Saturday, July 31, 2010

THỬ BÀN VỀ SỨC MẠNH CỦA TRUNG QUỐC (3 & 4)

Thử bàn về sức mạnh của Trung Quốc - Phần 3

Thứ hai, 19/07/2010, 22:22(GMT+7)

http://vitinfo.com.vn/MMuctin/Quocte/LA79302/default.html

.

VIT - Trong thời đại hạt nhân ngày nay chẳng nước lớn nào dại dột đánh nhau, bởi lẽ như thế là tự sát, là cùng chết. Trong chiến tranh lạnh, Mỹ và Liên Xô do ý thức hệ trái nghịch mà đối đầu cực kỳ quyết liệt, nhưng hai bên đều tránh xung đột quân sự, dù họ có thừa bom hạt nhân đến mức phải huỷ bớt đi. Vì vậy muốn thắng đối thủ thì phải ra sức tận dụng phát huy sức mạnh mềm, một loại sức mạnh vô hình có tác dụng lôi kéo người ta theo mình mà chẳng cần doạ dẫm hoặc lừa bịp dụ dỗ (một kiểu “diễn biến hoà bình”).


Phần III: Sức mạnh mềm của Trung Quốc ra sao?

Trong thời đại tin học, sức mạnh mềm ngày một trở nên quan trọng, có tác dụng hơn cả sức mạnh cứng, lực công phá ngầm rất lớn. Song tạo ra sức mạnh mềm là việc rất khó và lâu dài, liên quan đến văn hoá truyền thống, giá trị quan và tập quán dân tộc hình thành trong quá khứ. Với một nước có lịch sử lâu đời, các truyền thống ấy không dễ thay đổi.

Có thể coi sức mạnh mềm là lực hút của nền văn minh. Cho tới nay văn minh phương Đông vẫn học văn minh phương Tây là chính, quá trình này chưa đảo ngược được cho dù người ta luôn nói thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của TQ. Người Nhật khôn ngoan từ cuối thế kỷ XIX nêu khẩu hiệu “Thoát Á nhập Âu” là vì biết rõ văn minh phương Tây ưu việt hơn hẳn.

Khái niệm sức mạnh mềm được người TQ coi trọng hơn các nước khác, có lẽ vì họ thấy đây là lĩnh vực còn yếu. Xét theo 4 tiêu chuẩn cường quốc do Brzezinski nêu ra trong cuốn Bàn Cờ Lớn (The Grand Chessboard, 1999) - là mạnh về kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, và văn hoá có sức hấp dẫn, - thì họ chưa đạt tiêu chuẩn sau cùng. Sức cạnh tranh văn hoá TQ hoàn toàn không tương xứng với vị thế nước lớn kinh tế hiện nay và nền văn minh Trung Hoa 5000 năm lịch sử.

Nhân Dân Nhật báo TQ mở riêng một trang mạng Diễn đàn sức mạnh mềm (rsl.people.com.cn); chưa kể nhiều trang mạng cùng chủ đề do các đơn vị khác chủ trì. Cuộc thảo luận về sức mạnh mềm đang thu hút nhiều người Trung Quốc tham gia.

Phó Giám đốc Học viện Văn hoá Trung Hoa Diệp Tiểu Văn viết: Bà Thatcher từng nói “TQ sẽ không trở thành nước lớn trên thế giới, họ xuất khẩu ti-vi chứ chưa xuất khẩu quan niệm, tư tưởng” [trích từ sách Statecraft: Strategies for a Changing World], câu này muốn nhắc nhở nếu TQ không xuất khẩu văn hoá thì cho dù đã đứng đầu toàn cầu về xuất khẩu hàng hoá nhưng TQ sẽ vẫn là anh nông dân bán hàng rong, chưa phải đại gia thương mại. Văn hoá TQ cần đi ra thế giới với bộ mặt hợp tác, nhấn mạnh hoà hợp, hoà bình, lấy con người làm gốc, nhân ái, khoan dung.

Đúng vậy, xuất khẩu văn hoá của TQ hiện nay chỉ bằng 1/14 nhập khẩu, đấy là chưa kể loại sản phẩm văn hoá phi vật thể (như nghe đài, xem truyền hình).

Các học giả TQ than phiền: sau Tôn Trung Sơn, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, nước này chưa xuất hiện nhà tư tưởng hoặc triết gia nào có ảnh hưởng toàn cầu.

Trong khi đó các học thuyết mới mọc lên như nấm ở phương Tây, như thuyết Xung đột văn minh (của Huntington), thuyết Sức mạnh mềm (của Nye) v.v... Sinh viên, học giả kinh tế khắp thế giới đều đọc sách của Adam Smith, Paul Samuelson v.v... Ngược lại, TQ chưa xây dựng được học thuyết kinh tế riêng của mình tuy kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Tương tự, có nhiều sinh viên nhất nhưng chưa trường ĐH nào của TQ có tên trong 50 trường ĐH hàng đầu thế giới. Không nước nào có lượng tác phẩm văn học xuất bản hàng năm nhiều như TQ song chưa tác phẩm văn học TQ nào có ảnh hưởng toàn cầu (trong khi một số nhà văn TQ chạy ra nước ngoài lại được tặng nhiều giải lớn). Chưa một công dân quốc tịch Trung Quốc nào được tặng giải Nobel khoa học hoặc văn học, tuy đã có một số người Hoa quốc tịch nước ngoài nhận vinh dự này; giải Fields (còn gọi là giải Nobel toán học) cũng vậy.

TQ cho rằng tiếng nói quốc tế của họ còn yếu, vì hiện nay 95% thị trường truyền thông thế giới là do 10 tập đoàn truyền thông phương Tây kiểm soát.

TQ chiếm 25 trong số 500 công ty có vốn lớn nhất toàn cầu năm 2009 [danh sách do Financial Times lập; Mỹ có 181, Nhật 49, Anh 32], đặc biệt chiếm vị trí thứ 2 và thứ 4. Thế nhưng rất ít thương hiệu TQ nổi tiếng thế giới. Hàng TQ nhiều, rẻ, đẹp nhưng hàng xấu, hàng nhái, thậm chí hàng có hại sức khoẻ (như sữa bẩn melamin) đã làm mất thanh danh của họ. Ở châu Á hàng TQ khó cạnh tranh với hàng Nhật hoặc Hàn Quốc; sang Âu, Mỹ lại càng hay bị chê.

Bởi vậy tạo dựng uy tín cho các doanh nghiệp và thương hiệu cho hàng hoá TQ trở thành việc bức thiết và lâu dài. Đây là một lĩnh vực sức mạnh mềm rất quan trọng, vì hàng hoá đi vào từng gia đình nước ngoài, hàng tốt mang lại thiện cảm với quốc gia sản xuất thứ hàng đó.

Trong cuốn Giấc mơ Trung Quốc, tác giả Lưu Minh Phúc viện dẫn quan điểm “quốc gia hạng nhất xuất khẩu giá trị quan và văn hoá; quốc gia hạng hai xuất khẩu công nghệ và quy tắc; quốc gia hạng ba xuất khẩu sản phẩm và sức lao động” và nhận xét TQ hiện nay chỉ mới xuất khẩu hàng hoá và sức lao động là chính. Tác giả hy vọng sẽ có ngày sản phẩm văn hoá TQ sẽ đi vào từng gia đình trên khắp thế giới như đồ chơi trẻ em và quần áo “made in China” hiện nay.

Một nhà báo TQ viết: thực hiện giấc mơ xuất khẩu văn hoá và giá trị còn khó hơn giấc mơ kinh tế. Trước hết, chữ Hán khó học là một cản trở truyền bá văn hoá, vì thế nền văn minh Trung Hoa có bề dầy 5000 năm cho tới nay vẫn bị coi là thần bí. Thời Ngũ tứ (1919) giới trẻ TQ phê phán chữ Hán khó học, chỉ một số tinh anh mới nắm được, hình thành nạn chuyên chế học thuật. Có lẽ vì thế mà thế giới chưa biết gì mấy về các thành tựu khoa học nhân văn xã hội, khoa học tự nhiên và kỹ thuật cũng như văn học nghệ thuật TQ. Trong Diễn đàn Toàn cầu tương lai Trung Quốc (Future China Global Forum) họp ngày 12-13/7/2010 tại Singapore, ông Lý Quang Diệu nói người Trung Quốc nên nắm được tiếng Anh (toàn dân Singapore, trong đó 80% là người Hoa đều nắm được tiếng Anh).

Văn học TQ chưa có ảnh hưởng quốc tế lớn. Ba tác phẩm cổ điển Tam Quốc Chí, Tây Du Ký, Thuỷ Hử tuy được người TQ rất thích, nhưng ra thế giới lại không thế, thậm chí bị chê là thiếu tính nhân văn. Văn học cận đại và hiện đại cũng không hợp “khẩu vị” phương Tây. Nhà Hán học người Đức Kubin còn gọi văn học hiện đại TQ là “rác rưởi”. Nghệ thuật điện ảnh dù đầu tư nhiều nhưng chưa mấy phim đoạt giải quốc tế lớn.

Trong thập niên vừa qua TQ đặc biệt chú trọng tăng cường sức mạnh mềm. Theo đề nghị của các giới chính trị, kinh tế, học thuật, họ đã thành lập Uỷ ban Xây dựng Sức mạnh mềm Trung Quốc (tiếng Anh viết tắt CCOSP). Uỷ ban này nhận được sự ủng hộ của Viện Khoa học quyết sách TQ, Hội Doanh nghiệp TQ, Uỷ ban Chuyên nghiệp chiến lược doanh nghiệp và Hội nghiên cứu chiến lược học phát triển TQ.

Ban lãnh đạo CCOSP có Chủ tịch là ông Quản Ích Hân, cùng 3 phó Chủ tịch và 1 tổng thư ký. Bên cạnh còn có một Ban Chuyên gia gồm 16 viện sĩ, giáo sư, doanh nhân ...CCOSP có nhiệm vụ chung là nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, chủ yếu là sức mạnh mềm của các doanh nghiệp và thành phố; nhiệm vụ cụ thể là triển khai việc nghiên cứu, tư vấn, đào tạo, thúc đẩy sức mạnh mềm, tăng cường xây dựng và nâng cao sức mạnh mềm của các đơn vị này.

Sức mạnh mềm của doanh nghiệp và đô thị được đặc biệt chú trọng. Các đô thị đều lập quy hoạch thực hiện 10 chỉ tiêu sức mạnh mềm: sức kêu gọi văn hoá, sức ngưng tụ, sức truyền bá hình ảnh, năng lực làm việc của chính quyền, khả năng hoà hợp xã hội, phát triển giáo dục, sức thu hút thương mại, sức sáng tạo KHKT, sức ảnh hưởng khu vực, năng lực thúc đẩy tin học. Các đô thị lớn phấn đấu trở thành đô thị trung tâm quốc gia. Năm 2009 TQ được xếp thứ 74 trong bảng xếp hạng quốc gia xét theo chỉ số hoà bình thế giới, cao hơn Mỹ 9 bậc.

Một loạt báo, tạp chí tiếng nước ngoài ra đời. Tăng phát thanh, truyền hình phát ra hải ngoại; như phát chương trình truyền hình 24 giờ/ngày phủ sóng 22 quốc gia A-rập với 300 triệu dân.

TQ đã tranh thủ các lễ hội để phô trương hình ảnh nước mình, thí dụ lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008, lễ Quốc khánh 60 năm ... được tổ chức cực kỳ hoành tráng, quy mô vượt xa tất cả các nước khác. Nhiều tỷ đô-la được chi vào thiết kế xây dựng các công trình kiến trúc đồ sộ cỡ nhất thế giới như nhà hát quốc gia, sân vận động, trụ sở đài truyền hình trung ương ...

Tháng 7/2009 chính phủ TQ đã ban hành Quy hoạch chấn hưng ngành văn hoá, nhằm tạo ra sức cạnh tranh văn hoá trên phạm vi toàn cầu.

Chính phủ đã mạnh tay đầu tư kinh phí thành lập hàng trăm Học viện Khổng Tử (HVKT) trên khắp 5 châu, coi đây là các cơ sở xuất khẩu văn hoá và giá trị quan của TQ. HVKT là một tổ chức công ích xã hội không kiếm lời, nhằm triển khai tại nước ngoài việc dạy Hán ngữ, đào tạo giáo viên dạy Hán ngữ, giới thiệu văn hoá Trung Hoa và trao đổi văn hoá; trong đó việc đầu tiên là cung cấp cho người học hoặc yêu thích học Hán ngữ trên khắp thế giới một kênh giảng dạy Hán ngữ chính quy nhất, bộ giáo trình Hán ngữ chuẩn, có uy tín nhất.

Chủ tịch Tổng bộ HVKT Lưu Diên Đông cho biết: kể từ HVKT đầu tiên được lập năm 2004 (tại Hàn Quốc) cho tới nay TQ đã lập được 282 học viện tại 88 nước, chưa kể 272 “Lớp Khổng Tử” (chủ yếu tại các trường trung học) với 230 nghìn học sinh. Hiện nay 50 nước đang xin lập HVKT. TQ cũng dự định lập tại Việt Nam một HVKT. Riêng ở Mỹ hiện đã có 80 HVKT.

Việc dạy Hán ngữ được mọi người hoan nghênh, vì họ có dịp được miễn phí học thứ ngôn ngữ của nền văn minh lâu đời nhất nhì thế giới với 1,5 tỷ dân. Nhưng việc trao đổi truyền bá văn hoá TQ thì không đơn giản như vậy.

Lưu Toàn Sinh Giám đốc HVKT Đại học Maryland (HVKT đầu tiên ở Mỹ) cho biết: “Một số người Mỹ không hoan nghênh HVKT, họ cho rằng đây là dịp TQ trỗi dậy thừa cơ tiến hành cuộc xâm lược văn hoá với nước Mỹ; họ lo ngại hai nền văn minh TQ-Mỹ có thể va chạm nhau. Nhưng nhận thức này là sự hiểu lầm văn hoá TQ.”

Theo ông Lưu, thực chất tinh thần hoà hợp, hoà bình mà nền văn hoá TQ theo đuổi mới là nguyên nhân tầng sâu hấp dẫn dân Mỹ học Hán ngữ. “Hoà nhập văn hoá thắng xung đột văn hoá” - ông nói, “Nhà phát minh bom khinh khí từng nói phát minh lớn nhất của thế kỷ XXI nên là thực hiện chung sống hoà hợp giữa con người với con người, mà tư tưởng Hoà vi quý, Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân (điều gì mình không muốn thì chớ đẹm lại cho người khác) của Khổng Tử từ lâu đã trả lời câu hỏi ấy. Rất nhiều tư tưởng của Khổng Tử cho tới nay vẫn có giá trị mạnh mẽ.”

Dĩ nhiên nói hay mà làm dở thì tác hại hơn là không nói. Cuộc điều tra Cái nhìn về TQ mới đây tại 14 quốc gia cho thấy thiện cảm với TQ từ mức 49% năm 2005 giảm xuống còn 34% năm 2009-2010 (theo BBC 20/4/2010). Thiện cảm của dân Đài Loan đối với Nhật cũng nhiều hơn với TQ.

Học thuyết của Khổng Tử sau gần một thế kỷ bị phê phán, vùi giập, từ thập niên 90 trở đi lại được người TQ từng bước phục hồi và cố gắng quảng bá ra thế giới như một hệ tư tưởng, hệ giá trị quan mang đặc sắc Trung Hoa. Nỗ lực ấy mang lại kết quả ra sao?

Nguồn tin của VITINFO

.

.

.

Thử bàn về sức mạnh của Trung Quốc – Phần 4

Nguyễn Hải Hoành

Thứ sáu, 30/07/2010, 13:32(GMT+7)

http://vitinfo.com.vn/MMuctin/Quocte/LA79690/default.html

VIT - Mạng lưới Học viện Khổng Tử do chính phủ Trung Quốc xây dựng trên khắp thế giới có nhiệm vụ truyền bá văn hoá Trung Hoa, một nền văn hoá lâu đời có nhiều thành tựu xuất sắc như tứ đại phát minh (giấy, nam châm, thuốc súng, kỹ thuật in), chữ Hán, thơ Đường, v.v... Người Trung Quốc quen gọi học thuật của nền văn hoá truyền thống ấy là “Quốc học”, để phân biệt với “Tây học”, tức học thuật của phương Tây.


Phần IV: Nho giáo có thể tăng được sức mạnh mềm của Trung Quốc hay không?


Phần quan trọng nhất của Quốc học là Nho giáo (hoặc Nho gia, Nho học), một hệ thống đạo đức, triết lý do Khổng Tử sáng lập nhằm xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo, Đạo gia và Pháp gia là 3 phái chính trong văn hoá tư tưởng truyền thống của Trung Quốc (sau có thêm Phật Giáo nhập từ Ấn Độ). Do được giai cấp phong kiến coi là hệ tư tưởng độc tôn suốt mấy nghìn năm nên Nho giáo có ảnh hưởng lớn nhất đối với Trung Quốc, cho dù nó chưa chắc đã tiến bộ hơn 2 phái kia.

Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Trung Quốc, của đạo Khổng. Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội trang trọng thờ tượng Khổng Tử với dòng chữ Chí Thánh Tiên Sư. Quả vậy, vị hiệu trưởng trường tư thục đầu tiên trên thế giới này mãi mãi là nhà giáo dục vĩ đại của nhân loại.

Là hệ tư tưởng của chế độ phong kiến, cho nên khi người Trung Quốc bắt đầu chống chế độ đó (phong trào Thái Bình Thiên Quốc, 1851) thì địa vị Nho giáo bắt đầu lung lay. Nhất là khi văn minh phương Tây với hai đặc điểm chính dân chủ và khoa học du nhập vào Trung Quốc, và khi chính quyền nhà Thanh thua nhục nhã trước sự xâm lăng của các đế quốc phương Tây thì giới trí thức Trung Quốc mới hiểu ra nước mình quá lạc hậu, các tư tưởng truyền thống Trung Hoa đều không thể cứu được Trung Quốc, ngược lại còn là thứ cần vứt bỏ. Từ đó Nho giáo bị chính người Trung Quốc phê phán thậm tệ.

Giữa thế kỷ XIX Nhật Bản đi đầu bỏ Nho giáo theo văn minh phương Tây và nhờ đó nhanh chóng trở nên hùng mạnh. Noi gương ấy, các nhà cải cách ở Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đề xuất chủ trương duy tân, hiện đại hoá Trung Quốc về mọi mặt. Tại Việt Nam, Phan Châu Trinh cùng các sĩ phu Đông Kinh Nghĩa Thục hăng hái đả phá “cựu học” (tức Nho học) và mọi hủ tục phong kiến, đề xướng “tân học”, dùng chữ Quốc ngữ thay chữ Hán. Phan Châu Trinh kêu gọi: “Không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam”!

Thời kỳ Ngũ Tứ (1919) các lãnh tụ phong trào Tân Văn hoá như Lỗ Tấn, Hồ Thích, Trần Độc Tú ra sức hạ bệ Nho giáo. Thánh nhân số 1 Trung Quốc là Lỗ Tấn (lời Mao Trạch Đông) nói đạo Khổng là học thuyết ăn thịt người, là công cụ áp bức bóc lột của chế độ phong kiến.

Sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời, học thuyết này hầu như không còn chỗ đứng, và bị nhổ tận gốc trong “Cách mạng văn hoá”.

Từ ngày cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc tiến những bước khổng lồ, người Trung Quốc muốn từ các giá trị văn hoá truyền thống của họ tìm ra lý lẽ giải thích sự thần kỳ ấy. Khi kinh tế Trung Quốc đã ngang ngửa với Âu Mỹ, họ cũng muốn văn hoá Trung Quốc có địa vị tương xứng để chấm dứt “thời đại bá quyền văn hoá phương Tây”. Mặt khác, đời sống công nghiệp, hiện đại hóa mang lại nhiều vấn nạn, như môi trường ô nhiễm, đạo đức suy thoái, tham nhũng, phân hóa giàu nghèo. Sau khi CNXH ở Liên Xô sụp đổ, người Trung Quốc cảm thấy có khoảng trống về tư tưởng cần được khoả lấp; tự nhiên họ thấy cần phục hồi Nho giáo, coi đó là một thứ sức mạnh mềm mang đặc sắc Trung Quốc.

Từ giữa thập niên 80, nhà nước cấp kinh phí cho một nhóm học giả nghiên cứu Nho giáo mới thời hiện đại. Tuy mới đầu bị phê phán là “chủ nghĩa bảo thủ văn hóa”, đi ngược chủ nghĩa Mác, nhưng nhóm này ngày càng cố gắng chứng minh các giá trị quan Nho giáo có thể đóng góp vào việc xây dựng xã hội mới.

Nho giáo có các giá trị quan khác với phương Tây, như:

- Giá trị đạo nghĩa cao hơn giá trị danh lợi;
- Giá trị đạo đức cao hơn giá trị của trí năng;
- Giá trị của tập thể cao hơn giá trị của cá nhân;
- Giá trị của bình yên cao hơn giá trị của tự do;
- Giá trị của sự hài hòa cao hơn giá trị của cạnh tranh.

Vì thế Nho giáo có thể hữu ích cho việc hiện đại hóa và thống nhất Trung Quốc, nâng uy tín quốc tế của Trung Quốc; có thể dùng một số quan điểm Nho giáo để giải quyết các vấn nạn của thế giới hiện nay như xung đột và chiến tranh, môi trường sinh thái bị huỷ hoại, đời sống căng thẳng do lối sống công nghiệp, do đạo đức suy đồi. Thí dụ quan điểm Thiên nhân hợp nhất chủ trương không được khai thác tới mức tàn phá thiên nhiên. Nhân chính học của Mạnh Tử chủ trương người làm chính trị phải thương dân. Tư tưởng Hoà vi quý, Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân (điều gì mình không muốn thì chớ đẹm lại cho người khác) có lợi cho hoà bình thế giới. Các giá trị quan của Nho giáo và của phương Tây có thể bổ sung lẫn nhau; Nho giáo cần được giải thích một cách sáng tạo và đổi mới, nhằm hình thành giá trị quan phù hợp nhu cầu phát triển.

Năm 1999, lần đầu tiên sau nửa thế kỷ, lễ kỷ niệm 2550 năm sinh Khổng Tử được tổ chức rầm rộ và có sự tham gia của chính quyền. Phó chủ tịch Hội Nho học Trung Quốc nói thời kỳ phục hưng đạo Khổng đã xuất hiện. Tháng 3/2005, một đại biểu Quốc hội Trung Quốc đề nghị phục hồi đạo đức nhân-nghĩa-lễ-trí-tín, đưa Tứ thư ngũ kinh vào chương trình trung-tiểu học và sát hạch công chức…

Lãnh đạo Trung Quốc cũng bắt đầu dùng ngôn từ của Nho giáo: tháng 2/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phát biểu: Khổng Tử từng nói Hoà vi quý; sau đó ông chỉ thị Trung Quốc phải xây dựng xã hội hài hoà – một chủ trương dựa trên những tư tưởng cơ bản Hoà và Nhân (thương người) của Nho giáo.

“Cơn sốt Quốc học” xuất hiện khi bà Vu Đan thuyết trình nhiều buổi trên truyền hình trung ương đề tài “Thu hoạch đọc sách Luận Ngữ” (10/2006), thu hút hàng trăm triệu người xem. Các trường phổ thông rộ lên phong trào trẻ em đọc Tam Tự Kinh, Luận Ngữ. Các trường đại học mở lớp Quốc học. Nhiều kinh điển Khổng Mạnh in hàng triệu bản vẫn bán hết ngay. “Cơn sốt Quốc học” đã góp phần làm tâm lý quần chúng được an ủi, ổn định. Sử gia Dư Anh Thời nhận xét: Nhà nước muốn Luận Ngữ gây được tác dụng xã hội hài hoà, ai nghèo thì hãy cứ yên vui với cảnh nghèo, qua đó giảm số người bất mãn với tình trạng phân hoá giàu nghèo.

Trong “cơn sốt” ấy đã xuất hiện nhiều yếu tố phục cổ, mê tín, trọng hình thức nhẹ nội dung, lãng phí tiền của xây miếu đắp tượng, lễ bái, xu hướng đề cao vua chúa phong kiến, hạ thấp vai trò phong trào Ngũ Tứ và chủ nghĩa Mác. Thậm chí có học giả quá khích (như Tưởng Khánh) đề nghị đưa Nho giáo lên thành hệ tư tưởng của quốc gia!

Giáo sư Vương Kiệt ở trường Đảng Trung ương Trung Quốc cảnh báo: trong cơn sốt này cần cảnh giác với khuynh hướng dân tộc hẹp hòi và bảo thủ về văn hoá, với những kẻ mượn danh phục hồi Nho giáo để thay thế chủ nghĩa Mác và tẩy chay văn hoá phương Tây.

Thực ra đó chỉ là cơn sốt giả, thể hiện sự nông cạn văn hoá tới mức bệnh hoạn. Quả thế, sau 2 năm nó đã nhanh chóng hạ nhiệt, để lại một thứ tình cảm dân tộc chủ nghĩa hư vô, những bộ phim ca ngợi vua chúa phong kiến. Một số kẻ đầu cơ văn hoá vớ bẫm về danh và lợi qua cơn sốt ảo này.

Trong thực tế, phái Mác xít và phái tự do trong giới trí thức Trung Quốc hiện còn rất đông, rất mạnh; họ ra sức chống lại việc phục hồi đạo Khổng; cho rằng ngày nay có bao nhiêu học thuyết tân tiến, cớ sao phải quay về tư tưởng cổ hủ ấy.

Triết gia nổi tiếng Lý Trạch Hậu phản đối một Khổng Tử phục cổ, dân tộc chủ nghĩa. Ông nói Luận Ngữ không thể cung cấp các quan niệm dân chủ và khoa học là thứ Trung Quốc vẫn đang cần; không phải mọi lời Khổng Tử đều là chân lý.

Sách "Chó không nhà": Tôi đọc Luận Ngữ của Lý Linh (được chọn là sách hay nhất năm 2007), góp phần quan trọng hạ nhiệt “Cơn sốt Quốc học”. Tác giả nói thẳng: Khổng Tử không phải là thánh nhân; Khổng Tử bao đời được ca tụng ấy chỉ là Khổng Tử “nhân tạo”, không phải Khổng Tử đích thực. Đức Khổng chỉ là một người xuất thân hèn mọn nhưng lại dùng tầng lớp quý tộc cổ (chân quân tử) làm tiêu chuẩn lập thân, một người chân thành nhiệt tình, mơ ước phục hồi sự cai trị yên bình thiên hạ của Chu Công; cụ đi khắp nơi du thuyết lo nghĩ thay cho bọn thống trị, rát cổ bỏng họng khuyên chúng cải tà quy chính mà chúng chẳng thèm nghe; một người gian nan phiêu bạt như con chó không nhà, như chính cụ thừa nhận. Lý Linh trích dẫn lời triết gia Hegel: “Trung Quốc không có triết học.” để phủ nhận ý kiến coi Khổng học là triết học.

Một học giả nổi tiếng tích cực phục hồi Nho giáo là Dư Anh Thời (Giải thưởng thành tựu suốt đời về khoa học nhân văn và xã hội John W. Kruge, được gọi là giải Nobel khoa học nhân văn và xã hội) cho rằng dân Trung Quốc vì thiếu tín ngưỡng nên phải tìm đến Luận Ngữ; trào lưu Nho học Trung Quốc hiện nay có xu hướng chống các giá trị của phương Tây; người Trung Quốc đang hiểu sai Luận Ngữ, sách này chủ yếu nói về tu thân và trật xã hội, không nói về chính trị, không thể coi Khổng Tử là hình mẫu của mọi thứ.

Giáo sư ĐH Thanh Hoa Daniel Bell (người Mỹ, hăng hái chủ trưng phục hồi Nho giáo) nói: cách giải thích Nho giáo của giới học giả thường xa rời đường lối của chính quyền, như Nho giáo phản đối sử dụng vũ lực mà Trung Quốc chủ trương dù buộc phải dùng vũ lực thì cũng phải thống nhất Đài Loan; hoặc Khổng Tử chủ trương chọn người qua thi tài kiểu khoa cử, còn Trung Quốc thì chọn theo tiêu chuẩn trung thành với đảng.

Học giả nổi tiếng Đỗ Duy Minh nói: xử lý văn hoá truyền thống là việc rất khó, Trung Quốc hiện chưa đủ điều kiện để thực hiện một “Trung Quốc văn hoá”; chớ nên đi con đường dân tộc hẹp hòi, chớ nên kiêu ngạo hoặc tự ti: việc phục hưng dân tộc Trung Hoa phải chăng chỉ nhằm để không bị kẻ khác bắt nạt hay là nhằm nắm lấy quyền bắt nạt kẻ khác?

Một nhân vật dân tộc chủ nghĩa là nhà bình luận văn hoá Tư Mã Bình Bang cũng nói: lịch sử cho thấy việc kiểm thảo các thói xấu thâm căn cố đế trong truyền thống dân tộc Trung Quốc vẫn là quá trình quan trọng để cải tạo người Trung Quốc thành con người hiện đại; nếu dựa vào trí tuệ gây dựng cơ đồ của tổ tiên ta thì kết cục sẽ nhất định sẽ rất bi thảm.

Trung tướng Không quân Lưu Á Châu (hiện là chính uỷ ĐH Quốc phòng Trung Quốc) nói Nho giáo có tội với nhân dân Trung Quốc, Khổng Tử không phải là nhà tư tưởng, cái gọi là triết lý của đạo Khổng chỉ xoay quanh quyền lực; nếu Nho học là triết học thì đó là triết học của xã hội quan trường hoá, nếu là tôn giáo thì đó là tôn giáo rởm.

Trong tiểu thuyết nổi tiếng Tôtem Sói, tác giả Khương Nhung nhiều lần căm phẫn lên án văn hoá Nho giáo đã tạo nên tính cách ươn hèn của người Trung Quốc, biến họ thành bầy cừu trước sự tấn công dũng mãnh của bầy sói đế quốc phương Tây.

Ai cũng biết bản chất Nho giáo có không ít quan điểm lạc hậu, thậm chí phản động; sau cả trăm năm bị đả phá, thực tế nó đã chết trong lòng người Trung Quốc. Một thứ quá xưa cũ như thế sẽ rất khó phục hồi, có nói tốt đến mấy rốt cuộc cũng chẳng làm nó sống lại như xưa.

Thế hệ người Trung Quốc hiện nay rất xa lạ với tư tưởng Khổng Mạnh, họ thích tự do dân chủ, khoa học và lối sống hiện đại hơn. Nhiều nhà kinh tế Trung Quốc tán thành quan điểm của Max Weber cho rằng văn hoá truyền thống Trung Hoa không dung hợp với hiện đại hoá.

Đỗ Duy Minh nói xu thế phát triển xã hội hiện nay là hiện đại hoá, tức kinh tế thị trường, chính trị dân chủ và coi trọng cá nhân – tính hiện đại này là thứ giá trị duy nhất có thể toàn cầu hoá, nghĩa là được đa phần thế giới chấp nhận. Nói cách khác, Nho giáo khó có thể toàn cầu hoá, vì thế khó có thể trở thành một thứ sức mạnh mềm lớn tới mức người Trung Quốc hy vọng.

Tuy vậy không thể phủ nhận một số yếu tố tích cực của Nho giáo có thể giúp Trung Quốc giải quyết các mâu thuẫn nội bộ, giúp xây dựng xã hội văn minh, hoà hợp, đạo đức, giúp vào việc bảo vệ môi sinh và tài nguyên thiên nhiên, giúp xây dựng chính quyền trong sạch và thương dân, giúp chính quyền quan tâm phúc lợi của dân, quan tâm tới các quần thể yếu thế, như người nghèo hoặc tàn tật, người văn hoá thấp... Do đó có thể hy vọng Nho giáo sau khi được giải thích lại sẽ đóng vai trò quan trọng trong đối thoại văn minh giữa Trung Quốc với thế giới toàn cầu.



Phần I: Đánh giá và xếp hạng sức mạnh quốc gia Trung Quốc
Phần II: Các bình luận về xếp hạng sức mạnh quốc gia Trung Quốc
Phần III: Sức mạnh mềm của Trung Quốc ra sao?
Phần IV: Nho giáo liệu có thể tăng được sức mạnh mềm của Trung Quốc không?

Tác giả Nguyễn Hải Hoành

"ĐI KHÔNG AI TÌM XÁC RƠI"

“Đi không ai tìm xác rơi!”

http://www.danchimviet.com/archives/15048

Di sản chiến tranh

Bài ca của Không Quân Việt Nam đã có những lời hết sức oai hùng nhưng cũng rất ai oán.

.

Ði không ai tìm xác rơi!

Ðó là những hình ảnh những hy sinh to lớn của chiến sĩ phi công. Thủ tướng Anh Quốc đã có một lần nói rằng: “Chưa bao giờ một số đông đảo nhân dân Ðảo quốc đã nhận sự hy sinh lớn lao của một số ít chiến sĩ như vậy. Ý ông nói đến những phi công Anh trong đệ nhị thế chiến đã hiên ngang chống trả với một số áp đảo không quân Ðức quốc xã trên bầu trời thủ đô Luân Ðôn.

Trong chiến tranh tại Việt Nam từ 1954 đến 1975, lịch sử cũng đã ghi lại biết bao nhiêu gương hy sinh của phi công Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi cái chết đều là một câu chuyện nhưng khi chung sự đã xong thì việc đi tìm xác rơi vẫn còn là đề tài mãi mãi về sau.

Cuộc chiến nào rồi cũng đến ngày chấm dứt, nhưng vấn đề hậu chiến là nguồn cơn của nhiều nhu cầu phải giải tỏa. Sau khi ký hiệp định đình chiến Paris 1973, vấn đề số một của Hoa Kỳ là giải cứu tù binh và tìm người mất tích. Hồ sơ đi tìm xác rơi của bộ quốc phòng Mỹ mở ra trên khắp các quốc gia Ðông Dương. Ðã có cả trường hợp đặc biệt những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa xác rơi giữa chiến trường cùng với chiến binh Hoa Kỳ được đem về an táng chung tại nghĩa trang Arlington, tại thủ đô nước Mỹ.

Tuy nhiên, riêng về việc đi tìm xác rơi của không quân Việt Nam thì chưa có hoàn cảnh để thực hiện đầy đủ. Cuộc chiến vẫn tiếp tục diễn tiến khốc liệt ngay sau khi thoả hiệp hòa bình được công bố. Tiếp theo, sau 30 tháng 4-75 ngay cả nghĩa trang quân đội Biên Hòa cũng không còn toàn vẹn. Chúng ta không còn miền Nam để tổ chức chính thức việc đi tìm xác rơi.

.

Niềm đau tháng 7

Bây giờ là tháng 7 năm 2010, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị câu chuyện đời phi công của một thanh niên trẻ Hà Nội đã sống và chết trên bầu trời miền Nam như thế nào.

Tháng 7 năm 1954 thiếu niên tên là Bùi Ðại Giang đã một mình di cư vào Nam: Anh là học sinh Hồ Ngọc Cẩn rồi đến Chu Văn An. Tám năm sau chàng thanh niên Hà Nội gia nhập không quân Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1962 du học Hoa Kỳ. Về nước 1964. Tháng 7 năm 1966, trung úy phi công Bùi Ðại Giang thuộc phi đoàn khu trục 514 từ căn cứ Biên Hòa bay trên không phận Bình Dương. Ðó là phi vụ thường trực ngày chủ nhật. Máy bay rớt ở vùng trời Hố Bò. Thân tàu cắm sâu xuống vùng ruộng nước. Mũi tàu trong lòng đất quê hương. Chỉ còn thấy đuôi con tàu trên mặt đất. Lúc đó Hố Bò là vùng đất tranh tối tranh sáng. Không quân không tìm được xác phi công. Cả bên cộng sản suốt bao năm cũng không biết người phi công trẻ tuổi Bắc Kỳ di cư đã sống chết ra sao và di hài ngày nay nằm ở chỗ nào?

Ðó là câu chuyện “Ði không ai tìm xác rơi

Anh phi công đã ra đi vào tháng 7-1966 một ngày Chủ Nhật, lúc 12 giờ trưa. Tại sao lại 12 giờ trưa. Chúng tôi sẽ có câu trả lời. Thiếu niên di cư rời Hà Nội vì hiệp định Genève ký tháng 7-54, anh chết tháng 7-1966 và bây giờ là tháng 7-2010. Tôi xin kể lại câu chuyện đi tìm xác Bùi Ðại Giang hầu quý vị.

.

Bút ký Phạm Kha

Câu chuyện bắt đầu như thế nào! Mùa xuân 1964 khi anh Giang thành hôn với cô gái Saigon, thì cô em vợ Phạm Kha chỉ là bé gái nấp bên song cửa nhìn quang cảnh chị đi lấy chồng.

Sau đó cả gia đình ở chung một nhà, anh phi công trẻ Bắc Kỳ, cô đơn coi như ở rể. Bùi Ðại Giang trở thành người anh trai của các em.

Khi Giang mất tích, cô vợ trẻ mất tinh thần ôm đứa con dại. Hình ảnh của người phi công ra đi không trở lại ghi sâu vào ký ức của cô bé Phạm Kha. Hơn 20 năm sau, cho đến đầu thập niên 90, cô Phạm Kha và gia đình đã định cư yên ổn tại Orange Couty, nhưng vẫn còn nhớ đến phi vụ cuối cùng của người anh rể Bắc Kỳ. Cô nghĩ đến việc đi tìm xác anh, nhưng chỉ bắt đầu từ những tin tức mơ hồ vào năm 2003.

Hoàn toàn cô đơn, không còn chính phủ, không có không quân, không có hội đoàn, cô bắt đầu suy nghĩ một mình. Với hoàn cảnh gia đình lợi tức rất trung bình, người phụ nữ tỵ nạn tự xoay sở để làm công tác gần như không ai có thể nghĩ đến chứ không nói gì đến chuyện hy vọng kết quả thành công. Chúng tôi biết được đầu đuôi câu chuyện và đã khích lệ tác giả viết thành một thiên bút ký. Tựa của tài liệu này sẽ cũng là câu hát nổi danh. “ ÐI KHÔNG AI TÌM XÁC RƠI”

.

Giới thiệu tác phẩm

Cuốn sách gồm có 20 phân đoạn hết sức hấp dẫn và sống động. Câu chuyện kể từ đầu lúc chị em tìm hiểu về phi vụ cất cánh từ Biên Hòa vào năm 1966. Cho đến khi trải qua bao nhiêu gian nan trở ngại tìm được xác anh hùng để cải táng với sự tham dự của dân làng và các cán bộ cựu thù. Xin hãy đọc qua các tựa đề của mỗi đoạn để thấy những diễn tiến ra sao:

.

Bùi Đai Giang

http://www.danchimviet.com/wp-content/uploads/2010/07/BuiDaiGiang.jpg

.

Nghĩa tử nghĩa tận. Ðịnh mệnh đưa đường. Ðường lên Bến Súc. Một nhà nhiều ý. Ngổn ngang tâm sự. Lại lên đường. Saigon, năm Dậu. Giao thiêp với chính quyền. Ðụng độ công an. Vẫn còn gian nan. Tiến thoái lưỡng nan. Vẫn chưa sáng sủa. Nản chí anh hùng. Cầu khẩn tứ phương. Tin vui giữa tuyệt vọng. Lắm thầy nhiều ma. Chiếc đồng hồ của người phi công. Lễ an táng sau 40 năm. Cha con hội ngộ.

Như vậy cô bé Phạm Kha nhận người anh rể vào gia đình năm 1964 cho đến khi tìm được xác anh năm 2005 là 41 năm. Anh phi công Bùi Ðại Giang bay phi vụ 1966 ghi là mất tích, để lại vợ và một con trai. Sự thật anh không hề mất tích. Mũi phi cơ đâm xuống lòng đất Hố Bò thật sâu. Phần đuôi máy bay còn lại đã bị dân làng và bộ đội săn nhặt tiêu tan. Phần đầu máy bay đâm xuống quá xâu nên chẳng còn dấu vết. Việc đào bới được cũng chỉ là may mắn. Ai mà biết rằng sau khi đào sâu dưới lòng đất, toàn bộ mũi tàu bay và cả buồng lái trong đó có anh phi công vẫn còn ngồi chờ hơn 40 năm. Một phần quân phục, giây ba chạc, dù thoát hiểm, phao cấp cứu, dao bay vẫn còn ôm ấp di hài Bùi Ðại Giang bây giờ chỉ còn bộ xương. Phi cơ đâm thẳng xuống lòng đất. Phi công chết ngay tức khắc. Ðồng hồ bay còn gần nguyên vẹn những cây kim chỉ đúng 12 giờ trưa.

Toàn bộ di vật được cô Phạm Kha trao tặng cho viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose. Tháng 7 năm nay 2010 chúng tôi thu xếp di vật dành riêng cho cho câu chuyện này trong một tủ kính ở khu Không quân Việt Nam Cộng Hòa. Trong đoạn cuối của câu chuyện, tác giả Phạm Kha có ghi lại vào năm 2006 đã đưa con trai của người phi công về làm giỗ cho cha tại nơi anh được cải táng.

Quý vị có biết rằng, di hài vị tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh tự vẫn tại Lai Khê, đã được gia đình đưa về an táng ở Sơn Tây. Nơi làng cũ của ông, hiện nay có thờ bài vị của Lê Nguyên Vỹ, được gọi tướng công tư lệnh sư đoàn Lai Khê của quân đội Saigon.

Cũng như vậy, đám tang cải táng di hài phi công Bùi Ðại Giang đã được dân làng tại Hố Bò rất tôn kính và vì nể. Từ chính quyền xã ấp đến dân thường đều quan tâm câu chuyện cô gái Việt kiều về tìm xác anh rể. Mỗi năm, vào tháng 7, gia đình từ Cali về Hố Bò làm giỗ, mọi người đều đến thắp nhang. Hình anh phi công trẻ đẹp như thiên thần in trên mộ bia và đặt trên bàn thờ làm mọi người xững sờ xúc động.

Năm nay, tháng 7 trở về, trên ngôi mộ của anh phi công phi đoàn 514 tại Hố Bò có người dân làng xa lạ thắp hương tưởng niệm. Tại viện bảo tàng Việt Nam San Jose cũng sẽ có một nén hương cho anh Bắc Kỳ Bùi Ðại Giang. Nén hương tưởng niệm cho tháng 7-54 Genève cắt đôi đất nước. Nén hương tưởng niệm cho Paris 73 xây dựng hòa bình giả tạo. Rồi đến nén hương cho di tản 75, đất nước thống nhất đã 35 năm mà đau thương sao vẫn chưa thật sự hàn gắn.

Ngoài Bùi Ðại Giang, thanh niên Hà Nội chết trên không phận Bình Dương, nằm yên nghỉ tại Hố Bò. Ngoài Lê Nguyên Vỹ, chết tại Bến Cát nằm yên nghỉ tại Sơn Tây, còn bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa khác.

Có ai còn quan tâm là xác các anh đang ở nơi nào…

.

Tập bút ký : “Ði không ai tìm xác rơi” sẽ được IRCC/Dân Sinh xuất bản và sẽ thông báo để quý vị đón mua.

© Giao Chỉ

Xin liên lạc : IRCC 1445 Koll Circle, #110

San Jose, CA 95112USA

Phone : (408) 392-9923.

Email : giaochisanjose@sbcglobal.net

.

.

.

TÌM THẤY HÀI CỐT 8 PHI CÔNG của PHI ĐOÀN TỈNH LONG 821 Ở SÀI GÒN

Tìm thấy hài cốt 8 phi công Phi Đoàn Tinh Long 821 ở Sài Gòn

Hà Giang/Người Việt

Thursday, July 29, 2010

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=116695&z=3

Phi vụ cuối cùng, 29 tháng 4, 1975

Tin tám bộ hài cốt, được cho là của tám vị anh hùng tử sĩ thuộc Phi Ðoàn Tinh Long 821, bị thiệt mạng trong Phi Vụ Tinh Long 07, vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, được tìm thấy và chôn cất tử tế tại nghĩa trang An Khánh, Thủ Thiêm, ngày 24 tháng 7 vừa qua, đã làm nhiều cựu nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 xúc động.

Ðó là hài cốt của những chiến sĩ đã tử nạn khi chiếc phi cơ AC-119K, danh hiệu Tinh Long 07, đã nổ tung và rơi xuống trong vòng đai hướng Bắc của phi trường, vì trúng hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 của quân đội Bắc Việt, do Liên Xô viện trợ, lúc đang bay để bảo vệ thủ đô Sài Gòn và phi trường Tân Sơn Nhất vào khoảng 7 giờ sáng ngày 29 tháng 4, năm 1975, trước sự chứng kiến đau lòng của đồng đội.

“Tình chiến hữu và lòng tri ân với các vị anh hùng tử sĩ này đã khiến chúng tôi, một nhóm cựu Không Quân trong và ngoài nước tìm hết cách để truy tìm hài cốt cũng như danh tánh của phi hành đoàn.”

.

Quang cảnh buổi an táng hài cốt 8 vị anh hùng tử sĩ Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07, tử nạn khi chiếc máy bay AC-119K, bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 của quân đội Bắc Việt, do Liên Xô viện trợ, bắn nổ tung và rơi xuống trong vòng đai hướng Bắc của phi trường Tân Sơn Nhất trong phi vụ cuối cùng của quân lực VNCH sáng ngày 29 tháng Tư, 1975. (Hình: Trung Úy Trương Nguyên Thuận cung cấp)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/116695-TinhLong07A-400.jpg

.

Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại và email, Trung Úy Trương Nguyên Thuận, một nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 thời đó, một thành viên của nhóm người “không bao giờ quên phi vụ cuối cùng của quân lực VNCH” chia sẻ.

Trung Úy Trương Nguyên Thuận cho biết sau 3 năm trời kiếm tìm ròng rã, và biết bao nhiêu nỗ lực, ông và đồng đội mới tìm được địa điểm, rồi phải nhờ đến sự giúp đỡ của những nhà ngoại cảm, mới bốc được 8 hài cốt mà họ quyết đoán chính là tám người trong phi vụ Tinh Long 07 đã tử nạn cách đây 35 năm.

Tìm ra những hài cốt đã vùi sâu trong lòng đất cách đây hơn 35 năm đã khó, mà tìm ra danh tánh của toàn thể phi hành đoàn này còn khó hơn. Cho đến nay, hài cốt của 3 trong 8 vị anh hùng tử sĩ này vẫn chưa được xác nhận.

Ðó là lý do tại sao Trung Úy Trương Nguyên Thuận, một nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 thời đó, cùng một số bạn bè, đang nhờ sự hỗ trợ của giới truyền thông để truy tìm cho ra tên tuổi và gia đình của những nhân viên phi hành trong phi vụ lịch sử này.

Sự kiện phi cơ AC-119K bị bắn nổ tung trên không trung và rơi xuống đất, làm thiệt mạng nguyên cả phi hành đoàn (trừ một người nhẩy dù ra được), đã được rất nhiều người chứng kiến.

Cựu Trung Tá Không Quân Nguyễn Văn Ức kể:

“Lúc chiếc phi cơ AC-119K nổ tung trên không gian thì chúng tôi đang ở bên ngoài Bộ Tư Lệnh Không Quân đều nhìn thấy.”

“Chúng tôi đứng đó đau đớn khóc cho số phận nghiệt ngã của đồng đội.”

.
Quang cảnh buổi an táng hài cốt 8 vị anh hùng tử sĩ Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07 tại nghĩa trang An Khánh, Thủ Thiêm, ngày 24 tháng 7 vừa qua. 8 hài cốt nhưng chỉ có 6 hũ cốt vì một số xương trộn lẫn với nhau không phân ra được. (Hình: Trung Úy Trương Nguyên Thuận cung cấp)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/116695-TinhLong07B-400.jpg

.

Ký giả Lê Thụy của nhật báo Người Việt nhớ lại là lúc đó ông đang thơ thẩn ngoài cửa Việt Tấn Xã ở đường Hồng Thập Tự, vì “không còn tâm trí nào để làm việc.”

“Tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ hai đuôi bay thấp trước mặt, rồi một xẹt lửa màu đỏ từ hướng Tây Ninh bắn lên, rồi thì chiếc phi cơ nổ tung lên.

Rồi thấp thóang thấy có một chiếc dù.”

“Tôi nhớ rõ dân chúng la lên, ‘thôi chết chúng đã vô tới đây rồi!’”

.

Nhưng tại sao là một phi vụ hẳn hòi mà danh tánh của phi hành đoàn lại không có?

Câu trả lời, theo Trung Úy Trương Nguyên Thuận, nằm trong bối cảnh lịch sử của đất nước lúc đó.

Qua những lần tiếp xúc, câu chuyện được ông tóm lược như sau:

Càng gần những ngày cuối tháng 4 năm 1975, phi trường Tân Sơn Nhất càng hoảng hốt, nhốn nháo với những chuyến bay do chính phủ Hoa Kỳ hối hả tìm cách di tản một số người dân Việt Nam và những nhân viên của họ.

Sáng 28 tháng 4, khi SÐ3KQ Biên Hòa được lệnh di tản về Tân Sơn Nhất, thì tình hình càng trở nên hỗn loạn. Thế nhưng đa số các nhân viên trong phi Ðoàn Tinh Long 821, thuộc SÐ3KQ vẫn cố gắng duy trì hoạt động bình thường cho đến giây phút cuối của cuộc chiến.

AC-119K được Trung Úy Trương Nguyên Thuận mô tả là “một loại phi cơ vận tải chiến đấu tối tân nhất thời bấy giờ”, với “một hỏa lực hùng hậu gồm: 4 cây miniguns MXU-470/A 7.62 ly với 21,500 dây đạn; 2 cây súng M61-A1 20 ly với 3,000 dây đạn.” Ngoài ra còn có “24 trái sáng loại MK 24 và ống phóng LAU-74/A. Tất cả hệ thống được điện toán hóa và do phi công chính điều động.”

.

AC-119K được Trung Úy Trương Nguyên Thuận mô tả là “một loại phi cơ vận tải chiến đấu tối tân nhất thời bấy giờ”

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/116695-AC-119G.jpg

.

Cũng theo cựu Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì Phi Ðoàn Tinh Long 821, gồm 300 nhân viên gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, và binh sĩ; từ nhân viên phi hành đến nhân viên hành chánh, là một Phi Ðoàn “Gunship” hoạt động khắp 4 vùng Chiến Thuật, từ Cà Mau đến Vĩ Tuyến 17. Phi đoàn chỉ đánh trận vào ban đêm, từ trời sập tối đến lúc mặt trời ló dạng. Mỗi đêm, tại đại bản doanh phi đoàn, có 6 phi vụ chính và 2 hoặc 3 phi vụ túc trực hành quân, tùy theo tình hình và nhu cầu chiến trường. Các phi hành đoàn túc trực có thể bị điều động bất cứ lúc nào.

.

Lệ thường tất cả nhân viên có tên trong phi vụ lệnh hàng đêm phải có mặt tại phi đoàn trễ nhất là 5 giờ chiều trong tình trạng sức khỏe hoàn hảo và phải ngủ tại phòng hành quân suốt đêm. Tinh Long có 6 phi hành đoàn chính được đánh số từ Tinh Long 01 đến Tinh Long 06, và 3 phi hành đoàn túc trực là Tinh Long 07 đến Tinh Long 09.

.

Vào đêm 28 rạng ngày 29 tháng 4 năm 1975; Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07, được điều động vào sáng sớm, khi mặt trời đã ló dạng, vào lúc đó Cộng quân đã tràn ngập chung quanh vòng đai phi trường.

Mặc dù đã bay phi vụ đầu tiên trong đêm nhưng Trung Úy Trang Văn Thành cùng Trung Úy Tào Thuận gom một số đoàn viên còn ngủ tại phòng túc trực hành quân cất cánh để bảo vệ phi trường và thủ đô Saigon ở giờ phút hấp hối.

Vì tình trạng hỗn tạp trong buổi sáng hôm đó nên không ai biết chắc ai đã có mặt trên phi vụ định mệnh này ngoài hai pilot và người cơ khí phi hành Phan Quốc Tuấn. Người sĩ quan IR có tên trong phi vụ lệnh hiện ở Orange County vì đã ra về lúc trời hừng sáng, trước khi bị điều động.

.

Khi cánh trái phi cơ bị bắn gẫy, khoảng hơn 7 giờ sáng, phi cơ bị rơi xoắn trôn ốc, ở cao độ 2000 bộ, dù có muốn nhảy dù cũng không có cơ hội; vì thế, toàn thể phi hành đoàn đã tử nạn trừ một nhân viên trái sáng - Trung Sĩ Nguyễn Văn Chín - đã kịp nhảy dù sống sót nhưng đã bị trọng thương vì dù không bung kịp. Nguyễn Văn Chín đã đến báo hung tin cho gia đình Trang Văn Thành tuần lễ sau đó rồi biệt tích cho đến ngày nay vẫn không ai biết tin tức, mặc dù chúng tôi đã truy tìm mấy chục năm qua bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng không có kết quả.

.

Như vậy cho đến giờ phút này thì danh tánh đã được xác định của phi hành đoàn Tinh Long 07 gồm có:

1. Trưởng phi công: Trung Úy Trang Văn Thành.

2- Phó phi công: Trung Úy Tào Thuận.

3. Cơ khí phi hành: Phan Quốc Tuấn.

4. Ðiều hành viên: Thiếu Úy Phạm Tấn Ðức.

5. Quan sát ban đêm: Thiếu Úy Trương Ngọc Anh.

Theo Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì danh tánh của những người còn lại, được người ngoại cảm liệt kê dưới đây, cần được thân nhân của đại gia đình Phi Ðoàn Tinh Long 821 xác định.

KQ Nguyễn Văn Chánh

KQ Nguyễn Tiến Cường

KQ Phan Văn Quốc

KQ Phan Văn Duy

KQ Trần Tiến Mạnh

.

Em của Trung Úy Phạm Tấn Ðức là bà Nguyệt Ðiểu là người duy nhất có mặt trong buổi bốc hài cốt. Gia đình của Trung Úy Trang Văn Thành và Trung Úy Tào Thuận, cũng như Thiếu Úy Trương Ngọc Anh đã được báo tin.

Buổi bốc hài cốt đầy thương cảm. Tám hài cốt được chứa trong 6 chiếc lọ và chôn cùng một nấm mồ. Lý do là vì “có hai chiếc lọ mỗi chiếc chứa hài cốt của hai người, vì xương cốt của họ lẫn lộn không thể phân biệt được.”

Theo kết luận của Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì “còn danh tánh của 3 vị anh hùng tử sĩ khác vẫn chưa được xác định.”

Ông tâm sự là ở đâu đó, thân nhân của 3 vị anh hùng tử sĩ này, mà chúng tôi biết chắc chắn là đồng đội của mình trong Phi Hành Ðoàn Tinh Long 821, cũng đang mong tìm được hài cốt của họ.

“Chúng tôi muốn phổ biến tin này rộng rãi với niềm hy vọng là thân nhân của 3 vị anh hùng tử sĩ còn lại ở đâu đó được an lòng khi biết thân nhân của mình đã được yên mồ đẹp mả.”

.

Ðộc giả cần biết thêm chi tiết có thể liên lạc với Trung Úy Trương Nguyên Thuận ở thanphongkingwood@yahoo.com hay số điện thoại 281-443-1015; hoặc liên lạc với email nguyentoaichi@gmail.com.

.

.

.

Nhờ ngoại cảm, tìm ra hài cốt phi công sau 35 năm

Việt Long, phóng viên RFA

2010-08-01

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Remains-of-vnaf-soldiers-found-after-35-years-with-the-help-of-telepaths-vlong-08012010144012.html

Thưa quý thính giả, cùng lúc với tin 2 cựu binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa hướng dẫn bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đak Nông khai quật và cải táng hài cốt 40 bộ đội miền Bắc tử trận năm 1995, báo chí Việt ngữ tại California loan tin các cựu quân nhân không quân Việt Nam Cộng Hòa ở trong và ngoài nước bốc mộ được cho 8 quân nhân không quân bị bắn rơi trên bầu trời Sài Gòn vào đêm 28 rạng 29 tháng tư năm 1975.

.

Anh Hai & em gái của cố Th. Úy Phạm Tấn Đức thành tâm khấn nguyện rất lâu. Ảnh của cựu Đại Úy Trần Văn Phúc

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Remains-of-vnaf-soldiers-found-after-35-years-with-the-help-of-telepaths-vlong-08012010144012.html/rescue-tinh-long-07-305.jpg

.

Việt-Long tường trình thêm chi tiết.

Chúng tôi liên lạc được với hai cựu quân nhân không quân Việt Nam Cộng Hòa trong số 3 người đóng vai trò chính trong cuộc tìm kiếm đồng đội, mà câu chuyện sẽ được họ trình bày hiến quý vị sau đây.

.

Không bỏ đồng đội

Cựu đại úy Trần văn Phúc cho biết bối cảnh cuộc chiến đấu của các phi công Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn trong đêm 28 tháng tư, khi ông cùng nhiều đồng đội không quân bay tác chiến trên bầu trời Sài Gòn, với nhiệm vụ oanh kích các dàn hỏa tiễn 122 ly đang pháo kích vào thành phố, trước cuộc tổng tấn công cuối cùng của quân đội miền Bắc.

“Tôi đi bay chung với thiếu tá Trương Phùng. Lúc máy bay đó bị bắn rớt thì tôi mới đáp chừng 5, 7 phút. Tôi chứng kiến nên bao nhiêu năm trời trong lòng tôi như có gút. Bay cùng mà cuối cùng anh không đáp anh bay lên trở lại mà tôi hoàn toàn không biết gì hết.

Cựu phi công Trần Văn Phúc cho biết một người khác cũng góp công trong việc tìm kiếm đồng đội, đó là cựu phi công Trương Nguyên Thuần, và ông kể lại cơ duyên đã tìm biết cựu không quân Nguyễn Chí đang ở Việt Nam, để cùng nhau cộng tác cho việc tìm kiếm các đồng đội đã hy sinh:

“Cách đây hơn ba năm tình cờ tôi vào website Cánh Thép thì biết Chí, nói chuyện rồi từ từ quen nhau. Anh em tâm sự thì Chí hứa sẽ tìm thiếu tá Trương Phùng. Từ anh Phùng mới dẫn dắt qua tìm chiếc Tinh Long 07 và một chiếc ACK 519 nữa rớt ở Tân Tạo.”

Ông Nguyễn Chí, hiện cư ngụ tại Sài Gòn, là người đã bỏ nhiều công sức trong nhiều năm vào công cuộc tìm kiếm hài cốt những đồng đội của ông trên ba chiếc máy bay lâm nạn vào những giờ phút cuối của cuộc chiến.

Ông Chí kể tiếp câu chuyện vừa được cựu phi công Trần Văn Phúc thuật lại sơ lược:

.

Đại Niên Trưởng Ngân C119 và KQ Thanh1953. Ảnh của cựu Đại Úy Trần Văn Phúc.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Remains-of-vnaf-soldiers-found-after-35-years-with-the-help-of-telepaths-vlong-08012010144012.html/rescuetinhlong07250.jpg

.

“Chính anh đại úy Trần Văn Phúc bay cùng với thiếu tá Phùng. Phi vụ Phi Long 51 của thiếu tá Phùng và đại úy Phúc bay lên để bảo vệ bầu trời Sài Gòn và Tân Sơn Nhứt. Lúc 3 đến 4 giờ sáng (ngày 28) thì hai chiếc khu trục đó bay lên hoạt động với Tinh Long 06. Khi chiếc này hết nhiên liệu đáp về căn cứ thì Tinh Long 07 mới lên.”

Nhưng công việc tìm đồng đội của họ đã được bắt đầu với việc tìm hài cốt một phi công khác cũng bị bắn rơi cùng ngày hôm đó trước lúc chiếc AC-119 trúng hỏa tiễn tầm nhiệt mà ông Phúc từng nói qua:

“Hai anh em quen thì tới gần ngày 30 tháng tư 2007 ảnh mới nói chuyến bay cuối cùng trong đời phi công khu trục của ảnh, là chuyến bay với thiếu tá Phùng. Từ đó hai anh em mới quyết tìm anh Phùng, vì em cảm thấy thương cho mấy anh hy sinh cho đất nước mà chẳng may trúng giờ thứ 25 của cuộc chiến, chẳng ai biết đến…

Không biết nhân duyên nào xui khiến mà em cảm thấy như có bổn phận tìm lại những người đó đem họ về với gia đình, với đồng đội để đền đáp phần nào sự hy sinh của họ đối với đất nước, trong đó có bản thân em… Em hứa với anh Phùng bằng mọi cách mọi thời gian em sẽ tìm được…

.

Quá trình gay go

Ông Chí kể câu chuyện đã phải vất vả gay go ra sao khi cố tìm nơi chiếc phi cơ của thiếu tá Phùng bị rớt xuống và đã lấy được hài cốt viên sĩ quan này. Còn việc tìm chiếc AC-119 mang danh hiệu Tinh Long 07 đã được tiến hành bằng cách nào, vào thời gian 32 năm sau ngày gãy cánh?

“Thứ nhất là qua các trang tài liệu, hồi ký… của cả hai bên quốc cộng trên internet, nhờ đó mới tìm được những manh mối đầu tiên, từ đó mới đi qua khu vực nghe nói máy bay rơi, em hỏi thăm. Nó rơi vào ngay kho bom Tân Sơn Nhứt hồi xưa. Chuyện tìm ra nó đã khó rồi, làm sao xin được giấy phép vào khu vực trọng yếu đó để bốc những vị trong phi hành đoàn Tinh Long 07?

Nhưng chẳng lẽ sau bao nhiêu năm chiếc máy bay và hài cốt người ta vẫn nằm y như vậy để có thể tìm ra và khai quật? Hay chuyện gì đã xảy tới sau khi máy bay rơi vào khu vực kho bom của phi trường Tân Sơn Nhứt?

“Đó là khu kho bom, là căn cứ quân sự từ thời Tây tới giờ…Khi nó rơi như vậy thì cháy mấy tiếng đồng hồ, rồi sau đó là 30 tháng tư 1975 vô, chắc là những cựu quân nhân không quân chế độ cũ được nhà nước mới trưng dụng vô dọn dẹp sân bay sau những ngày hoang tàn, thì anh em mới chôn những người trong phi hành đoàn Tinh Long 07 ngay chỗ máy bay rơi luôn. Sau đó thì chiếc máy bay này có lẽ là bị bán ve chai từ đời kiếp nào rồi. Bây giờ chỗ đó chỉ là cánh đồng hoang dã, người ta đang cải tạo lại để xây sân golf…

Nhưng làm cách nào ông Chí có thể vào được nơi căn cứ quân sự trọng yếu đó?

“Việc xin giấy phép vô đó thì từ hồi nó còn là kho hỏa tiễn phòng không SAM 2, kho đạn đại bác phòng không, súng đạn đủ loại … Lúc đó mới khó chứ bây giờ cũng tương đối dễ hơn thôi.

.

Lạ lùng nhưng hiệu nghiệm

.

Tr/Úy Tào Thuận. Ảnh của cựu Đại Úy Trần Văn Phúc.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Remains-of-vnaf-soldiers-found-after-35-years-with-the-help-of-telepaths-vlong-08012010144012.html/taothuan200.jpg

.

Xong rồi nhóm bạn cũ không quân mới cùng các nhà ngoại cảm vô để tìm mộ hay sao?

“Thưa không. Làm gì có mộ! Chôn vùi chôn dập rất cạn. Nhưng con mắt những nhà ngoại cảm có cái sixième sense, giác quan thứ sáu. Họ đều sống rất đạm bạc, ăn chay trường. Nhờ điển linh hay sao đó, họ có thể nhìn thấy hài cốt dưới đất. Họ còn có thể tiếp xúc với những vong linh đó nữa.

Việc đó nó ngoài sự hiểu biết của mình. Phải nói thật với anh, em là người khoa học thực dụng, không mê tín dị đoan, nhưng đây là lần thứ hai em quan sát những nhà hoạt động tâm linh, những nhà ngoại cảm, lần thứ nhất là đối với thiếu tá Phùng, lần thứ hai là chiếc Tinh Long 07 này.

Đến bây giờ thì phải công nhận về ngoại cảm. Giữa một cánh đồng không mông quạnh như vậy mà biết chỗ nào? Nhưng đào xuống là có hài cốt liền. Đào 6 chỗ đều có hài cốt hết. Mà đó đâu phải là nghĩa địa, nếu nghĩa địa thì đào đâu cũng thấy có xương hết…

Và ông Chí mô tả về những bộ hài cốt:

“Dùng những cái bay thợ hồ cào nhẹ ra thì thấy xương. Bốc lên tay nhẹ nhẹ thì còn nguyên dạng là những đốt xương, nhất là những xương khớp, xương sọ… Trung úy Trang Văn Thành là thấy rõ nhất, nguyên cái xương sọ, mặt của ảnh còn úp trong cát. Người ta gạt nhẹ cho đất rớt xuống, người ta tính bợ ra thì đụng vô nó sụp, tan chảy ra như kem vậy. Phơi nắng phơi mưa, nhất là mưa acid nữa thì nó không thể nào còn hình dáng nguyên vẹn được.”

Ông kể lại công việc rất lạ lùng nhưng đầy hiệu nghiệm của những nhà ngoại cảm. Đó là những người được nhờ làm một việc nhân đạo mà họ không bao giờ được phép lấy tiền công hay quà biếu, kể cả thực phẩm, vật phẩm... có chăng chỉ nhận tiền xe cộ mà thôi.

Khi vào tới nơi thì tất cả đều không nhận ra khung cảnh cũ như lúc ông Chí dẫn đồng đội cũ vào xem mà chưa tìm được nơi chôn hài cốt. Lúc này công ty khai thác đã đào xới theo quy hoạch cả khu vực này, dường như để xây khách sạn và sân golf. Địa thế hoàn toàn đảo lộn. Ba nhà ngoại cảm đã mang theo sẵn tấm bản đồ vẽ bằng tay theo sự chỉ dẫn của các vong linh, dựa vào điểm rơi của máy bay, nhưng nay không còn biết đâu là chỗ xác máy bay.

.

Th/Úy Phạm Tấn Đức - Navit. PĐ 821. Ảnh của cựu Đại Úy Trần Văn Phúc.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Remains-of-vnaf-soldiers-found-after-35-years-with-the-help-of-telepaths-vlong-08012010144012.html/phamtanduc200.jpg

.

Ông Chí phải chỉ vào một chỗ ông đoán là đã có xác máy bay, mà ông cho là nhờ phù hộ, đã chỉ đúng. Nhờ thế bàn thờ được đặt đúng vào nơi phải đặt.

“Họ có bản đồ, mà căn cứ vào đúng bản đồ họ đem vô, chấm tâm điểm ngay chỗ bàn thờ, từ đó chiếu ra bao nhiêu mét, lấy thước đo rất cẩn thận, cắm cây nhang đánh dấu. (Theo cây nhang) đào một cái là trúng. Do đó họ xác định đây là mộ trung úy Trần Ngọc Thành, đây là mộ thiếu úy Thuận v.v… Nhờ vậy đào xuống là có cốt liền, còn tên là do họ nói cho biết.”

Năm tên trong số đó là do những người ngoại cảm được vong linh mách bảo, người tìm hài cốt không biết trước. Người cựu chiến binh không quân có công đầu trong việc tìm kiếm, khai quật và cải táng hài cốt đồng đội, ông Nguyễn Chí, cho biết nhiều thân nhân của những người tử trận đó đã liên lạc với ông hoặc chiến hữu của ông ở Mỹ, đến thăm hài cốt.

“Thân nhân của những người sau đây đã có liên lạc ngay từ đầu, là trung úy Trang Văn Thành, anh Thành mọi, hay Thành Cambodia là ảnh đó; thứ hai là co-pilot Tào Thuận, thì có liên lạc được, cho tới khi gần tiến hành thì có gia đình anh Phạm Tấn Đức mới liên lạc được. Lúc đó mới biết có navigator Phạm Tấn Đức trong phi vụ Tinh Long 07.

Còn ngoài ra năm vị còn lại đều không có gia đình liên lạc, cho tới giờ này cũng chưa có. Nên anh em mới nhờ các báo đài phổ biến lên, để nếu thân nhân đọc được thì người ta mới xác định được những người mà do các nhà ngoại cảm cung cấp đúng là có mặt trên phi vụ Tinh Long 07.

Các anh em đồng đội cùng thân nhân của những người đã hy sinh đều đồng ý cải táng tất cả 8 người chung một chỗ.

“Dù là tám người nhưng có hai huyệt chôn chung hai người một huyệt, cho nên mới có sáu hũ trong hình như anh thấy. Tất cả những gia đình có mặt đều đồng ý để anh em nằm chung một mộ. Bởi vì họ nói 35 năm qua rồi các anh em đã chiến đấu, đã chết cùng nhau, đã nằm ngoài trời như vậy cũng 35 năm rồi… Gia đình không nỡ lòng nào chia cách họ ra…”

Nơi cải táng là nghĩa trang An Khánh, Thủ Thiêm, chôn ngày 24 /7/2010. Thân nhân cần tìm xin gọi số điện thoại 0909 253 966, hỏi ông Sáu để được ông Sáu chỉ dẫn đến ngôi mộ gọi là của "tám ông phi công".

Danh sách đầy đủ của các chiến sĩ vừa được đồng đội và người thân tìm lại là: Trang Văn Thành, Tào Thuận, Phạm Tấn Đức, Nguyễn Văn Chánh, Nguyễn Tiến Cường, Phan Văn Quốc, Phan Văn Duy và Trần Tiến Mạnh.

.

Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All rights reserved.

THÁI THỦY: TÁC GIẢ BÀI THƠ "LÁ THƯ GỬI MẸ"

Nhà thơ Thái Thủy, người đứng sau nhiều cột mốc văn học, nghệ thuật miền Nam

Du Tử Lê

Friday, July 23, 2010

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=116308&z=16

Trong chiều dài sinh hoạt 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, nhiều nhân vật từng có mặt, tham dự vào những cột mốc đáng kể của dòng sông nước xiết này. Nhưng vì bản tính hay do những hoàn cảnh đặc biệt nào đó, họ không hề xuất hiện nơi “tiền trường.” Tôi muốn gọi những người này, là những nhân vật “behind the scene.”

.

Từ trái qua: Võ Hùng Anh, Nguyễn Ðức Quang, Bùi Vĩnh Hưng, nhà thơ Thái Thủy, Bùi Bỉnh Bân, Du Tử Lê, Anh Thành, năm 2007. (Hình: N.V.)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=116308&z=16

.
Một trong những nhân vật “behind the scene” đó, là nhà thơ Thái Thủy.

Thái Thủy và gia đình hiện cư ngụ tại miền Nam California, từ năm 1997, sau nhiều năm tháng tù đầy bởi biến cố 30 tháng 4, 1975.

Cùng với ông Vũ Quang Ninh, tổng giám đốc hệ thống Little Saigon Radio, ở Hoa Kỳ hiện nay, nhà thơ Thái Thủy bước vào ngành phát thanh rất sớm, khi ông mới 17 tuổi.

Ðó là năm 1955, tại thành phố Hải Phòng, khi cố Luật Sư Lê Quang Luật, với tư cách Ðại biểu Chính phủ Bắc phần, trong 300 ngày cuối cùng, trước khi chương trình di cư đồng bào miền Bắc vào Nam, kết thúc theo Hiệp Ðịnh Genève 1954, dùng phương tiện truyền thanh để kêu gọi, thông báo những chi tiết cần thiết cho số người muốn đi cư vào Nam; trước khi thời hạn di cư chấm dứt, theo quy định của hiệp định.

Những người có chiều dài thân thiết với nhà thơ Thái Thủy trên nửa thế kỷ cho biết, dường như họ Phạm sinh ra để làm công tác truyền thanh, như định mệnh thứ nhất của đời ông.

Bởi vì, khi di cư vào Saigon, ngay khi chưa có một chọn lựa nào, ông đã được nhà văn Chu Tử giới thiệu với Hồ Hán Sơn; để cùng ông Sơn thực hiện chương trình phát thanh cho Trung Tướng Nguyễn Thành Phương, Cao Ðài, mục đích ủng hộ chính quyền do Thủ Tướng (trước khi trở thành Tổng thống) Ngô Ðình Diệm đứng đầu.

Ðó là đài “Tiếng nói của Hội Ðồng Nhân Dân Cách Mạng,” trụ sở đặt tại đường Phùng Khắc Khoan, Saigon.

Khi ông Trần Chánh Thành được Tổng Thống Diệm bổ nhiệm vào chức vụ bộ trưởng bộ Thông Tin, thì cũng là thời gian đài Pháp Á bị đóng cửa. Văn nghệ sĩ từng cộng tác với Pháp Á được mời về cộng tác với đài Tiếng Nói Quốc Gia (còn được gọi ngắn, gọn là đài Saigon.)

Cùng thời gian, nhà thơ Thái Thủy là phụ tá của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, trưởng phòng Văn Nghệ của đài.

Cũng ở thời điểm này, hai người bạn của Thái Thủy là Vũ Quang Ninh, Thanh Nam (nhà văn) và luôn cả Thái Thủy còn là ba chàng độc thân, đã chung tiền mua một căn nhà ở đường Phan Văn Trị, khu Nancy, gần nhà cố họa sĩ Tạ Tỵ.

Chính tại căn nhà ở khu Nancy ấy, Thái thủy đã gặp gỡ và, mau chóng có một tình thân đặc biệt với cố thi sĩ Ðinh Hùng - Trước khi ông cùng Thanh Nam nhận lời Ðinh Hùng bắt tay vào việc thực hiện chương trình thi văn Tao Ðàn, với lời mở đầu quen thuộc qua giọng đọc của thi sĩ Ðinh Hùng:

“Ðây Tao Ðàn, tiếng nói của thơ văn miền tự do.”

Cũng tại ngôi nhà của ba chàng trẻ tuổi... Bắc kỳ di cư kia, Thái Thủy đã gặp nhà thơ Nguyên Sa, trước khi ông trở thành người giữ một vai trò quan trọng của Tạp chí Hiện Ðại, phát hành số đầu tiên, tháng 4 năm 1960.

Là người được định mệnh chọn, để gắn bó một đời với nghiệp phát thanh, nhà thơ Thái Thủy trải qua gần như tất cả các đời giám đốc rồi tổng giám đốc (sau khi được nâng cấp) của hệ thống vô tuyến truyền thanh Việt Nam kể từ 1955 tới tháng 4 năm 1975.

Một trong vài người có cơ hội làm việc với ông Ðoàn Văn Cầu, giám đốc đầu tiên của đài Vô Tuyến Truyền Thanh Việt Nam, cho biết, họ Ðoàn là một người không chỉ có công đặt nền tảng cho nền phát thanh Việt Nam thời còn non trẻ mà, ông còn là người rất trọng đãi những văn nghệ sĩ cộng tác với đài, không phân biệt Nam, Bắc; cũng không phân biệt cổ hay tân nhạc.

Nhân vật này kể, mỗi chương trình và mỗi nghệ sĩ tham dự vào chương trình trong vai trò biên tập hay, trình diễn, đều được trả đồng đều 200$/1 người, cho mỗi chương trình.

Với giá sinh hoạt năm 1955 thì, cát sê 200$ cho một nghệ sĩ trong mỗi chương trình là con số rất lớn.

Cũng chính nhờ họ Ðoàn, khi thấy đài Saigon đã có chương trình Cổ Nhạc Nam Phần và Cổ Nhạc Bắc Phần mà chưa có chương trình Thi Văn, nên ông đã liên lạc với thi sĩ Ðinh Hùng, đề nghị với tác giả “Mê Hồn Ca” thực hiện một chương trình thơ văn của đài.

Sinh thời, khi được hỏi về chương trình Tao Ðàn, cố thi sĩ Ðinh Hùng nói, ông nhận lời đề nghị của ông Ðoàn Văn Cầu. Ngặt nỗi ông chỉ có khả năng viết bài, đọc qua làn sóng điện... Nhưng ông lại không có chút kinh nghiệm nào về phương diện kỹ thuật!

Ðể giải quyết cái “khâu” sinh tử này, Ðinh Hùng tìm tới căn nhà ở đường Phan Văn Trị của ba chàng độc thân, như đã nói ở trên. (1)

Kết quả, Thanh Nam, Thái Thủy (về sau, còn có thêm Tô Kiều Ngân) nhận lời hợp tác với thi sĩ Ðinh Hùng, dựng bảng chương trình Thi Văn Tao Ðàn, “Tiếng nói của thơ văn miền tự do.”

Người gánh vác phần kỹ thuật chính, là nhà thơ Thái Thủy.

Ðể chương trình được phong phú, đa dạng, bốn nhân vật khai sinh chương trình thi văn Tao Ðàn chia nhau đi mời một số nam, nữ nghệ sĩ đảm trách phần diễn ngâm. Giai đoạn khởi sự, người ta nhớ có các nghệ sĩ như Giáng Hương (1,) Hồ Ðiệp, Quách Ðàm, Hoàng Thư v.v...

Về nội dung chương trình Tao Ðàn được phân chia như sau:

Phần cổ thi, Ðinh Hùng phụ trách. Phần thơ văn hiện đại thì Thanh Nam, Thái Thủy và Tô Kiều Ngân đảm nhận.

Khởi đầu, chương trình thi văn Tao Ðàn phát thanh 6 buổi một tuần. Thời lượng: 40 phút. Từ 9 giờ 20 tới 10 giờ tối.

Một thành viên có mặt từ đầu trong chương trình Tao Ðàn cho biết, ở giai đoạn đó, sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam chưa phát triển mạnh mẽ. Thị trường sách, báo còn khan hiếm. Nhất là lãnh vực thơ mới. Ðể có đủ bài vở cho 6 chương trình mỗi tuần, ban biên tập của chương trình Tao Ðàn phải tìm kiếm thơ cũ trong các sách, báo cũ, cũng như tìm đọc thơ văn trong các báo đương thời, hầu có thể tìm kiếm những bài thơ hay, đáp ứng được nhu cầu của chương trình...

Chương trình Thi Văn Tao Ðàn ăn khách tới mức độ, chỉ một thời gian sau, một số soạn giả tuồng cải lương, như Hoàng Khâm hay, Kiên Giang - Hà Huy Hà... đã đem thể điệu ngâm thơ của miền Bắc vào trong các vở tuồng của họ. Họ gọi cách diễn đạt đó là “ngâm thơ kiểu Tao Ðàn.”

Ngoài ra, một sự kiện theo chúng tôi, cũng nên được ghi lại. Ðó là khoảng đầu thập niên 1960, hai ông Thanh Nam và Thái Thủy lập thêm một gọi là chương trình “Thi - Nhạc Giao Duyên.”

Như tên gọi, đây là chương trình ngâm thơ xen kẽ với tân nhạc.

Ðể thực hiện được sự hòa điệu này, Thanh Nam và Thái Thủy đã phải thay phiên nhau làm những bài thơ có nội dung gần với nội dung của các bản nhạc được chọn, trước khi cho hai loại hình thái nghệ thuật này... giao duyên nhau.

Cho đến nay, không ai trả lời được câu hỏi, phải chăng, khởi từ sáng kiến “thi-nhạc giao duyên” mà sau này, miền Nam có thêm một hình thái nghệ thuật khác nữa; được biết dưới tên “Tân-Cổ giao duyên”?

Mặc dù chương trình được quần chúng ủng hộ mạnh mẽ, nhưng với số lượng văn nghệ sĩ cộng tác từ biên tập tới diễn ngâm khá đông đảo, cộng thêm giờ phát thanh khá nhiều, đài Saigon mỗi tháng đã phải chi trả một số tiền không nhỏ cho chương trình Tao Ðàn này.

Vì sự tốn kém quá lớn vừa kể nên vào cuối năm 1957, số lượng buổi phát thanh của chương trình Thi Văn Tao Ðàn đã bị rút xuống còn 3 buổi, thay vì 6 buổi mỗi tuần, như những tháng năm đầu.

Cũng thời gian này, ông Giám Ðốc Ðoàn Văn Cầu bị một số người ganh ghét tố cáo với Tổng Thống Diệm tội “nhũng lạm công quỹ”!

Ông Ðoàn Văn Cầu bị Tổng Thống Diệm kêu trình diện.

Họ Ðoàn thẳng thắn khai rằng, ông có chi ra một số tiền lớn cho nhân viên cũng như cộng tác viên của đài Saigon. Nhưng ông xác định, ông không hề tư túi, dù chỉ một đồng của công quỹ.

Họ Ðoàn quả quyết:

“Xin tổng thống cho người điều tra... Nếu tôi có lấy một đồng công quỹ để tiêu dụng cho cá nhân hay gia đình tôi, thì tổng thống cứ việc bỏ tù tôi...”

Kết quả, Thống Thống Diệm thấy lời khai của ông Ðoàn Văn Cầu là đúng. Nên ông chỉ cách chức họ Ðoàn mà thôi.

Trở lại với chương trình Thi Văn Tao Ðàn, năm 1967, khi thi sĩ Ðinh Hùng từ trần, bà Ðinh Hùng tới đài Saigon, gặp nhà thơ Thái Thủy, trưởng ban chương trình, xin cho bà thay chồng, tiếp tục điều hành hành chương trình Tao Ðàn.

Dù rất cố gắng, bà Ðinh Hùng cũng không duy trì được bao lâu, chương trình Thi Văn Tao Ðàn do chồng bà sáng lập.

Vì lý do ngân sách, cát sê trả cho các chương trình của đài Saigon ngày một thêm eo hẹp!

Du Tử Lê

(Thứ Năm 22 tháng 7, 2010: Tác giả “Lá thư gửi mẹ” và, Tạp chí Hiện Ðại.)

.

Chú thích:

(1) Nghệ sĩ Giáng Hương hiện cư ngụ tại miền Nam Cali. Bà là người bạn đời đầu tiên của nam danh ca Anh Ngọc.

(2) Không lâu sau, Vũ Quang Ninh lập gia đình, cần tiền cưới vợ, căn nhà phải bán đi. Thanh Nam và Thái Thủy lại chung tiền mua một căn nhà khác ở xóm Sáu Lèo, sau lưng rạp Thanh Bình. Tình cờ họ mua trúng căn nhà do thi sĩ Nguyên Sa làm chủ.

.

.

Tác giả ‘Lá Thư Gửi Mẹ’ và, Tạp chí Hiện Ðại

Du Tử Lê

Wednesday, July 28, 2010

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=116623&z=16

(Tiếp theo và hết)

.

Nhà thơ Thái Thủy

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/116623-big_Thai%20Thuy%20-%202004%20-%20Photo%20by%20BVH1aa.jpg

.

Nhiều năm trước đây, Trung Tâm Thúy Nga Paris thực hiện video nhạc chủ đề “Mẹ”, đã chọn ca khúc “Lá Thư Gửi Mẹ” (thơ Thái Thủy, nhạc Nguyễn Hiền) là một trong mấy chục ca khúc nói về người mẹ Việt Nam.

Nhân dịp này, trả lời câu hỏi về nguyên ủy của bài thơ và ca khúc đó, nhà thơ Thái Thủy cho biết, bài thơ “Lá Thư Gửi Mẹ” của ông được thi sĩ Ðinh Hùng chọn đăng trong giai phẩm Xuân Tự Do, xuất bản tại Saigon, năm 1955. (4)

Khi nhạc sĩ Nguyễn Hiền tình cờ đọc được bài thơ ấy, họ Nguyễn đã chắp thêm cho nó, đôi cánh âm nhạc.

.

Trọn vẹn ca khúc đó, như sau:

Mẹ ơi! thôi đừng khóc nữa

Cho lòng già nặng sầu thương

Con đi say tình viễn xứ

Ðâu có quên tình cố hương

Thương ngóng về quê cũ

Gót thù xéo thảm thê

Bầy trai thầm rơi lệ

Súng gươm hẹn mai về

Con về tằm đẹp lứa

Mẹ cười vun khóm dâu

Mái tranh nghèo vươn khói

Vườn thơm ngát hương cau

Mẹ ơi!

thôi đừng khóc nữa

Cho lòng già nặng sầu thương

Con đi say tình viễn xứ

Ðâu có quên tình cố hương (5)

.

Tới hôm nay, dù đã hơn nửa thế kỷ, nhưng mỗi khi ca khúc này được cất lên, nó vẫn còn gây xúc động người nghe không ít.

Một người bạn từ thời Hà Nội của nhà thơ Phạm Thái Thủy tiết lộ rằng, tác giả “Lá Thư Gửi Mẹ” làm thơ rất sớm. Từ những ngày niên thiếu tại Hà Nội, ông đã có thơ được đăng tải trên một số báo xuất bản thời đó. Ðiển hình như tờ Giang Sơn, một tờ báo mà những ai từng sống ở Hà Nội đầu thập niên 1950, không thể không biết.

Vẫn theo lời kể thì, tính đến 30 tháng 4 năm 1975, Phạm Thái Thủy đã sáng tác khoảng vài trăm bài thơ.

Giai đoạn họ Phạm làm được nhiều thơ nhất là thời gian đầu khi mới di cư vào Miền Nam và, thời gian ông đảm nhiệm vai trò Thư ký tòa soạn cho Tạp chí Hiện Ðại của thi sĩ Nguyên Sa.

Nhưng bản chất Thái Thủy là người khiêm tốn, không thích khoa trương tên tuổi cho nên, ngay từ Việt Nam, khi một vài bằng hữu đề nghị Thái Thủy gom thơ của mình lại, để có thể in thành một tập... Ông đã từ chối...

Người bạn này nói thêm:

“Thậm chí khi được định cư tại Hoa Kỳ, cố thi sĩ Nguyên Sa cũng bảo Thái Thủy đưa thơ của mình, để nhà xuất bản Ðời ấn hành... Ông cũng đành tạ tình thương mến của bạn...”

Thái Thủy không chỉ không nhớ thơ của mình mà ngay cả số thơ ông lưu giữ được, cũng chỉ độ mươi, mười lăm bài mà thôi.

.

Về vai trò Thư ký tòa soạn Tạp chí Hiện Ðại của Thái Thủy, sinh thời, thi sĩ Nguyên Sa cho biết, đầu thập niên 1960, ông được Bác Sĩ Trần Kim Tuyến đề nghị thực hiện một tạp chí thuần túy văn học cho Miền Nam, song song với những tạp chí đang có mặt như Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn Nghệ,...

Sự kiện chính phủ muốn có thêm một tạp chí nữa ra đời, cũng không ngoài mục đích khuyến khích, xiển dương nền văn học nhân bản và, khai phóng của Miền Nam Việt Nam.

Tác giả “Áo lụa Hà Ðông” kể vì ông quá bận bịu với công việc dạy học, nên ông đã mời nhà thơ Thái Thủy phụ trách phần tòa soạn, bài vở. Nhà báo Trịnh Viết Thành phụ trách phần ấn loát và phát hành.

Khi đó, nhà báo Trịnh Viết Thành cũng là chủ nhà in Nam Sơn ở gần ngã tư đường Trương Công Ðịnh và Nguyễn An Ninh, Saigon.

Tạp chí Hiện Ðại không chỉ in tại nhà in Nam Sơn mà tòa soạn cũng được đặt trên lầu của nhà in này, để tiện việc điều hành và in ấn.

Vẫn theo cố thi sĩ Nguyên Sa, tuy được tài trợ bởi chính phủ, nhưng cá nhân ông không biết một chút gì về số tiền chi tiêu hàng tháng của Hiện Ðại.

Hàng tháng một nhân viên của Phòng Nghiên Cứu Chính Trị của Bác Sĩ Trần Kim Tuyến đến tòa soạn Hiện Ðại, giao thẳng tiền cho nhà báo Trịnh Viết Thành. Nhà thơ Thái Thủy cũng không biết số tiền trợ cấp hàng tháng là bao nhiêu.

Ông chỉ nhận đủ số tiền chi dùng cho việc trả tiền nhuận bút cho các cộng tác viên.

Tạp chí Hiện Ðại chủ trương trả nhuận bút đồng đều cho thơ cũng như văn là 1,000$ một bài.

.

Trong một cuộc nói chuyện về “thời” của tạp chí Hiện Ðại, nhà thơ Thái Thủy kể, Hiện Ðại số 1, ra đời vào tháng 4 năm 1960, ngoài ba nhân vật chịu trách trực tiếp là Nguyên Sa, Trịnh Viết Thành và Thái Thủy, Hiện Ðại còn nhận được sự cộng tác tích cực ngay tự những ngày khởi đầu của các tác giả như Nguyễn Duy Diễn, Nguyễn Văn Trung, Ðinh Hùng, Thanh Nam,...

Khi tờ báo ra được 7, 8 số thì cuộc đảo chánh của Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi ngày 11 tháng 11 năm 1960, xảy ra...

Hậu quả của cuộc đảo chánh này, tuy bất thành, nhưng cũng để lại khá nhiều xáo trộn trong sinh hoạt chính trị, xã hội, cũng như văn hóa của Miền Nam thời ấy.

Chính vì thế, sau khi ra số 10 vào khoảng tháng 2 năm 1961, tờ Hiện Ðại đình bản.

Trước thời gian tạp chí Hiện Ðại ra đời, là thời gian thi phẩm “Thơ Nguyên Sa” tập một của thi sĩ Nguyên Sa được xuất bản. Ngay lập tức, thi phẩm đã được chào đón nồng nhiệt, như một hiện tượng hiếm thấy, nhất là trong giới thanh niên, sinh viên, học sinh ở Miền Nam. (6)

Trong thi phẩm này, có nhiều bài thơ giá trị, viết cho tình bạn. Một trong những bài đó là bài “Bây Giờ.” Nguyên Sa đề “Tặng Thái Thủy.”

.

Nguyên văn bài thơ như sau:

Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt

Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư

Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát

Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa.

Cửa địa ngục ở hai bên lồng ngực

Phải vác theo trăm tuổi đường dài

Nên có gửi cho ai vài giọng nói

Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi.

Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc

Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao

Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét

Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào.

Năm ngón tay có bốn mùa trái đất

Chúng tôi cầm rơi mất một mùa xuân

Có cất tiếng đòi to. Tiếng đòi rơi rụng

Những âm thanh làm thành sẹo trong hồn.

Chúng tôi chót ngẩng đầu nhìn trước mặt

Trán mênh mông va chạm cửa chân trời

Ngoảnh mặt lại đột nhiên thơ mầu nhiệm

Tiếng hát buồn đè xuống nặng đôi vai. (7)

.

Qua những gặp gỡ đây đó, hơn một lần tôi định hỏi Thái Thủy: Giữa thi ca, phát thanh, làm báo... đâu là con người gần nhất với bản chất của ông? (Hay)

- Ðâu là con người thật của một Phạm Thái Thủy, sau nhiều thăng, trầm eo xèo nhân thế?

Cuối cùng, tôi thấy không cần thiết.

Bởi vì, cách gì thì, định mệnh cũng đã chọn ông, một đời, làm người đứng sau mọi cột mốc, sinh hoạt văn học, nghệ thuật Miền Nam, 20 năm, đã qua.

Du Tử Lê

(Tháng 7, 2010)

.

Chú thích:

(4): Là một thành viên nòng cốt của nhật báo Tự Do, thời gian đó, thi sĩ Ðinh Hùng không chỉ tuyển chọn thơ cho tờ báo mà, ông còn viết tiểu thuyết dã sử với bút hiệu Hoài Ðiệp Thứ Lang và, phụ trách mục “Ðàn Ngang Cung” với bút hiệu Thần Ðăng nữa.

(5): Theo dactrung.com

(6): Ấn bản đầu tiên, Saigon, năm 1958.

(7): “Thơ Nguyên Sa Toàn Tập”, trang 53 & 54. Ðời xuất bản. California, 2000.

.

.

.