...Ồn ào
rùm beng, nhưng cuối cùng đúng như câu thành ngữ quen thuộc là “Đi vô đi ra
cũng thằng cha hồi nãy”.
“Thằng cha hồi nãy”
là ai, thì ai cũng biết cả rồi. Khỏi cần minh danh và cũng chẳng cần cải danh.
Cộng sản hay Lao Động, hay tên gì đi nữa, mà còn theo chủ nghĩa cộng sản thì
cũng thế mà thôi. Nghị quyết 1481 của Quốc hội Âu Châu họp tại Strasbourg
(Pháp) ngày 25-1-2006 đã kết án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại và
các chế độ cộng sản toàn trị đã vi phạm nhân quyền tập thể. Rõ ràng như vậy thì
còn gì mà bám víu? Có cải danh cũng chẳng lừa phỉnh được ai thêm một lần nữa...
*
Hiện nay, đang có
dư luận bàn tán về danh xưng đảng Cộng Sản và đảng Lao Động. Dưới đây xin sơ lược
về hai danh xưng này.
1.- Đảng Cộng Sản Đông Dương
Tài liệu của cộng sản
Việt Nam cho rằng Đệ tam Quốc tế Cộng sản cử Nguyễn Ái Quốc (NAQ), về sau có
tên là Hồ Chí Minh (HCM), từ Xiêm La (Thái Lan ngày nay) đến Hồng Kông, tổ chức
cuộc họp ngày 6-1-1930, thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Theo báo cáo
chính trị HCM viết ngày 11-2-1951, đảng CS thành lập ngày 6-1-1930. (Hồ Chí
Minh toàn tập [tập] 6, xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia,
2000, tr. 154.) Về sau tại Đại hội III đảng Lao Động từ 5 đến 10-9-1960, bộ
chính trị trung ương đảng yêu cầu đại hội thông qua quyết định thay đổi ngày
thành lập đảng là 3-2-1930 theo lệnh của Liên Xô.
Tuy nhiên, một tài
liệu khác cho biết rằng trong khi NAQ hoạt động ở Xiêm La, thì Đệ tam Quốc tế Cộng
sản (ĐTQTCS) cử Trần Phú và Ngô Gia Trì (Ngô Đức Trì?) là hai người đã học ba
năm ở Moscow, mang chỉ thị về Việt Nam để thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương
(CSĐD). Hai người nầy qua đường Pháp và gặp trở ngại giấy tờ tại đây. Biết được
tin nầy, NAQ liền qua Hồng Kông, triệu tập cuộc họp lập đảng CS Việt Nam ngày
6-1-1930. Hai người kia ngày 8-2-1930 mới về đến Sài Gòn. (Nguyễn Minh Cần, Đảng
Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế,
Arlington, VA: Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2016, tr. 145.)
Tài liệu nầy đưa ra
hai chứng lý:
Thứ nhứt, sau khi
thành lập đảng CSVN, NAQ báo cáo cho ĐTQTCS ngày 18-2-1930. Trước sự đã rồi,
ĐTQTCS liền ra lệnh sửa sai, cử Trần Phú, chứ không phải NAQ, làm tổng bí thư đầu
tiên và buộc đổi tên đảng CSVN thành đảng CSĐD.
Trần Phú triệu tập
hội nghị trung ương đảng CSVN lần thứ nhứt ngày 10-10-1930 tại Kowloon (Cửu
Long) thuộc Hồng Kông, và đổi tên đảng thành đảng CSĐD. Câu hỏi đặt ra là nếu
NAQ được ĐTQTCS ủy nhiệm việc lập đảng, thì tại sao NAQ không đặt ngay tên là đảng
CSĐD mà lại đặt là đảng CSVN? Và NAQ cũng không được cử làm tổ bí thư đảng
CSVN?
Thứ hai, khi ra khỏi
tù ở Hồng Kông năm 1933, NAQ trốn đi Moscow. Đệ tam QTCS mở cuộc điều tra về hoạt
động của NAQ trong thời gian bị tù. Tổ điều tra gồm ba người: Dmitry Manuilsky,
Khang Sinh và Vera Vasilieva. Trong báo cáo của bà Vera Vasilieva, có một đoạn
viết như sau: “...Khi thống nhất đảng, Nguyễn Ái Quốc đã tự nhận mình
là đại diện của QTCS mặc dù QTCS không trao ủy quyền...” (Nguyễn Minh
Cần, sđd. tr. 146.)
Ngoài ra, có câu
chuyện của một người dự họp ngày 6-1-1930 ở Hồng Kông kể lại rằng khi hội nghị
nầy diễn ra, có người hỏi NAQ có giấy ủy nhiệm không, thì NAQ trả lời rằng: “Nếu
tôi có mang theo giấy đó, thì thử hỏi tôi có thể ngồi đây với các đồng chí được
không?” (Nguyễn Minh Cần, sđd. tr. 146.) Tại sao một người
nhân danh QTCS đứng ra triệu tập hội nghị thành lập đảng CS mà không có giấy tờ
ủy nhiệm của QTCS?
2.- Hồ Chí Minh giải tán Đảng Cộng Sản
Đông Dương
Nhờ cộng tác với
O.S.S, cơ quan tình báo Hoa Kỳ, HCM biết tin Anh và Trung Hoa sẽ gởi quân đến
Việt Nam giải giới quân đội Nhật theo quyết định hội nghị Potsdam (26-7-1945),
và biết tin Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản, nên Nhật Bản sẽ thất bại.
Vì vậy, NAQ tức Hồ Chí Minh (HCM) và Việt Minh (VM) nhanh tay cướp chính quyền ở
Hà Nội, vận động quần chúng yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị, và thành lập gấp
chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945, nhằm tạo
cơ cấu hành chánh có sẵn, đã rồi, trước khi quân đội Anh và Trung Hoa vào Việt
Nam.
Trong khi Pháp theo
quân Anh, mở các cuộc hành quân tái chiếm Nam kỳ, Lâm ủy hành chánh của Việt
Minh (VM) cộng sản (CS) rất lúng túng phải co cụm và lẫn tránh vào các vùng
bưng biền, thì tại miền Bắc, HCM và mặt trận VM, lúc đó chỉ có khoảng 5,000 đảng
viên CS (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952,
Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 182), gặp ba áp lực cùng một lúc.
Đó là: 1) Các tướng
lãnh Quốc Dân Đảng Trung Hoa đưa khoảng 200,000 quân vào Bắc kỳ theo tuyên bố
chung hay tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945. Quân Trung Hoa rời căn cứ vào cuối
tháng 8 và nhập vào Việt Nam đầu tháng 9-1945. 2) Các lãnh tụ Việt Nam Cách Mạng
Đồng Minh Hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) từ Trung Hoa trở về
Việt Nam sau thế chiến thứ hai, quyết liệt chống đối HCM và mặt trận VMCS. 3)
Sau khi tái chiếm miền Nam, người Pháp tiến quân từ miền Nam ra miền Bắc, dự
tính tái chiếm toàn bộ Đông Dương
Đối với các lãnh tụ
và các đảng phái chính trị Việt Nam, HCM và VM thực hiện một kế hoạch hai mặt.
Bề ngoài, VM tỏ ra hòa hoãn, nói chuyện với tất cả các phe phái, kêu gọi lòng
yêu nước, đoàn kết và liên hiệp để cùng nhau chống ngoại xâm. Bề trong, VM thực
hiện các cuộc khủng bố ngầm, thủ tiêu lẻ tẻ những địch thủ chính trị và đe dọa
những ai không theo VM.
Khi cùng với tướng
Tiêu Văn (Trung Hoa), từ Quảng Châu về Việt Nam, Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt
Cách, liên lạc và hội họp với Jean Sainteny, đại diện Pháp ngày 12-10 và
15-10-1945 tại Hà Nội, để thảo luận về tương lai chính trị Bắc kỳ. Thấy thế,
ngày 23-10-1945, HCM liền mời Nguyễn Hải Thần họp tay đôi giữa hai bên, và ký
thỏa thuận hợp tác giữa VM và Việt Cách.
Để gây lòng tin nơi
các đảng phái theo chủ trương dân tộc, nhứt là các tướng lãnh Trung Hoa Quốc
Dân Đảng đang ở Hà Nội, HCM và ban chấp hành trung ương đảng CSĐD công bố GIẢI
TÁN ĐẢNG CSĐD NGÀY 11-11-1945 và thành lập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư
[Mác-xít] do Trường Chinh Đặng Xuân Khu làm tổng thư ký. (Chính Đạo, Việt
Nam niên biểu, tập A: 1939-1946, Houston: Nxb Văn Hóa, 1996, tt. 286-287.).
Tuy vậy, theo lời HCM, “dù là bí mật, đảng [CSĐD] vẫn lãnh đạo chính
quyền và nhân dân.” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, xuất bản lần
thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 161.)
Ngày 23-12-1945,
HCM họp cùng đại diện Việt Cách và VNQDĐ tại số 40 đại lộ Gia Long (Hà Nội), dưới
sự chủ tọa của tướng Tiêu Văn trong phái bộ Trung Hoa sang Việt Nam giải giới
quân Nhật, ký thỏa thuận gọi là “hợp tác tinh thành”, đại khái là từ ngày
1-1-1946, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập do HCM làm chủ tịch, Nguyễn
Hải Thần làm phó chủ tịch. Nội các gồm VM (2 ghế), Việt Cách (2 ghế), VNQDĐ (2
ghế), Dân Chủ (2 ghế), độc lập (2 ghế). Ngày 6-1-1946 sẽ tổ chức bầu cử quốc hội.
VNQDĐ giữ 50 ghế, Việt Cách 20 ghế. Các đảng cam kết không gây hấn với nhau.
Đây là kiểu hòa giải hòa hợp bịp bơm của HCM nhằm phỉnh gạt các đảng phái theo
chủ trương dân tộc nhằm vượt thoát qua giai đoạn khó khăn lúc đó.
3.- Đảng Lao Động
Chiến tranh giữa Việt
Minh với Pháp bùng nổ ngày 19-12-1946. Lúc đầu VM thua chạy về nông thôn, vào
bưng biền hay lên rừng núi. Mùa thu năm 1949, Mao Trạch Đông (Mao Zedong) cùng
đảng CS thành công ở Trung Hoa và thành lập nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung
Hoa (CHNDTH) hay Trung Cộng ngày 1-10-1949.
Được tin nầy, HCM
liền cử hai đại diện đến Bắc Kinh xin viện trợ vào cuối năm 1949. Sau đó HCM bí
mật đến Bắc Kinh ngày 30-1-1950. Lúc đó, MTĐ đang ở Moscow (từ 16-12-1949 đến
17-2-1950) để thương thuyết với Joseph Stalin. Hồ Chí Minh phải làm kiểm thảo
trước Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi), xử lý công việc bộ Chính trị đảng CSTH. (Trần
Đĩnh, Đèn Cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 49.) Không biết
khi qua cầu viện nhà Thanh năm 1788, bà thái hậu nhà Lê có hành động như HCM,
kiểm điểm trước kẻ thù truyền kiếp của dân tộc? Theo yêu cầu của HCM, do phía
Trung Cộng chuyển đạt, Stalin chấp thuận cho HCM qua Moscow. (Qiang Zhai, China
& Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press,
2000, tr. 17.)
Khi gặp HCM, Stalin
nói rằng: “Đảng Cộng Sản Liên Xô và nhân dân Liên Xô hoàn toàn nên viện
trợ cho cuộc đấu tranh chống Pháp của các đồng chí. Song, chúng tôi đã trao đổi
với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp của Việt
Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn...” (Một nhóm tác giả,
Hồi ký những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự
Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Bắc Kinh: Nxb Lịch sử đảng Cộng Sản
Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, đăng lại trên tạp
chí Truyền Thông Montreal, Canada, số 32 và 33, Hạ-Thu 2009,
tr. 45.) Như thế có nghĩa là tuy thừa nhận nhà nước VMCS, nhưng Liên Xô vẫn
chưa giúp đỡ gì cả.
Hồ Chí Minh phải
quay qua cầu cạnh Trung Cộng, Nhờ sự giúp đỡ về mọi mặt của Trung Cộng, lực lượng
VM lớn mạnh và bắt đầu phản công dần dần. Từ đó, “viện trợ quân sự, vũ
khí đạn dược vào như nước.” (Đặng Văn Việt, Người lính già Đặng
Văn Việt, chiến sĩ đường số 4 anh hùng (hồi ức), Tp. HCM: Nxb. Trẻ,
2003, tr. 179.) Ngoài viện trợ, CSTH còn bổ nhiệm cả cố vấn quân sự từ trung
ương xuống đến cấp tiểu đoàn cho bộ đội VM.
Một năm sau khi nhờ
viện trợ của Trung Cộng, HCM qua Nam Ninh (Trung Cộng) ngày 5-2-1951, vừa chúc
mừng Tết nguyên đán Tân Mão (6-2- 1951) các lãnh tụ Trung Cộng, vừa cảm ơn đảng
CSTH, vừa xin thêm viện trợ để mở những chiến dịch mới. (Chính Đạo, Việt
Nam niên biểu, tập B, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1997, tr. 228.)
Sau cuộc viếng thăm
và chúc Tết ở Trung Cộng trở về, HCM triệu tập Đại hội lần thứ II đảng CSĐD tại
xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ 11 đến 19-2-1951. Trong đại
hội nầy, HCM tuyên bố đảng CSĐD hoạt động công khai trở lại và chia thành ba đảng
CS riêng biệt của ba nước Đông Dương là Việt Nam, Miên và Lào.
Đảng CS Cao Miên là
Nhân Dân Cách Mạng Khmer (Khmer People's Revolution Party). Đảng CS Lào là Nhân
Dân Cách Mạng Lào (Phak Paxaxon Lao tức Lao's People Revolutionary Party). Còn
đảng CSVN từ nay lấy tên là đảng Lao Động Việt Nam (LĐVN).
Danh xưng nầy được
đặt theo ý kiến của Stalin. (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc hội,
California: Nxb. Văn Nghệ, 1995, tt. 149-150.) Theo cách tổ chức của đảng CSTH,
lần đầu tiên đảng LĐ lập thêm chức chủ tịch và bộ chính trị. Bộ chính trị mới
thành lập gồm bảy người. Hồ Chí Minh (chủ tịch), Trường Chinh Đặng Xuân Khu (tổng
bí thư) và các ủy viên là Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt (tức Hạ Bá Cang), Võ Nguyên
Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh. (http://www.cpv.org.vn). Làm việc cho bộ
chính trị là ban bí thư trung ương và dưới bộ chính trị là ủy ban trung ương đảng
LĐ, gồm những đại diện do các đảng bộ địa phương bầu ra.
Hồ Chí Minh tuyên bố: “Về
lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Về tổ chức, đảng Lao
Động Việt Nam theo chế độ dân chủ tập trung. Về kỷ luật, đảng Lao Động Việt Nam
phải có kỷ luật sắt, đồng thời là kỷ luật tự giác. Về luật phát triển, đảng Lao
Động Việt Nam dùng lối phê bình và tự phê bình để giáo dục đảng viên, giáo dục
quần chúng.” (Hồ Chí Minh toàn tập, [tập 6], xuất bản lần thứ
hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 174.)
Nhân dịp thành lập
đảng LĐ, trong điện văn gởi đảng CSTH, HCM viết: “Đảng Lao Động Việt
Nam nguyện noi gương anh dũng đảng Cộng Sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch
Đông...” (Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, hồi ký.
Nhóm tìm hiểu lịch sử, Portland, Oregon xuất bản, 1991, tr. 357.)
Như thế, tuy không
còn giữ tên đảng CS, nhưng đảng Lao Động vẫn theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Mao Trạch Đông, dùng kỷ luật sắt, tập trung quyền lực tuyệt đối vào lãnh đạo đảng
theo kiểu Trung Cộng, có nghĩa là tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm khắc hơn cả
đảng CSĐD. Quyền lực càng tuyệt đối thì đảng Lao Động càng độc tài tuyệt đối
hơn nữa.
4.- Trở lại tên Đảng Cộng Sản
Sau ngày 30-4-1975,
cộng sản Bắc Việt Nam kêu gọi sĩ quan, công chức cao cấp Việt Nam Cộng Hòa
(VNCH) trình diện và chuẩn bị lương thực, để học tập trong ba ngày, hay một tuần
hay một tháng tùy cấp bậc và tùy địa phương. Khi toàn thể sĩ quan công chức
VNCH theo lời kêu gọi của CS, trình diện đầy đủ, thì tất cả bị bắt giam trên
các vùng rừng thiêng nước độc không tuyên án và không thời hạn.
Cộng sản phỉnh gạt
để bắt giam trọn gói sĩ quan, công chức VNCH nhằm mục đích triệt tiêu vĩnh viễn
quân đội VNCH, đồng thời đe dọa, cầm chân gia đình những người có thân nhân bị
tù, vì nếu họ vọng động thì thân nhân của họ khó có cơ hội trở về đoàn tụ gia
đình.
Theo lệnh của Hà Nội,
từ ngày 15 đến 21-11-1975, đoàn đại biểu Bắc Việt Nam (25 người) do Trường
Chinh, ủy viên Bộ chính trị đảng Lao Động, chủ tịch quốc hội, dẫn đầu vào Sài
Gòn họp với đoàn đại biểu miền Nam Việt Nam (25 người) do Phạm Hùng, ủy viên Bộ
chính trị đảng Lao Động, bí thư Trung ương cục miền Nam lãnh đạo. Vì cộng sản
miền Nam hoàn toàn do đảng Lao Động miền Bắc điều khiển, nên đây chỉ là thủ tục
hình thức và hai bên quyết định dễ dàng việc thống nhất về mặt nhà nước.
Ngày 25-4-1976, cuộc
tổng tuyển cử bầu quốc hội chung cho cả nước được tổ chức. Kết quả là 492 đại
biểu được bầu lên, đại đa số là đảng viên CS, chỉ có một số rất ít là cảm tình
viên CS. Quốc hội khai mạc ngày 24-6-1976, họp đến ngày 3-7-1976, đi đến các
quyết định sau đây: Đổi tên nước từ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, bầu Tôn Đức Thắng giữ chức chủ tịch nước, Nguyễn Lương
Bằng, Nguyễn Hữu Thọ làm phó chủ tịch nước, Phạm Văn Đồng tiếp tục giữ chức thủ
tướng, đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi sắp xếp
công việc hành chánh, đảng Lao Động tổ chức đại hội lần thư IV tại Hà Nội từ
ngày 14 đến ngày 20-12-1976, quy tụ 1,008 đại diện, thay mặt trên 1,5 triệu đảng
viên CS toàn quốc. Ngoài việc thông qua các báo cáo chính trị, phương hướng hoạt
động, sửa đổi điều lệ đảng..., đại hội quyết định đổi tên đảng Lao Động Việt
Nam thành đảng Cộng Sản Việt Nam, bầu ban chấp hành trung ương đảng, bộ chính
trị, bỏ chức chủ tịch đảng (trước đây do HCM đảm nhận), đổi chức bí thư thứ nhứt
thành tổng bí thư, và bầu Lê Duẩn giữ chức vụ nầy.
Đại hội IV lần nầy
giữ theo nghị quyết và điều lệ đảng Lao Động trong đại hội lần thứ III năm 1960
tại Hà Nội. Điều lệ đảng Lao Động sau đại hội III có đoạn viết như sau: “Đảng
Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Marx - Lenin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho mọi hành động của đảng. Đảng Lao động Việt Nam đi đường lối quần chúng
trong mọi hoạt động của mình. Đảng Lao động Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập
trung dân chủ và có kỷ luật rất nghiêm minh. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ
chức căn bản của đảng.” (Điều lệ đảng Lao Động do đại hội toàn đảng
Lao Động thông qua. Báo Điện tử đảng Cộng Sản Việt Nam ngày
21-2-2011.) (Internet)
Như thế, đại hội
III đảng Lao Động bỏ bớt phần tư tưởng Mao Trạch Đông của Đại hội II và chưa
thêm phần tư tưởng Hồ Chí Minh như sau nầy. Nói chung, bản chất cốt yếu không
có gì thay đổi. Đảng Lao Động năm 1951 chẳng khác gì đảng Cộng Sản Đông Dương
năm 1930. Đảng Lao Động năm 1960 chẳng khác gì đảng Lao Động năm 1951. Đảng Cộng
Sản Việt Nam năm 1976 cũng chẳng khác gì đảng Lao Động năm 1960. Các đảng nầy
là một hệ thống cộng sản xuyên suốt từ năm 1930 cho đến ngày nay. Ồn ào rùm
beng, nhưng cuối cùng đúng như câu thành ngữ quen thuộc là “Đi vô đi ra
cũng thằng cha hồi nãy”.
“Thằng cha hồi
nãy” là ai, thì ai cũng biết cả rồi. Khỏi cần minh danh
và cũng chẳng cần cải danh. Cộng sản hay Lao Động, hay tên gì đi nữa, mà còn
theo chủ nghĩa cộng sản thì cũng thế mà thôi. Nghị quyết 1481 của Quốc hội Âu
Châu họp tại Strasbourg (Pháp) ngày 25-1-2006 đã kết án chủ nghĩa cộng sản là tội
ác chống nhân loại và các chế độ cộng sản toàn trị đã vi phạm nhân quyền tập thể.
Rõ ràng như vậy thì còn gì mà bám víu? Có cải danh cũng chẳng lừa phỉnh được ai
thêm một lần nữa.
05.10.2017
No comments:
Post a Comment