Diện mạo chiến tranh
sau xung đột Nga - Ukraine
Sergiy Korsunsky - Nikkei
Asia
Phạm
Ánh Minh, biên
dịch - Nghiên
Cứu Quốc Tế
10/09/2026
https://nghiencuuquocte.org/2026/09/10/dien-mao-chien-tranh-sau-xung-dot-nga-ukraine/
AI,
các đàn máy bay không người lái quy mô lớn và các cuộc tấn công mạng đang định
hình lại chiến tranh hiện đại, và các nền dân chủ cần phải chuẩn bị ngay từ bây
giờ.
Những
tranh luận về việc cuộc chiến của Nga tại Ukraine sẽ kết thúc như thế nào và những
hệ quả mà nó để lại cho thế giới dường như không có hồi kết. Tuy nhiên, ngày
càng rõ rằng chúng ta cần đặt ra một câu hỏi khác: không chỉ hòa bình sau cuộc
chiến này sẽ mang diện mạo ra sao, mà cả cuộc chiến tiếp theo sau thời kỳ hòa
bình ấy sẽ như thế nào.
Chiến
tranh Nga – Ukraine là một cuộc xung đột chưa từng có tiền lệ trên nhiều phương
diện. Đây là cuộc chiến tranh mang tính thực dân đầu tiên do một thành viên thường
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sở hữu vũ khí hạt nhân tiến hành. Cuộc xâm
lược Georgia của Nga từng là một lời cảnh báo sớm, nhưng không mang cùng bản chất
thực dân, bởi những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng khi đó không được chính thức
sáp nhập vào Liên bang Nga. Các cuộc chiến của Mỹ tại Trung Đông cũng không phải
là những cuộc chiến tranh thực dân theo nghĩa đó. Ngược lại, mục tiêu của
Moscow tại Ukraine là phá hủy tư cách quốc gia của Ukraine và sáp nhập lãnh thổ
nước này.
Đáng
chú ý hơn nữa, cuộc chiến đã làm thay đổi căn bản cả công cụ lẫn nguyên tắc tiến
hành chiến tranh. Những bài học từ chiến trường Ukraine đang được hấp thụ với tốc
độ đáng kinh ngạc, không chỉ vào các nền tảng kỹ thuật số của Palantir mà còn
vào các hệ thống quân sự của Trung Quốc, thậm chí cả Triều Tiên. Bản thân Nga
cũng liên tục điều chỉnh tên lửa và UAV theo thời gian thực nhằm vượt qua những
năng lực phòng thủ mới mà lực lượng vũ trang Ukraine phát triển. Cho đến nay,
Ukraine vẫn giữ lợi thế trong cuộc đua công nghệ này, nhưng cuộc cạnh tranh còn
lâu mới kết thúc.
Các
cuộc chiến trong tương lai khó có khả năng mở màn bằng những đoàn xe thiết giáp
vượt biên giới, việc triển khai ồ ạt các tàu chiến hạng nặng hay các đợt pháo
kích quy mô lớn. Thay vào đó, chúng nhiều khả năng sẽ bắt đầu bằng những cuộc tấn
công mạng diện rộng nhằm vào hệ thống chỉ huy và kiểm soát quân sự, mạng lưới
thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng năng lượng, hệ thống tài chính và các hạ tầng
dân sự thiết yếu khác. Xã hội càng phụ thuộc sâu vào kết nối kỹ thuật số, giai
đoạn mở màn này càng có khả năng gây hậu quả tàn khốc.
Gần
như chắc chắn, thế hệ vũ khí mạng tiếp theo sẽ được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo.
Dù hoạt động hoàn toàn tự chủ hay dưới sự giám sát chặt chẽ của con người, những
hệ thống này sẽ được huấn luyện trên các bộ dữ liệu có tính đặc thù cao về đối
thủ tiềm tàng, từ cơ cấu lực lượng vũ trang, điểm yếu của hạ tầng trọng yếu,
các cuộc tập trận quân sự và học thuyết tác chiến cho đến kinh nghiệm chiến trường.
Làn
sóng tấn công thứ hai nhiều khả năng sẽ gồm hàng nghìn máy bay không người lái
tích hợp AI hoạt động đồng thời. Nhiệm vụ của chúng sẽ là làm tê liệt hệ thống
phòng không và phòng thủ tên lửa, phá hủy hạ tầng trọng yếu và tấn công những
cơ sở dân sự nhạy cảm, kể cả bệnh viện. Đồng thời, mạng lưới hậu cần, các đầu mối
giao thông và kho dự trữ nhiên liệu, thuốc men, lương thực cũng sẽ trở thành mục
tiêu. Chỉ sau khi những nhiệm vụ này hoàn tất, lực lượng quân sự thông thường mới
được tung vào chiến trường — nếu khi đó chúng vẫn còn cần thiết.
Ngay
cả những mô hình toán học tương đối đơn giản về chiến tranh hiện đại, trong đó
con người và các hệ thống tự chủ cùng tham gia, cũng liên tục dẫn tới một kết
luận quan trọng: một khi các nền tảng tự chủ đạt hiệu quả tác chiến đủ cao, nhu
cầu đưa binh sĩ trực tiếp vào vòng chiến sẽ giảm đáng kể. Các hệ thống không
người lái tầm xa và năng lực tác chiến mạng đang dần xóa nhòa chiều sâu chiến
lược của đối phương. Địa lý, vốn từng là một trong những lợi thế phòng thủ quan
trọng nhất của bất kỳ quốc gia nào, đang nhanh chóng mất đi phần lớn ý nghĩa
truyền thống.
Khả
năng triển khai sức mạnh từ xa mà không cần tiếp xúc vật lý trực tiếp sẽ làm
thay đổi căn bản khái niệm chiến trường. Khi drone thường xuyên bay qua không
phận của nước thứ ba, còn nguồn gốc của các cuộc tấn công mạng tinh vi không thể
được xác định một cách chắc chắn, những khái niệm truyền thống như tiền tuyến,
kiểm soát lãnh thổ, thậm chí cả hành vi xâm lược, sẽ ngày càng trở nên mơ hồ.
AI
với năng lực suy luận tiệm cận con người cuối cùng có thể đủ khả năng lựa chọn
không chỉ hành động chiến thuật mà cả mục tiêu chiến lược mà không cần sự can
thiệp trực tiếp của con người. Khi đó, ngay cả việc xác định thế nào là chiến
thắng cũng sẽ trở thành một vấn đề. Quan trọng hơn, rất khó hình dung một hệ thống
AI vận hành theo logic tối ưu hóa riêng sẽ hiểu lợi ích của việc “chiến thắng”
theo cách nào.
Tuy
nhiên, có một điều ngày càng rõ ràng: chủ quyền số sẽ sớm trở nên quan trọng đối
với một quốc gia không kém gì chủ quyền lãnh thổ. Các trung tâm dữ liệu và năng
lực tính toán sẽ trở thành những tài sản chiến lược phải được bảo vệ bằng mọi
giá, đồng thời cũng là những mục tiêu hàng đầu của đối phương. Gián điệp kỹ thuật
số, thao túng dữ liệu và phá hoại mạng nhằm làm sai lệch thông tin mà các hệ thống
AI dựa vào để ra quyết định nhiều khả năng sẽ trở thành những đặc điểm định
hình của các cuộc xung đột trong tương lai, đồng thời mở ra những công cụ mới
cho chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh phòng ngừa.
Các
chiến dịch quân sự gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran cũng cho thấy một bài
học quan trọng khác. Cơ cấu chỉ huy dựa trên mạng lưới đã chứng tỏ khả năng chống
chịu cao hơn đáng kể so với các hệ thống tập trung. Chúng cho phép các cơ quan
quân sự và dân sự tiếp tục hoạt động ngay cả khi lãnh đạo chính trị hoặc quân sự
cấp cao không thể liên lạc hay ra lệnh. Điều này cho thấy các chính phủ cần xem
xét lại một cách căn bản cả hệ thống quản trị dân sự lẫn cơ cấu chỉ huy quân sự,
xây dựng những mô hình phi tập trung với thẩm quyền được phân cấp rõ ràng ở từng
cấp, đồng thời thường xuyên diễn tập trong các điều kiện sát với thực tế.
Những
sự chuẩn bị này có thể bị xem là quá sớm. Nhưng thực tế không phải vậy. Chúng cần
được bắt đầu ngay từ bây giờ.
Hy
vọng rằng Nga và các thực thể cấu thành nước này sẽ sớm tự chuyển hóa thành một
cộng đồng các quốc gia dân chủ cùng chung sống hòa bình với láng giềng là điều
khá viển vông nếu nhìn từ góc độ chiến lược thực tế. Tương tự, cũng khó có cơ sở
để kỳ vọng Trung Quốc sẽ thay đổi theo hướng đó.
Nhân
loại vừa trải qua có lẽ là giai đoạn dài nhất trong lịch sử hiện đại, gần 80
năm không xảy ra một cuộc chiến tranh lớn trực tiếp giữa các cường quốc. Tuy
nhiên, thời kỳ đó nay đã kết thúc cùng với sự trở lại của những tư tưởng mà nhiều
người từng tin đã bị lịch sử loại bỏ: chủ nghĩa phát xít, sự thống trị đế quốc,
diệt chủng và chinh phục thuộc địa. Điều này xảy ra bất chấp những tiến bộ công
nghệ chưa từng có và nhiều thập kỷ xây dựng một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ
thay vì sức mạnh.
Vì
vậy, thách thức trước mắt không chỉ là bảo đảm hòa bình sau cuộc chiến hiện tại.
Quan trọng không kém là chuẩn bị cho tính chất của những cuộc chiến có thể diễn
ra trong tương lai và bảo đảm rằng các xã hội dân chủ đã sẵn sàng trước khi
chúng bắt đầu.
---------------
Sergiy
Korsunsky là
cựu Đại sứ Ukraine tại Nhật Bản. Hiện ông là cố vấn cấp cao tại Nihon Cyber
Defence và học giả toàn cầu xuất sắc tại cơ sở Nhật Bản của Đại học Temple.
Nguồn: Sergiy Korsunsky, “What
will war look like after peace?”, Nikkei Asia, 04/09/2026
No comments:
Post a Comment