Iran giờ đã là một "quái vật" khác xưa
Cole Bucy -
War on the Rocks
Viên Đăng Huy, biên dịch - Nghiên Cứu Quốc Tế
https://nghiencuuquocte.org/2026/10/29/iran-gio-da-la-mot-quai-vat-khac-xua/
Tehran
mà thế giới từng biết đến đã không còn tồn tại. Tehran ấy đã chết trong biển lửa
cùng cựu Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei ngay trong ngày đầu tiên của cuộc chiến hồi
tháng Hai. Con trai ông, Mojtaba Khamenei, người kế nhiệm vị trí Lãnh tụ
Tối cao, dù hiện đang ở đâu và tình trạng sức khỏe ra sao, đã tận mắt chứng
kiến cha, vợ và những thành viên thân thiết khác trong gia đình thiệt mạng
trong chính cuộc không kích khiến ông bị thương. Nhà Trắng từng tin rằng cuộc
xung đột sẽ chỉ kéo dài vài tuần, nhưng chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran đã chứng
tỏ khả năng chống chịu tốt hơn những gì Mỹ và Israel dự tính. Giờ đây, hai nước
phải đối mặt với những nhà lãnh đạo Iran còn sống sót, những người đã trải qua
mất mát và sang chấn tương tự trong các đợt tấn công ban đầu. Washington vẫn
chưa nhận thức đầy đủ những cuộc tấn công mang tính hủy diệt của mình đã làm
thay đổi tư duy của Tehran như thế nào. Thay vào đó, Nhà Trắng vẫn tỏ ra khó
hiểu trước những hành động bị coi là “điên rồ” của Iran, bởi nước này không còn
hành xử theo những tính toán trước chiến tranh.
Trong bài viết này, tôi lập luận rằng những hành động “điên rồ”
của Iran khiến Washington bối rối phần nào phản ánh một chuyển biến tinh tế
nhưng quan trọng trong tư duy của Tehran. Cuộc tấn công do Mỹ dẫn đầu đã biến
những lời tiên đoán về ngày tận thế thành hiện thực đối với các nhân vật có
niềm tin ý thức hệ sâu sắc trong giới lãnh đạo cấp cao của chế độ Cộng hòa Hồi
giáo Iran, những người suốt nhiều năm đã nghe những lời cảnh báo đầy hoang
tưởng về một cuộc tấn công mang tính tận thế như vậy trong các buổi cầu nguyện
thứ Sáu hằng tuần. Những thành viên còn sống sót trong vòng quyền lực thân cận
của Iran, hay “Tehran mới”, hiện đang hành động theo một hệ thống nguyên tắc
chiến lược đã thay đổi. Bất chấp năng lực tác chiến xuất sắc của quân đội Mỹ,
Nhà Trắng vẫn chưa tìm được phương án kết thúc cuộc chiến và có nguy cơ biến
một cuộc khủng hoảng thành thảm họa nếu không thể điều chỉnh cách tiếp cận để
thích ứng với thực tế mới tại Tehran.
là một cựu nhà phân tích của cơ quan tình báo trung ương mỹ (cia),
công việc của tôi trong nhiều năm là gạt bỏ quan điểm cá nhân để nhìn thế giới
theo cách các nhà lãnh đạo iran nhìn nhận. mục tiêu của tôi là thấu hiểu tư duy
của những nhân vật cứng rắn tại tehran, vốn có thế giới quan rất khác với các
nhà phân tích phương tây. việc đặt mình vào vị trí của những nhà lãnh đạo
chuyên chế sử dụng bạo lực và thù địch với mỹ có thể gây cảm giác khó chịu, đặc
biệt khi quá trình ấy thách thức những giả định và giá trị cốt lõi của chính
chúng ta. tuy nhiên, nó mang lại sự sáng tỏ hữu ích khi hành vi của đối thủ đi
ngược lại dự đoán. dĩ nhiên, giới lãnh đạo iran không thường xuyên công khai
những cuộc thảo luận nội bộ, còn các tuyên bố trước công chúng của họ có thể
chỉ là những lời khoa trương hoặc tuyên truyền gây hiểu lầm. Vì vậy, việc tìm
hiểu quá trình ra quyết định thực sự của giới lãnh đạo Iran thường mang tính
nghệ thuật nhiều hơn khoa học. Dẫu vậy, chúng ta vẫn có thể suy luận được phần
lớn logic nội tại không được công khai của họ thông qua việc phân tích hành
động của chế độ và nhìn nhận thế giới qua lăng kính ý thức hệ của Tehran.
Nhà Trắng đang tiến hành một cuộc phân tích nội bộ quyền lực theo
kiểu “Điện Kremlin học” hết sức ráo riết nhằm xác định những nhân vật nào đang
lên hoặc xuống trong hệ thống lãnh đạo Tehran. Vòng quyền lực thân cận vốn đã
chịu tổn thất nặng nề của Iran đang đối mặt với những chia rẽ nội bộ, gần như
chắc chắn sẽ càng trầm trọng hơn bởi sự bất định xoay quanh tình trạng của
Mojtaba Khamenei. Một số nhà quan sát phương Tây mô tả tình trạng hiện nay của
chế độ là sự phẫn nộ thiếu người lãnh đạo, khiến Iran không có khả năng đạt
được hòa bình. Tuy nhiên, lời giải thích đơn giản nhất là những cuộc tấn công
nhằm tiêu diệt tầng lớp lãnh đạo của Mỹ và Israel đã đẩy trọng tâm quyền lực
chính trị Iran về phía nhóm quân sự cứng rắn xung quanh Mojtaba Khamenei, những
người chịu trách nhiệm tiến hành chiến tranh và ủng hộ các chiến thuật quyết
liệt hơn khi không còn sự thận trọng vốn có của Ali Khamenei đóng vai trò kiềm
chế. Những cuộc tranh cãi công khai và sự đối đầu giữa các phe phái từ lâu đã
là đặc điểm nổi bật của đời sống chính trị chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran, nhưng
các nhà quan sát phương Tây thường đánh giá quá cao tầm quan trọng của chúng.
Vì vậy, hy vọng rằng một rạn nứt nội bộ nào đó trong chế độ sẽ giúp Mỹ thoát
khỏi thế khó hiện nay là điều thiếu thực tế. Nếu chế độ tiếp tục tồn tại thêm
vài năm, những khác biệt giữa các nhà lãnh đạo vừa được sắp xếp lại có thể phát
triển thành những bất đồng sâu sắc, tạo ra các ngã rẽ chiến lược thực sự cho
Iran. Tuy nhiên, tâm lý cùng cố thủ trong một pháo đài bị bao vây giữa cuộc
khủng hoảng hiện nay gần như chắc chắn sẽ khiến những bất đồng chiến thuật giữa
họ không mang nhiều ý nghĩa đối với chính sách của Mỹ.
Ở thời điểm
hiện tại, việc quá tập trung vào những biến động trong giới lãnh đạo Tehran
đang khiến Washington sao nhãng, không thể nhìn nhận một cách bao quát rằng lập
trường cứng rắn hơn của “Tehran mới” thực chất có sự nhất quán chiến lược nhất
định. Nếu xem xét tổng thể, những hành động của Iran trong bảy tháng qua có thể
được hiểu là kết quả của một quá trình đánh giá lại tình hình một cách tỉnh
táo, dựa trên những bài học cay đắng rút ra từ chiến tranh. “Tehran mới” nhận
ra rằng lựa chọn hành động an toàn không mang lại nhiều lợi ích. Cơ hội sống
sót duy nhất của họ là theo đuổi một lập trường quyết liệt, gây ra tổn thất đủ
lớn để Mỹ và các đối tác khu vực không còn dễ dàng đe dọa sự tồn tại của Cộng
hòa Hồi giáo Iran, ngay cả khi chính sách đẩy căng thẳng đến sát bờ vực ấy cũng
có thể đặt sự tồn vong của chế độ vào tình thế nguy hiểm.
Dưới đây là những yếu tố then chốt trong tư duy của “Tehran mới”.
Việc hiểu rõ chúng ảnh hưởng đến hành vi của Iran như thế nào sẽ đóng vai trò
quyết định để Washington điều chỉnh lại các giả định và kết thúc cuộc chiến một
cách thành công.
KHÔNG THỂ RĂN ĐE NHỮNG NGƯỜI ĐÃ COI MÌNH CẦM CHẮC CÁI CHẾT
Những cuộc tấn công chưa từng có tiền lệ nhằm tiêu diệt giới lãnh
đạo Iran nhiều khả năng đã khiến các thành viên còn sống sót tin rằng họ chỉ
còn đang chờ đến lượt mình bị giết. Những lời kêu gọi thay đổi chế độ từ phe
chủ chiến tại Mỹ và Israel trong các đợt tấn công liên tiếp nhằm vào Iran có lẽ
đã khiến Tehran tin rằng kẻ thù sẽ không bao giờ ngừng tìm cách “hoàn tất công
việc” cho đến khi chế độ và toàn bộ tầng lớp lãnh đạo của nó bị tiêu diệt, bất
kể có đạt được thỏa thuận ngừng bắn để kết thúc vòng xung đột hiện nay hay
không. Những lời đe dọa thường xuyên của Tổng thống Donald Trump về việc hủy
diệt chế độ có lẽ càng khiến vấn đề sống còn của bản thân luôn thường trực
trong tâm trí họ. Câu hỏi đối với giới lãnh đạo Iran có lẽ không phải liệu Mỹ
và Israel có tiếp tục tìm cách giết họ hay không, mà là điều đó sẽ xảy ra vào
tháng tới hay năm tới. Các nhà lãnh đạo Iran nhiều khả năng coi những cuộc tấn
công tiếp theo nhằm loại bỏ giới lãnh đạo sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ là
một mối đe dọa đáng tin cậy, xét đến những thông tin cho rằng Nhà Trắng đang
cân nhắc tiến hành thêm các cuộc tấn công. Thực tế, việc Mojtaba Khamenei biến
mất khỏi tầm mắt công chúng có lẽ xuất phát từ nỗi lo của chế độ rằng ông sẽ
trở thành mục tiêu của một cuộc tấn công có chủ đích khác nếu Mỹ và Israel xác
định được vị trí của ông.
Năm 2019, Iran đã chấp nhận một lối thoát ngoại giao khỏi cuộc
xung đột bùng phát sau khi Mỹ sát hại Qassem Soleimani, chỉ huy Lực lượng Qods
thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC). Ali Khamenei lo ngại rằng một
cuộc chiến tranh toàn diện sẽ đe dọa sự tồn vong của chế độ, nên đã khuyến
khích chính sách “kiên nhẫn chiến lược”. Mùa hè năm ngoái, Iran một lần nữa
chấp nhận ngừng bắn để kết thúc “cuộc chiến 12 ngày”, sau khi Israel và Mỹ tấn
công các cơ sở quân sự và hạt nhân của Iran. Ali Khamenei khi ấy cũng lo ngại
nguy cơ leo thang và đồng ý với một thỏa thuận ngừng bắn khác. Rất có thể những
nhân vật cứng rắn tại Iran kể từ đó đã âm thầm đi đến kết luận rằng quyết định
lựa chọn con đường an toàn của Ali Khamenei cuối cùng lại khiến ông phải trả
giá bằng chính mạng sống.
Mặc dù tâm lý coi mình đang cầm chắc cái chết đã làm suy yếu khả
năng răn đe của Mỹ và Israel, các nhà lãnh đạo Iran không phải những người muốn
tự sát và vẫn mong tìm được cách bảo đảm tương lai đất nước trong khi giữ được
mạng sống. Tuy nhiên, cũng như những người có niềm tin sâu sắc vào hệ tư tưởng
và bản sắc dân tộc trên khắp thế giới, họ sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chế độ
Cộng hòa Hồi giáo Iran nếu cần thiết. Và tương tự như giới lãnh đạo nhiều quốc
gia khác, họ sẽ tìm cách gây ra tổn thất lớn nhất có thể cho kẻ thù trước khi
bị tiêu diệt.
Giới lãnh đạo Iran có lẽ cũng nhìn nhận việc họ vẫn tồn tại sau
chiến dịch oanh kích quy mô lớn của Mỹ và Israel là bằng chứng cho thấy những
giới hạn của sức mạnh không quân nếu chỉ dựa vào phương tiện này. Tehran đã
quen với những lời đe dọa leo thang mạnh mẽ của Trump. Nhưng vòng quyền lực
thân cận của Iran có lẽ đang tự hỏi: Trump còn có thể làm gì mà Iran chưa từng
phải chịu đựng? Liệu ông ta có thể ám sát Lãnh tụ Tối cao thêm lần nữa? Hay
tiếp tục biến những cơ sở hạt nhân của Iran thành những đống đổ nát lớn hơn?
Ông ta đã làm tất cả những điều đó, và vẫn đang tiến hành các cuộc không kích
định kỳ nhằm vào quân đội Iran theo chiến thuật “cắt cỏ”, tức liên tục đánh phá
để ngăn đối phương phục hồi năng lực. Một lằn ranh đỏ mà Trump từng đe dọa vượt
qua nhưng phần lớn vẫn kiềm chế là ném bom cơ sở hạ tầng dân sự Iran, chẳng hạn
như hệ thống cấp nước và điện. Iran đã cảnh báo rằng họ sẽ đáp trả bằng cách
gây ra những thiệt hại tương tự đối với cơ sở hạ tầng dân sự của các quốc gia Ả
Rập vùng Vịnh, vốn dễ bị gián đoạn hoạt động hơn. Đây là lý do các nước vùng
Vịnh âm thầm kêu gọi Trump tránh leo thang theo hướng đó. Iran cũng nhận thức
rõ rằng Mỹ vẫn có thể đưa bộ binh vào lãnh thổ nước này và cưỡng ép thay đổi
chế độ, như từng làm với Iraq dưới thời Saddam Hussein. Tuy nhiên, chế độ Iran
hiểu rằng Nhà Trắng rất khó thực hiện một bước đi bị phản đối mạnh mẽ như vậy,
đặc biệt khi Tehran tin rằng nhiều người trong số 90 triệu công dân Iran sẽ góp
phần biến lãnh thổ nước này thành một vũng lầy quân sự khác đối với Mỹ.
MỐI ĐE DỌA TỪ ISRAEL LÀ THƯỜNG TRỰC, CÒN MỸ ĐE DỌA SỰ TỒN VONG CỦA
CHẾ ĐỘ
Giới lãnh đạo Iran nhận thức rằng Mỹ có sức mạnh quân sự đủ để
chấm dứt sự tồn tại của chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran, dù Tehran vẫn hoài nghi
liệu Trump có sẵn sàng trả cái giá rất lớn cần thiết để làm điều đó hay không.
Tuy nhiên, Tehran có lẽ tính toán rằng quân đội Israel, tuy tinh nhuệ nhưng có
quy mô tương đối nhỏ, không đủ sức tự mình lật đổ chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran
chỉ bằng năng lực tác chiến thông thường. Đây có lẽ cũng là lý do mà, theo cách
đánh giá của Tehran, giới lãnh đạo Israel đã dành nhiều công sức thuyết phục Mỹ
tham gia các cuộc tấn công nhằm vào Iran để hoàn thành điều mà Israel không thể
tự mình thực hiện. Các nhà lãnh đạo Iran gần như chắc chắn đã nhận thấy khoảng
cách giữa mục tiêu của Mỹ và Israel ngày càng mở rộng khi chiến tranh kéo dài,
trong đó Israel bất mãn vì Washington dường như không quyết tâm thay đổi chế độ
tại Iran như họ mong muốn. Tehran dự đoán những cuộc đối đầu đẫm máu với Israel
trên khắp khu vực sẽ tiếp diễn, đồng thời hiểu rõ khả năng gây sát thương của
Israel lớn đến mức nào. Tuy nhiên, sự chú ý của Iran vẫn tập trung vào mối đe
dọa đặc biệt đối với sự tồn vong của chế độ đến từ vai trò của Mỹ trong cuộc
chiến.
HÀNH ĐỘNG THỰC TẾ, KHÔNG PHẢI NHỮNG LỜI HỨA SUÔNG
Mỹ đã nhiều lần gửi tín hiệu ngoại giao tới giới lãnh đạo Iran
thông qua những kênh liên lạc linh hoạt khác nhau nhằm tìm cách kết thúc xung
đột. Tuy nhiên, việc Tehran liên tục bác bỏ những đề nghị ấy cho thấy họ coi
phần lớn các đề xuất ngoại giao của Washington như những chén thuốc độc. Nhiều
nhà lãnh đạo Iran cảnh giác với thực tế rằng trong hai năm qua, Mỹ và Israel đã
hai lần bất ngờ tấn công Iran đúng lúc các nhà ngoại giao Tehran đang đàm phán
với Washington. Diễn biến lặp lại ấy có lẽ càng củng cố niềm tin đầy hoài nghi
của phe cứng rắn rằng Nhà Trắng thường sử dụng đàm phán như một chiến thuật
quân sự, hoặc để đánh lạc hướng và khiến hệ thống phòng thủ Iran mất cảnh giác,
hoặc để tạo khoảng nghỉ cho quân đội Mỹ hồi sức và tăng viện trước khi quay lại
hoàn tất mục tiêu. Vào tháng Sáu, Tehran gần như chắc chắn đã sẵn sàng thử
nghiệm bản ghi nhớ có hiệu lực ngắn ngủi bởi trình tự thực hiện thỏa thuận được
thiết kế để kiểm chứng liệu Washington có thực sự sẵn sàng chấp nhận những thực
tế mới trên thực địa hay không. Từ góc nhìn của Iran, thỏa thuận này không chỉ
đơn thuần là lối thoát nhằm hạ nhiệt căng thẳng, mà còn công nhận quyền kiểm
soát của Iran đối với eo biển Hormuz, được quản lý chung với Oman, như một bảo
đảm an ninh trước các cuộc tấn công tương lai của Mỹ. Thỏa thuận cũng mang lại
những nhượng bộ đáng kể về trừng phạt mà không yêu cầu Iran phải đưa ra bất kỳ
nhượng bộ cụ thể nào đối với chương trình hạt nhân. Phía Iran cáo buộc Mỹ ngay
lập tức tìm cách né tránh những nghĩa vụ đã cam kết, bao gồm phá hoại quyền
kiểm soát của Tehran đối với eo biển. Iran coi đây là thêm một bằng chứng về sự
tráo trở của Washington.
KHÔNG VỘI CHẤM DỨT THẾ ĐỐI ĐẦU TẠI EO BIỂN HORMUZ
Theo các nguồn tin, Trump đã bất ngờ khi Iran đóng cửa eo biển
Hormuz. Điều trớ trêu là trước đây, Iran không đóng cửa eo biển này vì lo sợ sẽ
phải hứng chịu đòn trả đũa quân sự của Mỹ. Nhưng một khi Iran đã phải chịu
chính cuộc tấn công mà mình từng lo ngại, những tính toán ấy hoàn toàn đảo
ngược. Nếu Tehran chủ động tìm cách đóng cửa eo biển từ trước, Washington đã có
thể tập hợp một liên minh toàn cầu để chống lại hành động gây hấn của Iran. Tuy
nhiên, do Mỹ khởi xướng vòng xung đột này mà không tham vấn các đồng minh, các
quốc gia châu Âu và châu Á sẽ không tham gia liên minh do Mỹ dẫn dắt để giúp
Washington thoát khỏi tình thế khó khăn về chiến lược. Cuộc tấn công của Mỹ và
Israel đã mở ra cơ hội để Iran cuối cùng sử dụng eo biển Hormuz như một công cụ
gây sức ép nhờ lợi thế địa lý. “Tehran mới” đang quyết tâm buộc Washington phải
nếm trải chính thứ vũ khí mà Mỹ từng sử dụng: nỗi đau kinh tế.
Kể từ tháng Tám, quân đội Mỹ đã đạt được những thành quả đáng kể
khi từng bước khôi phục các tuyến hàng hải thông suốt qua eo biển bằng cách hộ
tống tàu chở dầu, rà phá thủy lôi, phá hủy những trận địa phóng tên lửa gần
nhất của Iran và vô hiệu hóa các hệ thống radar của nước này. Nhờ đó, hoạt động
vận tải biển trong một thời gian ngắn vào cuối tháng Chín đã gần trở lại mức
trước chiến tranh. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Iran gần như chắc chắn coi việc mở
cửa trở lại một phần eo biển chỉ là diễn biến mang tính chiến thuật, hoàn toàn
có thể đảo ngược nếu Tehran kiên trì và gia tăng mức độ leo thang. Đầu tháng
Mười, các cuộc tấn công của Iran nhằm vào tàu chở dầu đã đạt mức cao nhất kể từ
khi chiến tranh bùng nổ, khiến lưu lượng tàu qua eo biển sụt giảm trong khi chi
phí vận hành của mỗi tàu tiếp tục tăng vọt. Giới lãnh đạo Iran gần như chắc
chắn đang đặt cược rằng quân đội Mỹ không thể duy trì mãi những nỗ lực căng
thẳng đến cực hạn nhằm bảo đảm hoạt động vận chuyển dầu dưới sự hộ tống quân
sự. Tehran hẳn đã đọc được những báo cáo cho thấy các chỉ huy quân sự Mỹ tại
những khu vực khác trên thế giới đang phàn nàn về sức ép nguồn lực không thể
duy trì lâu dài, ngay cả khi Washington chỉ muốn giữ cho eo biển được mở cửa
một phần như hiện nay. Lượng nguồn lực khổng lồ cần thiết để duy trì nhịp độ
hoạt động quân sự này trong dài hạn sẽ gây ra những hệ quả dây chuyền đáng kể
đối với khả năng sẵn sàng chiến đấu của Mỹ trên toàn cầu. Phe cứng rắn tại Iran
có lẽ đang nóng lòng buộc Washington phải học lại bài học cay đắng từ những
cuộc chiến không hồi kết của chính mình: địa lý là điều không thể thay đổi, và
quân đội Mỹ, dù hùng mạnh nhất thế giới, cũng không thể trụ lại lâu hơn những
người dân sinh sống trên chính vùng đất ấy.
COI VIỆC MỸ RÚT QUÂN LÀ CƠ HỘI TÁI ĐỊNH HÌNH KHU VỰC
Giới lãnh đạo Iran tin rằng Mỹ hiện đang rút bỏ các căn cứ quân sự
trên khắp khu vực, trong đó có nhiều căn cứ đã bị Iran gây thiệt hại. Sau nhiều
thập kỷ quân đội Mỹ hiện diện tại gần như mọi quốc gia Trung Đông, phe cứng rắn
Iran gần như chắc chắn hy vọng điều đó đồng nghĩa với việc làn sóng “chủ nghĩa
đế quốc Mỹ” đang thoái lui. Họ hẳn đã theo dõi những báo cáo cho thấy Mỹ đang
dần cạn kiệt tên lửa và đạn đánh chặn để tiếp tục cuộc chiến, đồng thời hy vọng
tình trạng thiếu hụt này sẽ làm lung lay uy tín quân sự của Washington trên
toàn thế giới. “Tehran mới” giờ đây có thể hình dung một trật tự khu vực mới
không còn Mỹ giữ vai trò chi phối đang dần trở thành hiện thực.
Trong khi đó, Iran coi các chế độ quân chủ Ả Rập ở vùng Vịnh là
đồng lõa trong nỗ lực của Mỹ nhằm tiêu diệt chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran. Bom
của Mỹ đã tấn công Iran từ lãnh thổ các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh, và những nhân
vật cứng rắn tại Tehran chứng kiến quân nhân Mỹ ăn ở ngay tại các nước láng
giềng này trong lúc những đòn không kích của Washington sát hại trẻ em Iran.
Tehran cũng theo dõi việc các nhà lãnh đạo vùng Vịnh, những người vận động thúc
đẩy thay đổi chế độ tại Iran, tìm cách lấy lòng Trump và gia đình ông thông qua
những thỏa thuận tài chính đặc biệt ưu đãi. Giờ đây, Tehran muốn các thủ đô
vùng Vịnh nhìn nhận khí tài và lực lượng quân sự Mỹ hiện diện trên lãnh thổ của
họ là một gánh nặng an ninh thay vì sự bảo vệ. Thực tế, Iran có lẽ tin rằng
giới lãnh đạo vùng Vịnh đã quá mệt mỏi với cuộc xung đột kéo dài đến mức họ sẽ
ngày càng chủ động tiếp xúc với Tehran để tìm kiếm một thỏa thuận hòa bình
riêng rẽ.
TIN RẰNG CÓ THỂ KIÊN TRÌ LÂU HƠN QUYẾT TÂM CỦA MỸ
Các nhà lãnh đạo Mỹ đã nhiều lần tuyên bố chiến dịch gây sức ép
mang tên “D-Day kinh tế” sẽ sớm khiến nền kinh tế Iran sụp đổ, từ đó kéo theo
sự sụp đổ của chế độ. Kể từ khi Washington chuyển trọng tâm từ các cuộc tấn
công quân sự trực tiếp sang gây sức ép kinh tế vài tháng trước, Iran đã chuẩn
bị cho một cuộc đọ sức ý chí dai dẳng để xác định bên nào có khả năng chịu đựng
tổn thất lớn hơn. “Tehran mới” không hề ảo tưởng: sức ép kinh tế của Mỹ vẫn
đang gây ra những đau đớn nghiêm trọng. Giới lãnh đạo Iran thừa nhận người dân
đang phải chịu khổ sở nặng nề vì tình trạng thiếu hụt hàng hóa và đồng nội tệ
ngày càng mất giá. Tuy nhiên, họ thường xuyên viện dẫn việc gần nửa triệu người
Iran thiệt mạng trong cuộc chiến đẫm máu với Iraq vào thập niên 1980, khi lương
thực phải được phân phối theo định mức, như bằng chứng về sức chịu đựng kiên
cường của dân tộc. Tính toán lạnh lùng của “Tehran mới” là: sau nhiều thập kỷ
chịu đựng khó khăn kinh tế, thêm vài tháng thiếu thốn nữa thì có đáng kể gì?
Iran đã xây dựng được những công cụ phục vụ một nền kinh tế sinh tồn, điều mà
các cố vấn Nhà Trắng cũng âm thầm thừa nhận có thể giúp Tehran kéo dài khả năng
chống chịu cuộc bao vây kinh tế thêm nhiều năm. Iran cũng nhiều lần chứng minh
khả năng tìm ra những phương thức mới để giảm bớt sức ép kinh tế mà Washington
không ngừng gia tăng.
Trong bối cảnh lệnh phong tỏa của Mỹ cùng các biện pháp trừng phạt
mới khiến phần lớn hoạt động hàng không Iran phải ngừng lại, Tehran còn tìm
kiếm những tuyến vận tải đường bộ qua Trung Á để tránh sự bao vây của
Washington. “Tehran mới” gần như chắc chắn đang trông cậy vào Nga và Trung Quốc
như những nguồn hỗ trợ sống còn về quân sự và tài chính. Iran hiểu rằng Moscow
và Bắc Kinh coi Tehran là một nhân tố gây trở ngại địa chính trị cho
Washington. Giới lãnh đạo Iran cũng sẵn sàng tham gia vào những tầm nhìn của
Nga và Trung Quốc về việc xây dựng một trật tự thế giới chống Mỹ, trong đó việc
khiến Washington phải chịu thất bại và mất thể diện tại Trung Đông sẽ là một
lợi ích bổ sung đáng hoan nghênh đối với cả Moscow lẫn Bắc Kinh. Kể từ khi
chiến tranh bùng nổ, Nga và Trung Quốc được cho là đã cung cấp cho Iran linh
kiện tên lửa và máy bay không người lái, bổ sung đạn dược, thậm chí có thể cả
thông tin tình báo giúp xác định vị trí các mục tiêu quân sự của Mỹ. Tất cả
những hỗ trợ này góp phần duy trì năng lực chiến đấu của Iran. Tehran có lẽ
cũng tin rằng Bắc Kinh sẽ cho phép họ sử dụng các khoản tiền gửi tích lũy tại
ngân hàng Trung Quốc qua nhiều năm buôn bán dầu mỏ để mua những hàng hóa thiết
yếu từ nước này, ngay cả khi hoạt động thương mại chậm lại do doanh thu dầu mỏ
sụt giảm dưới tác động của lệnh phong tỏa.
Chế độ Iran còn nhận ra rằng khó khăn kinh tế và bất ổn chính trị
không có mối quan hệ tỷ lệ thuận đơn giản như nhiều người trong các nền dân chủ
phương Tây thường mặc định. Tương tự Triều Tiên và Venezuela, một xã hội đã
đánh mất hy vọng về tương lai kinh tế thường ít có xu hướng nổi dậy hơn những
xã hội mà kỳ vọng về sự cải thiện kinh tế đang gia tăng. Điều đó cho thấy khó
có khả năng tồn tại một ngưỡng kỳ diệu mà tại đó những bất mãn kinh tế tự động
tích tụ thành một cuộc cách mạng. Các nhà lãnh đạo Iran cũng là những người tàn
nhẫn, từng chứng minh sẵn sàng sát hại chính dân thường nước mình để dập tắt
bất ổn. Hơn nữa, Iran vẫn giữ được khả năng gây thêm thiệt hại cho cơ sở hạ
tầng kinh tế vùng Vịnh nếu lệnh phong tỏa của Mỹ thực sự bóp nghẹt năng lực duy
trì sự tồn tại của nước này.
“Tehran mới” hoài nghi khả năng nền kinh tế Mỹ có thể chịu đựng
một cuộc đối đầu kéo dài hơn nữa. Giới lãnh đạo Iran cáo buộc Nhà Trắng thao
túng thị trường năng lượng nhằm giữ giá dầu ở mức thấp giả tạo, nhưng Tehran
vẫn tin rằng Mỹ không thể mãi đi ngược các quy luật cung cầu. Iran cũng nhận
thức được rằng việc eo biển Hormuz bị đóng cửa một phần đã gây tổn hại nghiêm
trọng đến hoạt động xuất khẩu nhiều mặt hàng quan trọng khác ngoài dầu thô, như
khí tự nhiên hóa lỏng, phân bón và đặc biệt là dầu diesel, qua đó gây ra tình
trạng thiếu hụt nghiêm trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Việc Houthi mở rộng
quyền kiểm soát khu vực duyên hải dọc eo biển Bab al-Mandeb cùng những thiệt
hại liên tiếp đối với đường ống dẫn dầu Đông – Tây của Ả Rập Saudi càng làm gia
tăng sức ép lên giá năng lượng thế giới. “Tehran mới” tính toán rằng khi mọi
biện pháp kìm giữ không còn phát huy tác dụng, giá dầu sẽ tăng lên những mức
gây đau đớn nghiêm trọng và làm suy sụp quyết tâm của Washington. Giới lãnh đạo
Iran đắc ý tuyên bố rằng họ từng chấm dứt sự nghiệp chính trị của một tổng
thống Mỹ vào năm 1980, và gần như chắc chắn đang hy vọng tạo ra một cú sốc bầu
cử tương tự trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sắp tới tại Mỹ.
CHỈ CÓ SỨC MẠNH MỚI BẢO ĐẢM SỰ TỒN VONG
Đòn bẩy của Iran để đạt được một thỏa thuận có lợi đã lúc tăng lúc
giảm trong bảy tháng qua, nhưng những lằn ranh đỏ của Tehran đối với một thỏa
thuận vẫn kiên quyết không thay đổi. Điều này cho thấy những tính toán của họ
không chỉ đơn thuần dựa trên logic “đạt được thỏa thuận tốt nhất có thể”. Một
số nhà quan sát có thể cho rằng tư duy thận trọng “lùi một bước để tiếp tục
chiến đấu trong tương lai” của Ali Khamenei vẫn còn giá trị, và Tehran cuối
cùng sẽ chấp nhận thỏa thuận tốt nhất có thể khi đòn bẩy thương lượng suy yếu.
Tuy nhiên, đòn bẩy chủ yếu của Iran, việc đóng cửa eo biển Hormuz, đã suy giảm
suốt hai tháng, trong khi lập trường đàm phán của Tehran vẫn không mềm mỏng
hơn. Ngưỡng điều kiện để Iran chấp nhận một thỏa thuận dường như đã được xác định
rõ ràng và không thay đổi. Chừng nào Washington còn không sẵn sàng đưa ra những
nhượng bộ có giá trị lâu dài, “Tehran mới” vẫn sẽ chấp nhận chịu đựng một cuộc
xung đột kéo dài và đau đớn, bởi họ đang chiến đấu vì sự tồn vong của chính
mình. Đối với “Tehran mới”, không một thỏa thuận nào, dù có lợi đến đâu về mặt
chiến thuật so với vị thế đàm phán tương đối của Iran, có thể được chấp nhận
nếu không mang lại những lợi ích thực chất như đã được thể hiện trong bản ghi
nhớ trước đây. Chế độ Iran có lẽ sẵn sàng đẩy đất nước đến bờ vực sụp đổ nhằm
phá vỡ sự kiểm soát của Mỹ đối với khu vực và buộc Nhà Trắng phải từ bỏ tham
vọng cứng rắn nhằm chấm dứt sự tồn tại của Cộng hòa Hồi giáo Iran.
Và nếu Mỹ kết thúc cuộc xung đột trong khi chế độ Cộng hòa Hồi
giáo Iran vẫn tồn tại, các nhà lãnh đạo cứng rắn mới tại Tehran sẽ quyết tâm
khôi phục sức mạnh quốc gia để chế độ không bao giờ phải rơi vào tình trạng yếu
thế đến mức dễ bị tấn công như vậy lần nữa. Iran sẽ không chỉ dựa vào khả năng
kiểm soát các tuyến đường thủy trong khu vực. Nước này sẽ mở rộng quy mô, tăng
cường khả năng chống chịu và nâng cao trình độ công nghệ của chương trình tên
lửa và drone nhằm thiết lập thêm nhiều tầng răn đe mới, dù có lẽ phải mất nhiều
năm Iran mới có thể khôi phục hoàn toàn kho vũ khí. Tehran cũng sẽ tái xây dựng
mạng lưới các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực vốn đã bị Israel làm suy yếu
trong những năm gần đây.
Tehran nhiều khả năng cũng sẽ xem xét lại việc theo đuổi vũ khí
hạt nhân. Những tiếng nói cứng rắn đang lên trong chế độ có lẽ sẽ lập luận rằng
sự thận trọng và những giới hạn về đạo đức mà Ali Khamenei áp đặt đối với
chương trình hạt nhân quốc gia chỉ khiến các đối thủ của Iran thêm táo bạo.
Chính Trump từng nửa đùa nửa thật thừa nhận rằng ông sẽ thân thiện hơn với Lãnh
tụ Tối cao nếu Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Thực tế, giới lãnh đạo Iran nhận
thấy sự tương phản rõ rệt giữa cách Trump tìm cách lấy lòng nhà lãnh đạo Triều
Tiên Kim Jong Un, người đứng đầu một quốc gia có vũ khí hạt nhân, và việc ông
tiến hành oanh kích Iran. “Tehran mới” rất có thể sẽ sớm đi đến kết luận rằng
đã đến lúc Iran trở thành quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân mà các đối thủ của
nước này từ lâu vẫn hết sức lo sợ.
AI SẼ LÀ BÊN NHƯỢNG BỘ TRƯỚC?
Mặc dù quân đội Mỹ đã thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả, những
mục tiêu chiến lược đặt ra cho cuộc chiến lại dựa trên các tính toán sai lầm về
khả năng kháng cự và sự thay đổi trong tư duy của Tehran. Việc đánh giá sai về
Iran đã đẩy Nhà Trắng vào thế bế tắc: Washington không muốn chấp nhận một thỏa
thuận gây mất thể diện, nhưng cũng không sẵn sàng trả cái giá khổng lồ về quân
sự, chính trị và kinh tế cần thiết để lật đổ chế độ. Trong khi giới lãnh đạo Mỹ
hy vọng kế hoạch trung dung dựa trên sức ép kinh tế kéo dài sẽ gặp may và cuối
cùng buộc Iran khuất phục, thị trường năng lượng đang ngày càng thắt chặt,
nguồn lực quân sự Mỹ dần suy giảm, các nước trong khu vực bắt đầu nghi ngờ vai
trò lãnh đạo của Washington, còn những đồng minh chính trị của Nhà Trắng cũng
lần lượt quay sang phản đối cuộc xung đột.
Nếu Iran tiếp tục đi ngược lại dự đoán của Trump rằng chế độ sẽ
giảm bớt các yêu sách sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, Nhà Trắng có thể cuối
cùng phải điều chỉnh cách tiếp cận để thích ứng với một “Tehran mới”. Khi đó,
Mỹ sẽ phải đối mặt với lựa chọn leo thang xung đột hoặc chấp nhận hạn chế tổn
thất và, ít nhất trong thời điểm hiện tại, nuốt trôi một giải pháp ngoại giao
không như mong muốn.
Iran vốn nổi tiếng là quốc gia thường xuyên hành động trái với dự
đoán của ngay cả những chuyên gia dày dạn kinh nghiệm nhất về nước này. Vì vậy,
cần xem xét câu hỏi: Những dấu hiệu nào có thể cho thấy, bên dưới đống đổ nát,
bản năng của “Tehran cũ” đang trỗi dậy trở lại và Washington sẽ không phải đối
mặt với lựa chọn khó khăn nói trên? “Tehran mới” tràn đầy phẫn nộ và những lời
tuyên bố cứng rắn, nhưng điều đó không có nghĩa là thế giới quan của họ phản
ánh chính xác thực tế trên chiến trường. Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy giới
lãnh đạo Iran đang quay trở lại lối hành xử trước đây sẽ là việc Tehran chấp
nhận một thỏa thuận ngừng bắn đơn giản dựa trên nguyên tắc hai bên cùng dỡ bỏ
phong tỏa, qua đó chấm dứt tình trạng phong tỏa hai chiều tại eo biển Hormuz và
khôi phục các vùng biển trong khu vực về trạng thái trước chiến tranh. Những
biến thể của một thỏa thuận nhượng bộ ít đổi lấy nhượng bộ ít hơn, không đạt
đến mức của thỏa thuận trước đây và không bao gồm các nhượng bộ then chốt, có
giá trị lâu dài từ Mỹ, cũng sẽ cho thấy thái độ phản kháng của Iran trong giai
đoạn đầu chiến tranh chỉ là cơn phẫn nộ nhất thời chứ không phải một học thuyết
cứng rắn mới. Iran có lẽ chỉ chấp nhận một thỏa thuận ngừng bắn giới hạn như
vậy nếu lo sợ nguy cơ sụp đổ từ bên trong. Việc Tehran chấp nhận thỏa thuận đó
sẽ cho thấy phe chủ chiến tại Mỹ và Israel đã đúng khi tin rằng lệnh phong tỏa
của Washington cuối cùng sẽ bào mòn nền kinh tế Iran và khiến chế độ cạn kiệt
nguồn lực để duy trì quyền kiểm soát.
Một khả năng khác là sự phẫn nộ của Iran cùng tình trạng hỗn loạn
trong vòng quyền lực thân cận ngày càng cứng rắn có thể khiến Tehran không thể
hoàn tất một thỏa thuận, ngay cả khi thỏa thuận đó có lợi cho chế độ. Một số
nhà lãnh đạo quân sự Iran phản đối mọi hình thức thỏa hiệp với Mỹ và cho rằng
nước này phải tiếp tục chiến đấu cho đến khi Washington bị đẩy khỏi khu vực. Có
những báo cáo cho rằng các nhân vật cứng rắn như vậy đã góp phần khiến bản ghi
nhớ hồi tháng Sáu đổ vỡ bằng cách tiến hành những cuộc tấn công không được cho
phép. Nếu Iran không thể chấp nhận và thực hiện một thỏa thuận trong tương lai
có lợi hơn cho mình so với thỏa thuận trước đó, trong khi điều kiện chiến tranh
không có thay đổi đáng kể, đó sẽ là dấu hiệu cho thấy bộ máy lãnh đạo Iran thực
sự đã rạn vỡ và không còn khả năng đưa ra những quyết định thống nhất.
Mặc dù không có giải pháp dễ dàng cho thế lưỡng nan chiến lược mà
Mỹ đang đối mặt, những hành động táo bạo vẫn có thể cho phép Washington tìm
kiếm các cơ hội mới giữa cuộc khủng hoảng. “Tehran mới” nuôi dưỡng những tham
vọng lớn và thể hiện thái độ đầy thách thức, nhưng trong nội bộ, họ hiểu rằng
mình vẫn đang ở thế yếu. Điều này mở ra khả năng tìm kiếm những giải pháp ngoại
giao sáng tạo, đồng thời giải quyết nỗi lo của Iran và đáp ứng lợi ích của Mỹ.
Dù Tehran có lẽ sẽ không chấp nhận một thỏa thuận mà họ cho là kém thuận lợi
hơn bản ghi nhớ hồi tháng Sáu, giới lãnh đạo Iran vẫn có thể sẵn sàng cân nhắc
những phương án dàn xếp mới, được thiết kế linh hoạt để bảo đảm với “Tehran
mới” rằng họ sẽ không phải tái chiến chỉ sau một năm, đồng thời tạo thêm dư địa
để Washington giảm thiểu những điều khoản bất lợi nhất của thỏa thuận trước đó.
Chẳng hạn, một diễn đàn đa phương mới được thành lập, có sự tham
gia của các đối tác trong khu vực và có thể cả những bên thứ ba từ châu Âu và
châu Á, nhằm giám sát việc thực thi thỏa thuận ngừng bắn, về lâu dài có thể
phát triển thành một khuôn khổ an ninh khu vực giúp giảm nguy cơ tính toán sai
lầm và cung cấp những bảo đảm an ninh chung nhằm ngăn chặn hành động gây hấn
đơn phương. Các động thái từ Quốc hội Mỹ liên quan đến cả quyền tiến hành chiến
tranh của tổng thống lẫn việc nới lỏng trừng phạt cũng có thể giúp Iran thêm
tin tưởng rằng Washington sẽ không nuốt lời sau khi đạt được thỏa thuận ngừng
bắn rồi tiếp tục phát động xung đột. Nếu Mỹ vốn đã có ý định thu hẹp hiện diện
quân sự trong khu vực do những điểm yếu bị cuộc chiến phơi bày, kết hợp với những
thay đổi trong công nghệ quân sự khiến việc duy trì năng lực tấn công đáng kể
không còn đòi hỏi nhiều lực lượng đồn trú tại chỗ như trước, Washington có thể
công khai nhượng bộ yêu cầu của Iran về việc giảm quy mô căn cứ quân sự Mỹ
trong khu vực. Đây sẽ là dấu hiệu hữu hình cho thấy Mỹ không còn bố trí lực
lượng theo hướng chuẩn bị cho một cuộc xung đột mới.
Việc tìm ra một giải pháp dung hòa như vậy sẽ là thách thức chính
trị vô cùng khó khăn đối với Nhà Trắng, đặc biệt sau những phản ứng dữ dội từ
các đối tác khu vực và phe chủ chiến tại Mỹ đối với bản ghi nhớ hồi tháng Sáu.
Bất kỳ cách kết thúc xung đột tương tự nào cũng sẽ gây tổn thất chiến lược đáng
kể cho Mỹ và nhiều khả năng khiến Washington rơi vào vị thế chiến lược bất lợi
hơn so với trước chiến tranh. Một chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran được phục hồi
sẽ tái thiết năng lực quân sự, xây dựng lại mạng lưới lực lượng ủy nhiệm trong
khu vực và có thể theo đuổi vũ khí hạt nhân. Không nên ảo tưởng rằng sau một
thỏa thuận như vậy, Tehran sẽ bỗng nhiên trở nên hợp tác. Trái lại, những nhà
lãnh đạo cứng rắn của Iran sẽ vẫn quyết liệt và nguy hiểm như trước. Tuy nhiên,
những rủi ro ấy gần như chắc chắn vẫn sẽ quay trở lại nếu chế độ tiếp tục tồn
tại. Đưa ra những quyết định khó khăn như vậy chính là trách nhiệm của tổng
thống Mỹ, người có thể phối hợp với các đối tác khu vực để cùng kiểm soát quá
trình Iran từng bước phục hồi năng lực quân sự thông qua việc tái thiết hệ
thống phòng thủ và khôi phục khả năng răn đe, điều mà các quốc gia trong khu
vực từng thực hiện hiệu quả suốt nhiều năm. Thừa nhận rằng cuộc chiến này là
một bước đi sai lầm và chấp nhận hạn chế tổn thất sẽ giúp Mỹ tập hợp lại lực
lượng và tìm lại vị thế của mình trong khu vực. Đây sẽ là lựa chọn tốt hơn so
với việc tiếp tục dấn sâu vào cuộc chiến chống một “Tehran mới” vẫn không ngừng
khiến Washington bối rối, trong khi cái giá phải trả ngày càng lớn.
------------------------------
Cole Bucy là cựu phân tích viên của Cơ quan Tình
báo Trung ương Mỹ (CIA), từng giữ chức Giám đốc phụ trách Iran tại Hội đồng An
ninh Quốc gia Mỹ trong giai đoạn 2015–2016.
Nguồn: Cole Bucy, “Tehran is a Different Beast Now”, War on the
Rocks, 21/10/2026
No comments:
Post a Comment