Saturday, May 1, 2010

THỰC TRẠNG VIỆT NAM QUA NHẬN XÉT CỦA CÁC NHÀ DÂN CHỦ

Thực trạng Việt Nam qua nhận xét của các nhà dân chủ

Thanh Quang, phóng viên RFA

2010-04-30

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Real-situation-of-vn-society-in-pro-democracy-activists-eyes-ThQuang-04302010215017.html

Đã 35 năm kể từ khi đất nước Việt Nam thống nhất dưới sự cai trị của chính quyền công sản, xã hội Việt Nam diễn tiến ra sao qua cái nhìn của những nhà đấu tranh cho nhân quyền dân chủ?

Kể từ biến cố 30 tháng Tư năm 1975, sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà cầm quyền CS Việt Nam kiểm soát toàn cõi đất nước và từng bước củng cố đối nội cũng như ra sức gia tăng vị thế của Hà Nội trên trường quốc tế. Sau 35 năm kể từ biến cố 30 tháng Tư ấy, mặc dù giới cầm quyền Việt Nam bày tỏ lạc quan là đang đưa đất nước, dân tộc tới chỗ tự do, hạnh phúc, không những tạo điều kiện cho kinh tế tiếp tục tăng trưởng vượt bậc mà còn bảo đảm mọi quyền tự do căn bản, kể cả nhân quyền, cho người dân. Câu hỏi được nêu lên là sau hơn 3 thập niên ấy, thực trạng xã hội Việt Nam hiện ra sao?

.

Sẵn sàng quên dân?

Thanh Quang: Một trong những nhà dân chủ và nghiên cứu sâu sắc trong nước, giáo sư Nguyễn Thanh Giang, có cái nhìn tổng quát về thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay mà không khỏi thấy buồn cho dân tộc, đất nước và cả thân phận của mình.

GS Nguyễn Thanh Giang: Hồi thời trẻ, tôi rất tha thiết muốn gia nhập đảng CSVN, vì tôi coi đảng CSVN, những bậc tiền bối của đảng CSVN là những người có tấm lòng yêu nước, sẵn sàng lên máy chém, sẵn sàng xả thân vào cuộc cách mạng cam go đầy gian khổ để không những đánh đuổi ngoại xâm mà còn xóa bỏ áp bức, bất công. Nhưng thực tế khiến không chỉ tôi mà còn đại đa số người Việt Nam, trong đó có cả đa số đảng viên, đều thấy rằng họ bị lừa, bị nhầm lẫn giữa lý tưởng ban đầu với thực trạng bây giờ; giữa tư cách của những chiến sĩ cách mạng CS chân chính với những người mang danh cộng sản bây giờ chỉ biết úp mặt vào cái ghế của họ, úp mặt vào quyền lợi của họ.

Họ sẵn sàng quên nhân dân, thậm chí xem nhân dân vốn bị nhiều thiệt thòi nên đấu tranh cho quyền lợi của mình trở thành kẻ thù của họ. Và họ sẵn sàng đàn áp nhân dân. Đó là những việc cực kỳ đau lòng mà đôi khi nghĩ về số phận của dân tộc, chúng tôi không thể nào không tràn nước mắt để thương xót cho một dân tộc rất quả cảm, thông minh và có đầy đủ mọi điều kiện sống sung sướng, có thể trở thành một nước tiên tiến ngang với các nước tiên tiến trên thế giới, hay ít nhất cũng hơn hẳn các nước Đông Nam Á. Nhưng thực tế thì Việt Nam bây giờ còn tụt hậu so với các nước Đông Nam Á.

Thanh Quang: Một người có tâm huyết với vận nước và dân tộc, không ngại đấu tranh liên tục, dù tù tội, cho nhân quyền, dân chủ Việt Nam là BS Nguyễn Đan Quế. Nhân thời điểm đánh dấu biến cố 30 tháng Tư năm 1975, BS Nguyễn Đan Quế nhận xét tổng quát về thực trạng Việt Nam:

Nguyễn Đan Quế: Liền sau “Tháng Tư Đen” năm 1975, cộng sản chỉ mới thống nhất được đất nước về phương diện địa lý. Còn về phương diện xã hội, thì nỗi bất mãn của quần chúng tăng thêm, nhân thêm, nói một cách tổng quát như vậy.

Thanh Quang: Theo GS Trần Khuế, một nhà nghiên cứu Hán Nôm và luôn ưu tư về vận nước, dân tộc, thì kể từ năm 1975 tới nay, VN xem chừng như tiếp tục rơi vào những cuộc khủng hoảng khó có thể khắc phục được. Nguyên nhân vì sao? GS Trần Khuê giải thích như sau:

GS Trần Khuê: Từ 75 tới nay thì tôi thấy đất nước rơi vào những cuộc khủng hoảng lớn. Và từ đó tới nay vẫn tiếp tục khắc phục khủng hoảng. Nhưng tại vì giới cầm quyền không giải quyết những vấn đề cơ bản cho nên khắc phục rất chậm trễ. Theo tôi thì một trong những nguyên nhân chủ yếu, gốc của mọi vấn đề, là quyền lực ở Việt Nam không được giám sát, không được chế tài. Do đó mà sinh ra nhiều tệ nạn là lạm dụng quyền lực, lộng quyền, từ đó sinh ra tham nhũng cùng nhiều tệ nạn xã hội khác. Nhưng họ chưa tìm ra được một cơ chế thích hợp để thoát khỏi khủng hoảng.

.

Bất công đầy dẫy

Thanh Quang: Nhắc đến xã hội, theo GS Nguyễn Thanh Giang, đó là một sự xáo trộn về đạo lý, tình trạng bất tín phổ biến và bất công thì đầy dẫy:

GS Nguyễn Thanh Giang: Ra ngoài xã hội, nhân viên không tin thủ trưởng. Ngay cả những người lãnh đạo cao nhất, thời cụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng, rồi đến thời ông Phan Văn Khải, thời ông Nguyễn Tấn Dũng cũng nói rằng trên bảo dưới không nghe. Đấy là một sự băng hoại về đạo lý, không còn ai tin vào ai cả. Vì điều đó người ta nói rằng “Thượng bất chính thì hạ tác loạn”. Trên, các ông không tin dân thì ở dưới, dân cũng không tin các ông. Và bản thân các ông nói không đúng, nói một đàng làm một nẻo. Làm tư bản thì nói là làm xã hội chủ nghĩa. Rồi nói xóa bỏ áp bức bất công thì áp bức bất công đầy dẫy ra đấy. Nói là phải sống theo pháp luật thì các ông đạp lên pháp luật.

Thanh Quang: GS Nguyễn Thanh Giang nhân tiện cũng nhắc tới một lãnh vực quan trọng được coi là rường cột xã hội nhưng không được quan tâm, phát triển đúng mức và đúng cách, đó là lãnh vực giáo dục:

GS Nguyễn Thanh Giang: Môi trường giáo dục của xã hội Việt Nam bây giờ so với các nước tiên tiến, nó kém ở trình độ giáo dục, kém ở giáo dục con người, kém về cả truyền bá kiến thức, về tư duy, về xây dựng con người. Nhưng không phải chỉ kém so với các nước tiên tiến bây giờ đâu, mà còn so ngay với bản thân của Việt Nam hồi thời Pháp thuộc, thì nền giáo dục Việt Nam bây giờ cũng kém rất xa. Thậm chí kém so với thời phong kiến, vì thời các cụ lúc đó, học vấn đâu ra đấy, có nhân nghĩa lễ trí tín. Còn bây giờ không có ai tin ai. Trong nhà trường học trò không tin thầy.

Thanh Quang: Đề cập tới giáo dục, BS Nguyễn Đan Quế có nhận xét như sau:

BS Nguyễn Đan Quế: Về giáo dục, đặc biệt là về đạo đức đã xuống dốc rất nhanh. Nền giáo dục dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin đã đào tạo nhiều thế hệ một cách sai lầm, đạo đức băng hoại. Giáo dục trung học rồi đại học dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin thì hoàn toàn hỏng và phải thay đổi hẳn. Phải nói thế này, sau năm 1995 khi mà Hoa Kỳ thiết lập bang giao với Việt Nam, thì Hoa Kỳ cùng các nước Phương Tây đã giúp Việt Nam rất nhiều trên phương diện kinh tế, giáo dục. Nhưng thành phần quản lý nền giáo dục Việt Nam rất kém và không muốn thay đổi. Thành ra nền giáo dục Việt Nam bây giờ đang ở giai đoạn mà theo tôi rất là nguy hiểm, phải nói là lâm nguy, đòi hỏi Hà Nội phải có quyết định thay đổi hẳn nền giáo dục này. Nếu không nó sẽ đưa đến tình trạng càng ngày càng băng hoại nữa đối với giới trẻ Việt Nam. Và nền kinh tế Việt Nam không thể phát triển bền vững được vì nền giáo dục này.

Thanh Quang: Nhắc đến kinh tế, GS Trần Khuê lưu ý rằng Việt Nam đang theo đuổi kinh tế tư bản chủ nghĩa trong khi chưa có được luật pháp rõ ràng khiến dẫn tới nhiều điều tiêu cực. Vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên trong chiều hướng nguy hiểm cũng là nỗi ưu tư sâu đậm của GS Trần Khuê:

GS Trần Khuê: Tình hình chung của Việt Nam cũng như của Trung Quốc là càng xây dựng kinh tế gọi là đổi mới, mà thực chất là kinh tế tư bản chủ nghĩa, nếu không có luật pháp rõ ràng, sẽ dẫn tới sự móc ngoặc rất lớn giữa giới kinh doanh, đặc biệt là những người kinh doanh gian lận móc ngoặc với chính quyền, làm trì trệ đáng sợ. Riêng ở Việt Nam, còn có vấn đề đáng chú ý, đó là, ngoài hố ngăn cách giàu nghèo rộng quá, còn có chuyện khai thác kiệt quệ tài nguyên đất nước, như là vấn đề than, bô-xít, rừng đầu nguồn. Đó là những vấn đề mà hiện nay dư luận rất lo lắng.

Thanh Quang: Theo nhận định của BS Nguyễn Đan Quế, thì nền kinh tế Việt Nam hiện có phát triển so với mấy thập niên qua, nhưng đó là một sự phát triển có tính cách nhất thời, thiếu bền vững, dựa trên nguồn trợ giúyp từ bên ngoài và dựa trên sự bóc lột sức lao động của nông dân, công nhân:

BS Nguyễn Đan Quế: Kinh tế Việt Nam quả có phát triển do mở cửa, do Việt Nam được gia nhập WTO. Điều đó đúng. Với nguồn vốn ODA, những nguồn viện trợ khác, thì quả thật nền kinh tế Việt Nam có phát triển, chỉ có dựa trên chỉ số tổng sản lượng quốc dân. Nhưng lực lượng lao động không có chất lượng, không được đào tạo có bài bản. Rồi nông dân cũng không được đào tạo gì cả. Nghĩa là hàm lượng chất xám trong đào tạo không có bao nhiều, không thể cạnh tranh trên trường quốc tế được. Hiện bây giờ hố ngăn cách giàu nghèo ở Việt Nam gia tăng nhanh chóng. Thành thị và nông thôn nữa cũng cách biệt rất xa.

Còn nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc lấy tài nguyên quốc gia đem bán, lấy sức lao động của công nhân hoặc lợi dụng sức lao động của nông dân trong khi nhà nước đứng làm trung gian thu mua, mang sản phẩm đi bán. Nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn không có tính cách bền vững, không lo đầu tư gì vào người nông dân hay công nhân để cho họ tiến lên, làm ra những sản phẩm khá hơn, có khả năng cạnh tranh trên thế giới. Do đó, nền kinh tế VN bây giờ có tính cách thu mua, có tính cách lợi dụng, có tính cách bóc lột người nông dân và có tính cách nhất thời. Nó hoàn toàn không bền vững.

.

Vi phạm nhân quyền

Thanh Quang: Có lẽ một lãnh vực của Việt Nam tiếp tục được công luận trong và ngoài nước đặc biệt chú trọng và bày tỏ quan ngại nhiều nhất là vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền – lãnh vực mà giới cầm quyền Việt Nam luôn khẳng định là không hề vi phạm. Về vấn đề này, GS Trần Khuê nhận xét như sau:

GS Trần Khuê: Tôi thấy về vấn đề tự do tôn giáo cũng như dân chủ, nhân quyền nó có nhiều vấn đề. Mà trong lãnh vực này thì tôi thấy giữa chính quyền Hà Nội và giới tôn giáo có cách xử sự với nhau, có lúc đúng nhưng cũng có lúc chưa đẹp, chưa khéo khiến sinh nhiều lủng củng. Còn về dân chủ thì rõ ràng là rất chậm chạp. Tôi lấy thí dụ năm họp Đại hội 7 thì mới đưa được vào điều gọi là “Xây dựng một xã hội công bằng, văn minh”. Chúng tôi phản đối. Sau đó, tới Đại hội 9, họ mới đưa được vào là “Xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”. Chúng tôi lại tiếp tục phản đối rằng tại sao lại đưa “dân chủ” vào giữa, vì nếu không có dân chủ thì làm sao có công bằng, văn minh được ? Thì tới Đại hội 11 tới này, người ta mới chuyển dịch được chữ dân chủ lên trên, tức là “xây dựng mà xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Như thế là phải mất 20 năm mới đưa được chữ “dân chủ” vào. Và 10 năm mới nhích được chữ “dân chủ” lên trên chữ “công bằng”. Tức là chỉ có 2 cm ở trên văn bản thôi mà phải mất 10 năm. Đấy là những việc rất khó khăn, chứng tỏ rằng người tat hay đổi tư duy, thay đổi não trạng rất chậm chạp. Nhưng hiện nay từ văn bản đến thực hiện còn bao lâu nữa, thì đây là sự đấu tranh của nhân dân và sức ép của quốc tế.

Thanh Quang: GS Nguyễn Thanh Giang thì nêu lên những thí dụ cụ thể hơn để minh chứng cho việc giới cầm quyền VN tiếp tục vi phạm quyền tự do, dân chủ, bày tỏ cảm tưởng, kể cả lòng ái quốc của người dân:

GS Nguyễn Thanh Giang: Những trường hợp rất rõ ràng là không phải các anh em trẻ chưa có thành tích gì thì các ông sẵn sàng trùm chăn và đập chết ngay, mà những người như chúng tôi từng rất gian nan đi với cuộc cách mạng này suốt hơn nửa thế kỷ, bây giờ mấy ông có kể gì pháp luật đâu, có kể gì đạo lý đâu. Các ổng rất dã man khi đối xử với một người không có tội như là tội nhân thì chính các ông là tội phạm. Tôi phải nói là họ đối xử tệ với tôi, nhưng chưa đến nỗi quá tệ bằng nhiều anh em khác. Những anh em ấy chỉ có treo khẩu hiệu. Mà khẩu hiệu gì ? Họ treo khẩu hiệu là đòi “Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam”, treo khẩu hiệu “ Tham nhũng là hút máu dân”. Họ chỉ làm mỗi việc đó thôi thì bị tống vào tù hàng 3-4 năm, 6-7 năm. Hay là như nhà văn Trần Khải Thanh Thủy thì đâu đến nỗi để họ bày ra cái chuyện là cho người vào gây sự rồi đánh chồng người ta. Rồi đối với người phụ nữ chân yếu tay mềm như thế cũng bị đánh. Cuối cùng những thằng côn đồ kia không bị gì. Mà họ đem một nhà văn nữ ra bỏ tù suốt 3-4 năm trời như vậy thì còn đạo lý nào? Đối xứ với một con người như vậy thì còn gì là đạo lý, còn gì là pháp luật?

Thanh Quang: BS Nguyễn Đan Quế nhận xét về diễn biến liên quan tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo ở VN, và bày tỏ quyết tâm của những nhà dân chủ như sau:

BS Nguyễn Đan Quế: Hiện bây giờ, trong cũng như ngoài nước, dư luận thế giới chú ý đến tự do thông tin, tự do Internet, tự do phát biểu. Điều đó đúng. Và chúng tôi, những người trực tiếp đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ cũng thấy đó là hàng đầu. Mặt trận Internet hiện bây giờ, nhà cầm quyền cũng muốn kiểm soát. Và anh em đấu tranh cho dân chủ cũng muốn dùng nó để phát biểu. Đây là mặt trận giữa một bên có quyền hành, uy quyền, một bên có số đông; một bên độc tài còn một bên có chính nghĩa. Mặt trận này, theo tôi, phải bằng mọi giá, những người đấu tranh cho dân chủ Việt Nam, những người tự do thông tin, những người chủ trương tự do Internet trên toàn cầu phải nên ủng hộ chúng tôi để, tại mặt trận cực kỳ gian khổ này, những anh em đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam phải thắng. Có thắng trên mặt trận này thì mới đẩy dân chủ hóa Việt Nam tiếp tục đi lên được. Bằng mọi giá chúng tôi phải thắng mặt trận này.

Thanh Quang: Vừa rồi là nhận định của BS Nguyễn Đan Quế, cùng với 2 nhà dân chủ lão thành trong nước là GS Nguyễn Thanh Giang và Giáo Sư Trần Khuê, về thực trạng xã hội VN sau hơn 3 thập niên kể từ biến cố 30 tháng Tư năm 1975.

Thanh Quang tường thuật từ Bangkok, Thái Lan.

.

Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All rights reserved

.

.

.

CÓ THỂ HỌ CỐ QUÊN ? (Trịnh Hội)

Có Thể Họ Cố Quên?

Trịnh Hội

Bài viết gửi cho BBCVietnamese.com

Cập nhật: 09:49 GMT - thứ sáu, 30 tháng 4, 2010

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100429_trinhhoi_comment.shtml

Khi ngày lễ đánh dấu 35 năm quân đội Cộng Sản Bắc Việt thôn tính Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến gần kề thì đó cũng là lúc hàng triệu người Việt Nam ngày nay chuẩn bị chương trình nghỉ lễ dài hạn cuối tuần bằng cách đi nghỉ mát ở những thành phố nằm cạnh biển, hoặc đối với những người có tiền, có tiếng thì họ sẽ sang những nước láng giềng bên cạnh để thư giãn và tự thưởng cho mình nhờ vào nền kinh tế Việt Nam đã không ngừng phát triển trong suốt một thập niên qua.

Cho đến ngày thứ Sáu 30/04 thì sẽ không còn ai ở lại thành phố mà bây giờ đã đổi tên thành Thành Phố Hồ Chí Minh để ăn mừng ngày cộng sản chiến thắng ngoại trừ các hội đoàn đã được chỉ định, những nhân vật chóp bu trong Trung Ương Đảng, và một lần nữa, một vài ký giả Mỹ còn sống và đã nổi tiếng nhờ vào chiến tranh Việt Nam.

Cách đây 5 năm họ đã trở lại nhân lễ kỷ niệm lần thứ 30 ngày Sài Gòn sụp đổ và lần này họ quay lại một lần nữa để nhớ về một thời cũng như để tưởng niệm 73 đồng nghiệp của họ đã bỏ mình trong cuộc chiến.

Đối với nhiều ký giả đây là quãng thời gian tuyệt vời nhất nhưng cũng đầy trắc trở nhất. David Lamb, ký giả đại diện một thời cho nhật báo Los Angeles Times tại Hà Nội từng thú nhận là cho dù bao năm đã trôi qua nhưng ‘rất nhiều người trong chúng tôi những người từng sang để tường trình về cuộc chiến đã không thể nào thoát khỏi Việt Nam. Không có sự kiện nào, cuộc chiến nào có thể so sánh được.’

Ừ, phải chi cũng nói được như thế đối với chính những người Việt Nam trong cuộc. Vì đối với họ những gì họ phải trải qua trước cuộc chiến, trong cuộc chiến và sau cuộc chiến tệ hại hơn nhiều. Đã có ít nhất một triệu người Bắc lánh nạn vào Nam khi đất nước bị chia cắt qua hiệp định Geneva vào năm 1954. Từ 3 cho đến 5 triệu người Việt đã phải bỏ mình hy sinh từ lúc ấy cho đến năm 1975. Và hàng trăm ngàn người khác trong các trại tù tập trung trên đất nước mới (nhưng nay đã thống nhất), trong những khu kinh tế mới kinh hoàng và khắp Biển Đông lúc họ trên đường mong tìm được tự do.

Tôi tự hỏi không biết có ai trong nhóm ký giả chiến tranh nổi tiếng này, khi nhìn thấy hình ảnh trên TV của những người dân miền Nam đang tuyệt vọng và cố đào thoát trên những chiếc thuyền mong manh, có bao giờ họ tự hỏi: chiến tranh đã chấm dứt nhưng sao họ lại phải chạy trốn hòa bình?

Tôi cũng tự hỏi không biết có ai trong nhóm ký giả kỳ cựu này thường tự gọi mình là ‘Những Kẻ Viết thuê Già Việt Nam’ (Vietnam Old Hacks) sẽ có thể tường trình trực tiếp từ Sài Gòn trong tuần này mà không bị cắt xén hoặc kiểm duyệt như điều mà họ đã làm được cách đây gần 35 năm trước khi họ làm phóng sự cho những bản tin nóng nhất của một thời.

Tuy tôi không muốn đánh giá trước khả năng tôn trọng sự thật và sự chính trực của họ đã từng được chứng minh, nhưng tôi e rằng họ sẽ bị ngạc nhiên đến bất ngờ. Vì kể từ đầu năm nay, Hà Nội đã ra lệnh cho các công ty internet ngăn không cho nối trang mạng Facebook, dùng kỹ thuật để đánh sập những trang mạng bị cho là phản cách mạng và cho vào tù những người tài giỏi nhất với tội danh ‘âm mưu hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân’ hoặc ‘tuyên truyền chống đối nhà nước’.

Cũng cần nói là trong tất cả các lần ra tòa chỉ trong 1 hay 2 ngày với mức án từ 3, 5 cho đến 16 năm tù chưa kể thời gian quản thúc tại nhà đã không có một nhân viên sứ quán ngoại quốc hay nhà báo nào được cho vào tham dự. Nhưng tôi thấy cũng lạ là từ lúc ấy cho đến bây giờ đã không có một bài báo nào viết về hiện trạng đất nước Việt Nam và những vi phạm nhân quyền trầm trọng từ bất kỳ phóng viên nào trong nhóm ký giả kỳ cựu này.

Có thể vì kể từ lúc ấy đã không còn giao tranh, người dân Việt Nam không còn bị giết trên chiến trường và vì thế chúng ta nên tưởng niệm. Cũng có thể đối với nước Mỹ, thế giới, và những người còn sống sót trong nhóm ‘Vietnam Old Hacks' từng trải, phân đoạn cuối đã thật sự kết thúc cách đây 35 năm về trước và họ cần chuyển sang một nơi khác. Như Lebanon, Afghanistan và vũng lầy mới có tên Iraq.

Nhưng để cho là đất nước và người dân Việt Nam đã tìm được tự do và sự công bằng vào năm 1975 thì đấy một là sự lãng quên có cố ý hay, tệ hơn, là một sự thờ ơ sao lãng bổn phận trong công việc.

.

Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của tác giả, một luật sư gần đây đại diện cho tổ chức VOICE khiếu kiện chính phủ Việt Nam với cáo buộc "vi phạm luật quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của công dân".

.

.

.

Hội ngộ Sài Gòn

Hồng Nga, BBC

Cập nhật: 09:23 GMT - thứ bảy, 1 tháng 5, 2010

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/05/100501_oldhacks_reunion.shtml

Đợt kỷ niệm ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam lần này, các phóng viên nước ngoài năm xưa lại có dịp hội tụ tại Sài Gòn, nơi họ từng sống và làm việc. Hồng Nga đã tham gia cuộc gặp mặt.

Carl Robinson là một người năng động.

67 tuổi, người cựu phóng viên hãng Associated Press (AP) của Hoa Kỳ vẫn đứng đằng sau các cuộc hội ngộ của giới phóng viên chiến trường Việt Nam và Campuchia những năm 60-70 thế kỷ trước.

Chuyến đi Campuchia và Việt Nam lần này, lúc nào cũng có thể thấy ông Robinson, đầu đội nón rộng vành, mắt đã phải dùng kính lão, nhưng vẫn đi đi lại lại như con thoi, gặp gỡ, ghi chép, trò chuyện và... trả lời phỏng vấn.

Nhóm các cựu phóng viên chiến trường Việt Nam (gọi là các Old Hacks theo tên nhóm trên Google) nay có trên 250 thành viên, nhưng đợt hội ngộ Sài Gòn lần này chỉ có 33 người.

Có người đã mất, như Hugh Van Es của hãng UPI, người từng chụp bức hình di tản bằng trực thăng từ nóc tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, hay các đồng nghiệp Kate Webb và David Halberstam. Có người bệnh tật không thể tham gia chuyến đi xa, như nhiếp ảnh gia Horst Faas.

Phần lớn lớp phóng viên chiến trường Việt Nam xưa đều đã không còn trẻ.

Nhiều tuổi thì hay đa cảm. Thế nhưng những gì làm các phóng viên một thời vào sinh ra tử kia xúc động đến nghẹn lời, thì lại không phải là tuổi tác.

"Việt Nam đã lấy trọn một phần trái tim tôi"

Tim Page quay lại Việt Nam lần này là lần thứ 61.

Sinh năm 1944 tại Kent, Anh quốc, ông Page từng làm việc cho UPI tại Việt Nam và Campuchia những năm 1960. Bị thương vào đầu năm 1969, ông đã lỡ cơ hội tường thuật những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam.

Thế nhưng, thú nhận rằng "Việt Nam đã lấy trọn một phần trái tim tôi", ông nói: "Đáng ra tôi phải sống ở Việt Nam mới đúng".

"Mỗi lần về Việt Nam, tôi lại một lần ngỡ ngàng vì cuộc sống ở đây thay đổi quá nhiều."

Giống như những người bạn phóng viên khác, Việt Nam đối với Tim Page là hiện thân của một thời thanh xuân cuồng nhiệt đuổi theo tin tức, một quãng đời lửa đạn khủng khiếp nhưng lại đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của mỗi người.

Ngày 30/4/1975, Carl Robinson đang ở trên chiếc tàu chiến USS Mobile của Hạm đội 7, Hoa Kỳ sau khi sơ tán khỏi Việt Nam bằng trực thăng.

"Khi nghe tin Sài Gòn thất thủ, tôi tìm một góc vắng trên tàu và ngồi khóc."

"Tôi ở Việt Nam tổng cộng 11 năm, và tôi thấy mình như mất đi hẳn một phần lớn của cuộc đời."

Không ai có thể phủ nhận là một cuộc chiến thuộc loại tàn khốc nhất lịch sử loài người là cơ hội trong đời chỉ có một lần đối với các nhà báo.

Nhiều phóng viên chiến trường thời đó đã làm nên tên tuổi khi tường thuật về cuộc chiến Việt Nam: Tim Page, Carl Robinson, Peter Arnett, Neal Ulevich, Richard Pyle, Kate Webb, Hugh Van Es, Horst Faas, David Halberstam, Nick Ut...

Thế nhưng chiến tranh không thể là một bức tranh tươi sáng, và đối với nhiều phóng viên đã kinh qua cuộc chiến Việt Nam, đây là một trải nghiệm gây thương tổn.

"Mất niềm tin"

Mike Morrow, người sáng lập ra Dispatch News Service, nhóm dịch vụ tin tức đầu tiên đưa tin về vụ thảm sát Mỹ Lai, bị chính quyền Sài Gòn trục xuất khỏi Việt Nam năm 1970.

Ông Morrow tiếp tục tường thuật về Việt Nam ngay cả những năm sau chiến tranh, và tham gia tích cực trong tiến trình vận động bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Làm việc cho tạp chí Far Eastern Economic Review và Washington Post tại Hong Kong, ông là nhà báo nước ngoài đầu tiên phỏng vấn ông Nguyễn Cơ Thạch khi ông Thạch trở thành Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam năm 1980.

Mike Morrow bị bắt tại Đà Nẵng năm 1990 và sau đó giam giữ gần một tháng tại TP Hồ Chí Minh vì nghi tổ chức gián điệp.

Sau khi được trả tự do vào tháng 5/1990, ông đã từng thề không bao giờ quay trở lại Việt Nam.

Thế nhưng, ông đã có mặt tại TP Hồ Chí Minh trong chuyến đi của các Old Hacks lần này và nói rằng ông "mừng vì đã quay trở lại".

"Việt Nam và cuộc chiến Việt Nam, những gì tôi chứng kiến đã khiến tôi mất niềm tin vào con người, kể cả bản thân tôi."

"Tôi đã mang trên mình quá nhiều gánh nặng. Hy vọng sau chuyến đi này, tôi có thể rũ bỏ chúng."

Trước Việt Nam, các cựu phóng viên cũng đã tới Campuchia, nơi ít nhất 37 đồng nghiệp của họ còn mất tích khi tường thuật tình hình chiến trận tại nước này những năm đầu 1970.

Một đài tưởng niệm nho nhỏ được dựng lên tại Campuchia để ghi nhớ các nhà báo đã ngã xuống trong chiến tranh và họ mong muốn có một tượng đài tương tự ở Việt Nam.

Tổng cộng gần 80 nhà báo nước ngoài thiệt mạng trong cuộc chiến Việt Nam tại ba nước Đông Dương, không kể con số các phóng viên Việt Nam mà tới giờ vẫn chưa có con số chính xác.

Carl Robinson cũng kêu gọi mọi người không quên công lao của các nhà báo Việt Nam.

"Họ là những người dũng cảm và thiệt thòi nhất."

"Khi làm việc cho hãng tin nước ngoài, tên tuổi của họ thường không được ghi nhận cho dù nhiều lúc, chính họ mới là người thu thập được nhiều thông tin quý giá."

.

.

.

NƯỚC VIỆT CẦN CÓ MỘT CHỦ NGHĨA DÂN TÔC ?

Nước Việt có cần một chủ nghĩa dân tộc?

Nguyễn Lan

01/05/2010 6:00 sáng Chưa có phản hồi.

http://www.talawas.org/?p=19742

Sau 1975, chế độ Hà Nội cương quyết thực hiện chủ nghĩa xã hội (ngay cả tên nước cũng đổi thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) với phương châm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”, thế nhưng tiến đâu không thấy, chỉ thấy lùi: phá sản kinh tế (nông dân Bến Tre, quê hương của Đồng Khởi, đốt hoa màu phản đối chính sách hợp tác xã, nhân dân phải ăn bo bo để sống cầm hơi), “thiên đường xã hội chủ nghĩa” đầy rẫy nhà tù “học tập, cải tạo”, nhân dân tán thán (với những chuyện tiếu lâm như: XHCN = Xếp hàng cả ngày, cái cột đèn cũng muốn đi, tượng thánh Trần chỉ tay ra biển Đông (khuyên dân đi di tản với tượng Bác Hồ xòe bàn tay ra giá 5 cây vàng), Việt Nam đoạt các cúp: cúp nước, cúp điện,…), bị cô lập với thế giới (về ngoại thương, vì thiếu ngoại tệ nên hầu hết phải dùng hàng hóa thay thế), Bắc Kinh “dạy cho một bài học” (1979), xâm chiếm Trường Sa (1988)…

.

Tới thời mở cửa, mặc dù kinh tế khá hơn (nhất thời, chưa tính hậu quả về sau trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi), không còn bị cô lập (vào WTO), nhưng lại nẩy sinh những vấn nạn khác: con người và xã hội ngày càng tha hóa trầm trọng (xã hội đen, đĩ điếm, các “cậu ấm”, “cô chiêu” của các quan cách mạng sống buông thả như một lũ mất dạy, bản thân các ông quan này cũng đểu giả, lưu manh không kém…), tham nhũng, lạm quyền, lộng quyền, bóc lột dân oan, tư sản “đỏ”, ô nhiễm…

.

Trong khi đó, đối với Bắc Kinh, Hà Nội đi từ nhân nhượng này tới nhân nhượng khác: nhượng đất (Hiệp định Biên giới đất liền Việt-Trung), nhượng biển (Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ), hiệp định về vùng đánh cá chung mà thực chất là để cho tàu cá Bắc Kinh (lớn và đầy đủ phương tiện) tự do khai thác, thậm chí họ còn có ý đồ khác (ông Thứ trưởng ngoại giao Lê Công Phụng nói theo kiểu ngoại giao: “họ nói mãi nên chúng tôi mới chịu ký”; trên thực tế, “nói mãi” là gây áp lực buộc Hà Nội phải ký hiệp định có lợi cho họ), thậm chí can thiệp vào chuyện nội bộ của Hà Nội (dưới áp lực của Bắc Kinh, sau Đại hội Đảng VII, ông cố Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch bị thất sủng, mất chức, bị loại khỏi Bộ Chính trị; trong Đại hội Đảng X, Bắc Kinh “mong muốn” Nông Đức Mạnh tiếp tục làm Tổng Bí thư…). Ngày nay, Bắc Kinh tiếp tục buộc Hà Nội phải “hợp tác toàn diện”, để cho Bắc Kinh khai thác bô-xít Tây Nguyên (ngoài hậu quả nghiêm trọng về môi trường, văn hóa vùng đã được các chuyên gia cảnh báo trước, Tây Nguyên còn là địa bàn chiến lược: Tây Nguyên là vùng cao điểm, kiểm soát được Tây Nguyên là kiểm soát được toàn vùng Đông Dương), phải nhân nhượng trong các cuộc đàm phán về việc phân chia lãnh hải vùng Biển Đông (nhằm thực hiện ý đồ bá quyền Biển Đông của họ), thường xuyên răn đe bằng các thủ đoạn như tập trận (có khi bằng đạn thật), tuần tra lãnh hải (kể cả vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam), bắt đầu công khai khai thác Biển Đông bất chấp mọi phản đối, thậm chí bắt giữ, đòi tiền chuộc, bắn giết ngư dân Việt…

Trong bối cảnh “thù trong, giặc ngoài” đó, có khuynh hướng (trực tiếp hay gián tiếp) cho rằng cần phải xây dựng (chí ít là biểu dương) một chủ nghĩa dân tộc (mới) nhằm giải quyết những vấn nạn nêu trên. Vậy, ý nghĩa và công dụng của “chủ nghĩa dân tộc”, “chủ nghĩa dân tộc Việt” là gì?

.

I. Chủ nghĩa dân tộc

Trên khắp thế giới, ở một giai đoạn nhất định, trong một hoàn cảnh khó khăn nào đó (bị xâm lăng, khủng hoảng kinh tế,…), mọi chính quyền đều kêu gọi lòng yêu nước của người dân để động viên, huy động lực lượng toàn dân nhằm vượt qua khó khăn ấy. Đây là điều thông thường, chính đáng và chỉ là sự động viên nhất thời chứ không phải là một chủ nghĩa rõ nét nào cả; mọi quốc gia đều làm như thế.

Thế nhưng cần xem xét một số đặc trưng:

Các chế độ độc tài kiểu Quốc xã: các chế độ độc tài này thường sử dụng chiêu bài “dân tộc” để khích động nhân dân và buộc họ phải phục tùng; thậm chí còn được thêm vào chiêu bài “chủng tộc” (chủ nghĩa Quốc xã coi chủng tộc Đức hơn hẳn các chủng tộc khác và đặc biệt chủng tộc Do Thái thấp hèn, độc hại cần phải loại trừ). Ngày nay, các đảng chính trị cực đoan cũng vẫn dùng chiêu bài dân tộc để kiếm phiếu cử tri. Riêng tại Nam Tư cũ (và nhất là tại Bosnia) đã từng có các cuộc “thanh lọc chủng tộc” đẫm máu. Tại vài nước châu Phi, có các cuộc “thanh lọc bộ tộc”, nhưng chủ yếu là hệ quả của chính sách thực dân chia vùng ảnh hưởng thành các quốc gia thuộc địa không hợp lý (trước đó, các vùng này không phải là một quốc gia và có nhiều bộ tộc sinh sống) và chính sách giải thực vội vã (đúng ra là… bỏ chạy); các thủ lĩnh khích động tình cảm bộ tộc, có thể coi đây là một chủ nghĩa dân tộc sơ khai. Về đại thể đây là chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Tại một số nước (kể cả tại các nước dân chủ), trong một số hoàn cảnh (như khó khăn kinh tế), chủ nghĩa dân túy có dịp bùng nổ, chủ nghĩa này khích động tinh thần bài ngoại, kỳ thị chủng tộc, văn hóa,… Thí dụ là Mặt trận Quốc gia (Front National) của ông Le Pen, Pháp hay các nhóm “đầu trọc uống bia” tại một số nước thuộc khối Liên Xô cũ. Đây là một biến thể của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, các đảng chính trị cực hữu thường dùng thủ đoạn này.

Các chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa: là các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản quốc tế (với khẩu hiệu “vô sản thế giới đoàn kết lại”) nên họ phải tôn sùng chủ nghĩa quốc tế của họ, thế nhưng, từ dân thường tới đảng viên (kể cả lãnh đạo), chẳng ai biết cái chủ nghĩa cộng sản (hay chủ nghĩa xã hội) là gì để mà ủng hộ, do đó họ phải thêm vào chiêu bài dân tộc dễ thuyết phục hơn. Riêng tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đưa ra khẩu hiệu “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”, mong dùng lòng yêu nước truyền thống để buộc dân tộc ta phải đi theo cái chủ nghĩa (mơ hồ) của họ. Đây là một chủ nghĩa dân tộc kiểu “mượn hoa cúng Phật”, dùng cái dễ khích động để bảo vệ nền chuyên chính vô sản của họ. Ngày nay, về lý thuyết, Trung Quốc vẫn theo chủ nghĩa xã hội, nhưng trên thực tế, kể từ thời Đặng Tiểu Bình, họ đã từ bỏ chủ nghĩa này; do đó, để bảo vệ cái chế độ đầu Ngô, mình Sở này và cũng để thực hiện giấc mộng bá quyền, họ chỉ còn có nước sử dụng chiêu bài dân tộc mà thôi; Trung Quốc ngày càng theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan (có thể coi như một Đức Quốc xã mới), đây là một hiểm họa cho các nước trong vùng và cả thế giới.

Các chế độ độc tài (quân phiệt) khác: đây là các chế độ độc tài “tiền và súng” (vì quyền và lợi riêng của mình, họ sẵn sàng dùng bạo lực trấn áp, như Miến Điện, vài nước ở Phi, Mỹ Latinh). Vì cần dùng “súng” nên kẻ cầm quyền thường là các tướng lãnh (hay có liên hệ mật thiết với quân đội, công an). Do không có lý thuyết nào cả nên họ sẵn sàng gắn từ “phản quốc” cho bất kỳ ai mà họ cho là chống đối chế độ; ngược lại, những ai theo họ là “ái quốc”. Họ sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một luận cứ để bảo vệ cái ghế ngồi của họ.

Các chế độ độc tài tôn giáo (toàn thủ): cụ thể là các nước (và cả các nhóm) Hồi giáo cực đoan kêu gọi tín đồ của họ trên toàn thế giới (tính quốc tế) mở cuộc thánh chiến chống lại “quỷ sa tăng” Mỹ và chư hầu. Có lẽ lý thuyết “người anh em Hồi giáo” (Les Frères musulmansMuslim brothers) có ảnh hưởng quan trọng, chí ít lý thuyết này giải quyết được vấn đề chia rẽ lâu đời giữa các hệ phái Hồi giáo. Mặc dù có tính quốc tế, nhưng tại mỗi quốc gia này, chiêu bài dân tộc cũng vẫn được sử dụng vì lòng yêu nước vốn là tình cảm tự nhiên của người dân mọi quốc gia trên thế giới.

Các chế độ dân chủ phương Tây: dân chủ và tự do (có thể gọi chung là Freedom) là những giá trị tinh thần lâu đời của họ và do đó họ thường nhắc lại những giá trị ấy. Khi gặp khó khăn, họ cũng kêu gọi lòng yêu nước của người dân thêm vào những giá trị ấy (như trong Thế chiến II: các nước dân chủ phe Đồng minh chống lại các nước độc tài phe Trục). Tất nhiên không phải lúc nào cái Freedom ấy cũng có chỗ đứng đúng nghĩa (Freedom là những giá trị nội tại, còn chính sách ngoại giao của họ lại là vấn đề khác). Trong Thế chiến II, đối với các nước bị xâm lăng, tinh thần dân tộc lên cao, đây là phản ứng tự nhiên của mỗi dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm; thế nhưng, khoảng thời gian từ trước (chuẩn bị chiến tranh) tới sau (tàn dư cuộc chiến) Thế chiến quá ngắn ngủi để thấy được các đặc trưng của tinh thần dân tộc này. Một cách tổng quát, chủ nghĩa dân tộc tại các nước này không có nét đặc trưng, mặc dù qua mỗi kỳ bầu cử, lại rộ lên các chiêu bài dân túy.

Trong khoảng trước và sau Thế chiến I và II, nổi lên các phong trào giải thực xuất phát từ nguyện vọng muốn giành lại độc lập, tự do. Một cách tổng quát, tại một số nước, trong thời kỳ chống xâm lăng hay phục hưng, người dân nỗ lực thực hiện hoài bão muốn dân tộc họ trở thành một nước phát triển. Từ lý tưởng chính đáng ấy, đây là chủ nghĩa dân tộc trong sáng.

Nhìn từ góc độ thực tiễn, mọi chủ nghĩa dân tộc đều là phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Chủ nghĩa dân tộc, tự nó, không nhất thiết phải là “tốt” hay “xấu”, vấn đề là dụng ý của người sử dụng mà thôi; có thể phân loại thành: 1) chủ nghĩa dân tộc trong sáng (nhằm đạt được mục đích chính đáng) và 2) chủ nghĩa dân tộc thực dụng (dùng chủ nghĩa này như một phương tiện nhằm đạt được ý đồ riêng).

Nhìn từ góc độ lý tưởng, mọi dân tộc đều có quyền mơ ước quốc gia của họ hùng cường, vang danh trên thế giới. Nếu một quốc gia trở nên hùng cường nhờ vào tài năng và điều kiện khách quan thuận lợi mà không xâm lược, trấn áp các quốc gia khác thì rất đáng để mọi người khâm phục và học hỏi, rút kinh nghiệm. Ngược lại, chủ nghĩa dân tộc cực đoan muốn đạt mục đích “xưng hùng, xưng bá” của họ bằng cách chà đạp, trấn áp các dân tộc khác và khi cần chủ nghĩa này sẵn sàng gây chiến, xâm lược các quốc gia khác.

Trong một số trường hợp, chủ nghĩa dân tộc đáp ứng được nhu cầu thời cuộc. Thế nhưng việc lạm dụng nó, sử dụng nó như một công cụ nhằm đạt được tham vọng, mưu đồ riêng thay vì lợi ích chung của cả dân tộc thường chỉ đem lại những tai họa cho chính kẻ sử dụng, dân tộc ấy và có khi cho cả thế giới (trường hợp Hitler là thí dụ điển hình). Hơn nữa, chủ nghĩa dân tộc không chỉ đơn giản là các thủ đoạn tâm lý chiến nhằm khích động tình cảm, lòng yêu nước của nhân dân. Cần xem xét cái nội hàm của chủ nghĩa ấy. Phải chăng chỉ vì hình hài, màu da của kẻ thống trị? Nếu thế thì đây chỉ là chủ nghĩa chủng tộc và nếu kẻ thống trị là người bản địa thì “yêu nước là yêu kẻ thống trị” vì chúng là đại diện cho dân tộc hay sao? Phải chăng chỉ vì muốn dân tộc mình làm bá chủ vùng hay thế giới? Đây là điều đã từng xảy ra từ các đế quốc cổ đại đến các đế quốc Liên Xô, Trung Quốc, tự nhận là theo “tinh thần vô sản quốc tế” nhưng trên thực tế vẫn cổ vũ cho chủ nghĩa dân tộc của họ, nếu thế thì đây chỉ là chủ nghĩa chủng tộc mà thôi.

.

II. Chủ nghĩa dân tộc Việt

Trước hết, cần phải xem xét lại lịch sử, quá trình tư duy và hàm ý của lòng yêu nước của dân tộc.

Thời phong kiến, trong thế giới Trung Hoa, tình tự dân tộc tự nhiên như hơi thở, cứ mỗi lần bị Bắc Triều xâm lược, dân tộc ta (từ dân tới quan), muôn người như một, lại đứng lên đánh đuổi chúng. Từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, chủ nghĩa dân tộc Việt truyền thống là mong muốn đất nước được tự chủ (trong thế giới Trung Hoa thời ấy, nước Việt bị coi là một chư hầu, đối với người Việt đương thời, khái niệm “độc lập”, cả về nội dung lẫn hình thức, còn khá mơ hồ) và bảo vệ phong cách sống riêng (xem “Bình Ngô đại cáo” của cụ Nguyễn Trãi, các bài hịch của vua Trần Hưng Đạo, Quang Trung,…). Vì nặng về tình cảm, có thể coi đây là chủ nghĩa dân tộc cảm tính.

Tới thời thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, các sĩ phu viết “hịch Cần Vương” theo đúng bài bản trước đây mỗi khi đất nước bị xâm lăng, mặc dù thời thế đã đổi thay: thế giới Trung Hoa tàn lụi (Trung Hoa trở thành một nước bán thuộc địa) và đằng sau sức mạnh quân sự áp đảo của thực dân Pháp là một nền văn minh mới (văn minh phương Tây). Để đối phó với nền văn minh ấy, dân tộc ta chỉ biết dùng chủ nghĩa dân tộc cảm tính muôn thuở với vũ khí truyền thống và thô sơ (mặc dù có bắt chước sử dụng, chế tạo súng – cụ Cao Thắng -, nhưng không thể so sánh với cả một nền kỹ nghệ vũ khí của Pháp được).

Các phong trào Cần Vương thất bại, các nhà cách mạng phải mầy mò tìm ra phương thức và lý thuyết mới. Mỗi người mầy mò theo cảm nhận và điều kiện riêng của họ, dần dần hình thành các nhóm nhỏ có cùng một số quan điểm với các phong trào, lý thuyết (hay quan điểm): Đông Du, Duy Tân, thuyết Tam Dân (du nhập từ Trung Hoa), thuyết Dân tộc Sinh tồn, các tác phẩm của cụ Lý Đông A (Chính khí Việt, Huyết hoa), Đệ Tam, Đệ Tứ,… Ngoài ra, các sĩ phu thời ấy cũng tiếp cận với tư tưởng nhân quyền, dân chủ thông qua các bài viết của hai cụ Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi (người Hoa). Đây cũng là cuộc tiếp xúc, hội nhập với nền văn minh phương Tây trong lãnh vực chính trị. Tấm lòng của các thế hệ trước thật đáng trân trọng; thế nhưng, ngày nay, nhìn lại buổi giao thời ấy, chúng ta không khỏi suy ngẫm về một số vấn đề cơ bản, đặc biệt là các cách tiếp cận vấn đề của họ.

.

1.Từ cách nhìn thực tiễn: Với sự đi lên của Nhật Bản (một nước châu Á, cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa), cụ Phan Bội Châu chủ trương dựa vào Nhật. Một số người chỉ trích phong trào Đông Du của cụ quá trông chờ vào ngoại viện. Nhìn từ góc độ hiệu quả nhất thời thì điều này đúng (vì rốt cuộc phong trào Đông Du chỉ đào tạo được một số nhỏ người), nhưng cũng cần thấy là mặc dù dân tộc ta có một nền văn minh lâu đời nhưng chỉ là nền văn minh lúa nước cổ xưa, dân trí kém, lại là một dân tộc bị trị thì làm sao có tiềm lực để đánh đuổi thực dân Pháp? Việc tìm kiếm đồng minh (ngoại viện) là điều hiển nhiên cần thiết và không phải chỉ có cụ Phan mới có ý định ấy. Chứng cứ là tên gọi Việt Minh là viết tắt của Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh với từ “Đồng minh” đầy dụng ý. Xuyên suốt cuộc chiến Việt-Pháp và tại Đông Dương sau này, Việt Nam nhận viện trợ của khối XHCN (xã hội chủ nghĩa) với Liên Xô và Trung Quốc là chủ yếu: huấn luyện người, kinh tế, vũ khí và cả cố vấn quân sự, quân đội,… Nhìn từ góc độ hậu quả lâu dài, cần đặt câu hỏi: phải chăng các vụ “nhượng đất, nhượng biển” ngày nay là cái giá phải trả cho Bắc Kinh? Nếu đúng thì đây là một bài học đắng cay đắt giá, đáng để đời trong mối quan hệ Việt-Trung.

.

2. Về quan điểm, lý thuyết: Đại đa số các lý thuyết (hay quan điểm) nêu trên có nguồn gốc từ phương Tây (kể cả thuyết Tam Dân vì thuyết này của cụ Tôn Dật Tiên cũng đi từ tư tưởng nhân quyền, dân chủ của phương Tây) và được cải biên lại. Về đại thể, các lý thuyết (hay quan điểm) này đều ít, nhiều là một chủ nghĩa dân tộc, mặc dù Đệ Tam và Đệ Tứ có mâu thuẫn quan điểm “quốc tế-dân tộc” (riêng về Đệ Tam, việc thống nhất 3 đảng cộng sản Đông Dương và do cụ Hồ Chi Minh lãnh đạo là một dấu hiệu cho thấy họ muốn tạm thời từ bỏ tính quốc tế: cụ Hồ Chí Minh có quan điểm thuộc loại trung dung và thiên về dân tộc, khác với khuynh hướng cực đoan, “sắt máu” theo đúng quan điểm đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản và Stalin của Trần Phú, Hà Huy Tập,… – một biểu hiện của khuynh hướng quốc tế và tả khuynh là vụ Xô-viết Nghệ Tĩnh năm 1930).

Sự khác biệt lý thuyết nêu trên dẫn tới các tranh cãi, thậm chí tranh chấp về quan điểm: bảo hoàng (lập lại chế độ quân chủ, với cụ Cường Để), ít, nhiều cực hữu (Đại Việt) hay cực tả (Đệ Tam, Đệ Tứ),… Điều ngộ nghĩnh là tranh chấp Đệ Tam – Đệ Tứ vốn là vấn đề riêng giữa Stalin và Trotsky lại trở thành sự đấu đá giữa hai khuynh hướng Tam – Tứ Việt!

Cũng cần xem lại nguồn gốc của từ “quốc gia” với từ kép “quốc-cộng” và các cụm từ liên hệ: tại Trung Hoa, cụm từ “cuộc chiến quốc-cộng” là một cuộc nội chiến và đấu tranh ý thức hệ, với từ kép “quốc-cộng”: “quốc” là Quốc dân Đảng, “cộng” là Đảng Cộng sản Trung Hoa, mọi chuyện đều rõ ràng; trong khi đó, tại nước Việt, “cộng” thì rõ ràng (Đảng CSVN), nhưng “quốc” là viết tắt của từ “quốc gia”, không nêu đích xác một chính đảng nào và về nghĩa lại khá mơ hồ:

Theo định nghĩa, từ “quốc gia” (state, etat) hay “đất nước” dùng để chỉ một lãnh thổ có chủ quyền; tự nó không hàm ý một chủ nghĩa nào cả. Về sau này, khoảng những năm 1930 trước Thế chiến II, việc một số quốc gia (Đức, Ý, Nhật…) mới nổi lên và có khuynh hướng đối đầu với các cường quốc đương thời (Anh, Pháp,… là các đế quốc có nhiều thuộc địa) khiến một số các nhà cách mạng ở các nước bị trị, trong dó có nước Việt, có cảm tình với các nước này và ít, nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan của họ. Các đảng chính trị cực hữu tại các nước này thường dùng từ “quốc gia” để khích động người dân, hai thí dụ là Đảng Phát-xít Ý (Partito Nazionale FascistaNational Fascist Party) và Đảng Quốc xã Đức có tên chính thức là Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội Đức (Nationalsozialistische Deutsche ArbeiterparteiNational Socialist German Workers’ Party), có lẽ từ “quốc gia” (hàm ý dân tộc) có thêm hàm ý chống cộng (quốc tế). Việc có cảm tình với các nước mới nổi này là phản ứng thông thường của người dân một nước bị trị, còn tác hại của các chủ nghĩa cực đoan này thì người đương thời khó thấy được. Từ đó và sau này, tại nước Việt, có các cụm từ như “chánh nghĩa quốc gia”, “lý tưởng quốc gia”,…

Thời kỳ 1945, có cuộc tranh chấp giữa Đảng CSVN và các đảng chính trị và hệ phái tôn giáo khác, do tính chất “đảng tranh”, từ “quốc gia” lại hàm ý cuộc đấu đá “quốc-cộng”.

Từ 1954, nước Việt bị chia đôi và sau đó là cuộc nội chiến Bắc-Nam (một khía cạnh của cuộc chiến tại Đông Dương lần 2), tại miền Nam, tính chất quốc gia – cộng sản lại tăng lên gấp bội.

Sau 1975, đa số những “thuyền nhân” có ít, nhiều dính lứu tới chế độ miền Nam cũ (VNCH), thường được coi / tự nhận là “người quốc gia” nghiêng về phe bảo thủ (thậm chí có khi là cực hữu) tại các quốc gia sở tại. Đa phần những người này vì oán hận chế độ Hà Nội nên có cảm tình với phe bảo thủ (có khi là cực hữu) để chứng tỏ quyết tâm “không đội trời chung với cộng sản” mà thôi, họ chẳng cần biết rằng các đảng cực hữu (có khi là bảo thủ) chủ trương bài ngoại!

Trở lại về quan điểm, lý thuyết, điều đặc biệt là không thấy sự hiện diện thực sự của khuynh hướng Đệ nhị Quốc tế, với các đảng dân chủ xã hội, tiền thân của các đảng xã hội sau này. Đảng Xã hội trong Mặt trận Việt Minh (1946) chỉ là cái bình phong được lập ra nhằm che giấu thực chất của Đảng CSVN trong Mặt trận này mà thôi. Về quan điểm, Đệ Nhị cũng theo chủ nghĩa xã hội như Đệ Tam (và Đệ Tứ). Sự khác biệt giữa các đảng cộng sản (Đệ Tam) và xã hội (Đệ Nhị) gồm 2 điểm chính: 1) đảng cộng sản chủ trương thành lập chế độ chuyên chính vô sản (được coi là “nguyên tắc”, một thể hiện của nguyên tắc này là điều 4 Hiến pháp của chế độ Hà Nội) trong khi đảng xã hội không chấp nhận nguyên tắc này (có nghĩa là chấp nhận một chế độ dân chủ), 2) đảng cộng sản chủ trương đấu tranh lật đổ chế độ đương thời (kể cả việc dùng bạo lực, còn “đấu tranh nghị trường” chỉ là sách lược nhất thời mà thôi) trong khi đảng xã hội chủ trương đấu tranh nghị trường. Chính vì muốn dùng bạo lực nên “đảng kiếu mới” của Lenin là một tổ chức bán quân sự, Đảng CSVN cũng tổ chức theo mô hình ấy; từ quan điểm tới tổ chức, việc Đảng CSVN lãnh đạo đấu tranh là một nguyên nhân khiến phương thức đấu tranh bạo động là điều không tránh khỏi.

.

3. Từ bản chất và thực trạng của dân tộc: Cách tiếp cận vấn đề của đại đa số các lý thuyết (hay quan điểm) nêu trên đều là cách trực tiếp, đối đầu, tức khắc: vì đất nước ta trở thành thuộc địa của Pháp nên phải đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập; giống như trước đây dân tộc ta phải đánh đuổi giặc phương Bắc. Giản dị thế thôi! Cách làm này là một thứ phản xạ tự nhiên, theo kiếu trả đũa (người đánh ta thì ta đánh trả – chủ trương bạo động) và với sự nóng vội mong có kết quả (giành lại độc lập) tức thời.

Từ nhận định về tình trạng của dân tộc ta thời đó, cụ Phan Chu Trinh có cách tiếp cận khác hơn: mặc dù mục đích vẫn là giành độc lập, nhưng trước tình trạng dân tộc suy yếu, dân trí thấp kém như thế, trước tiên cần phải “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh”, với phương châm “Tự lực khai hóa”, cụ vận động những người cùng chí hướng thức tỉnh dân chúng, tuyên truyền tư tưởng dân quyền. Đây là cách tiếp cận gián tiếp, không đối đầu, giai đoạn: để giải quyết vấn nạn giặc Pháp, cụ không kêu gọi kiểu “giặc đến nhà, đàn bà phải đánh!”, phong trào Duy Tân của cụ không phải là một tổ chức chính trị (hay cách mạng) đối đầu với chính quyền đương thời, cụ chủ trương phải có “dân trí, dân khí, dân sinh” (nói theo kiểu ngày nay là “nội lực”) trước khi giải quyết vấn đề độc lập.

So sánh chủ trương của cụ Phan và các khuynh hướng khác, chúng ta thấy có sự khác biệt về trình tự giải quyết vấn đề độc lập: xây dựng “nội lực” trước hay phát động đấu tranh giành độc lập trước (bằng bất cứ giá nào và không quan tâm tới “nội lực”)?

Ngoài ra, dù trước hay sau, chính quyền mới (độc lập) cũng vẫn phải đối diện với vấn đề hội nhập là điều cần phải đặt ra kể từ khi bị thực dân Pháp xâm lược: trở lại với nền văn minh Trung Hoa (đang tàn lụi) hay tiếp thu nền văn minh phương Tây?

Sau thời kỳ Cần Vương, gián tiếp hay trực tiếp, các khuynh hướng chính trị (Đông Du, Duy Tân, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại Việt, Đệ Tam, Đệ Tứ,…) đều ít/nhiều có hàm ý thừa nhận nền văn minh phương Tây. Cụ Phan Bội Châu muốn dựa vào Nhật Bản vì họ đã tiếp thu được nền khoa học, kỹ thuật phương Tây và trở nên một nước hùng mạnh. Cụ Nguyễn Thái Học tiếp thu thuyết Tam Dân, là một thể hiện của tư tưởng nhân quyền, dân chủ. Đệ Tam, Đệ Tứ theo chủ nghĩa xã hội của Marx (mặc dù Đệ Tứ chống lại Stalin) xuất xứ từ phương Tây. Riêng về Đệ Tam (Đảng CSVN) theo chủ nghĩa xã hội của Marx, ông này là một triết gia, mặc dù về bề nổi lý thuyết của ông ta chống tôn giáo (thần học) nhưng chủ nghĩa của ông ta chỉ là hướng ngược lại của cùng con đường tôn giáo (thiên đường cộng sản chẳng qua cũng là khái niệm thiên đường trong tôn giáo mà thôi); hơn nữa cái chủ nghĩa xã hội du nhập vào nước Việt lại là bản sao (ở mức độ sơ khai, “yếu lược”) cộng thêm “mắm muối” là chủ nghĩa Lenin, Stalin, Mao và cuối cùng là tinh thần câu nệ Khổng giáo còn rơi rớt lại của chính những đảng viên Đảng CSVN! Riêng cụ Phan Chu Trinh, mặc dù có cảm tính với Đảng Xã hội Pháp (Đệ Nhị) và thiên về quan điểm nhân quyền, dân chủ, nhưng chủ yếu cụ muốn thực hiện một cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện xã hội.

Giả sử như phong trào Duy Tân thành công, sự thành công này tạo tiền đề để dân tộc ta giải quyết rốt ráo vấn đề hội nhập. Trước đây, khi phương tiện giao thông còn thô sơ, việc giao lưu kinh tế và văn hóa rất hiếm hoi, ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt (như truyền bá tôn giáo), việc hội nhập hầu như không đáng kể; kể từ khi phương Tây xâm chiếm và khai thác thuộc địa ở mức độ toàn thế giới, tiến trình hội nhập bước sang giai đoạn phát triển mới, dù muốn hay không, các quốc gia bị trị phải đối diện với vấn đề hội nhập, vì đằng sau sức mạnh quân sự là nền văn minh mới – văn minh phương Tây -, trong đó có giá trị dân chủ. Đối với các dân tộc này, ngoài vấn đề giành lại độc lập, câu hỏi còn lại là họ chấp nhận hay phủ nhận, toàn bộ hay từng phần, nền văn minh mới này? Hơn nữa, họ có đủ “nội lực” để chủ động thực hiện lựa chọn của họ hay không? Riêng đối với nước Việt, chủ trương “dân trí, dân khí, dân sinh” là trang bị tối cần thiết để dân tộc ta trả lời câu hỏi nêu trên.

Trước đây, một số người cho rằng cụ Phan Chu Trinh theo khuynh hưởng “cải lương” (thường với hàm ý tiêu cực là không triệt để), Đảng CSVN cũng nhận định như thế, một phần vì họ muốn quảng cáo cho đường lối đấu tranh bạo động “đúng đắn” của họ và do đó chê bai mọi đường lối khác, phần khác xuất phát từ quan điểm chung của các đảng cộng sản (Đệ Tam) phê phán các đảng xã hội (Đệ Nhị) là “cải lương”, “thỏa hiệp” với tư bản (cụ Phan có khuynh hướng gần với Đảng Xã hội Pháp). Ngày nay, 70-80 năm đã qua, với bao đau thương, mất mát, thất vọng, nhục nhã và kinh nghiệm đắng cay, một số người, trong và ngoài nước, mới xem xét và đánh giá lại chủ trương đúng đắn của cụ.

Thế nhưng vì sao chủ trương đúng như thế lại không được đông đảo những nhà cách mạng đương thời ủng hộ và tham gia? Sau đây là vài giải thích:

Khi bị thực dân Pháp xâm lược, phong trào Cần Vương là phản ứng tự nhiên, truyền thống của sĩ phu thời ấy (giống như khi bị Bắc Triều xâm lược); phong trào này thất bại, các nhà cách mạng phải thay đổi quan điểm, phương hướng hoạt động, nhưng mục tiêu trước tiên cũng vẫn là đánh đuổi thực dân Pháp mà ít/không quan tâm tới “nội lực” của dân tộc, còn việc phủ nhận/chấp nhận nền văn minh phương Tây khá mơ hồ và có nhiều ý kiến khác biệt, sự khác biệt này là các cảm nhận, đánh giá khác nhau về hiệu quả của các chủ nghĩa nhập cảng này đối với mục tiêu giành lại độc lập mà thôi. Một dẫn chứng là cụ Hồ Chí Minh nói về lựa chọn Đệ Nhị hay Đệ Tam của mình: tôi chọn Đệ Tam vì chỉ có Đệ Tam mới nêu lên vấn đề giải phóng thuộc địa; ngoài ra cụ dịch cuốn Chủ nghĩa cộng sản yếu lược của Stalin là một cuốn sách vỡ lòng về chủ nghĩa cộng sản làm tài liệu truyền bá chủ nghĩa này, trong khi Marx là một triết gia và những điều ông ta viết không đến nỗi thô thiển, ấu trĩ đến thế! Ngoài ra, việc nhập cảng và cải biên các lý thuyết, chủ nghĩa khác thể hiện một giấc mơ, hoài bão (đầy cảm tính) về một dân tộc Việt hùng cường với mục tiêu trước mắt là giải phóng dân tộc; có thể coi đây là một chủ nghĩa dân tộc cảm tính. Vì quá quan tâm đến mục tiêu trước tiên nêu trên nên họ không hưởng ứng chủ trương giai đoạn của cụ Phan Chu Trinh.

Do yếu kém về tư tưởng (tư tưởng nhân quyền, dân chủ không trực tiếp du nhập vào nước Việt), choáng ngợp bởi các lý thuyết mới của phương Tây và sự nổi lên của một số quốc gia (Đức, Ý, Nhật) đối đầu với các đế quốc đương thời, trong đó có Pháp, nên các nhà cách mạng không quan tâm tới thực trạng đáng buồn của dân tộc mà cụ Phan đã nhận định. Xét cho cùng, dân tộc ta không tiêu hóa nổi văn hóa chính trị phương Tây còn quá mới.

Sự thiếu vắng của một đảng xã hội Việt đặt ra câu hỏi là phải chăng vì quan điểm, chủ trương của các đảng xã hội (theo khuynh hướng Đệ Nhị) mang tính “cải lương”, “thỏa hiệp” (nói theo kiểu tả khuynh thời ấy) nên các nhà cách mạng Việt (với tinh thần triệt để) không muốn du nhập?

Về đại thể, động cơ thúc đẩy dân tộc ta muốn đánh đuổi thực dân Pháp là sự uất ức và thù hận (với một nguyên nhân gần là nạn đói năm Ất Dậu 1945), còn việc thực hiện công cuộc giành lại độc lập thì tùy thời mà hành động (ngoại trừ con đường của cụ Phan Chu Trinh). Đây là phản ứng của cảm tính, nói cách khác là cách tiếp cận cảm tính mà thôi. Nhân đây, cũng cần nhắc lại thời “chống Mỹ cứu nước”, ông Tố Hữu, cứ ngồi tròn xoe trong nhà mà hô hoán “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, vậy xin hỏi ông: khi giặc đi rồi, ông có thể lấp lại dẫy Trường Sơn đã bị xẻ đôi hay không?

Tới khi chiến tranh Việt-Pháp nổ ra, dân tộc ta bị lôi cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh, các tranh cãi lý thuyết và tranh chấp chính trị (“đảng tranh”) ngắn ngủi thời kỳ 1930-1945 hầu như tan biến trong vòng xoáy ấy. Sau vài năm hòa bình, cả dân tộc lại lao đầu vào cuộc chiến mới. Trong cơn bão thời cuộc ấy, người Việt trở thành một con ốc trong guồng máy chiến tranh, một con tốt đen trong bàn cờ chính trị thế giới. Thiên hạ tranh hùng, tranh bá, thắng thua thế nào là chuyện của họ, còn dân tộc ta lại chọn lá bài “đằng nào cũng thua”!

Tóm lại, từ khi bị xâm lược, dân tộc ta có hai vấn đề cơ bản cần giải quyết: độc lập và hội nhập. Xét cho cùng thì độc lập chỉ là hệ quả của vấn đề hội nhập mà thôi: 1) Thái Lan không bị mất độc lập vì họ áp dụng chính sách ngoại giao mở cửa cho tất cả mọi cường quốc, 2) Nhật Bản trở thành một cường quốc vì họ đã thành công trong công cuộc hội nhập từ thời Minh Trị Thiên Hoàng, hơn nữa ngày nay sức mạnh kinh tế của Nhật Bản khiến họ không còn là một quốc gia thua trận và chịu sự khống chế của Đồng minh (Hoa Kỳ) như thời sau 1945, 3) triều Nguyễn Gia Long vì áp dụng chính sách “bế quan, tỏa cảng” nên dân tộc bị mất độc lập. Đối với dân tộc ta, từ một vấn đề “hội nhập” lại trở thành hai vấn đề “độc lập và hội nhập”! Hơn nữa, từ 1975 đến nay, lịch sử đã chứng minh rằng dù có độc lập nhưng lại còn tồi tệ hơn trước (nhân dân ao ước: bao giờ cho đến… ngày xưa!), hơn nữa từ “độc lập” nay lại trở thành một câu hỏi lớn.

III. Một chủ nghĩa dân tộc Việt mới?

.

Loạn chủ nghĩa

Trước hết cần xem xét lại từ “chủ nghĩa”. Từ này quá chung chung, hầu như người ta có thể gắn từ “chủ nghĩa” vào bất kỳ một khuynh hướng, quan điểm nào đấy; điều này có thể dẫn đến những ngộ nhận kỳ quái:

- Chủ nghĩa xã hội (danh từ chung) đi từ tư tưởng xã hội đã có từ trước Mác, xuất hiện từ thời tư bản tự phát (với khởi đầu là sự cơ giới hóa ngành dệt,…) dẫn tới bất bình đẳng và tranh chấp xã hội. Sau này Marx đặt tên cho chủ nghĩa của mình là chủ nghĩa xã hội khoa học (từ đó đi lên giai đoạn chủ nghĩa cộng sản) để phân biệt với cái được gọi là “chủ nghĩa xã hội không tưởng” đã có từ trước. Về sau, do thói quen giản lược từ ngữ và hậu quả của các tranh chấp “tả-hữu”, chủ nghĩa xã hội khoa học trở thành chủ nghĩa xã hội (của Marx). Nhìn từ góc cạnh xã hội, xét cho cùng thì chủ nghĩa xã hội (danh từ chung) có từ trước và sau chủ nghĩa Marx: chừng nào còn có những bất bình đẳng xã hội quá lớn vẫn cần có một chủ nghĩa xã hội nào đó. Hơn nữa, trước đây bất bình đẳng xã hội chủ yếu là bất bình đẳng kinh tế (Marx phê phán dân chủ tư sản là dân chủ “vỏ”: tư bản bóc lột công nhân, không chia sẻ lợi nhuận kinh tế và mặc dù có các cuộc bầu cử nhưng rốt cuộc, dưới bất kỳ chính quyền “tư sản” nào, giai cấp vô sản cũng vẫn chỉ có cái bụng đói meo mà thôi), ngày nay, suy rộng ra, sự bất bình đẳng ấy không chỉ đơn thuần là về kinh tế. Mặt khác, tại các nước phát triển ngày nay, để giải quyết bất bình đẳng kinh tế, người ta dựa trên hai quan điểm đối chọi nhau: “chia đều cái bánh” (khuynh hướng xã hội, đã có từ khoảng 200-300 năm nay) và “làm cho cái bánh lớn hơn” (khuynh hướng tự do kinh tế). Riêng tại nước Việt, với chế độ “tư bản đỏ” ngày nay, ý nghĩa nguyên thủy của quan điểm xã hội vẫn còn nguyên vẹn!

- Người ta thường so sánh chủ nghĩa tư bảnchủ nghĩa cộng sản (hay chủ nghĩa xã hội). Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự so sánh này: 1) hậu quả của các cuộc đấu tranh giai cấp thời kỳ tư bản tự phát, 2) hậu quả của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai phe “tự do” và “cộng sản”, 3) chủ nghĩa Marx coi chủ nghĩa tư bản là đối tượng, đối thủ của chủ nghĩa cộng sản (với lối lý luận nhị nguyên kiểu “thiên đường-địa ngục chia hai).

Đây là một so sánh khập khiểng, vì chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa toàn trị, một hệ tư tưởng bao trùm mọi lãnh vực, từ kinh tế đến xã hội, khoa học, văn hóa, đạo đức, tâm linh…, trong khi chủ nghĩa tư bản chỉ là các lý thuyết nhằm quản lý nền kinh tế thị trường, mục đích duy nhất của nó là năng suất (bao gồm lợi nhuận, lợi nhuận là động cơ phát triển kinh tế thị trường); mặc dù có quan hệ hữu cơ với các lãnh vực khác, nhưng chủ nghĩa tư bản chỉ nằm trong lãnh vực kinh tế mà (đối với chủ nghĩa tư bản, việc “bóc lột” hay “không bóc lột” thuộc về phạm trù năng suất chứ không phải là phạm trù đạo đức; nói cách khác, trước đây khi thấy con số 8, giới chủ bèn hoảng sợ vì liên tưởng tới yêu sách ngày làm 8 giờ của công nhân, đáp ứng yêu sách này là làm giảm năng suất; sau này với sự hình thành xã hội tiêu thụ, giới chủ không những hài lòng với các yêu sách ngày làm 8 giờ, được nghỉ hè có lương,… mà họ còn rất quan tâm tới sức mua của người làm công vì họ hiểu rằng sức mua lớn dẫn tới lợi nhuận nhiều cho họ). Điều kỳ dị là, vô tình hay cố ý, có người nhân cách hóa (hay sinh vật hóa) chủ nghĩa tư bản, coi nó như một con (quái) vật kiểu “chủ nghĩa tư bản giẫy chết”, “chủ nghĩa tư bản biết điều tiết”; họ không thấy được là chủ nghĩa tư bản chỉ là hệ quả của nền kinh tế thị trường mà thôi (đây là các lý thuyết kinh tế nhằm giải quyết các khó khăn, khủng hoảng hay nhằm phát triển nền kinh tế này) và sự hình thành nền kinh tế thị trường là kết quả tự nhiên của công cuộc kỹ nghệ hóa kinh tế; không ai phát minh ra nó cả (ngược với cái gọi là “nền kinh tế hoạch định xã hội chủ nghĩa” của chủ nghĩa Marx được tạo ra trong mục đích toàn trị của chủ nghĩa này); nếu không muốn trở lại thời kỳ trước kỹ nghệ hóa thì – dù muốn dù không – phải sống với nền kinh tế thị trường, giả sử như có một cuộc khủng hoảng kinh tế và không có lý thuyết (tư bản) nào giải quyết thì nhân loại… chết ráo cả!

Từ nhận định trên, việc so sánh chế độ tư bảnchế độ cộng sản (hay chế độ xã hội chủ nghĩa) cũng là một so sánh khập khiễng. Một quốc gia theo chế độ tư bản là lựa chọn kinh tế: kinh tế thị trường (nói một cách giản dị là để cho người dân tự do làm ăn), còn thế chế chính trị là một lựa chọn khác: độc tài, quân chủ, dân chủ,… Trong khi chế độ cộng sản là lựa chọn kinh tế: kinh tế hoạch định XHCN và chính trị: chế độ độc tài đảng trị kiểu cộng sản trị, vì quốc gia này đi theo chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa toàn trị. Khi Đặng Tiếu Bình chủ trương “đổi mới kinh tế trước, cải tổ chính trị sau” thì điều này có nghĩa là họ Đặng lựa chọn nền kinh tế thị trường (nói cách khác là theo chế độ tư bản) nhưng vẫn giữ “cái đuôi” (độc tài) cộng sản (“chủ nghĩa xã hội theo màu sắc Trung Quốc”). Về sau, Hà Nội cũng bắt chước “anh Hai” và hô hoán “đổi mới hay là chết!” (thay vì “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội!”) và ngày nay, Hà Nội mong muốn được thế giới công nhận nền kinh tế Việt là một nền kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

- Về mặt hiệu quả, các chủ nghĩa nêu trên đạt được mục tiêu gì? Xin xem xét 3 trường hợp cụ thể:

1. Chủ nghĩa Tam Dân: tại Trung Hoa, chủ nghĩa này thực hiện được cuộc cách mạng Tân Hợi, xóa bỏ được chế độ phong kiến lâu đời, thế nhưng chế độ mới của Tưởng Giới Thạch lại nhanh chóng trở thành một chế độ nửa quân phiệt, nửa phong kiến. Té ra thuyết Tam Dân này chỉ được thực hiện một cách nửa vời! Do không đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh) do chính thuyết Tam Dân đề ra, nên về sau này sự thất bại của Tưởng trong cuộc chiến quốc-cộng là điều không tránh được.

2. Chủ nghĩa cộng sản: trong hoàn cảnh bần cùng của các tầng lớp nhân dân lao động thời đó, Marx đề ra chủ nghĩa cộng sản với thiên đường cộng sản “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” (nôm na là giấc mơ “ngày mai ăn phở khỏi trả tiền”) và ông ta phê phán “dân chủ tư sản là dân chủ vỏ”; chưa cần xem xét dân chủ vỏ/thực là thế nào, chỉ cần thấy mọi chế độ XHCN trên thế giới đều là chế độ độc tài thứ thệt.

3. Riêng trường hợp nước Việt: năm 1945, Đảng CSVN thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ (CMDTDC, từ dân chủ hàm ý dân chủ tư sản) với khẩu hiệu “độc lập, tự do, hạnh phúc” là giai đoạn chuyển tiếp trước khi phát động cách mạng vô sản. Hiệu quả của việc thực hiện chủ nghĩa xã hội đã được thấy rõ và đã trình bày trong phần đầu của bài, ở đây chỉ xem xét 2 khẩu hiệu “độc lập” và “tự do”. Sau 4.1975, Hà Nội tuyên bố “từ nay, đất nước sạch bóng quân thù”, ngày nay, cái bóng của tàu chiến Bắc Kinh tràn ngập Biển Đông, vậy phải chăng mục tiêu “độc lập” của CMDTDC đã hoàn toàn đạt được? Từ 1953 tới nay, với Đề cương văn hóa (buộc văn nghệ sĩ phải chấp hành quan điểm giai cấp, không còn được tự do sáng tác), cuộc “rèn cán, chỉnh quân”, “đấu tố” (kiểu Mao, với khẩu hiệu “trí, phú, địa, hào; đào tận gốc, bật tận rễ”), “cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam”,… và chỉ riêng trong lãnh vực văn hóa, từ trước cho đến nay, Bộ “4T” (hay Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương) vẫn là cái “lửng lơ” trên đầu giới làm văn hóa; vậy cái “tự do” của CMDTDC vẫn còn là mục tiêu chưa đạt! Riêng về “hạnh phúc” là một khái niệm nằm trong phạm trù cá nhân (mỗi người cảm thấy hạnh phúc theo cảm quan, nhu cầu riêng của họ) chứ không phải và không thể là chuyện “đem lại hạnh phúc cho nhân dân” như những người chủ trương CMDTDC lầm tưởng rằng họ có thể ban phát cho nhân dân được và do đó coi hạnh phúc là một mục tiêu.

.

Chủ nghĩa và học thuyết

Như trên đã trình bày, chủ nghĩa thường chỉ đem lại… sự bát nháo. Thế nhưng, trong lãnh vực chính trị, có những hoàn cảnh cực kỳ phức tạp, khó khăn, đa diện như khủng hoảng kinh tế thế giới, chiến tranh lớn,…; do đó cần xây dựng một lý thuyết (với quan điểm, mục tiêu, phương châm,…), từ đó xây dựng sách lược, phương án, lập kế hoạch,… và làm kim chỉ nam hướng dẫn hành động. Từ đó, có khái niệm học thuyết (doctrine), khái niệm này khá mơ hồ và ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào mỗi lãnh vực (tôn giáo, kinh tế, chính trị,…); trong bài chỉ đề cập tới lãnh vực chính trị và góc cạnh thực tiễn mà thôi.

Sự hình thành học thuyết nhằm đáp ứng nhu cầu thời cuộc. so với chủ nghĩa, học thuyết chỉ nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể đã định, được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn (5-10 năm) và trái với chủ nghĩa “toàn diện” (như chủ nghĩa Marx, tôn giáo toàn thủ,…), học thuyết không phải là một triết lý, tư tưởng toàn thể, vượt thời gian, có giá trị phổ quát (thí dụ: chủ nghĩa Marx mang tính toàn diện, vĩnh hằng, tuyệt đối – những điều Marx nêu lên là không thể sai chẳng khác gì “khuôn vàng, thước ngọc” của cụ Khổng).

Thường thì chỉ có các quốc gia lớn mới cần phải có học thuyết để vượt qua các thử thách lớn. Xin nêu một số thí dụ:

- Trường hợp Hoa Kỳ: 1) chính sách New Deal (mặc dù không được gọi là học thuyết) nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 khởi đầu tại Mỹ và lan ra toàn thế giới, 2) học thuyết Nixon, đằng sau mục tiêu trước mắt là rút quân khỏi miền Nam nước Việt là xác định lại các mục tiêu và bố trí lại lực lượng, đặc biệt tại Đông Nam Á và Đông Á (lợi dụng sự rút lui này, Bắc Kinh bành trướng ảnh hưởng của họ tại Đông Nam Á), 3) vì Hoa Kỳ là một siêu cường, phải giải quyết nhiều vấn đề trên phạm vi toàn thế giới, nên đằng sau các cuộc bầu cử tổng thống thường là việc chuẩn bị nhóm cầm quyền mới, với một học thuyết mới.

- Trường hợp Trung Quốc: 1) sau thời đại “hoàng đế đỏ” Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình đưa ra chính sách “mèo trắng, mèo đen” với “4 hiện đại” nhằm… xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền kinh tế thị trường, giải quyết tai họa của “bè lũ 4 tên” trong Cách mạng Văn hóa và phá sản kinh tế kể từ khi Mao đưa ra bước Đại nhảy vọt; cái gọi là “chủ nghĩa xã hội theo màu sắc Trung Quốc” chỉ nhằm mục đích biện minh cho sự tiếp tục hiện hữu và cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc, 2) Giang Trạch Dân đưa ra thuyết “3 đại diện” với mục đích là chính thức hóa, mở đường cho đám “tư sản đỏ” lên nắm quyền; giải quyết chuyện nội bộ trong đảng được coi là “đảng của giai cấp công nhân”, “liên minh với giai cấp nông dân”, 3) Hồ Cẩm Đào đưa ra luận điểm “xã hội hài hòa” nhằm mục đích xóa bỏ… đấu tranh giai cấp đang diễn ra từng ngày và trở nên cực kỳ nghiêm trọng với nguy cơ bạo loạn, do chính sự lên ngôi của tầng lớp “tư sản đỏ”, với hậu quả là lạm quyền, lộng quyền, tham nhũng, ăn cắp của công, cướp đất, bóc lột dân đen, người lao động (đa số là nông dân),…

Riêng trong trường hợp nước Việt, lần đầu tiên dân tộc ta phải đối phó với hoàn cảnh “thù trong, giặc ngoài” (trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, cầm đầu Tổng Cục 2 và cũng là nhân vật thân Bắc Kinh, nay được lên làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, vậy thì cái bộ ấy còn làm được cái gì nữa?!), lại không có chỗ dựa (đồng minh) nào cả, đa số người dân chỉ biết cúi đầu chịu nhục, lo làm ăn hầu như bằng bất cứ giá nào (kể cả làm nàng Kiều thời đại ở khắp nơi trên thế giới – nói thẳng thừng là làm đĩ bốn phương -, con ở được gọi tránh né là ô-sin, tha phương cầu thực, buôn lậu, trồng cần sa,… làm sát thủ,…)!

Từ tình trạng “thế cùng, lực kiệt” hiện nay, để giải quyết những vấn đề của dân tộc, cần phải xây dựng một lý thuyết (học thuyết) làm tư tưởng chỉ đạo. Đối với dân tộc ta, đây là việc làm quá sức, thế nhưng tình thế bắt buộc chúng ta phải làm công việc ấy mới mong thoát được hoàn cảnh ngặt nghèo hiện nay: con người tha hóa, tài nguyên khánh tận, môi trường hủy diệt, chế độ độc tài, tham nhũng, ác độc, ngu xuẩn, ươn hèn (nếu chưa phải là làm tay sai cho ngoại bang, sẵn sàng bán đứng đất, biển, tài nguyên lấy ít tiền bỏ vào cái túi không đáy của họ) và hiểm họa Bắc Triều.

Vì công cuộc xây dựng học thuyết quá khó khăn nên cần phải có sự tham gia của mọi người, nhất là các chuyên viên (chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự, luật pháp và luật pháp quốc tế, lịch sử, văn hóa,…). Việc thực hiện, tất nhiên cần phải có sức của toàn dân với nhiều gian khổ, hy sinh, mất mát và thậm chí có thể có mất mát to lớn, lâu dài. Đổi lại, dân tộc ta mới thực sự có độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, hòa bình, thịnh vượng, được đối xử bình đẳng; đối với thế giới, nước Việt có vị trí tương xứng với cuộc đấu tranh từ hơn trăm năm nay kể từ ngày bị thực dân Pháp đô hộ; người dân hãnh diện mình là một Con Người và là Người Việt!

.

Tinh thần Việt

Để xây dựng học thuyết, điều trước tiên là phải trả lời câu hói Đâu là tinh hoa của dân tộc? Đối với một quốc gia, tinh hoa là những giá trị tinh thần của quốc gia ấy. Chính cái tinh hoa ấy khiến cho, sau một ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc ta mới vùng lên, dựng nước và giữ nước cho tới khi thất bại trước nền văn minh Tây phương.

.

Giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống

Nhắc lại, những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt là mong muốn đất nước được tự chủ và bảo vệ phong cách sống riêng. Câu nói “thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc” của cụ Trần Bình Trọng thể hiện tinh thần ấy. Nhờ những giá trị ấy, mới có các phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân, khởi nghĩa Yên Bái, Cách mạng tháng Tám,…

Ngày nay, một số người nhắc lại câu “hồn thiêng sông núi”, vậy cái “hồn thiêng” ấy là gì nếu không phải là những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc?

Việc giữ gìn và phát huy những giá trị tinh thần là điều mọi quốc gia phải làm, vì những giá trị ấy là nền tảng để một quốc gia dựng nước và giữ nước vững chắc, lâu dài; giá trị tinh thần là tiềm lực để vượt qua những khó khăn, thử thách nhất thời. Nếu một quốc gia chỉ biết dựa trên bạo lực thì khi không còn sức mạnh này, quốc gia ấy sẽ tiêu vong, lịch sử các đế quốc hay các chế độ dùng bạo lực thống trị, từ xưa đến nay, đã chứng minh điều ấy.

Xây dựng và truyền bá những giá trị thời đại

Kể từ thời Phục hưng (với Thế kỷ Ánh sáng) tới các cuộc cách mạng dân chủ tại các nước Âu Châu, nền văn minh Tây phương đã khai sáng và phát huy những giá trị tinh thần mới, đó là Nhân Quyền, Dân Chủ.

Trước nền văn minh Tây phương, Ấn Độ đã thành công trong công cuộc giành lại độc lập một cách hòa bình (điều này có nghĩa là họ chịu rất ít thiệt hại về người và của) và đã tiếp thu được những giá trị dân chủ. Ngược lại, dân tộc ta đã không biết, không hiểu và không tiếp thu được những giá trị ấy; do đó chúng ta mới dùng chính sách “bế quan, tỏa cảng”, phát động Cần Vương theo truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà phải đánh” và nhập cảng bừa bãi hầu hết mọi chủ nghĩa, thậm chí tiếp thu chủ nghĩa cộng sản pha trộn Marx-Lenin-Stalin-Mao, là một chủ nghĩa không tưởng, quá khích, bạo động; hậu quả thế nào, người quan tâm tới thời cuộc đều biết rõ.

Ngày nay, cần xem xét từ cuộc đấu tranh giành độc lập đã qua đến cuộc đấu tranh hiện nay, có những giá trị nào đã được phát huy hay đang hình thành?

.

1. Trước 1945, mặc dù các cuộc đấu tranh hay vận động cho độc lập đều thất bại, nhưng ý thức độc lập dân tộc được nâng cấp và rõ nét hơn: chúng ta đòi độc lập (với đầy đủ ý nghĩa của từ này) chứ không chỉ là mong muốn được tự chủ trong thế giới Trung Hoa thời xa xưa.

.

2. Trong cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, cuộc sống sản sinh các “mẹ anh hùng”, “mẹ liệt sĩ”, các tấm gương hy sinh của mọi tầng lớp xã hội. Thực tế cuộc sống đã chứng minh ý chí giành độc lập của dân tộc ta; đây chính là tinh hoa của chủ nghĩa dân tộc trong sáng nước Việt thời ấy. Điều đáng tiếc là khi hòa bình lập lại, Hà Nội nóng vội “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, tinh hoa ấy bị bỏ quên (như số phận hẩm hiu của các thanh nữ thanh niên xung phong thời “chống Mỹ”); ngày nay, giới “tư sản đỏ” đào mồ liệt sĩ làm hồ nuôi tôm, “mẹ anh hùng” trở thành “dân oan” ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, tinh hoa ấy bị vùi dập! Người ta thường trách dân ta “vô cảm”, thế nhưng kẻ đáng trách trước tiên là nhà cầm quyền Hà Nội, khi họ phủ nhận chính cái tinh hoa của hai cuộc kháng chiến mà họ tự nhận là hậu duệ. Điều cơ bản là Hà Nội đã không thấy được là có thể biến cái tinh hoa, giá trị tinh thần ấy thành sức mạnh chính trị, ngoại giao và kinh tế (theo sau ngoại giao), làm tiền đề để triển khai sức mạnh trong các lãnh vực khác (ngày nay, người ta gọi là “quyền lực mềm”).

.

3. Đòi tự do: 1) từ phía những người theo kháng chiến, chính quyền Hà Nội: từ phản ứng chống lại Đề cương văn hóa (1953) nhằm bóp nghẹt tự do sáng tác tới Nhân văn – Giai phẩm và sau này đòi “cởi trói”, “đổi mới” (1986, thời Đại hội Đảng VI) cho thấy nhu cầu đòi tựdo (trước hết là tự do sáng tác) trong nội bộ Đảng và chính quyền, về kinh tế, năm 1968, có vụ làm “khoán chui” của ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, là một hình thức tự do kinh doanh cá nhân, 2) từ phản ứng đối với những chính sách sai lầm của Hà Nội (cải cách ruộng đất với các cuộc đấu tố kinh hoàng, cấm tự do tôn giáo, cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, học tập cải tạo, chính sách kinh tế “ngăn sông, cấm chợ” sau 1975, chèn ép các sắc tộc thiểu số, đặc biệt người Thượng ở Tây Nguyên, sự lạm quyền, lộng quyền của đám “tư sản đỏ”,…): di cư vào Nam (1954, khoảng 1 triệu người), vụ Quỳnh Lưu của Công giáo miền Bắc (1956), một số thành phần trong cuộc di tản 4.1975, thuyền nhân (từ 1978, khoảng 2 triệu người?) để “tỵ nạn cộng sản”, “đi tìm tự do”, các biến động tại Tây Nguyên, “dân oan” đòi lại ruông đất,… Đây là bước đầu của cuộc đấu tranh vì tự do, mặc dù mới chỉ là những đòi hỏi tự do sơ khai chứ chưa phải là có ý thức tự do sâu sắc.

.

4. Đòi dân chủ: chế độ cộng sản là một chế độ độc tài, dẫn tới sự khao khát dân chủ, ban đầu là những tiếng nói đòi dân chủ trong nội bộ Đảng song song với những đòi hỏi tự do; từ thập niên 1980 và đặc biệt thời 1989 (bức tường Bá Linh sụp đổ), nhận thức về dân chủ trở nên sâu sắc, có hệ thống và thành phần tham gia rộng hơn (nhân sĩ trong và ngoài Đảng, tu sĩ,…); ngày nay, cuộc đấu tranh vì dân chủ được mở rộng hơn (với nhiều thành phần tham gia: nhà dân chủ, thanh niên, tôn giáo, “dân oan”,…) và bắt đầu có tổ chức và đấu tranh.

.

5. Điều đặc biệt là ngày nay, trước chính sách xâm lấn và răn đe của Bắc Kinh, vấn đề dân tộc (bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và chống lại các hiệp định phi lý, phi pháp mà Đảng CSVN đã ký) lại nổi cộm. Cuộc đấu tranh vì dân chủ lại có thêm chiều hướng mới: vì dân tộc; nói cách khác, Nhân Quyền và Dân Chủ bao gồm hai ý nghĩa: 1) về con người và quan hệ giữa người và người: quyền làm người đối với người Kinh cũng như các sắc tộc thiểu số, bao gồm các quyền tự do cá nhân, dân sự,…; 2) về quan hệ giữa các quốc gia: quyền của mỗi dân tộc: quyền được đối xử bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, biên giới (theo các công ước quốc tế),…

Những điều nêu trên là những giá trị nhân bản, thời đại của cuộc đấu tranh vì dân chủ và dân tộc hiện nay của nước Việt. Đây là một thử thách thời đại của dân tộc ta. Cuộc đấu tranh này đầy gian khổ, quyết liệt, có thể lâu dài, trong hoàn cảnh bị đẩy tới đường cùng; ngoài lương tâm, trí tuệ và lòng dũng cảm, dân tộc ta hầu như không có phương tiện nào khác. Thông qua cuộc đấu tranh này, cùng với những giá trị truyền thống, những giá trị thời đại sẽ tiếp tục hình thành và phát huy, trở thành Tinh thần Việt.

Trong trường hợp thành công, thành công ấy là chiến thắng của những giá trị tinh thần (không có kẻ chiến bại) – đúc kết của Tinh thần Việt, từ nghìn xưa tới cuộc đấu tranh vì dân chủ và dân tộc – và trở thành tinh hoa của dân tộc ta. Về sau này, việc gìn giữ và phát huy tinh thần Việt là nền tảng vững chắc để dân tộc ta bước vào thời kỳ Phục hưng, có những lựa chọn đúng đắn để giải quyết rốt ráo vấn đề hội nhập, một thử thách thời đại khác, theo kịp đà tiến hóa của nhân loại, trong tư thế của một quốc gia ngang tầm với mọi quốc gia độc lập khác, có sắc thái riêng và cùng với thế giới giải quyết những vấn đề của nhân loại.

.

Ngày 28.04.2010

Liên lạc: nguyenlan.be@gmail.com
Lưu ý hộp thư gmail có tên lannguyen.be KHÔNG phải của tôi.

© 2010 Nguyễn Lan

© 2010 talawas

.

.

.