Monday, August 31, 2020

TẠI SAO DÂN CHỦ HÓA KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG THÀNH CÔNG? (Minh Tâm - Luật Khoa)

 


31/08/2020

https://www.luatkhoa.org/2020/08/tai-sao-dan-chu-hoa-khong-phai-luc-nao-cung-thanh-cong/

 

Vấn đề không phải chỉ là GDP bình quân đầu người.

 

https://2xjs7y10oiyz26vqxu2hok6y-wpengine.netdna-ssl.com/wp-content/uploads/2020/01/1VmfuZfH4QKFzktv9uztqMA-1024x691.jpeg

Phong trào Mùa xuân Ả rập những năm 2010 không mang lại cho các nước châu Phi và Trung Đông những thay đổi tích cực. Ảnh: Illinois Library

 

Trong khoảng ba mươi năm qua, chúng ta chứng kiến nhiều làn sóng cách mạng lật đổ các chế độ độc tài. Nổi bật nhất là việc lật đổ các chế độ Cộng sản ở Đông Âu vào cuối những năm 1980, hay gần đây hơn, vào những năm 2010, là phong trào “Mùa xuân Ả Rập” lật đổ nhiều chế độ độc tài ở Trung Đông. 

 

Kì vọng chung của các cuộc lật đổ như vậy là thiết lập một nền dân chủ, nơi mà quyền tự do của người dân được đảm bảo. Tuy nhiên, thực tế sau đó phức tạp hơn rất nhiều. Có những nước như Czech hay Serbia, thiết lập được nền dân chủ ngày càng ổn định và vững chắc. Cũng có những nước khác rơi trở lại vào cảnh độc tài như Nga, hay Ai Cập. Thậm chí tệ hơn nữa, có những quốc gia rơi vào cảnh nội chiến kéo dài như Syria hay Lybia. 

 

Tại sao lại như vậy? 

 

Nguyên nhân của các cuộc nổi dậy, lật đổ, chuyển đổi như vậy thì nhiều, nhưng có thể tóm gọn vào hai nhóm chính. Đó là các nguyên nhân ngắn hạn và các nguyên nhân dài hạn, hay còn gọi là các điều kiện về cấu trúc. 

 

Các nguyên nhân ngắn hạn như khủng hoảng kinh tế, lãnh đạo qua đời, sự chia rẽ trong giới lãnh đạo chế độ thường được coi là những nguyên nhân kích thích cho các cuộc chuyển đổi. Chẳng hạn, khi một cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, đời sống người dân gặp khó khăn khiến họ nổi dậy lật đổ chế độ. 

 

Tuy nhiên, kì cùng, những sự chuyển đổi như vậy có nguồn gốc từ các nguyên nhân dài hạn, như mức độ phát triển kinh tế, kết cấu giai cấp xã hội, văn hóa chính trị, v.v… Hai học giả Grigore Pop-Eleches và Graeme B. Robertson gọi đó là những “điều kiện cấu trúc”. Trong bài nghiên cứu mang tên “Structural Conditions and Democratization” (Điều kiện cấu trúc và Dân chủ hoá), đăng trên Journal of Democracy năm 2015, hai tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện cấu trúc này đến sự dịch chuyển của các chế độ cũng như sự thành bại của các nỗ lực dân chủ hoá.

 

Phương pháp nghiên cứu: Ba điều kiện và năm nhóm quốc gia

 

Hai tác giả tiến hành khảo sát tác động của ba điều kiện cấu trúc là: (1) mức độ thu nhập, (2) sự phân chia về sắc tộc và tôn giáo, và (3) năng lực của nhà nước.

 

Các điều kiện cấu trúc này, tùy theo mỗi nước, sẽ được phân chia thành thuận lợi, trung lập, và bất lợi. Ví dụ như, những nước mà có nhà nước yếu, tức là hạn chế trong năng lực cung cấp trật tự, công lý, an sinh xã hội thì được xếp vào dạng có điều kiện cấu trúc bất lợi.  

 

Dựa trên cơ sở này, nhóm tác giả chia các nước thành năm nhóm:

 

·         những nước mà có nhiều hơn hai điều kiện cấu trúc thuận lợi, và điều kiện cấu trúc thứ ba tối thiểu ở mức trung lập, thì được xếp vào nhóm nước có nhiều điều kiện cấu trúc thuận lợi;

 

·         những nước mà có nhiều hơn hai điều kiện cấu trúc bất lợi, và điều kiện cấu trúc thứ ba tối đa chỉ ở mức trung lập, thì được xếp vào nhóm nước có nhiều điều kiện cấu trúc bất lợi;

 

·         và các nước khác, tuỳ theo số lượng và mức độ, thì được xếp vào nhóm nước có một điều kiện thuận lợi, nhóm nước trung lập, và nhóm nước có một điều kiện bất lợi.   

 

Khảo sát được tiến hành trong giai đoạn 1984-2009, trong đó tập trung vào hai giai đoạn quan trọng là giai đoạn sụp đổ của các nước cộng sản vào cuối những năm 1980 và giai đoạn xảy ra cuộc Cách mạng Cam (Orange Revolution) ở Ukraine vào đầu và giữa những năm 2000. 

 

Các quốc gia trong giai đoạn này được chia thành bốn nhóm, dựa trên điểm số về các quyền tự do dân sự và chính trị của Freedom House:

 

·         dân chủ tự do, với điểm số về các quyền chính trị và dân sự từ 1-2.5;

 

·         dân chủ phi tự do, với điểm số từ 3-3.5;

 

·         bán độc tài, với điểm số từ 4-5;

 

·         và độc tài với điểm số từ 5-7.

 

Hai dạng chế độ ở giữa có thể gộp chung và gọi là các chế độ lai (giữa dân chủ và độc tài). 

 

Phát hiện: Bốn quỹ đạo dịch chuyển

 

Trên cơ sở phân tích của mình về tác động của các điều kiện cấu trúc đối với sự ổn định cũng như dịch chuyển của các chế độ, tác giả chỉ ra bốn quỹ đạo dịch chuyển chế độ như sau: 

 

Nhóm thứ nhất, các chế độ lai với nhiều điều kiện cấu trúc thuận lợi (một số ít nước), thì có nhiều triển vọng sẽ dịch chuyển theo hướng ngày càng tự do hơn, và cuối cùng trở thành các nước dân chủ tự do. Ví dụ của Ba Lan và Đài Loan (những nước chuyển đổi vào cuối những năm 1980) minh họa cho điều này. Một điều quan trọng nữa là một khi các nước với điều kiện cấu trúc như vậy trở thành nền dân chủ tự do thì khả năng bị suy thoái trở lại độc tài ít khi xảy ra. Điều này phù hợp với thực tế về sự ổn định của đa số các nền dân chủ ở châu Âu trong hai thập kỷ qua.

 

Nhóm thứ hai, các chế độ độc tài, với nhiều điều kiện cấu trúc thuận lợi (một số ít nước), như Saudi Arabia, thường cố kết và bền vững. Điều này là nhờ sự giàu có (người dân được hưởng nhiều phúc lợi xã hội) và sự tương đối đồng nhất về sắc tộc, tôn giáo giúp giảm bớt chia rẽ, bất bình. Ở những nơi mà hai điều kiện này vẫn không đủ để ngăn chặn các cuộc lật đổ thì chế độ độc tài có thể sử dụng bộ máy nhà nước được tổ chức tương đối tốt của mình để trung lập hóa những người đấu tranh dân chủ, như đã xảy ra ở Bahrain trong Mùa xuân Ả Rập. 

 

Nhóm thứ ba, các chế độ độc tài và các chế độ lai (đa số nước), với nhiều điều kiện cấu trúc không thuận lợi thường ở trong tình trạng bất ổn. Ví dụ thuộc nhóm này là Kyrgyzstan. Từ khi độc lập từ Liên Xô, Tổng thống Askar Akayev muốn biến nước này thành ví dụ thành công về dân chủ hóa trong khu vực. Tuy nhiên, những yếu tố cấu trúc như kinh tế kém phát triển, tham nhũng, và chính trị sắc tộc đã làm cho ước mơ này tan vỡ. Akayev thay vì thúc đẩy dân chủ, đã cố kết quyền lực và cai trị một cách độc tài. 

 

Nhưng cũng khá mỉa mai là chính những điều kiện cấu trúc bất lợi này đồng thời làm xói mòn nỗ lực cố kết độc tài của Akayev trong những năm 1990. Cuối cùng thì ông vẫn bị lật đổ vào năm 2005 trong cuộc Cách mạng hoa Tulip. Tuy nhiên, sau cách mạng, nền dân chủ non trẻ ở Kyrgyzstan cũng nhanh chóng chết yểu, khi mà vị tổng thống mới Kurmanbek Bakiyev đã khai thác những sự chia rẽ về khu vực và sắc tộc cũng như mạng lưới thân hữu ăn sâu trong hệ thống để cố kết quyền lực độc tài của mình. Và chính Bakiyev lại bị lật đổ vào năm 2010 bởi một phe đối lập khác được huy động trên cơ sở sắc tộc và khu vực. 

 

Và nhóm thứ bốn, bao gồm các nước với các điều kiện cấu trúc trung lập có nhiều cơ hội vượt ra khỏi tình trạng độc tài và thậm chí vượt lên trên mức bán độc tài. Tuy nhiên, nếu họ trở thành các nền dân chủ phi tự do, thậm chí dân chủ tự do, thì các nước này dễ bị suy thoái trở lại độc tài hơn so với các nước với nhiều điều kiện cấu trúc thuận lợi. Nói cách khác, các nước này có xu hướng gặp phải sự suy thoái tương tự xảy ra với các nước với nhiều điều kiện cấu trúc bất lợi, dù ở mức độ ít hơn và trong thời gian ngắn hơn.

 

Sự thay đổi chế độ của Thái Lan trong 25 năm qua minh họa cho mô hình này. Sự kết hợp của nền chính trị bảo trợ và sự can thiệp của quân đội đã khiến đất nước này trải qua nhiều chu kỳ tự do hóa chính trị. Có thể kể đến như chế độ lai (giữa những năm 1980, 1990, và 2004-13), theo sau với các giai đoạn dân chủ ngắn ngủi (1989-90, 1998-2004), mà sau đó bị lật đổ trong các cuộc đảo chính quân sự (1991, 2006, và gần đây là 2014). Trong khi sự bất ổn chính trị của Thái Lan có thể nghiêm trọng hơn hầu hết các nước với điều kiện cấu trúc tương tự – như Albania những năm 1990, Nicaragua những năm 2000 – thì sự thay đổi chế độ của nó có thể đại diện cho mô hình thay đổi chế độ của các quốc gia này. 

 

Tích cực hay tiêu cực?

 

Một phát hiện khác là khi so sánh hai giai đoạn, giai đoạn cuối những năm 1980 và giai đoạn những năm 2000, các tác giả thấy rằng số lượng các chế độ lai với điều kiện cấu trúc bất lợi tăng lên đáng kể. Điều này có nghĩa rằng triển vọng dân chủ hóa trong giai đoạn hiện nay đang giảm đi. Kết quả này trùng với những phân tích về suy thoái dân chủ trong thời gian gần đây.

 

Tuy nhiên, kết luận khá tiêu cực này, được đi cùng với hai thực tế bù đắp khác. 

 

Thứ nhất, các nước với các điều kiện cấu trúc bất lợi như Kyrgyzstan và Mali dù không có nhiều triển vọng trở thành các nền dân chủ ổn định thì cũng sẽ không có nguy cơ chịu tình trạng độc tài kéo dài. Các chế độ độc tài nếu xảy ra thì cũng dễ bị mất ổn định.

 

Thứ hai, các nước dân chủ tự do, phần lớn có nhiều điều kiện cấu trúc thuận lợi, khó có khả năng bị thụt lùi trở lại độc tài. Điều này có nghĩa rằng, dù Làn sóng Dân chủ hóa Thứ ba có thể đã kết thúc, nhưng trong tương lai gần thì viễn cảnh suy thoái của dân chủ sẽ là sự xuất hiện nhiều hơn của các chế độ lai không ổn định chứ không phải là sự quay trở lại các chế độ độc tài hoàn toàn.

 

 

 

 

 


MỸ - ĐẤT NƯỚC CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ (Mai Vũ Phạm)

 


31/08/2020

https://www.luatkhoa.org/2020/08/my-dat-nuoc-cua-nguoi-nhap-cu/

 

Người nhập cư (immigrant) là người rời khỏi đất nước mình để đến một quốc gia khác định cư.

 

Lý do của việc rời đi có thể là kinh tế, gia đình, tôn giáo, hoặc chính trị.

 

Người nhập cư bao gồm những người tị nạn (refugee). Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Vấn đề Tị nạn 1951 và Nghị định thư 1967, người tị nạn được định nghĩa là người không thể quay trở về đất nước mình do phải đối mặt với bạo lực, bắt bớ, hoặc nỗi sợ hãi bị phân biệt chủng tộc, bách hại tôn giáo, nguy cơ bị tước quốc tịch, hoặc bất đồng quan điểm chính trị.

 

Việt Nam có tỷ lệ người đến Mỹ xin tị nạn khá cao. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, Mỹ đón nhận khoảng 125 nghìn người tị nạn Việt Nam. Tính đến năm 2017, tổng số người Việt có gốc nhập cư tại Mỹ tăng gấp 10 lần, đạt mức 1,3 triệu người.

 

Những người nhập cư vào Mỹ thường có cùng mơ ước một cuộc sống tự do, công việc ổn định để tạo ra tương lai tốt đẹp cho con cái. Thượng nghị sĩ Mitt Romney trong bài phát biểu nhận đề cử tổng thống của Đảng Cộng hoà năm 2012 nói rằng: “Chúng ta là cháu, chắt của những người muốn có một cuộc sống tốt hơn, những người có ý chí, những người tỉnh dậy lúc nửa đêm vì nghe nói rằng cuộc sống ở Hoa Kỳ có thể tốt đẹp hơn.”

 

https://static01.nyt.com/images/2017/08/03/us/03immigration/03immigration-videoSixteenByNineJumbo1600-v3.jpg

Người nhập cư Mỹ trong một buổi lễ nhập quốc tịch tại Los Angeles. Ảnh: Mark Ralson/AFP/Getty Images.

 

Thế kỷ 16 và 17 là thời kỳ lịch sử 13 thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ, từ năm 1776 thì trở thành Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ. Trong giai đoạn này, hàng trăm ngàn người từ nhiều nước châu Âu như England (Anh), Scotland, Netherland (Hà Lan), Germany (Đức), Sweden (Thụy Điển), Spain (Tây Ban Nha) và Ireland đã nhập cư vào các thuộc địa Mỹ chủ yếu bằng đường biển. Đáng chú ý là những người nhập cư “không tự nguyện” từ châu Phi, chủ yếu là Tây Phi, đến Mỹ vì bị bắt làm nô lệ. Từ năm 1700 đến 1775, ước tính có khoảng 278.400 người châu Phi đã nhập cư tới các thuộc địa Bắc Mỹ.

 

Ngay sau khi Mỹ tuyên bố giành độc lập từ Anh năm 1776, số lượng người châu Âu nhập cư vào Mỹ vì lý do chính trị, tôn giáo và kinh tế tăng đáng kể. Con số này đạt đến đỉnh điểm trong những năm 1892-1924.

 

Trong cuốn “Culture War” (Chiến tranh Văn hóa), giáo sư Fiorina (Đại học Stanford) lập luận rằng ở hầu hết các nước trên thế giới, “quyền công dân thực sự được xác định bởi chủng tộc hoặc sắc tộc.” Ngược lại, “một người Mỹ có thể thuộc về bất kỳ dân tộc nào”.

 

Thời kỳ đầu sau khi nước Mỹ thành lập, các đạo luật nhập cư có xu hướng ủng hộ người nhập cư đến từ Tây Âu và loại bỏ các nhóm khác. Chẳng hạn như đạo luật Chinese Exclusion Act 1882 cấm người lao động nam từ Trung Quốc; hoặc đạo luật Immigration Act 1917 cấm người nhập cư từ một số khu vực từ Trung Đông kéo dài đến Đông Nam Á.

 

Mãi đến năm 1965, Đạo luật Di trú (Immigration and Naturalization Act) mới đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách nhập cư Hoa Kỳ. Đạo luật này đã bãi bỏ hệ thống hạn ngạch tồn tại trước đó đối với người nhập cư và mở cửa cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Việc này giúp tỷ lệ nhập cư từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin tăng đáng kể.

 

Nhìn chung, những người nhập cư vào Mỹ đến từ hầu hết các quốc gia trên thế giới. Năm quốc gia có tỷ lệ người nhập cư vào Mỹ cao nhất bao gồm Mexico (25%), Ấn Độ (6%), Trung Quốc (5%), Philippines (4%) và El Salvador (3,2%). Việt Nam xếp thứ sáu trong danh sách này, chiếm tỉ lệ 3%, ngang với Cuba.

 

Mỹ: Đất nước của những người nhập cư

 

Hoa Kỳ là đất nước của những người nhập cư. Đây không còn là vấn đề tranh cãi. Dữ liệu nhập cư trong suốt chiều dài lịch sử Mỹ đã xác thực nhận định này.

 

Theo nghiên cứu của Pew Research Center, Mỹ có nhiều người nhập cư hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Có hơn 44 triệu người nhập cư sinh sống tại Mỹ vào năm 2018, tương đương gần 14% tổng dân số, theo dữ liệu của Cục Điều tra Dân số Hoa Kì.

 

https://lh3.googleusercontent.com/NkXkKvAofMjOM476_TerGSltZKQ_X32pHtLnOUWkyHNTbEYgwhJF06YN79RQ7BR4Tawv80unPt1QJwe-8KW_-nFagAyNHSNMJSOVhUW7hZ5bmEGIWQc2ZK_JDCYiONeFWaOkSPCL

Số liệu nhập cư tại Mỹ từ 1850-2018. Nguồn: Migration Policy Institute (2020). Chú thích tiếng Việt của tác giả.

 

Theo dữ liệu dân số của Current Population Survey (CPS) năm 2019, tổng số người nhập cư và con cái của họ sinh ra tại Mỹ là khoảng 90 triệu người, tương đương 28% tổng dân số. Tức là, cứ 4 người Mỹ thì có 1 người có gốc nhập cư.

 

Trong cuốn sách nổi tiếng “A Nation of Immigrants” (Đất nước của những người nhập cư), cố Tổng thống Mỹ John F. Kennedy cho rằng ngoại trừ một nhóm nhỏ, mọi người Mỹ đều là người nhập cư hoặc là hậu duệ của người nhập cư. Hiện nay, trung bình mỗi năm có hơn 1 triệu người nhập cư vào Mỹ, theo thống kê của Pew Research Center.

 

Năm 1886, Pháp tặng cho Mỹ tượng Nữ thần Tự do để kỉ niệm liên minh Pháp – Mỹ trong Cách mạng Mỹ. Bức tượng này đã trở thành biểu tượng sâu sắc của những người nhập cư. Bài thơ “The New Colossus” (Bức tượng mới) của nhà thơ Emma Lazarus được khắc trên tấm bệ đồng của bức tượng. Đó là lời chào mừng những người nhập cư tới Hoa Kỳ.

 

https://2xjs7y10oiyz26vqxu2hok6y-wpengine.netdna-ssl.com/wp-content/uploads/2020/08/new-colossus.001-1-1024x548.jpeg

Trích đoạn “The New Colossus”

 

Nhập cư là vấn đề tranh cãi tại chính trường Mỹ

 

Nhập cư từ lâu là một vấn đề thu hút nhiều sự tranh cãi. Việc ủng hộ hoặc chống đối nhập cư tùy thuộc khá nhiều vào quan điểm chính trị.

 

Đảng Cộng hòa thường muốn hạn chế người nhập cư vào nước Mỹ, đồng thời muốn trục xuất người ở Mỹ không có giấy tờ hợp pháp. Trong khi đó, Đảng Dân chủ muốn tạo cho những người nhập cư ở Mỹ không có giấy tờ cơ hội được ở lại. Nhìn chung, đại đa số cử tri Dân chủ (83%) ủng hộ nhập cư, ngược lại, 30-40% cử tri Cộng hòa chống nhập cư.

 

Phần lớn phe bảo thủ không ủng hộ nhập cư vì lo ngại di dân sẽ gây hại kinh tế và an ninh. Khoảng 78% cử tri Cộng hòa xem số lượng lớn người nhập cư và tị nạn đến Mỹ là “một mối đe dọa nghiêm trọng.” Họ sợ rằng rằng người nhập cư sẽ giành lấy công việc của họ. Trong khi đó, hầu hết các chuyên gia kinh tế cho rằng người nhập cư sẽ giúp duy trì nguồn lao động dồi dào và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

 

Phe bảo thủ còn lo lắng rằng người nhập cư vào Mỹ sẽ phạm pháp, đe dọa an ninh công cộng. Tuy nhiên, theo hầu hết các cơ quan kiểm chứng, điều này là sai. Theo nghiên cứu mới nhất của Ngân hàng Dự trữ Liên bang, người nhập cư có tỷ lệ tội phạm thấp so với công dân Mỹ ngay cả khi họ phải đối mặt với các điều kiện xã hội bất lợi.

 

Mặc dù chính sách nhập cư vẫn gây nhiều tranh cãi, phần lớn (62%) người Mỹ tin rằng người nhập cư đóng góp tích cực cho nước Mỹ bằng sự chăm chỉ và tài năng của họ, theo khảo sát năm 2019 của Pew Research Center.

 

https://2xjs7y10oiyz26vqxu2hok6y-wpengine.netdna-ssl.com/wp-content/uploads/2020/08/image1.png

Nguồn: Pew Research Center. Chú thích tiếng Việt của tác giả.

 

Tương tự, theo thăm dò mới nhất của Gallup vào tháng 7/2020, cứ 10 người Mỹ thì có 8 người tin rằng nhập cư là một điều tốt. Có 34% người Mỹ muốn tăng tỷ lệ nhập cư lên, đó là mức cao nhất từ năm 1965. Đó cũng là lần đầu tiên trong lịch sử khảo sát của Gallup, tỷ lệ người Mỹ muốn có thêm người nhập cư cao hơn so với tỉ lệ muốn giảm bớt (28%).

 

Nhờ chính sách nhập cư, đặc biệt là chương trình tị nạn nhân đạo, nước Mỹ có được sự đóng góp của vô số tài năng xuất chúng. Theo Quỹ Khoa học Quốc gia, hơn 50% những nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ là những người nhập cư. Trong số các giải thưởng Nobel về hóa học, y học, và vật lý được trao cho người Mỹ từ 2000 – 2019, 38% người được nhận là dân nhập cư. Trong danh sách Fortune 500 (500 công ty lớn nhất của Mỹ được xếp hạng theo tổng doanh thu), khoảng 40% số công ty là do người nhập cư lập ra.

 

Một trong những người nhập cư đầu tiên và xuất chúng nhất của Mỹ là triết gia lừng danh Thomas Paine. Chính từ tác phẩm kinh điển “Common Sense” (Lẽ thường) xuất bản năm 1776 của Paine, giới trí thức Mỹ được truyền động lực để giành độc lập từ thuộc địa Anh. Theo Paine, “nước Mỹ nên trở thành nơi tị nạn cho những người yêu quý tự do dân sự và tôn giáo”.

 

Dù chính sách nhập cư Mỹ có thay đổi trong tương lai, khó mà thay đổi được đặc điểm tạo nên những giấc mơ Mỹ trên khắp thế giới và bản sắc của chính quốc gia này: “Đất nước của những người nhập cư”.

 

----------------------------------------

 

XEM THÊM

 

RNC 2020, MIỀN ĐẤT CỦA NHỮNG XẢO TRÁ (Nhã Duy)   

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2020/08/29/rnc-2020-mien-dat-cua-nhung-xao-tra-nha-duy/

28/08/2020

RNC 2020, miền đất của những xảo trá

Nhã Duy

 

 

 

 

 


SHINZO ABE RÚT LUI CHÍNH TRƯỜNG, SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG BỊ ĐE DỌA? (Minh Anh - RFI)

 


Shinzo Abe rút lui chính trường, sự ổn định của Châu Á – Thái Bình Dương bị đe dọa ?

Minh Anh  -  RFI

Đăng ngày: 31/08/2020 - 14:10

https://www.rfi.fr/vi/ph%C3%A2n-t%C3%ADch/20200831-shinzo-abe-r%C3%BAt-lui-ch%C3%ADnh-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-s%E1%BB%B1-%E1%BB%95n-%C4%91%E1%BB%8Bnh-c%E1%BB%A7a-ch%C3%A2u-%C3%A1-%E2%80%93-th%C3%A1i-b%C3%ACnh-d%C6%B0%C6%A1ng-b%E1%BB%8B-%C4%91e-d%E1%BB%8Da

 

Những tin đồn liên quan đến sức khỏe của thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã lan truyền từ nhiều tuần qua, nên thông báo từ nhiệm của ông hôm thứ Sáu 28/08/2020 không hẳn là một cú sốc hoàn toàn đối với các quan chức Mỹ. Nhưng theo nhận định của CNN, chính thời điểm đưa ra thông báo mới là điều đáng lo.

 

https://s.rfi.fr/media/display/773e433e-eb82-11ea-958e-005056bf87d6/w:980/p:16x9/2020-08-28T082431Z_1642899065_RC2WMI9OITPX_RTRMADP_3_JAPAN-POLITICS-ABE.webp

Ông Shinzo Abe tại cuộc họp báo tại dinh thủ tướng Nhật ở Tokyo, ngày 28/08/2020. © REUTERS - POOL

 

Tám năm thay vì là tám tháng như các đời chính phủ Nhật Bản khác trước năm 2012, Shinzo Abe trở thành vị thủ tướng cầm quyền lâu nhất tại Nhật Bản. Nhờ vào sự ổn định chính trị này, Nhật Bản đã trở lại sân khấu chính trị quốc tế một cách ngoạn mục. Nhắc đến Shinzo Abe, người ta không thể không nhắc đến khái niệm « Ấn Độ - Thái Bình Dương » nổi tiếng. Và đối với giới quan sát, chính những tầm nhìn thực dụng và năng động của Shinzo Abe còn là một nguồn bảo đảm ổn định khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

 

Bà Celine Pajon, chuyên gia về Nhật Bản, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp (IFRI) khi trả lời phỏng vấn tạp chí Diplomatie (số ra cho tháng 5-6/2020) từng nhận xét rằng chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời Shinzo Abe tựu trung được cấu tạo để đối phó với sự trỗi dậy thành cường quốc của Bắc Kinh. Đối với Nhật Bản, việc Trung Quốc đi lên thành một cường quốc trên thế giới đặt nước này trước hai rủi ro lớn.

 

Mối nguy thứ nhất có liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia. Trung Quốc từ năm 2012 không ngừng gia tăng sách nhiễu, đưa tầu hải cảnh xâm nhập xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư do Nhật Bản quản lý nhưng Trung Quốc và cả Đài Loan đòi hỏi chủ quyền.

 

Nguy cơ thứ hai có bản chất hệ thống. Tokyo xem Bắc Kinh như là một cường quốc « xét lại » và điều này gây nguy hiểm cho trật tự thế giới tự do được thiết lập từ sau năm 1945, mà dự án Con đường Tơ lụa mới là một ví dụ điển hình. Với Nhật Bản, dự án tầm cỡ địa chính trị này của Trung Quốc rất có thể còn nhằm một mục tiêu sau cùng là tái thiết một hệ thống quốc gia chư hầu dưới vỏ bọc tài trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, một hình thức để mở rộng các chuẩn mực và định chế Trung Quốc trong khu vực, thậm chí trên thế giới.

 

Chính trong bối cảnh này, ông Shinzo Abe, ngay khi lên cầm quyền năm 2012, vạch ra một chiến lược phản công làm đối trọng với Bắc Kinh. Một mặt, ông tăng cường cải thiện mối quan hệ liên minh Mỹ - Nhật, thúc đẩy thông qua luật an ninh quốc gia gây tranh cãi khi cho diễn giải lại điều khoản hạn chế sử dụng vũ lực để tự vệ, và như vậy có thể đến cứu viện Mỹ nếu cần thiết. Mối quan hệ này có từ thời Barack Obama, nhưng vẫn được đích thân Shinzo Abe đặc biệt duy trì ngay cả khi Donald Trump trở thành chủ nhân Nhà Trắng.

 

Đồng thời, ông xúc tiến chiến lược « Ấn Độ - Thái Bình Dương » quy tụ bốn nước Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc và Ấn Độ. Đối thoại an ninh « Quad – Bộ Tứ ) được tổ chức hàng năm nhằm duy trì một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở nhằm đối phó với những tham vọng bành trướng của Bắc Kinh trong khu vực.

 

Mặt khác, để làm đối trọng với dự án Một vành đai Một con đường của Trung Quốc, Shinzo Abe không ngừng nỗ lực thúc đẩy Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 12 nước cho dù sau này chỉ còn 11 nước do Donald Trump đã rút Hoa Kỳ ra khỏi dự án. Ông Abe tin rằng chương trình này có một tầm quan trọng lớn vì cả hai lý do kinh tế và chiến lược.

 

Nhìn lại những gì được thực hiện, theo giới quan sát, tuy tư tưởng chủ nghĩa dân tộc của ông đôi khi gây ra nhiều tranh cãi, nhưng Shinzo Abe lại là một người theo chủ nghĩa đa phương, dấn thân không mệt mỏi nhằm thúc đẩy cho một trật tự thế giới dựa trên luật lệ quốc tế.

 

Chỉ có điều giờ đây thông báo từ nhiệm của ông lại đưa ra không đúng thời điểm. Tình hình châu Á trở nên căng thẳng. Trong khi cuộc đọ sức Mỹ - Trung vẫn tiếp diễn, Bắc Kinh thời gian gần đây tiếp tục gia tăng các hành động khiêu khích gây hấn ở Biển Đông và biển Hoa Đông với các nước láng giềng. Chính sách đàn áp mới đối với Hồng Kông cũng như là mối đe dọa đối với Đài Loan còn làm dấy lên nỗi lo xung đột lớn tại châu Á.

 

Liệu rằng người kế nhiệm Shinzo Abe có thể tiếp nối những chính sách đã được vạch ra hay không ? Hệ quả chính trị, địa chính trị từ thông báo rút lui chính trường của ông tại châu Á sẽ như thế nào ? Nhiều câu hỏi đang chờ lời giải đáp. Một điều chắc chắc, đối với thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, « Ấn Độ đang mất đi một người bạn tốt, một đồng minh tốt nhất ở Nhật Bản ».

 

 

 

 

 


SHINZO ABE và CUỘC ĐẤU VỚI TẬP CẬN BÌNH (Gideon Rachman - Financial Times)

 


Shinzo Abe và cuộc đấu với Tập Cận Bình

Gideon Rachman  -  Financial Times   

Trần Hùng biên dịch

01/09/2020

http://nghiencuuquocte.org/2020/09/01/shinzo-abe-va-cuoc-dau-voi-tap-can-binh/

 

Thời đại Shinzo Abe cũng là thời đại Tập Cận Bình. Hai nhà lãnh đạo hiện tại của Nhật Bản và Trung Quốc lên nắm quyền chỉ cách nhau vài tuần. Ông Abe được bầu làm thủ tướng Nhật vào tháng 12 năm 2012 ở tuổi 58. Chỉ một tháng trước đó, ông Tập đã được bầu làm tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, ở tuổi 59.

 

Đây không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên về thời gian. Nhiệm vụ trọng tâm của ông Abe – như lời các cố vấn thân cận nhất của ông mô tả – là củng cố Nhật Bản để đối phó với một Trung Quốc ngày càng hùng mạnh và chuyên chế.

 

Vị thủ tướng Nhật hiện chuẩn bị từ chức vì sức khỏe yếu, nhiệm vụ của ông chưa hoàn thành. Ông đã thực hiện một cuộc chơi khó khăn với một số kỹ năng và quyết tâm. Nhưng sự thật khó chịu là thế lưỡng nan chiến lược của Nhật Bản không thể được giải quyết bởi chỉ một mình Tokyo. Suy cho cùng, số phận của Nhật có thể phụ thuộc vào những diễn biến chính trị nằm ngoài tầm kiểm soát của nước này – ở Mỹ và Trung Quốc.

 

Trong thời kỳ của ông Tập, rõ ràng là Trung Quốc đang có ý định trở thành cường quốc thống trị ở châu Á – và có lẽ là trên thế giới. Điều đáng lo ngại cho bất kỳ chính phủ nào ở Tokyo là chủ nghĩa dân tộc hiện đại của Trung Quốc tràn ngập tình cảm chống Nhật – điều tồn tại từ thời Nhật Bản xâm lược và đối xử tàn bạo với Trung Quốc vào những năm 1930. Hai nước vẫn còn tranh chấp lãnh thổ, máy bay và tàu của họ vẫn thường thách thức nhau quanh quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư.

 

Bất kỳ thủ tướng Nhật nào muốn định hình phản ứng trước một Trung Quốc đang trỗi dậy cũng đều phải làm việc với những nguồn lực không mấy hứa hẹn. Dân số Nhật đang già đi và thu hẹp lại, trong khi nợ quốc gia của nước này rất lớn. Nền kinh tế Trung Quốc đã lớn hơn nền kinh tế Nhật Bản từ một thập niên trước và tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh hơn. Bắc Kinh đang đổ tiền vào các tàu chiến và tên lửa mới với tốc độ mà Nhật Bản không thể sánh kịp.

 

Trung Quốc cũng phải đối mặt với thách thức về nhân khẩu học khi dân số của họ già đi. Nhưng thực tế dân số Trung Quốc vẫn đông gấp 10 lần Nhật Bản – và sự bất cân xứng về quyền lực giữa hai quốc gia ngày càng lớn theo thời gian. Mong muốn hòa bình cũng ăn sâu vào tâm trí Nhật Bản. Thay đổi hiến pháp Nhật  để cho phép quân đội chiến đấu ở nước ngoài đã được chứng minh là một điều bất khả thi về mặt chính trị đối với ông Abe.

 

Đối mặt với những thực tế này, có vẻ hợp lý nếu chính phủ Nhật Bản áp dụng chính sách xoa dịu Bắc Kinh. Nhưng bất kỳ chính sách nào như vậy cuối cùng cũng sẽ khiến nền tự do và sự tự chủ của Nhật Bản phải trả giá đắt.

 

Vẫn chưa rõ tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc có dừng lại ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư không người ở hay không. Một số viện nghiên cứu và các tờ báo được chính phủ hậu thuẫn ở Bắc Kinh còn đặt câu hỏi về chủ quyền của Nhật đối với Okinawa – nơi có dân số 1,4 triệu người và là nơi đặt căn cứ quân sự quan trọng nhất của Mỹ trong khu vực. Nói rộng hơn, nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc muốn có một sự trả thù mang tính biểu tượng cho giai đoạn những năm 1930 bằng cách đưa Nhật Bản xuống hàng một quốc gia triều cống.

 

Hiểu rõ tất cả những điều này, ông Abe đã không đưa ra bất kỳ nhượng bộ nào về tranh chấp đối với quần đảo Senkaku. Ông biết rằng bất kỳ bước lùi đơn phương nào cũng sẽ được Bắc Kinh coi là một hành động biểu tượng của sự phục tùng.

 

Tuy nhiên, ngay cả khi giữ vững lập trường đối với tranh chấp này, ông Abe cũng tìm cách xoa dịu căng thẳng với ông Tập. Vị thủ tướng Nhật đã có chuyến thăm thành công tới Bắc Kinh vào tháng 12 năm ngoái. Đáng lẽ ra ông Tập đã có chuyến thăm cấp nhà nước tới Nhật Bản trong năm nay nhưng chuyến thăm đã bị trì hoãn vì Covid-19.

 

Sẽ thiếu cẩn trọng nếu cho rằng sự cải thiện quan hệ này là vĩnh viễn. Đối mặt với những khó khăn trong quan hệ với Mỹ về thương mại, Đài Loan và Biển Đông – ông Tập có thể đang tìm kiếm một mối quan hệ hợp tác tạm thời với Nhật Bản. Trung Quốc cũng có thể đánh hơi thấy khả năng cuối cùng có thể lôi kéo Nhật Bản đi theo một lập trường trung lập hơn trong cuộc đối đầu giữa Bắc Kinh và Washington. Nếu Tổng thống Mỹ Donald Trump tiếp tục đe dọa Nhật Bản bằng các biện pháp trừng phạt thương mại và gây hoài nghi về liên minh Mỹ-Nhật, tình cảm chống Mỹ có thể tăng lên ở Nhật.

 

Bản chất thất thường của Tổng thống Trump chắc chắn đã khiến công việc của ông Abe trở nên khó khăn hơn. Một trong những hành động đầu tiên của ông Trump trên cương vị tổng thống là rút Mỹ ra khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) – một thỏa thuận thương mại đa quốc gia mà chính quyền Abe đã dành nhiều tâm sức để đàm phán. Thay vì chán chường bỏ cuộc, ông Abe đã dốc toàn lực vào việc xây dựng lại quan hệ với Nhà Trắng và tái định hình TPP thành một thỏa thuận mới (Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương Tiến bộ và Toàn diện), với sự tham gia của tất cả các bên ký kết ban đầu trừ Mỹ.

 

Ông Abe là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên bước qua cửa của toà Tháp Trump để chúc mừng vị tổng thống sau chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2016. Tư thế hơi khom người của ông có thể là sự khiêm tốn, nhưng nó cũng phục vụ một mục đích chiến lược rộng lớn hơn.

 

Đồng thời, ông Abe cũng đã nuôi dưỡng quan hệ với những người bạn mới – đặc biệt là Narendra Modi, thủ tướng Ấn Độ. Nhật Bản đang thúc đẩy một “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mở và tự do”, nơi các nền dân chủ của khu vực cùng tồn tại. Sự tương phản được ngụ ý ở đây là với một châu Á – Thái Bình Dương khép kín và độc đoán có thể xuất hiện nếu quyền lực của Trung Quốc không bị kiểm soát.

 

Ông Abe đã có nhiều động thái chiến lược đúng đắn cho đất nước mình. Nhưng ông rời nhiệm sở khi không biết liệu những nỗ lực của mình cuối cùng có đạt được thành công hay không. Đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc là một thách thức của nhiều thế hệ Nhật Bản. Những người kế nhiệm ông Abe sẽ cần may mắn cũng như kỹ năng để lèo lái một tương lai không chắc chắn.

 

------------------

 

NGUỒN :

 

Gideon Rachman, “Shinzo Abe and his struggle with Xi Jinping”, Financial Times, 31/08/2020.