Cuộc chiến Iran có ý
nghĩa gì đối với Trung Quốc?
Zongyuan Zoe Liu - Foreign Affairs
Viên Đăng Huy, biên dịch -
https://nghiencuuquocte.org/2026/04/03/cuoc-chien-iran-co-y-nghia-gi-doi-voi-trung-quoc/
Chủ
tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang có được một nước Mỹ đúng như ông hằng mong muốn.
Kể từ khi Tổng thống Donald Trump trở lại Nhà Trắng vào năm 2025, Washington
ngày càng mất đi sự tự tin vào mục tiêu toàn cầu của mình, bớt cam kết hơn với
trật tự dựa trên luật lệ mà họ từng duy trì, và sẵn lòng thực thi quyền lực
theo những cách làm chao đảo các thị trường, các thể chế và các đồng minh. Uy
tín và thẩm quyền toàn cầu của Washington đang dần bị mài mòn.
Theo
một nghĩa nào đó, đây là tin tốt cho Bắc Kinh. Một Washington yếu hơn, không
còn đạo đức sẽ khó quy tụ các nước khác xung quanh mình hơn. Nó tạo ra một hình
mẫu kém thuyết phục hơn. Mỹ trở nên kém năng lực hơn trong việc tổ chức các
liên minh và có xu hướng đẩy những đối tác mà nước này thực sự cần để đối trọng
với Trung Quốc ra xa. Trong nhiều thập kỷ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã muốn
một nước Mỹ đủ mạnh để duy trì sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu và ngăn chặn
sự sụp đổ hệ thống hoàn toàn, nhưng không còn khả năng định hình trật tự quốc tế
theo cách kìm hãm sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tập Cận Bình hiện đang tiến gần đến
kết quả đó hơn bất kỳ hoàng đế hay nhà lãnh đạo đảng nào trong hai thế kỷ qua.
Tuy
nhiên, đây không phải là một chiến thắng rõ ràng cho Trung Quốc. Tập Cận Bình
không chỉ đơn thuần muốn một nước Mỹ bị suy yếu. Ông muốn một nước Mỹ vẫn giúp
bảo trợ cho một trật tự thế giới ổn định. Sự khác biệt này rất dễ bị bỏ qua tại
Washington, nơi các nhà phân tích thường giả định rằng cạnh tranh địa chính trị
giống như một bảng điểm đang chạy: nếu Mỹ thua thì Trung Quốc phải thắng, và
ngược lại. Nhưng Bắc Kinh không giải thích mọi thất bại của Mỹ là thắng lợi của
Trung Quốc, và các nhà lãnh đạo Trung Quốc không mặc định rằng mọi kẽ hở địa
chính trị đều phải được khai thác.
Thường
thì họ sẽ chờ đợi, quan sát và tính toán bước đi tiếp theo. Họ không chỉ hỏi
đơn thuần liệu Mỹ có bị yếu đi hay không, mà là liệu môi trường xung quanh đã
trở nên ổn định hơn hay hỗn loạn hơn. Bắc Kinh quan tâm liệu thương mại có tiếp
tục lưu thông, vận tải năng lượng có đến đúng hạn, và liệu các cuộc khủng hoảng
toàn cầu có được kiềm chế hay sẽ đổ vỡ dây chuyền. Đối với Trung Quốc, sự ổn định
không phải là một lựa chọn cảm tính. Đó là tiền đề cho việc tiếp tục tăng cường
sức mạnh quốc gia.
Cuộc
chiến Mỹ-Israel chống lại Iran, vốn đã bùng phát thành một cuộc khủng hoảng khu
vực, đang là phép thử có hậu quả lớn nhất từ trước đến nay đối với sự kiềm chế
chiến lược của Trung Quốc. Không giống như cuộc chiến của Nga tại Ukraine, chiến
tranh ở Iran đe dọa các lợi ích chiến lược cốt lõi của Trung Quốc — không phải
vì sự lệ thuộc cấp tính vào nguồn hydrocarbon Trung Đông, mà vì một Washington
ngày càng thất thường đang làm lung lay trật tự toàn cầu mà Bắc Kinh dựa vào để
tồn tại.
Nguy
hiểm đối với Trung Quốc không nằm ở sự khan hiếm tức thời mà nằm ở sự hỗn loạn.
Một nước Mỹ chỉ đơn giản là yếu đi thì vẫn có thể xoay xở được; nhưng một nước
Mỹ khó lường, hung hăng và không còn bị kiềm chế bởi chính hệ thống mà nó từng
dẫn dắt thì nguy hiểm hơn nhiều. Một nước Mỹ đang phai nhạt có thể tạo ra cơ hội;
nhưng một nước Mỹ biến động sẽ phá hủy chính những điều kiện cho phép những cơ
hội đó hiện thực hóa. Điều Bắc Kinh lo sợ không phải là việc Washington mất đi
quyền lực, mà là họ sẽ thực thi phần quyền lực còn lại theo những cách khiến thế
giới trở nên khó định hướng hơn. Đối diện với một Washington ngày càng liều
lĩnh, ban lãnh đạo Trung Quốc sẽ hành động thận trọng, bảo vệ các điểm yếu của
mình và khước từ gánh vác những trách nhiệm toàn cầu mà họ chưa đủ nguồn lực để
đảm đương.
Phản
ứng yếu ớt của Trung Quốc đối với cuộc chiến Iran — thông qua các nỗ lực ngoại
giao, kêu gọi ngừng bắn và tránh can thiệp quân sự trực tiếp — không phản ánh sự
thờ ơ hay thừa nước đục thả câu. Đó là một nỗ lực có tính toán nhằm quản trị rủi
ro hệ thống, bảo tồn các điều kiện ngoại cảnh cần thiết cho dòng chảy thương mại
và vốn, đồng thời bảo vệ nền tảng cho sự thăng tiến dài hạn của Trung Quốc.
Thách thức của Trung Quốc, do đó, không chỉ là trỗi dậy trong lòng hệ thống
toàn cầu mà là sống sót qua sự tan rã của nó. Trong một thế giới bị định hình
ngày càng nhiều bởi sự đứt gãy thay vì sự sắp đặt, mối đe dọa lớn nhất đối với
tham vọng của Trung Quốc có lẽ không phải là sức mạnh của Mỹ, mà là sự bất ổn của
Mỹ.
Giữa
hai thế giới
Kể
từ khi mở cửa lại với thế giới vào năm 1979, Trung Quốc đã tích lũy tài sản và
quyền lực trong một hệ thống quốc tế được xây dựng và duy trì bởi Mỹ. Bắc Kinh
đã khai thác trật tự đó, gây sức ép với nó và xây dựng các phương án thay thế
xung quanh nó. Nhưng họ vẫn phụ thuộc vào những điều kiện thiết yếu mà trật tự
đó cung cấp: các tuyến hàng hải thông suốt, các thị trường mở rộng, khả năng
vay mượn và giao dịch bằng đồng USD, và các định chế đa phương đủ vững chãi để
hấp thụ các cú sốc địa chính trị trước khi chúng biến thành rủi ro mang tính hệ
thống.
Sự
lệ thuộc đó rất sâu sắc. Khi ông Tập thúc đẩy nền kinh tế hướng tới sự tự lực tự
cường lớn hơn nhân danh an ninh, ngành công nghiệp Trung Quốc đã phải đối mặt với
lợi nhuận sụt giảm và dư thừa công suất gia tăng — những dấu hiệu cho thấy sự
căng thẳng mà cuộc chuyển dịch này kéo theo. Để bù đắp, Bắc Kinh đã phát triển
một bộ công cụ ngày càng tinh vi về nghệ thuật quản trị kinh tế, tận dụng việc
tiếp cận thị trường nội địa, sự thống trị chuỗi cung ứng đất hiếm, các khoản
vay và thỏa thuận đầu tư, cùng các công cụ cưỡng chế như kiểm soát xuất khẩu và
trừng phạt. Nhưng những công cụ này được xây dựng trên một giả định cốt yếu: hệ
thống quốc tế phải duy trì được sự ổn định, có thể dự báo và vận hành bằng luật
lệ thay vì quyền lực thuần túy.
Tiền
đề đó hiện đang bị nghi vấn. Các hành động quân sự gần đây của Washington tại
Venezuela và Iran, được thực hiện với rất ít sự quan tâm đến các hệ lụy kinh tế
hay luật pháp quốc tế, đã nhấn mạnh một thực tế mà các nhà chiến lược Trung Quốc
không thể làm ngơ: hệ thống do Mỹ dẫn dắt mà họ đã học cách định hướng và khai
thác đang rạn nứt, và việc tái định hình trật tự đang diễn ra có thể không phục
vụ lợi ích của Bắc Kinh. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc coi Mỹ là một cường quốc
đang suy tàn nhưng lại đang trở nên nguy hiểm hơn chứ không phải ngược lại. Họ
hiểu rằng khi đòn bẩy kinh tế và ngoại giao của Washington suy giảm, quốc gia
này có thể ngày càng quay sang hình thức quyền lực duy nhất mà họ đang có thừa:
lực lượng quân sự.
Từ
điểm nhìn của Bắc Kinh, các cuộc can thiệp của chính quyền Trump ở Venezuela và
Iran trông không giống như việc quản trị một đế chế đầy tự tin, mà giống một đế
chế giai đoạn cuối đang giãy chết, kẻ tìm cách khai thác ưu thế quân sự còn sót
lại khi vẫn còn có thể. Một nước Mỹ biến động hơn, ít kiềm chế hơn không mang lại
niềm an ủi nào cho giới tinh hoa Trung Quốc, những người nhạy cảm với các rủi
ro gây ra bởi một kẻ bá quyền không còn tin vào trật tự của chính mình nhưng vẫn
sở hữu năng lực hủy diệt vô đối.
Nếu
sức mạnh của Mỹ chỉ đơn thuần là đang phai nhạt, Trung Quốc có thể bị cám dỗ
hành động nhanh chóng để nắm bắt thời cơ và củng cố vị thế của mình. Nhưng nếu
sự suy tàn của Mỹ diễn ra dưới hình thức cưỡng chế kinh tế leo thang, sự đổ vỡ
của các thể chế và quy tắc thương mại toàn cầu, cùng sự hung hăng quân sự, Bắc
Kinh có thể thay vào đó thấy mình ở vị thế phải bảo vệ, ít nhất là về mặt ngôn
từ, các yếu tố của trật tự hiện tại chống lại hành vi gây rối của Mỹ. Đối với
ban lãnh đạo Trung Quốc, vấn đề không phải là Mỹ đang biến mất với tư cách là
người lãnh đạo hệ thống toàn cầu. Vấn đề là Mỹ có thể vẫn đủ mạnh để gây hấn,
trong khi cách họ sử dụng quyền lực đó lại ngày càng trở nên khó dự đoán.
Không
có kẻ thắng
Cuộc
chiến ở Iran minh họa động lực này bằng những thuật ngữ trần trụi. Đối với nhiều
người ở Washington, một chiến dịch quân sự liều lĩnh khác của Mỹ ở Trung Đông
có vẻ là một món quà chiến lược cho Trung Quốc. Logic ở đây là nếu Mỹ bị sa lầy
vào một cuộc xung đột khu vực khác, Bắc Kinh sẽ rảnh tay hơn ở châu Á. Nhưng
ban lãnh đạo Trung Quốc không coi cuộc khủng hoảng là một trò chơi có tổng bằng
không. Một Trung Đông bất ổn hơn không thể dễ dàng chuyển thành lợi thế cho
Trung Quốc. Cả Washington lẫn Bắc Kinh đều sẽ không thoát khỏi những hệ lụy địa
chính trị và kinh tế của cuộc chiến này mà không bị tổn thương.
Đối
với Trung Quốc, việc đóng cửa eo biển Hormuz không phải là một mối bận tâm trừu
tượng. Trung Quốc là quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, với khoảng
70% nguồn cung đến từ nước ngoài, khoảng một phần ba trong số đó phải đi qua eo
biển này. Bất chấp rủi ro này, Trung Quốc vẫn đứng ngoài vòng xoáy ảnh hưởng
trong ngắn hạn. Trong những tuần kể từ khi chiến tranh bắt đầu, giá xăng ở
Trung Quốc đã tăng khoảng 10%, so với mức khoảng 25% ở Mỹ. Xuất khẩu dầu của
Iran sang Trung Quốc vẫn tiếp tục đi qua eo biển, và Bắc Kinh duy trì kho dự trữ
dầu chiến lược lớn nhất thế giới, tương đương với vài tháng nhu cầu trong nước.
Một
cuộc chiến kéo dài gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng dầu khí ở Iran và các quốc
gia láng giềng vùng Vịnh sẽ đặt ra những rủi ro lớn hơn nhiều, đe dọa an ninh
năng lượng của Trung Quốc và dẫn đến một sự trì trệ kinh tế nghiêm trọng tiềm
tàng. Nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Trung Quốc phụ thuộc vào sự vận hành
trơn tru của thương mại toàn cầu. Xuất khẩu chiếm khoảng 20% GDP, với gần như tất
cả được vận chuyển bằng đường biển. Việc chậm trễ vận chuyển, chi phí bảo hiểm
cao hơn và việc phải đi vòng qua các điểm nghẹt sẽ làm tăng chi phí cho các nhà
xuất khẩu. Đồng thời, giá năng lượng cao hơn sẽ làm giảm nhu cầu toàn cầu, làm
giảm doanh số bán hàng ra nước ngoài và nhanh chóng chuyển hóa thành áp lực
kinh tế trong nước. Không điều nào trong số này phục vụ lợi ích của Bắc Kinh.
Những
điểm yếu này không chỉ quan trọng về mặt kinh tế mà còn về mặt địa chính trị.
Việc theo đuổi quyền tự chủ chiến lược của Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào một hệ
thống toàn cầu luôn mở và có thể dự đoán được. Đối với Bắc Kinh, tự chủ chiến
lược không có nghĩa là tự cung tự cấp mà là khả năng vận hành trong hệ thống đó
theo các điều kiện thuận lợi thông qua việc tích lũy đều đặn sức mạnh kinh tế.
Trung Quốc đã và đang chuẩn bị cho một thế giới hỗn loạn hơn, nhưng sự chuẩn bị
không hàm ý Bắc Kinh muốn điều đó. Việc thúc đẩy khả năng tự lực tự cường của họ
là nhằm giảm thiểu sự dễ tổn thương, chứ không phải để biến Trung Quốc thành một
kẻ thắng cuộc tương đối trong một thế giới bất ổn.
Những
lo ngại về sự bất ổn gia tăng đã bắt đầu xuất hiện trong kế hoạch kinh tế của
Trung Quốc. Trong Kế hoạch Năm năm mới nhất, Bắc Kinh đã hạ mục tiêu tăng trưởng
xuống còn khoảng 4,5 đến 5%, mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ — một sự thừa nhận
rằng môi trường toàn cầu vốn từng thúc đẩy sự trỗi dậy của họ đang trở nên kém
tin cậy hơn. Tăng trưởng chậm không còn được coi là một sự chệch hướng có tính
chu kỳ mà là một sự kìm hãm mang tính cấu trúc gây ra bởi áp lực nhân khẩu học,
căng thẳng thương mại bên ngoài và sự bất ổn gia tăng.
Đồng
thời, Bắc Kinh đang ưu tiên cái mà họ gọi là “ực lượng sản xuất chất lượng mới”
— các công nghệ tiên tiến nhằm duy trì tăng trưởng khi các lĩnh vực như bất động
sản chậm lại. Sự chuyển dịch này khiến sự bất ổn bên ngoài thậm chí còn nguy hiểm
hơn đối với Trung Quốc. Sản xuất tiên tiến là ngành thâm dụng vốn và phụ thuộc
sâu sắc vào các đầu vào ổn định: năng lượng, khoáng sản thiết yếu, thiết bị
chính xác và các mạng lưới tri thức phân bổ toàn cầu. Sự đứt gãy của bất kỳ yếu
tố nào trong số này cũng làm tăng chi phí, trì hoãn sản xuất và khuếch đại rủi
ro tài chính. Trong một môi trường địa chính trị biến động hơn, các lĩnh vực vốn
được dùng để đảm bảo khả năng cạnh tranh dài hạn của Trung Quốc lại trở nên dễ
tổn thương hơn trước các cú sốc hệ thống.
Đó
là lý do tại sao Bắc Kinh ưa thích việc khôi phục sự ổn định hơn là một vai trò
mở rộng trong một trật tự hỗn loạn hơn. Họ muốn tiếp cận năng lượng, thị trường
và tầm ảnh hưởng ở Trung Đông — chứ không phải những gánh nặng của việc ổn định
khu vực hay cân bằng giữa các cường quốc đang đối đầu. Bất chấp việc cuộc chiến
ở Iran kéo dài bao lâu, Trung Quốc khó lòng hộ tống tàu bè qua eo biển Hormuz,
gây áp lực lên Tehran hay cố gắng thay thế Washington làm cảnh sát khu vực. Điều
này phản ánh sự thận trọng chứ không phải thờ ơ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn
cực kỳ cảnh giác với việc sa lầy vào nước ngoài, đặc biệt là ở Trung Đông, nơi
các cường quốc có một lịch sử dài về việc tiêu tốn uy tín và tiền bạc vào các
cuộc xung đột mang lại ít lợi ích chiến lược.
Ban
lãnh đạo Trung Quốc cũng áp dụng phép tính lạnh lùng tương tự với Đài Loan. Một
nước Mỹ bị xao nhãng thực sự có thể tạo ra một kẽ hở quân sự hoặc chính trị. Bắc
Kinh nhận thấy khi Washington bị dàn trải trên nhiều chiến trường. Nhưng ở đây
một lần nữa, các nhà phân tích Mỹ thường giả định rằng chỉ cần sự tồn tại của một
kẽ hở sẽ thôi thúc Trung Quốc hành động. Phép tính của Bắc Kinh đa tầng hơn thế.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không chỉ hỏi liệu Mỹ có bị xao nhãng hay không. Họ
còn hỏi rằng họ sẽ phải đối mặt với một nước Mỹ như thế nào trong một cuộc đọ sức
sinh tử vì hòn đảo này.
Câu
trả lời cho câu hỏi đó thật đáng báo động. Một nước Mỹ kém ổn định hơn, quân sự
hóa hơn và ngày càng dựa vào vũ lực như một lợi thế so sánh rõ ràng nhất có thể
sẽ nguy hiểm hơn trong một cuộc khủng hoảng Đài Loan, chứ không phải ngược lại.
Nếu Bắc Kinh tin rằng Washington đang hành xử như một đế chế đến giai đoạn cuối
— suy giảm về tính chính danh và sự tự tin nhưng vẫn vô đối về quyền lực cứng
và khao khát sử dụng nó — thì việc kích động một cuộc xung đột sẽ trở nên rủi
ro hơn nhiều.
Hơn
nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận ra rằng một cuộc xâm lược hoặc phong tỏa
Đài Loan sẽ không diễn ra trong một môi trường biệt lập. Nó sẽ làm đứt gãy
thương mại, gây bất ổn các thị trường tài chính, làm căng thẳng vận tải hàng hải
toàn cầu và đe dọa quan hệ với các thị trường xuất khẩu then chốt, đặc biệt là
châu Âu và Nhật Bản. Đối với Bắc Kinh, kết hợp lại chúng cực kỳ kém hấp dẫn.
Cung
điện đang sụp đổ
Chắc
chắn, Bắc Kinh muốn thay đổi cán cân khu vực ở châu Á, làm yếu đi các liên minh
của Mỹ, sáp nhập Đài Loan và xây dựng một thế giới ít bị tổn thương hơn trước
áp lực của Mỹ. Nhưng các phương pháp ưa thích của Trung Quốc vẫn là tích tiểu
thành đại và phi đối xứng: chính sách công nghiệp, lấy việc tiếp cận thị trường
làm đòn bẩy, các chiến dịch ảnh hưởng chính trị, các chiến thuật “vùng xám” như
lấn chiếm biển và gián điệp mạng, và việc dần xây dựng một hệ thống tài chính
song song bỏ qua đồng USD. Bắc Kinh tìm cách tích lũy lợi thế mà không phá hủy
hệ thống.
Ông
Tập vẫn có lý do để theo đuổi một mối quan hệ làm việc tốt đẹp với Trump. Trung
Quốc hưởng lợi từ một mối quan hệ có giới hạn với Mỹ xoay quanh thương mại có
thể dự báo và có lợi nhuận. Một nước Mỹ thất thường, thay đổi xoành xoạch giữa
chủ nghĩa bảo hộ, liều lĩnh về quân sự và ngẫu hứng chiến lược không phải là
món quà cho Trung Quốc. Bắc Kinh muốn cạnh tranh trong những điều kiện vẫn còn
có logic.
Đối
với ông Tập, cuộc gặp sắp tới với Trump tại Bắc Kinh mang lại một cơ hội chính
trị. Các quan chức Trung Quốc thích thực thi chính trị quyền lực thông qua những
hình ảnh được kiểm soát hơn là thông qua xung đột quân sự hay làm gián đoạn
thương mại. Dù chưa có chương trình nghị sự chính thức nào được công bố, các
quan sát viên kỳ vọng hội nghị thượng đỉnh sẽ kéo dài sự đình chiến trong cuộc
chiến thương mại và tiềm tàng khởi động một sự xích lại gần nhau rộng lớn hơn
giữa Bắc Kinh và Washington. Nhưng cuộc chiến ở Iran đã buộc Trump phải hoãn cuộc
gặp rất được mong đợi này, vốn ban đầu được lên kế hoạch vào cuối tháng 3. Cuộc
chiến ở Iran càng kéo dài, Bắc Kinh càng khó ổn định quan hệ với Washington và
định hình các điều kiện cạnh tranh trong tương lai.
Trong
khi chờ đợi Washington, Bắc Kinh sẽ tiếp tục thực thi sự thận trọng. Bất chấp
những chuyển dịch mang tính kiến tạo trong chính sách đối ngoại của Mỹ dưới
chính quyền Trump, mục tiêu bao trùm của ban lãnh đạo Trung Quốc vẫn không thay
đổi: cân bằng các rủi ro ngắn hạn, bao gồm các cú sốc năng lượng, đứt gãy
thương mại và biến động thị trường, chống lại mục tiêu dài hạn hơn là tự chủ
chiến lược và quan hệ ổn định với Washington. Phép tính đó phản ánh một điều cơ
bản về thế giới quan của Trung Quốc. Bắc Kinh không còn nhìn nhận các mối quan
hệ quốc tế thông qua lăng kính hệ tư tưởng mà nhiều hơn qua lăng kính thương mại.
Họ không chia thế giới thành bạn và thù cho bằng việc chia thành khách hàng và
nhà cung cấp. Điều đó không làm Trung Quốc bớt đi tính chiến lược. Nó làm cho
chiến lược của họ thực tế hơn, mang tính giao dịch hơn, và quan tâm đến việc
duy trì công việc kinh doanh như thường lệ hơn là theo đuổi một sứ mệnh văn
minh (với những xung đột và chi phí đi kèm).
Nghịch
lý lớn, do đó, là Tập Cận Bình vừa có được điều ông khao khát nhất (một nước Mỹ
kém tin cậy hơn, kém tự tin hơn và kém năng lực hơn) vừa có được điều ông sợ nhất:
một hệ thống quốc tế biến động hơn. Một nước Mỹ đang suy tàn có thể chứng minh
là nguy hiểm hơn một nước Mỹ hùng mạnh: một siêu cường không vững chãi ngày
càng bị cám dỗ sử dụng vũ lực trong khi vẫn còn có thể. Các nhà lãnh đạo Trung
Quốc hiểu điều mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ thường bỏ lỡ: không phải mọi
thứ làm yếu đi Mỹ đều làm mạnh thêm Trung Quốc. Những bước đi sai lầm của chính
quyền Trump không mang lại lợi thế cho Trung Quốc nhiều bằng việc gây bất ổn
cho hệ thống mà cả hai cường quốc vẫn còn phụ thuộc vào.
Có
một câu thành ngữ cổ của Trung Quốc dành cho những thời kỳ xáo trộn: Độc mộc
nan chi (một cây gỗ khó lòng chống đỡ cả cung điện đang sụp đổ). Tại Bắc Kinh,
các quan chức đang chạy đua để gia cố cấu trúc, trong khi tại Washington, họ
đang đập bỏ những bức tường để xây thêm một phòng khiêu vũ.
------------------
Zongyuan
Zoe Liu là Chuyên gia cao cấp Maurice R. Greenberg về Nghiên cứu Trung Quốc tại
Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR), đồng thời là Học giả nghiên cứu cao cấp tại
Viện Chính trị Toàn cầu thuộc Trường Quan hệ Quốc tế và Công chúng (SIPA) của Đại
học Columbia. Bà là tác giả cuốn Sovereign Funds: How the Communist Party of
China Finances Its Global Ambitions.
Nguồn: Zongyuan Zoe Liu, “What the Iran War Means for China”, Foreign Affairs,
30/03/2026
No comments:
Post a Comment