phút cuối.

 

Quyết định này, được một biên tập viên nói là chưa từng có trong lịch sử của Tạp chí, xuất phát từ lo ngại của Tạp chí về khả năng tác giả và biên tập viên của HLR bị phản đối, xúc phạm, hoặc quấy rối do đăng tải bài viết. Hành động này đã khiến 25 biên tập viên HLR bày tỏ quan ngại về ảnh hưởng của chiến dịch đe doạ công khai bởi các nhóm ủng hộ Israel đối với quá trình ra quyết định của HLR. The Nation sau đó đã xuất bản bài viết.

 

Chúng tôi xin giới thiệu bản dịch toàn bộ bài viết của Eghbariah để bạn đọc có thể hiểu thêm quan điểm khoa học pháp lý về cuộc xung đột Israel-Palestine hiện nay. Ngay cả với những người như Eghbariah, làm việc tại một môi trường học thuật thường được coi là tự do nhất thế giới, cuộc chiến này đã cho thấy rõ hơn ảnh hưởng của Israel tại phương Tây, bao gồm khả năng ngăn chặn quyền tự do ngôn luận trên khắp mọi khía cạnh của xã hội.

 

                                                          ***

 

1. Định nghĩa của diệt chủng 

 

Diệt chủng là một tội ác. Nó đã được định nghĩa rõ ràng như một khuôn khổ pháp lý trong luật pháp quốc tế. Theo định nghĩa này, nó đang diễn ra ở Gaza. Ngay cả vậy, sự chậm trễ của giới học thuật pháp lý, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, là một diễn biến đáng lo ngại. Có một thứ rõ ràng trong sự chậm trễ này, đó là các học giả sẽ thường phân tích các vụ án cũ thay vì đối mặt với thực tế chết chóc đang diễn ra ngay trước mặt. Phân tích các trường hợp diệt chủng trong quá khứ dễ dàng hơn nhiều, do điều này không đòi hỏi các học giả phải đấu tranh xem liệu những gì đang diễn ra bây giờ có phải diệt chủng hay không. Do vậy, các học giả ngành luật sẽ thường chỉ mài bút sau khi mùi chết chóc đã tan biến và sự rõ ràng về mặt đạo đức không còn cấp bách.

 

Một số người có thể cho rằng việc viện dẫn tội diệt chủng, đặc biệt là ở Gaza, là vô cùng phức tạp và sẽ gây tranh cãi. Nhưng liệu chúng ta có phải chờ cho đến khi tội ác diệt chủng đã kết thúc thì mới có thể gọi tên nó hay không? Lý luận này đã góp phần lớn để xây dựng nên nền chính trị phủ nhận chúng ta đã quá quen thuộc ngày nay. Trong trường hợp Gaza, nhiều người thấy rằng nền tảng tri thức của phương Tây đang bị xâm nhập bởi các giá trị đạo đức giả, khiến ít người có thể đưa ra một thuật ngữ nhằm diễn tả bạo lực đối với người Palestine mà không bị chỉ trích. Nhưng việc có được một cái tên để nói đến sự bất công này là vô cùng quan trọng để đòi hỏi công lý. Nếu cộng đồng quốc tế coi trọng việc lên án các tội ác, thì cuộc thảo luận về diệt chủng đang diễn ra ở Gaza sẽ không chỉ là một vấn đề ngữ nghĩa.

 

Công ước Diệt chủng của Liên Hợp Quốc định nghĩa tội diệt chủng là những hành động “được thực hiện với mục đích tiêu diệt, cho dù hoàn toàn hay một phần, một nhóm quốc gia, sắc tộc, chủng tộc, hoặc tôn giáo”. Những hành động này có thể bao gồm “giết hại thành viên của một nhóm được bảo vệ” hay “gây tổn thương nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thần”, và “cố tình gây ra các điều kiện sống được tính toán để dẫn đến sự huỷ diệt về thể chất của họ”.

 

Nhiều phát biểu của các chính trị gia hàng đầu Israel đã khẳng định ý đồ diệt chủng của họ. Có một sự đồng thuận đang hình thành giữa các học giả hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu diệt chủng, rằng “những tuyên ngôn này có thể dễ dàng được coi là bày tỏ ý định diệt chủng,” như  Omer Bartov, một chuyên gia trong lĩnh vực này đề cập. Quan trọng hơn, mối đe doạ diệt chủng đã trở thành thực tế của người Palestine tại Gaza; 2,3 triệu người dân bị mắc kẹt, bị buộc rời khỏi nơi cư trú, bị đói, thiếu nước, trong khi phải đối mặt với những cuộc ném bom lớn từ Israel, dẫn đến hơn 11.000 người bị tàn sát tại một trong những khu vực đông dân nhất thế giới. Tức là cứ 200 người ở Gaza thì có một người đã thiệt mạng, hàng chục ngàn người bị thương, và hơn 45% nhà cửa ở Gaza đã bị phá hủy trong chưa đầy 2 tháng qua. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc nói rằng Gaza đang trở thành “nghĩa địa của trẻ em,” nhưng việc chấm dứt thảm sát, một lệnh ngừng bắn, vẫn khó có thể đạt được. Israel tiếp tục vi phạm pháp luật quốc tế một cách trắng trợn: thả phốt pho trắng từ trên trời xuống, bắn phá các khu dân cư, tấn công các trường học, bệnh viện, và trường đại học, ném bom nhà thờ Hồi giáo và Thiên chúa Giáo, xóa sổ các gia đình, làm đổ máu, và thanh lọc sắc tộc Palestine một cách tàn nhẫn và dường như được hệ thống hoá. Nếu đây không phải diệt chủng, thì bạn gọi điều này là gì?

 

Trung tâm Quyền Lập Hiến đã phát hành một bản phân tích thực tế và pháp lý chi tiết, dài 44 trang, khẳng định rằng “có một trường hợp rõ ràng và đáng tin cậy rằng Israel đang phạm tội diệt chủng đối với người dân Palestine ở Gaza.” Raz Segal, một nhà sử học nghiên cứu về Holocaust (thảm họa diệt chủng người Do Thái thời Thế chiến II), đã gọi tình hình ở Gaza là “một trường hợp điển hình về diệt chủng đang diễn ra trước mắt chúng ta.” Luis Moreno Ocampo, trưởng công tố đầu tiên của Tòa Án Hình sự Quốc tế, nói rằng, “Chỉ việc phong tỏa Gaza; chỉ thế thôi; đã có thể là tội diệt chủng theo Điều 2(c) của Công ước Diệt chủng, có nghĩa là họ đang tạo ra điều kiện để tiêu diệt một nhóm.” Một nhóm gồm hơn 800 học giả và người hành nghề luật, bao gồm các học giả hàng đầu trong các lĩnh vực luật quốc tế và nghiên cứu diệt chủng, cảnh báo về “nguy cơ nghiêm trọng của việc diệt chủng đang được thực hiện ở Dải Gaza.” Một nhóm gồm bảy chuyên gia đặc biệt của Liên Hợp Quốc đã cảnh báo về “nguy cơ diệt chủng chống lại người Palestine” và nhấn mạnh rằng họ “tin rằng người Palestine đang có nguy cơ nghiêm trọng bị diệt chủng.” Ba mươi sáu chuyên gia khác của Liên Hợp Quốc đã gọi tình hình hiện nay ở Gaza là “một vụ diệt chủng đang hình thành.” Liệu tôi có nên trích dẫn thêm các nguồn khác, các cơ quan có thẩm quyền khác không? Cần bao nhiêu thì mới đủ?

 

Và vẫn thế, các trường luật hàng đầu và các học giả luật ở Mỹ vẫn coi sự im lặng là khách quan và sự phủ nhận của họ như là đảm bảo sự tinh tế cần thiết trong giới học thuật. Liệu tội ác diệt chủng có thực sự là tội ác lớn nhất đối với loài người không, khi nó được thực hiện bởi các đồng minh phương Tây chống lại những người không phải phương Tây?

 

Đây là câu hỏi quan trọng nhất mà Palestine tiếp tục đặt ra cho trật tự pháp lý quốc tế. Palestine mang đến các phương pháp phân tích pháp lý một sức mạnh vạch trần – nó phơi bày và nhắc nhở chúng ta về sự tiếp tục của chủ nghĩa thực dân trong thế giới hiện đại, làm nền tảng cho các thể chế pháp lý phương Tây. Ở Palestine, con người được chia ra làm hai hạng mục: thường dân đáng thương và những con người hoang dã, tàn bạo. Palestine đã giúp chúng ta khám phá lại rằng những cách phân chia này vẫn theo cách của tư duy thuộc địa và phân biệt chủng tộc trong thế kỷ 21; với hạng mục đầu tiên dành cho người Israel và hạng mục sau cho người Palestine. Như Isaac Herzog, Tổng thống được cho là theo chủ nghĩa tự do của Israel, khẳng định: “Đó (Palestine) là một quốc gia nguyên vẹn phải chịu trách nhiệm. Luận điệu về chuyện dân thường không biết, không liên quan, không tham gia (vào các hoạt động chính trị) là hoàn toàn không đúng.”

 

Người Palestine đơn giản là không thể vô tội. Họ bẩm sinh đã có tội; có tiềm năng trở thành các “kẻ khủng bố” mà phải được “vô hiệu hoá” bởi Israel, và trong trường hợp tốt nhất là “lá chắn con người” bị tiêu diệt như “thiệt hại phụ”. Không có số lượng xác người Palestine nào có thể khiến chính phủ và các tổ chức phương Tây “lên án Israel một cách dứt khoát”, chứ đừng nói đến việc hành động ngay bây giờ. Khi so sánh với cuộc sống của người Do Thái-Israel; những nạn nhân tối thượng của hệ tư tưởng diệt chủng châu Âu; người Palestine không có cơ hội nào để được cá nhân hóa. Người Palestine đã trở thành những “kẻ man rợ” của trật tự pháp lý quốc tế hiện đại, và Palestine trở thành biên giới nơi phương Tây có thể tái sử dụng diễn ngôn của mình về văn minh và bóc lột quyền lực một cách vật chất nhất. Palestine là nơi diệt chủng có thể được biện minh như một cuộc chiến của “thế giới văn minh” chống lại những “kẻ thù của nền văn minh.” Quả thực, nó đang được Israel coi là cuộc chiến giữa “những đứa con của ánh sáng” chống lại “những đứa con của bóng tối.”

 

 

2. Diệt chủng hay phân biệt chủng tộc (apartheid) tại Palestine?

 

Cuộc chiến diệt chủng nhằm vào người dân Gaza kể từ những cuộc tấn công đau đớn vào ngày 7 tháng 10 của Hamas chống lại người Israel – hành động cũng có thể được coi là tội ác chiến tranh – đã là biểu hiện rõ ràng nhất của chính sách thuộc địa của Israel chống lại người Palestine trong nhiều thập kỷ qua. Lâu nay, một số người đã phân tích các chính sách của Israel ở Palestine qua lăng kính diệt chủng. Mặc dù thuật ngữ diệt chủng có những hạn chế riêng của nó để mô tả quá khứ của người Palestine, nhưng hiện trạng của họ rõ ràng có thể được coi là một “cuộc diệt chủng chính trị”. Điều này đồng nghĩa với việc tiêu diệt thể chế chính trị của người Palestine ở lãnh thổ Palestine và loại bỏ khả năng để duy trì bất kỳ cơ chế chính trị có tổ chức nào cho cộng đồng người Palestine.

 

Quá trình xóa sổ này đã kéo dài hơn một trăm năm, thông qua các cuộc thảm sát, thanh lọc dân tộc, tước đoạt quyền sở hữu, và phân chia những người Palestine còn lại thành các tầng lớp pháp lý khác nhau với những lợi ích vật chất khác nhau. Bất chấp Israel đã thành công một phần trong cuộc diệt chủng chính trị này – bao gồm việc ngăn chặn sự tồn tại của một cơ chế chính trị đại diện cho tất cả người Palestine – bản sắc chính trị của Palestine vẫn tồn tại. Trên khắp Dải Gaza bị phong toả, Bờ Tây bị chiếm đóng, Jerusalem, các lãnh thổ của Israel kể từ năm 1948, các trại tị nạn, và cộng đồng hải ngoại – chủ nghĩa dân tộc Palestine vẫn sống.

 

Như vậy, chúng ta gọi tình trạng này là gì? Chúng ta sẽ đặt tên cho sự tồn tại tập thể của Palestine dưới một hệ thống phân chia cưỡng bức và sự thống trị tàn nhẫn là gì? Hầu hết các tổ chức nhân quyền quốc tế đã áp dụng cách Israel kết hợp chính sách chiếm đóng và apartheid (phân biệt chủng tộc) đối với người Palestine để diễn tả tình hình tại đây. Giống với diệt chủng, apartheid là một tội ác, nó là một khuôn khổ pháp lý, và nó đang được thực hiện ở Palestine. Và mặc dù chúng ta đã có được sự đồng thuận trong cộng đồng nhân quyền rằng Israel đang thực hiện apartheid, sự phủ nhận của các chính phủ phương Tây để đối mặt với thực tế này của người Palestine đang ngày càng bộc lộ rõ ràng.

 

Một lần nữa, Palestine mang lại một sức mạnh phơi bày lớn lao cho cuộc thảo luận xung quanh phân biệt chủng tộc. Nó cho thấy rằng các tổ chức có uy tín như Ân xá Quốc tế (Amnesty International) hay Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), không còn đáng tin cậy nữa. Nó cho thấy cách sự thật trở nên có thể được tranh cãi theo phong cách chủ nghĩa Trump bởi những người được coi là theo chủ nghĩa tự do như Tổng thống Biden. Palestine đã cho phép chúng ta thấy được ranh giới chia cắt theo hệ nhị phân (ví dụ: đáng tin cậy/không đáng tin cậy), giống với cách nó làm lu mờ sự phân chia tưởng tượng giữa các hệ tư tưởng đối lập tại phương Tây (ví dụ: dân chủ/cộng hòa, hay sự thật/thuyết âm mưu). Chính trong không gian giới hạn này mà Palestine vẫn tồn tại và tiếp tục thách thức sự phân chia này. Palestine là một trường hợp ngoại lệ đã tiết lộ các quy tắc quản trị của phương Tây, trở thành biểu hiện rõ nét nhất của cách chủ nghĩa thực dân tiếp tục được duy trì trong thế kỷ 21.

 

 

3. “Chủ nghĩa thực dân định cư” và vấn đề của các thuật ngữ hiện nay

 

Bạn có thể gọi hiện trạng bị làm thuộc địa liên tục của Palestine này là gì? Giống với cách Holocaust đã đưa thuật ngữ “diệt chủng” vào ý thức hệ của nền pháp lý toàn cầu, trải nghiệm của Nam Phi đã đưa “Apartheid” vào khuôn khổ pháp lý toàn cầu. Chỉ trong công cuộc giành tự do và sự hy sinh của quá nhiều sinh mạng, mà diệt chủng và apartheid mới có thể trở nên toàn cầu hoá, giúp cho chúng ta vượt qua những thảm kịch lịch sử này. Hai thuật ngữ này đã trở thành các khuôn khổ pháp lý, với những tội ác của Đức Quốc Xã và Nam Phi được ghi nhận trong luật pháp quốc tế, với hy vọng rằng việc công nhận chúng sẽ ngăn chặn sự lặp lại của một tình huống tương tự. Nhưng trong quá trình các khái niệm này được trừu tượng hoá, toàn cầu hoá, và tái thích nghi, chúng ta đã mất đi một điều gì đó. Liệu điều đó có phải là cách các trải nghiệm cụ thể của một nhóm bị đàn áp phải tuân theo chính những định nghĩa trừu tượng hiện nay thì mới được coi là tội ác không? Có lẽ điều này đã khiến cho trường hợp của Palestine, khác với những gì đã xảy ra dưới thời Đức Quốc Xã và ở Nam Phi, không được công nhận theo các định nghĩa hiện có.

 

Các học giả ngày càng chuyển hướng đến khái niệm chủ nghĩa thực dân định cư (settler colonialism) như một lăng kính để đánh giá Palestine. Thực dân định cư là một thể chế nhằm mục đích xóa sổ, nơi người định cư chiếm chỗ và thay thế người bản địa trên chính mảnh đất của họ. Và trong khi các thuật ngữ này – thực dân định cư, diệt chủng, và apartheid – rõ ràng không loại trừ lẫn nhau, khả năng của chúng trong việc nắm bắt hoàn cảnh thực tế của người Palestine vẫn còn khó khăn. Nam Phi là một trường hợp cụ thể của thực dân định cư, và giống với đó là Israel, Hoa Kỳ, Úc, Canada, Algeria, cũng như là nhiều quốc gia khác. Mặc dù khuôn khổ của chủ nghĩa thực dân định cư có hữu ích phần nào đó trong việc nắm bắt hoàn cảnh của Palestine, nó vẫn không đủ. Nó không đem lại hiểu biết có ý nghĩa nào về sự khác biệt giữa các quá trình lịch sử tại các xã hội khác nhau, và không đặt ra một hậu quả chung nào cho những nhóm người phải sống dưới chế độ thực dân định cư. Một số trường hợp thực dân định cư đã được bình thường hóa một cách đáng ngạc nhiên, và cái giá phải trả là một cuộc diệt chủng được hoàn tất. Một vài trường hợp khác thì lại dẫn đến các giải pháp cuối cùng hoàn toàn khác biệt. Do vậy, Palestine vừa đáp ứng, vừa thách thức những điều kiện được đặt ra bởi khái niệm thực dân định cư.

 

 

4. “Nakba” và sự cần thiết của một thuật ngữ mới đối với Palestine

 

Chúng ta cần phải xem xét Palestine thông qua trải nghiệm của các thế hệ người Palestine khác nhau. Nếu Holocaust là trường hợp điển hình cho tội diệt chủng, và Nam Phi là trường hợp điển hình của chủ nghĩa apartheid, thì tội ác chống lại người dân Palestine phải được gọi là Nakba.

 

Thuật ngữ Nakba, có nghĩa là “Thảm hoạ”, thường được sử dụng để ám chỉ quá trình hình thành Nhà nước Israel ở Palestine Ủy trị (Mandatory Palestine), một quá trình bao gồm việc thanh lọc dân tộc của hơn 750.000 người Palestine bị đuổi khỏi nhà của họ và sự phá huỷ của 531 ngôi làng Palestine từ 1947 đến 1949. Nhưng Nakba chưa bao giờ kết thúc – từ một sự kiện, nó đã trở thành cả một hệ thống. Nói ngắn gọn, Nakba vẫn đang tiếp diễn.

Ở hình thức trừu tượng nhất, Nakba là một hệ thống nhằm mục đích xoá bỏ toàn bộ động lực của một nhóm người; nỗ lực ngăn cản người Palestine thực hiện ý chí chính trị của họ như một nhóm có tổ chức. Nó là sự thông đồng liên tục của các quốc gia và hệ thống chính trị toàn cầu nhằm ngăn cản khả năng để người Palestine hiện thực hóa quyền tự quyết của họ. Ở hình thức vật chất nhất, Nakba nằm trong từng người Palestine bị giết hoặc bị thương, từng người Palestine bị cầm tù hoặc bị áp bức theo cách khác, và từng người Palestine bị tước đoạt quyền sở hữu định mệnh hoặc bị lưu vong.

 

Nakba vừa là thực tế vật chất và khuôn khổ nhận thức để hiểu các tội ác chống lại người dân Palestine. Và những tội ác này – có thể được gói gọn trong thuật ngữ Nakba – là kết quả của những hành động được thực thi theo Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism). Chủ nghĩa Zion là một hệ tư tưởng bắt nguồn từ Châu Âu vào cuối thế kỷ 19 nhằm đáp ứng hoàn cảnh của người Do Thái vào lúc đó, dựa trên các khái niệm về chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa thực dân, và chủ nghĩa bài Do Thái.

 

Như Edward Said nhắc nhở, chúng ta phải đánh giá chủ nghĩa Zion từ quan điểm của nạn nhân của nó, không phải người được hưởng lợi. Chủ nghĩa Zion có thể được hiểu đồng thời là một phong trào dân tộc đối với một số người Do Thái, trong khi là một dự án thuộc địa đối với người Palestine. Việc thành lập Israel ở Palestine đã diễn ra dưới hình thức củng cố cuộc sống của dân tộc Do Thái, với cái giá phải trả là sự huỷ diệt của cuộc sống dân tộc Palestine. Đối với những người phải di dời, phải lưu vong, bị ném bom, và bị tước đoạt quê hương, chủ nghĩa Zion đã không bao giờ là câu chuyện về sự giải phóng của người Do Thái – nó là câu chuyện về sự áp bức người Palestine.

 

Điều đặc biệt về Nakba là nó đã kéo dài suốt đầu thế kỷ 21 và phát triển thành một hệ thống thống trị tinh vi, thành công trong việc chia cắt và tái tổ chức người Palestine thành các hạng mục pháp lý khác nhau, với mỗi hạng mục phải chịu một loại bạo lực đặc trưng. Sự chia cắt này đã trở thành một công cụ pháp lý làm nền tảng cho Nakba đang diễn ra, bao gồm cả các hành động phân biệt chủng tộc tương tự với apartheid và bạo lực nhằm diệt chủng. Điều này đã khiến cho trải nghiệm của người Palestine đáp ứng hai định nghĩa pháp lý này tại các thời điểm khác nhau trong 75 năm qua, trong khi vẫn không giải thích được bối cảnh lịch sử của họ.

 

Người Palestine đã đặt tên và lý thuyết hóa Nakba ngay cả khi họ phải đối mặt với sự bách hại, xóa sổ, và phủ nhận quyền tồn tại. Công cuộc của họ giờ sẽ phải được tiếp tục trong lĩnh vực pháp lý. Gaza đã nhắc nhở chúng ta rằng Nakba đang diễn ra ngay bây giờ. Các chính trị gia Israel và các nhân vật công chúng khác mà đưa ra những lời đe doạ đối với Palestine sẽ phạm tội Nakba. Nếu các chính trị gia Israel thừa nhận Nakba để duy trì nó, thì đã đến lúc thế giới phải đối mặt với trải nghiệm của người Palestine. Nakba phải trở thành một thuật ngữ được toàn cầu hoá, thì khi đó nó mới có thể kết thúc.

 

Chúng ta phải tưởng tượng rằng một ngày nào đó sẽ có một tội ác được công nhận là phạm tội Nakba, và chủ nghĩa Zion được phản đối như một tư tưởng dựa trên sự huỷ diệt chủng tộc. Con đường để đạt được điều đó vẫn còn dài và đầy thách thức, nhưng chúng ta không có đặc quyền để từ bỏ bất kỳ công cụ pháp lý đang có nào để đặt tên cho các tội ác chống lại người dân Palestine hiện nay, và cố gắng ngăn chặn chúng. Việc phủ nhận tội ác diệt chủng ở Gaza bắt nguồn từ việc phủ nhận Nakba, và cần phải kết thúc, ngay bây giờ.

 

=====================================================

 

Có Thể Bạn Quan Tâm:

1.    Tại sao Tiến trình Hoà bình Oslo thất bại?

2.    Chiến tranh văn hóa bên trong cuộc xung đột Gaza

3.    Triển vọng đen tối của Gaza sau chiến tranh

4.    Tại sao Israel muốn làm trung gian hòa giải giữa Nga và Ukraine?

5.    Những điều cần biết về xung đột Israel-Hamas

6.    Bài học thực sự từ Chiến tranh Yom Kippur

7.    Chiến tranh địa đạo của Hamas gợi nhớ về Việt Cộng

8.    Lược sử xung đột Ả Rập-Israel qua bản đồ

 





TẠI SAO MỘT NHÀ NƯỚC PALESTINE LÀ GIẢI PHÁP AN NINH TỐT NHẤT CHO ISRAEL? (Josep Borrell    |   Financial Times)

 



Tại sao một nhà nước Palestine là giải pháp an ninh tốt nhất cho Israel?

Josep Borrell    |   Financial Times

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch

28/11/2023

https://nghiencuuquocte.org/2023/11/28/mot-nha-nuoc-palestine-giai-phap-an-ninh-tot-nhat-cho-israel/

 

Khoảng trống quyền lực ở Gaza sau cuộc chiến hiện tại có thể sẽ lại gây ra một chu kỳ bạo lực và khủng bố mới.

 

Tôi vừa trải qua năm ngày ở Trung Đông. Cùng với Ukraine, nơi đây đã trở thành một trong những khu vực bất ổn nhất thế giới. Một vài khoảnh khắc bình yên có thể tạo ấn tượng rằng căng thẳng đang giảm bớt, nhưng xung đột Israel-Palestine vẫn đang lan rộng hơn bao giờ hết và vẫn sẽ tiếp tục tồn tại. Sự thiển cận về mặt chính trị của chúng ta, khi cho rằng cuộc xung đột này có thể giải quyết được chỉ bằng cách nói suông về giải pháp hai nhà nước mà không chịu bắt tay “chữa lành vết thương,” phải chấm dứt. Không chỉ vì lý do nhân đạo, công lý, hay đạo đức, mà còn bởi nếu chúng ta không giải quyết vấn đề ngay bây giờ, nó có thể dẫn đến một làn sóng di dân, bao gồm cả hướng về châu Âu, đồng thời làm trầm trọng thêm nguy cơ khủng bố và căng thẳng giữa các cộng đồng.

 

Khu vực này một lần nữa bị ám ảnh bởi đau thương và phẫn nộ. Người Israel đã bị tác động sâu sắc bởi vụ tàn sát ngày 7/10, khiến hơn 1.200 người thiệt mạng và hơn 200 con tin bị bắt giữ. Về phần mình, người Palestine phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng nhân đạo ở Gaza, một cuộc tàn sát khác với hơn 13.000 nạn nhân, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, cùng với các cuộc tấn công của những người định cư Israel ở Bờ Tây và Đông Jerusalem bị chiếm đóng. Một lệnh ngừng bắn tạm thời và trao trả một nhóm con tin vừa có hiệu lực vào thứ Sáu. Tôi hy vọng điều này sẽ tạo ra động lực tích cực dẫn đến việc thả tất cả con tin và chấm dứt tình trạng thù địch.

 

Nỗi kinh hoàng do Hamas và các nhóm cực đoan khác tạo ra đang gây bất lợi cho người Palestine. Những nhà lãnh đạo tôi gặp ở Ramallah đều thừa nhận điều này. Tuy nhiên, đối với họ, vấn đề cơ bản nằm ở sự chiếm đóng của Israel. Những nhà lãnh đạo này đã phải chật vật giải thích cho cử tri lý do tại sao quyền tự do đi lại của họ bị hạn chế, trong khi các khu định cư bất hợp pháp lại nở rộ và những người định cư có thể tự do tấn công họ. Giới lãnh đạo Palestine cũng không thể đảm bảo an ninh ở Bờ Tây bị chiếm đóng, trong khi Israel đang giữ lại tiền thuế của người Palestine mà họ đã thu hộ Chính quyền Dân tộc Palestine.

 

Không thể đem nỗi đau này ra biện minh cho một nỗi đau khác. Nhưng mỗi bên chỉ đang chăm chăm nhìn vào bi kịch của mình, vào những gì đã xảy ra hôm qua, hoặc những gì đang xảy ra hôm nay. Tuy nhiên, còn có một ngày mai mà cả hai bên đều chưa thể hình dung được. Người Israel tin rằng họ cần phải loại bỏ Hamas để đảm bảo an ninh cho mình, trong khi người Palestine ưu tiên chấm dứt thảm họa nhân đạo và hành động khiêu khích của nhóm người định cư ở Gaza

 

Bất chấp những thách thức này, chúng ta phải luôn để ngỏ khả năng hòa bình. Chuyến đi gần đây của tôi tới khu vực này đã củng cố niềm tin của tôi rằng sự đảm bảo tốt nhất cho an ninh của Israel là thành lập một nhà nước Palestine. Và, trong ngắn hạn, chúng ta nên tránh làm suy yếu Chính quyền Dân tộc Palestine.

 

Các khoảng trống không thể tồn tại lâu trong tự nhiên hoặc trong chính trị. Nếu cả Hamas và Israel đều không quản lý Gaza, thật ra họ không nên làm vậy, khoảng trống quyền lực sẽ nhanh chóng được lấp đầy bởi các lực lượng không kiểm soát được, những người có thể biến Gaza thành một lãnh thổ thất bại và mở đường cho một chu kỳ bạo lực và khủng bố khác. Kể từ thời Hobbes, chúng ta đã biết rằng một xã hội không có Leviathan – một nhà nước – sẽ phải gánh chịu bạo lực và hỗn loạn.

 

Chúng ta đã chứng kiến những tình huống tương tự xảy ra quá nhiều lần trước đây. Chúng ta đã chứng kiến dòng người tị nạn chạy trốn khỏi cuộc xung đột ở Syria tiến vào Lebanon, Jordan, và Thổ Nhĩ Kỳ. Những quốc gia này không thể đón thêm một làn sóng người tị nạn Palestine nữa. Như lời của một trong những người đối thoại với tôi vào tuần trước, chúng ta sẽ không thể sống sót sau một Nakba nữa. Và châu Âu cũng như cộng đồng quốc tế sẽ không và không thể chấp nhận một cuộc di dời hàng loạt người Palestine một cách cưỡng bức.

 

Để ngăn Gaza rơi vào tay các nhóm vũ trang không được kiểm soát có thể gây bất ổn cho toàn bộ khu vực lân cận, bắt đầu từ Israel, lãnh thổ này phải được quản lý bởi một nhà nước đại diện cho người dân của mình. An ninh của chính Israel đòi hỏi phải thành lập một nhà nước Palestine ở Gaza và khu Bờ Tây bị chiếm đóng, bao gồm cả Đông Jerusalem.

 

Làm thế nào và khi nào chúng ta đạt được mục tiêu này? Câu trả lời phụ thuộc vào tất cả chúng ta. Có một điều rõ ràng: tất cả những người đối thoại với tôi ở thế giới Ả Rập đều chấp nhận sự tồn tại của Israel và muốn can dự với nước này. Họ nhận ra cơ hội to lớn nằm ở một khu vực hòa bình, hợp tác xuyên biên giới, và vai trò tiềm năng của Israel là động lực kinh tế khu vực. Nhưng tất cả cũng đồng ý rằng sự hợp tác Ả Rập-Israel phụ thuộc vào việc giải quyết vấn đề Palestine. Đơn giản là không có đường tắt.

 

Để tiến về phía trước, chúng ta phải hướng tới một giải pháp dựa trên công lý và quyền bình đẳng cho cả hai dân tộc. Điều này trước hết có nghĩa là nhu cầu về an ninh trong toàn khu vực và ở châu Âu, nơi phải đối mặt với những hậu quả tức thời của sự bất ổn. Là những nước láng giềng, chúng ta phải hợp lực với các đối tác trong khu vực và trên toàn thế giới để đạt được một giải pháp chính trị khả thi, lâu dài, vì lợi ích của người Israel, người Palestine, và khu vực. Đây cũng là vì lợi ích tốt nhất của chúng ta. EU, cùng với một số quốc gia Ả Rập, đã khởi xướng những nỗ lực hướng tới mục tiêu này thông qua Nỗ lực Ngày Hòa bình (Peace Day Effort), được trình bày tại Liên Hiệp Quốc vào tháng 9, ngay trước khi “cơn bão” bắt đầu. Và chúng tôi quyết tâm tiếp tục làm việc hướng tới mục tiêu này.

 

------------------

Josep Borrell là Cao uỷ EU về chính sách đối ngoại và an ninh.

 

Nguồn: Josep Borrell, “Why a Palestinian state is the best security guarantee for Israel,” Financial Times, 26/11/2023