Sunday, August 1, 2010

HÀ NỘI ĐÃ CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ

Hà Nội đã cưỡi trên lưng hổ

http://www.danchimviet.com/archives/15219

Phải nói rằng, cú đòn “Đa phương hóa Biển Đông” của Hà Nội đã đánh gục chủ nghĩa bành trướng trên biển Đông của Trung quốc. Cú đòn đánh trực diện, một cú đấm “direct” vào mặt “Thiên triều”.

Mặc dù biết từng bước đi trước đây của một “equipe” trong chính quyền Hà Nội, nhiều lần cố gắng làm điều này, nhưng với bản tính ngạo mạn nước lớn, với thói quen tư duy theo một lô gic thiên triều, hoặc là quá tự tin vào khả năng kiểm soát bằng nhiều thủ đoạn “truyền thống” khác, Trung quốc không tin Hà Nội có thể dám cả gan hành động như vậy.

Người ta nhớ lại rằng, dưới áp lực của Trung Quốc vấn đề tranh chấp Biển Đông, vốn liên quan nhiều quốc gia thuộc ASEAN, đã không được mang ra bàn tại Hội nghị Thượng đỉnh Asean 15 tổ chức tại Hua Hin, Thái Lan. Và Trung quốc đã từng chủ quan, pha một chút “thách đố” khi tuyên bố: “dường như Trung Quốc đã đạt thắng lợi ngoại giao một cách nhẹ nhàng thông qua việc bảo đảm rằng khối Asean không tham gia vào các bất đồng lãnh thổ”. Một nhà ngoại giao giấu tên, đã tiết lộ trên báo Hongkong rằng: “Bắc Kinh không muốn bàn về chủ đề này và nó sẽ không được bàn tới và “Bắc Kinh đã buộc ASEAN vào đúng vị trí mà Trung Quốc muốn”.

Khi đó, điều mà người ta lo ngại là Trung quốc đã xỏ mũi được Thái lan, khống chế được Lào, Mianmar và Campuchia, còn Việt nam thì vẫn phải “trung thành” với nguyên tắc “16 chữ vàng” và láng giềng “bốn tốt”. Riêng với Singapore, không dùng áp lực kinh tế hay thủ đoạn mua chuộc bằng “món lợi cá nhân” như với lãnh tụ các nước nghèo đói khác, thì thông điệp là: hãy cẩn thận đấy, với hơn 70% dân số là người Trung hoa, thì vấn đề tồn tại của cả chế độ, là vấn đề chưa chắc do người Singapore tự quyết định!

Cho đến trước hội nghị lần này, mặc dù do Hà Nội làm chủ tịch, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN đã tái khẳng định lập trường của Trung Quốc, rằng các bất đồng ở Biển Đông là “vấn đề song phương, chứ không phải đa phương”.

Sự ngạo mạn thái quá đã làm Trung quốc thất bại trước một Hà Nội dù vẫn còn chia rẽ.

Từ nay, vấn đề Biển Đông sẽ không thể quay lại là “vấn đề song phương”. Mưu lược Trung quốc, cuối cùng, đã không vượt qua được một bộ phận trí tuệ Việt nam. Nói một phần, vì ở Hà nội vẫn còn một mẩu trí tuệ hèn mạt và nô lệ khác, tồn tại song hành.

Nhưng cũng phải thấy rằng, Hà nội đã cưỡi trên lưng cọp.

Sau những gì bà Clinton tuyên bố về một “lợi ích quốc gia” của Mỹ trong việc tự do đi laị trên vùng biển mà Trung quốc sắp thành công trong việc biến nó thành của riêng, Bắc kinh sẽ lồng lộn tức giận.

Bộ trưởng ngoại giao Dương Khiết Trì hằm hằm bỏ ra ngoài phòng họp giữa lúc hội trường náo động những chỉ chích nhằm thẳng vào Trung quốc, và quay lại sau đó một giờ, với thái độ cay cú, hằn học đặc biệt với Việt Nam và Singapore: “Trung quốc là một nước lớn, và các nước ASEAN là những quốc gia nhỏ, đó là một thực tế”, ông ta đã tuyên bố như vậy, khi mỉa mai tờ quốc thư của chính phủ Việt Nam, và chĩa ánh mắt bốc lửa thẳng vào mặt vị bộ trưởng ngoại giao Singapore.

Rồi tiếp tục trên trang Web cuả bộ Ngoại giao, ông ta lớn tiếng “Hậu quả sẽ là gì nếu vấn đề này chuyển sang đa phương hay quốc tế hoá”?- “Nó chỉ làm cho vấn đề tồi tệ hơn và việc giải quyết vấn đề khó khăn hơn”.

Giọng ca hằn học ngầm ý răn đe này được các tướng lĩnh Trung quốc ngay lập tức hòa nhịp.

Những gì sẽ xảy ra trong thời gian tới đây ?

Bắc Kinh sẽ trừng phạt như thế nào với sự phản bội này của Hà Nội?

Hà nội đã từng “hớt tay trên” trong âm mưu chiếm đoạt Campuchia của Trung quốc vào lúc sắp thành công khi Pôn-Pốt đã giết chết gần một phần ba dân số Campuchia, và sẽ ồ ạt thay bằng người Hán và vì vậy đã có “một bài học” năm 1979. Hành vi xấc xược đó đã không thể được tha thứ, mặc dù, nó không đánh Trung quốc, mà là đánh bọn “diệt chủng”.

Lần này, là cú đánh vỗ mặt trực tiếp vào Trung quốc. Chưa bao giờ Trung quốc bị “đàn em” chơi như vậy. Đành rằng, công khai kiếm chuyện để “cho Việt Nam một bài học” nữa vào thời điểm này là chuyện không còn do Trung quốc kiểm soát nữa. Nhưng “ Thiên triều” không thiếu cách. Lịch sử đã chứng tỏ và vân luôn luôn chứng tỏ như vậy.

Sẽ là gì?

Những món nợ ngoại tệ kếch xù mà Hà Nội phải vay để thoát chết năm 2008? Những dự án đầu tư gồm những món lợi béo bở khổng lồ cho một chế độ toàn những tham quan? Tất, tất cả . Sẽ không còn gì hết. Mi phải chết đói vì kiệt quệ! Ta sẽ làm cho mi phải chết dần như con chó tự liếm vết thương! Nếu không có chiến tranh biên giới, không có chiến tranh tầu ngầm, sẽ có những loại chiến tranh khác. Người trung quốc chúng ta vẫn thường nói: “Quân tử mười năm trả thù chưa muộn”- Những kế hoạch từ xa xưa, đang được xét để hủy bỏ, sẽ được tiếp tục, và sẽ có những kế hoạch dài hơi hơn hình thành.

Dù sao thì với Trung quốc, điều gì cũng có thể xảy ra. Có thể vì vậy, mà chuyến thăm hồi tháng ba của chủ tịch Nguyễn Minh Triết tới hòn đảo đang bị tranh chấp giữa vịnh Bắc bộ là Bạch long vĩ để động viên chiến sĩ săn sàng cho một cuộc chiến tranh xâm lược đến từ phương Bắc: “Chúng ta sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng ta, biển và hải đảo của chúng ta. Chúng tôi sẽ không nhân nhượng, cho dù một tấc đất cho bất cứ ai.”và sẽ “chiến đấu cho chủ quyền của tổ quốc trong bất kỳ tình huống nào”.

Sẽ có những cú điện thoại theo đường dây đặc biệt. Sẽ có những chuyến thăm đột xuất. những cuộc đàm phán không chính thức và tuyệt mật. Sẽ có sự sắp xếp lại nhận sự của Đaị hội XI. Sẽ có những kẻ đột ngột ra đi. Sẽ có đột tử không rõ nguyên nhân. Sẽ có tai nạn giao thông, hàng không. Và sẽ có những khoảng “nhạy cảm” khác nữa được bổ sung, và sẽ lại có hàng loạt tổng biên tập báo phải cuốn gói về vườn.

Nhưng mà ai?

Danh mục những kẻ phản bội thiên triều lần này sẽ bao gồm những ai? Liệu Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Phạm gia Khiêm, Phùng Quang Thanh, Phạm Bình Minh …có nằm trong danh sách này không? Và những ai nữa?

Những đồ đệ nhu nhược như Nông Đức mạnh, gàn dở như Nguyễn Phú Trọng, dốt nát và ngang bướng như Tô Huy Rứa, vô liêm sỉ và hèn mạt như Nguyễn Chí Vịnh v.v..cái lũ này, nếu không còn đảng cộng sản thì chúng sống bằng gì.

Nhưng, cũng sau cú đánh này, Việt Nam không còn đương lùi. Việc thừa nhận vai trò của Mỹ với Đông dương và biển Đông đã “quang minh chính đại”. Việc công khai, chính thức hóa mối quan hệ chiến lược, bạn hữu gắn bó giữa Mỹ và Việt Nam là một thắng lợi có tính bản lề và quyết định. Đây là vấn đề khó khăn nhất có tính chất ý thức hệ, vấn đề dễ trở thành gót chân Achile của bất cứ ai vội vã và bất cẩn, sẽ bị đối phương lợi dụng và quật ngã. Từ nay, sẽ rộng đường thênh thang cho quan hệ chiến lược Việt- Mỹ. Bởi vì từ nay, một tư tưởng chính thống khác sẽ lên ngôi: Trong những người có thể là bạn của Việt Nam, không có Trung quốc. Cặp kè, thậm thụt đi lại với Trung quốc là phản quốc, còn mở miệng nói “ nhạy cảm” là Việt gian. Từ nay cho đến khi Việt Nam trở hành “đồng minh tin cậy” của Mỹ không còn trở ngại nào từ trong nội bộ, đúng hơn là từ trong lòng dân. Và chúng ta đã có chính thức một loại thuốc thử cho chủ nghĩa yêu nước: nói cùng giọng Trung quốc. Đi với Trung quốc là đi ngược lại lòng dân. Hoặc có Trung quốc, hoặc có dân và chế độ, không có lựa chọn khác.

Hà Nội đã ở trên lưng hổ. Nhưng năm 2010 là năm hổ. Thế cưỡi hổ là thế chế ngự.

Có dân là có tất cả.

30/07/2010

© BQV

© Đàn Chim Việt

.

.

.

HIẾN PHÁP VIỆT NAM : TỐT NHẤT LÀ THAM KHẢO NGƯỜI DÂN

Hiến pháp Việt Nam: Tốt nhất là tham khảo người dân
David Koh – Kathy Lâm lược dịch

01-08-2010

http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7649

Bộ Tư pháp Việt Nam gợi ý là người dân “được cho quyền được tham khảo ý kiến” trước khi Quốc hội thông qua những thay đổi hiến pháp (tu chính án). Sự đề nghị này, tự nó là một tu chính án, giờ đang được Đảng Cộng sản đương quyền cứu xét.

Rất nhiều chi tiết mấu chốt chưa sẵn sàng. Nhưng chuyện này cần được khen ngợi vì hai lý do.
Trước hết, nhà nước cộng sản Việt Nam đã có chính sách xem xét lại luật ảnh hưởng, tác động đến vấn đề nhân quyền và dân chủ sau khi cân nhắc đến vấn đề an ninh quốc gia. Sự chuyển hướng đến vấn đề tham khảo hiến pháp có thể được xem như là một phần của chính sách đó.
Thứ nhì, sự thay đổi hiến pháp - nếu dùng chữ chính xác – sẽ phải có khả năng bảo vệ quyền con người ở trong những trường hợp mà nền chính trị độc đảng có thể đưa đến tình trạng lạm dụng quyền lực.

Theo Hiến pháp Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất được phép hiện hữu (Điều 4). Nhu cầu tham khảo người dân trước khi tu chính án được chấp thuận không nên là sự hăm dọa đến nền cai trị độc đảng. Bởi, việc xét duyệt lại Điều 4 này khó có thể xảy ra trong thời gian ngắn.
Rốt cuộc rồi, thì đảng vẫn nắm quyền kiểm soát Quốc Hội. Đây là lý do chính yếu cho thấy tại sao tu chính án (cho người dân có quyền được tham khảo) này đã được đề cập đến; mặc dù trên lý thuyết, điều này có thể làm giảm quyền lực của Đảng Cộng sản.

Tu chính án có lẽ nhắm vào việc ngăn chận những vấn đề không tốt đẹp phát sinh từ hệ thống chính trị độc đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một, nhưng không phải vậy. Quyền lực quốc gia được tập trung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị (Ban Chấp hành TƯ Đảng bầu BCT theo thủ tục đảng).
Nhưng Ban Chấp hành Trung ương Đảng bao gồm đại biểu từ các tỉnh cũng như các cơ quan quyền lực quan trọng nhất của các cơ quan và ban ngành của đảng. Tỉnh ủy vẫn nắm quyền đáng kể đối với nhà cầm quyền địa phương (UBND). Trong thời tiền Đổi Mới 1986, lãnh đạo đảng ở cấp địa phương hành xử không khác gì những lãnh chúa trong địa phương của họ.

Điều thú vị là ý tưởng cho người dân được quyền có ý kiến trước khi tu chính án được chấp thuận này lại được gợi ra bởi ông cựu Chủ tịch Quốc hội và một cựu ủy viên Bộ Chính trị. Những nhân vật này có một sự hấp dẫn chính trị và không là những gợi ý cho có, hoài của. Rất có thể họ đã thảo luận ý tưởng này với đồng nghiệp của họ, với những nhà lãnh đạo trong quá khứ cũng như hiện tại, trước khi tiết lộ ra ngoài.

Chưa thấy bản phác thảo nào cho chuyện này bằng văn bản. Nhưng chi tiết sẽ là điều then chốt cho sự hiệu qủa của tu chính án này.

Trước hết, chuyện tham khảo hiến pháp được tiến hành như thế nào đây? Liệu ta có sẽ thấy một cuộc trưng cầu dân ý, lần đầu tiên kể từ ngày đất nước thống nhất từ năm 1975? Hay quyền lực tham vấn quốc dân này sẽ được ủy quyền cho Quốc Hội? Hay quyền này sẽ được dành cho một nhóm lớn hơn Quốc Hội (500), gồm hằng ngàn người?
Thứ nhì, ai sẽ là người khởi xướng chuyện tham khảo này? Nếu tham khảo trở thành chuyện đương nhiên cho mỗi một tu chính án được đề ra, thế thì một cơ chế thường trực nên được thành lập để theo dõi luật, bảo đảm tính hợp hiến, và đề xuất những tu chính án có ý nghĩa, hợp thời.
Quốc hội hiện đã có Ủy ban Pháp luật. Tuy nhiên, nếu những nhà lập pháp cân nhắc để bổ nhiệm một Hội đồng Tham khảo bao gồm những người khác nữa, ngoài những đại biểu Quốc Hội hay thành viên của Ủy ban Pháp luật thì điều này cũng rất xứng đáng để nghĩ đến. Hội đồng Tham khảo này cũng có thể bao gồm những người được xã hội kính trọng và những chuyên gia về luật và hiến pháp trong những lãnh vực liên quan đến. Điều này sẽ gia tăng trình độ chuyên môn và tránh những chỉ trích như “ Quốc Hội chỉ thuần là một công cụ của Đảng Cộng sản”. Hội đồng Tham khảo này có thể dùng đến khi có một tu chính án được đệ trình để xét duyệt.
Thứ ba, bằng phương cách nào mà Hội đồng Tham khảo này có thể ghi nhận những ý kiến có tính cách đại chúng và thoáng, rộng rãi hơn? Liệu sẽ có một tiến trình đại loại như trưng cầu dân ý bán phần, khi ý kiến của người dân đủ mọi tầng lớp trong xã hội được Hội đồng Tham khảo ghi nhận và cân nhắc đến?

Ai cũng biết việc thay đổi hiến pháp không là chuyện xảy ra hằng năm, tổ chức những cuộc ghi nhận ý kiến người dân như thế mất thời gian và công sức, tiền bạc. Nhưng nhất thiết cần có một sự cân bằng quan điểm của những người được chỉ định làm việc cho Hội đồng Tham khảo hay ngay trong Quốc Hội, và nỗ lực cần thiết để mở rộng quyền hành xử này cho tất cả ngõ hầu những sự thay đổi hiến pháp có thể thực sự phản ảnh nguyện vọng của người dân.
Sự đề nghị cho người dân quyền được tham khảo về những gì liên quan đến hiến pháp được đặt trên căn bản hiểu biết của người dân Việt, rằng chính họ là chủ nhân của đất nước và vì thế, người dân Việt Nam nên được phép có tiếng nói của họ trong việc soạn thảo và thay đổi Hiến pháp.
Sự thay đổi được gợi ý trên sẽ không hăm dọa gì đến sự cai trị độc đảng của nhà nước cộng sản hiện nay. Nhưng điều này sẽ giúp ngăn chận sự lạm dụng quyền lực bằng cách bảo vệ những quyền hợp hiến, hợp pháp của người dân. Tuy nhiên, ai và cái gì đây cấu thành cái gọi là “người dân” này; vẫn cần được xác định.

© DCVOnline

Nguồn: (1) Viet Constitution: Best to consult the people. By David Koh, For The Straits Times, 24 July 2010. Tác gỉa là một nghiên cứu gia thâm niên của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á châu, Singapore

.

.

Lược ghi buổi gặp mặt bạn bè, thân hữu nhân kỷ niệm 35 năm ngày 30/4/2010
Nguyễn Văn Bé

01-08-2010

http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7650

.

DCVOnline: Nhận thấy trong bài "Hiến pháp Việt Nam: Tốt nhất là tham khảo người dân" của tác giả David Koh đi hôm nay có đề cập đến ông cựu Chủ tịch Quốc Hội và một cựu Ủy viên BCHTƯ đảng CSVN đã đề xướng chuyện tu chính án nhằm cho phép "người dân được quyền được tham khảo ý kiến" đối với việc soạn thảo và thay đổi hiến pháp, DCVOnline cho đi cùng lúc bài này để bạn đọc có thêm thông tin. Rất có thể, bài này liên quan đến vấn đề ông David Koh nêu ra trong bài viết của ông.
DCVOnline trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi bài dưới đây của tác giả Nguyễn Văn Bé, bài này đã được đăng trên mạng doithoaionline. org hôm 10 tháng Sáu trước đây.

--------------------------------
.

Nhân kỷ niệm 35 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc (30/4/1975 - 30/4/2010) ba chúng tôi gồm : vợ chồng anh Lê Hữu Hà, chị Nguyễn Thị CươngNguyễn Văn Bé (anh Bé từ Nha Trang mới vào Sài Gòn) được vợ chồng anh Trần Trọng Tân nguyên ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Phó bí thư Thành ủy, Trưởng ban Tuyên giáo thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đang sinh hoạt Đảng ở chi bộ đường phố, nghỉ hưu ở đường Phổ Quang khu biệt thự Phường 2, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mời gặp mặt vào lúc 9 giờ sáng ngày 29/4/2010 theo y hẹn trước đó của anh Tân trước mấy ngày rồi. Anh Trần Trọng Tân ra cổng đón chúng tôi vào nhà và có nói thêm : "Anh Nguyễn Văn An, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội cũng vừa mới vào để dự lễ đang ngồi ở trong nhà tôi đây".

Vợ chồng anh Hà, chị Cương là bạn đồng chí lâu năm với vợ chồng anh Tân từ trong kháng chiến chống Pháp mà khi anh Tân làm Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị, nên rất thân mật và kính trọng lắm.
Anh Nguyễn Văn An thấy chúng tôi vào liền đứng dậy bắt tay, ba chúng tôi chào nhau rất vui vẻ, thân mật.
Anh Bé vui vẻ lên tiếng trước : "Chào anh Nguyễn Văn An, anh còn nhớ tôi là Nguyễn Văn Bé, cán bộ cách mạng lão thành tiền khởi nghĩa ở Nha Trang thường hay ra Hà Nội làm việc với anh Lê Phước Thọ, ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng và anh Đỗ Quang Thắng ban bí thư Trung ương, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Trung ương. Và anh Phước Thọ có mời anh lúc đó là Phó ban thường trực Ban Tổ chức Trung ương Đảng lên dự với chúng tôi về vấn đề đấu tranh chia rẽ mất đoàn kết nghiêm trọng giữa lãnh đạo Khánh Hòa với Khánh Hòa không ? ".
Anh An : "Tôi nhớ rồi, nhớ ra rồi, cảm ơn anh nhé".
Anh Tân vào chuyện ngay : "Tôi xin giới thiệu với anh An, theo hẹn tôi có gặp mặt thân mật với ba anh chị vợ chồng chị Hà + chị Cương là các nhà cách mạng lão thành ở Hà Nội là người thân thiết nhất của vợ chồng tôi đã từ lâu, nay ở Đống Đa - Hà Nội vào thăm gia đình con cháu có ghé thăm vợ chồng tôi, còn anh Bé ở Nha Trang thì anh An đã biết rồi. Nay anh An vào dự lễ cùng ghé thăm vợ chồng tôi. Tôi cảm ơn các anh chị vô cùng".
Anh Nguyễn Văn Bé tranh thủ bắt đầu vào đề chính ngay, sợ kéo dài lê thê chuyện sang khác : "Tôi thay mặt anh chị Hà + Cương rất cảm ơn anh chị Trần Trọng Tân đã vui lòng bố trí thời gian ngắn từ 9 giờ 30' đến 11 giờ trưa nay 29/4/2010 để anh chị em chúng ta gặp nhau chuyện trò trao đổi. Thời gian quá ngắn ngủi nên tôi xin vào đề ngay, sẵn có anh Nguyễn Văn An ngồi nghe và bàn chuyện luôn thì càng tốt. Mục đích ba chúng tôi "Hà + Cương + Bé" đến thăm vợ chồng anh và chúng tôi được tin vừa rồi anh Tân có gặp anh Nguyễn Tấn Dũng - Thủ trướng Chính phủ và anh Trương Tấn Sang - Thường trực Ban bí thư TW Đảng nên chúng tôi muốn nghe nội dung anh Tân trao đổi với hai vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước hiện nay và thái độ của hai vị đó ra sao về nội dung anh trao đổi. Bây giờ chúng tôi hỏi thật anh Tân nhé ! Vì ở đây chúng ta là nội bộ cả để hiểu biết lẫn nhau mà. Trong nội dung nói với hai vị trên anh Tân có đặt vấn đề với 2 vị trên là : "Nếu các anh không giải quyết các vấn đề chỉnh đốn, xây dựng Đảng một cách triệt để thì anh Tân sẽ đứng ra phục hồi lại Đảng lao động Việt Nam là có hay không ?”.

Anh Trần Trọng Tân vui vẻ nói luôn một lèo hơn 1 tiếng đồng hồ, còn 20 phút thì anh An nói 10 phút và 3 chúng tôi nói 10 phút, dừng đúng lúc so như quy định (9 giờ 30' đến 11 giờ) vì anh Tân và anh An còn đi nơi khác.

Nội dung anh Trần Trọng Tân trao đổi với chúng tôi:

1. Về vấn đề anh Bé hỏi thật thà lắm. Tôi xin nói thẳng là tôi không có nói với anh Nguyễn Tấn Dũng và anh Trương Tấn Sang về chuyện tôi sẽ đứng ra phục hồi Đảng lao động Việt Nam, vì ai dại gì nói với 2 vị đó làm gì. Cũng vì trong dư luận rộng rãi, nguyện vọng của mọi người trong đó có tôi rất bức xúc vì tình hình Đảng ta do Bộ Chính trị hiện nay lãnh đạo đã xuống cấp trầm trọng. Ai cũng muốn thay số lãnh đạo này đi và lấy lại cái tên "Đảng lao động Việt Nam" mà Bác Hồ đã đổi tên ở Đại hội lần thứ 2 của Đảng ta năm 1951. Tôi phê phán rất gay gắt với các anh Dũng và Sang về cái cương lĩnh hiện nay mà Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đưa cho tôi. Tôi đã nghiên cứu trước thấy cương lĩnh Đảng đưa ra Đại hội XI là trở về cái cương lĩnh của Trần Phú là hoàn toàn sai lầm nghiêm trọng. Nói đến giai cấp công nhân hiện nay rõ ràng là họ đi làm đầy tớ, chớ họ không làm chủ xí nghiệp, công ty, quốc doanh. Họ bị bóc lột, đầy đọa hết sức tàn nhẫn. Họ không làm chủ phương tiện sản xuất vậy mà đi nói là
: “Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân ư …” ? Đây là sự lừa dối to lớn.
Còn đối với nông dân thì các anh đặt ra cái luật là chỉ có "quyền sử dụng ruộng đất".
Thế thì trước đây Đảng ta và Bác Hồ luôn đặt đường lối đối với nông dân : "Người cày phải có ruộng đất”, tức là nông dân có quyền sở hữu ruộng đất thì họ mới yên tâm làm ăn nên họ mới quyết tâm theo Đảng. Đường lối với giai cấp công nhân là : "Họ phải làm chủ xí nghiệp, công trường, doanh nghiệp, họ phải làm chủ tư liệu sản xuất để họ trở thành một giai cấp công nhân thực sự ". Do đó, hai giai cấp công nhân, nông dân hiện nay họ rất căm phẫn các anh vì họ bị tước hết mọi quyền lợi chính đáng của mình rồi. Nay thì các anh ra lệnh thu hồi đất, ruộng để làm sân gôn, xây dựng khách sạn cao cấp, bắt họ phải đi nơi khác, tiền đền bù rẻ mạt làm sao họ đủ tiền mua miếng đất để ở, bắt họ lên đồi cao, núi cao, không có ruộng để cày bừa sinh sống… Tất cả đều tư nhân hóa, cổ phần hóa làm cho người công nhân không có chỗ dung thân làm ăn yên ổn, người nông dân thì không có ruộng đất để cấy cầy sinh sống mưu sinh. Tôi nói thật với các anh Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và cả Bộ chính trị, là nếu tình hình này kéo dài thì sự căm phẫn của hai giai cấp này và có sự đồng tình cao độ của trí thức có văn hoá và nhân dân lao động khác sẽ đứng lên lật đổ cái Đảng, cái chế độ của các anh đang là lãnh đạo họ. Các đối tượng tham nhũng từ các cơ quan Trung ương đến xã, phường ở cơ sở đều là bọn có chức, có quyền trong Đảng thì nhân dân rất căm phẫn tột độ rồi. Nhưng các anh chỉ hô hào chống chung chung : "chúng ta kiên quyết chống tham nhũng", thế nhưng trên thực tế các anh không chống tham nhũng đạt được kết quả nào cả. Ai mà tin được các anh nữa...

2. Đó là vấn đề thứ nhất ở trên, còn vấn đề thứ hai. Anh Trần Trọng Tân nói tiếp: "vừa rồi tôi có xem chỉ thị số 37 của Bộ chính trị về vấn đề làm điểm bầu trực tiếp Bí thư, Phó bí thư ở xã, phường cơ sở, tiến tới lên Thành phố, Huyện, Thị trực thuộc tỉnh và sau Đại hội Đảng toàn quốc sẽ bầu trực tiếp bí thư… Tôi liền viết kiến nghị, gửi Bộ Chính trị, BCH TW và Ban Tổ chức, Ủy ban Kiểm tra Trung ương ( UBKT TW). Tôi quy kết tội là các vị vi phạm điều lệ Đảng rất nghiêm trọng. Muốn sửa đổi Điều lệ Đảng thì có Đại hội đại biểu Toàn quốc mới có quyền sửa đổi Điều lệ Đảng. Các anh cho bầu trực tiếp Bí thư, Phó Bí thư thì sau này các vị này vi phạm pháp luật, vi phạm hình sự, vi phạm đạo đức cách mạng thì ai, tổ chức nào đứng ra tổ chức kiểm điểm, kỷ luật họ đây ? Như vậy, các anh phải tổ chức lại đại hội bất thường mới kiểm điểm kỷ luật Tổng bí thư, vì Trung ương và Bộ Chính trị không bầu Tổng bí thư, vì cấp ủy Xã, Phường, Huyện, Thị không bầu Bí thư, Phó Bí thư thì không có quyền kiểm điểm, xử lý họ được. Nếu các anh không sửa, không đình chỉ việc làm điểm thì tôi sẽ đề nghị với đồng chí Nguyễn Văn Chi, ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Trung ương họp toàn thể UBKT TW để kiểm điểm toàn thể bộ Bộ Chính trị, kể cả

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, trong số họ ai biểu quyết làm điểm thì với chức danh độc lập của UBKT các cấp ở điều lệ Đảng đã quy định có quyền kiểm tra, kỷ luật cấp ủy cùng cấp của mình.
Đồng chí Nguyễn Văn Chi có cử 2 cán bộ gặp tôi có phân trần : "chú Chi đã nhận đơn kiến nghị của Bác rồi và đều kết luận ý kiến của Bác kiến nghị là hoàn toàn đúng cả. Nhưng kính thưa với Bác là UBKT TW của các cháu không dám kiểm tra, kỷ luật Tổng Bí thư và Bộ Chính trị kể cả ủy viên Trung ương Đảng"… Đó(Do?) đó các anh chị thấy không đã làm sai, vi phạm điều lệ Đảng nghiêm trọng như thế mà chủ nhiệm UBKTTW Nguyễn Văn Chi nói như thế thì hệ thống tổ chức Đảng của ta như thế đấy. Sau đó họ im re luôn không nói gì thêm được nữa.
Có hai lần anh Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh được sự ủy nhiệm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Ban Bí thư Trung ương Đảng Trương Tấn Sang đến gặp tôi có thanh mình về hai vấn đề trên. Tôi kiên quyết tỏ thái độ trực diện không đồng tình về quan điểm, tư tưởng lãnh đạo của các vị trong Bộ Chính trị. Anh Thanh Hải về nói lại với các vị đó biết về quan điểm, tư tưởng của tôi là luôn luôn giữ vững nguyên tắc Đảng, điều lệ Đảng và không khoan nhượng về việc làm sai trái của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay.

3. Đó là vấn đề thứ hai ở trên, còn vấn đề thứ ba anh Trần Trọng Tân nói tiếp vấn đề thứ ba: "Tôi có viết bản kiến nghị gửi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước nói vấn đề dân chủ ở cơ sở, tuy già ốm yếu được miễn sinh hoạt Đảng nhưng tôi vấn cố gắng để gặp các Đảng viên già cả, nhưng trẻ thì nhiều. Tôi nói với các vị là nói có dân chủ, chứ thật sự không có dân chủ vì Đảng viên ở chi bộ họ sợ nhất là 19 điều cấm đảng viên nên không ai muốn phát biểu gì khác. Đảng viên nói chung, kể cả tôi không được biết thông tin gì về tình hình trong nước, trong thành phố, kể cả thế giới, ngay cả chỉ thị số 37 của Bộ Chính trị họ cũng không biết, kể cả tôi cũng không biết… Sự độc đoán, chuyên quyền của lãnh đạo từ Trung ương đến các tỉnh, thành, huyện, thị càng nghiệm trọng hơn nữa. Ngay cả các lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các vị về các vấn đề đối với tổ quốc, đối với Đảng, với dân tộc và quốc tế như vụ đập phá Hội trường Ba Đình cũ, vấn đề để Trung Quốc vào khai thác Bô xít ở các tỉnh Tây Nguyên, vấn đề Lê Đức Anh, Tổng cục II, Nguyễn Chí Vịnh, Vụ T4, vụ Sáu Sứ…v.v... mà các vị Bộ Chính trị không hề trả lời cho một bậc công thần khai quốc còn sống sót lại đến nay của thời đại Hồ Chí Minh. Như thế mà là dân chủ ư ? Kể cả các lá đơn tố giác, khiếu nại của các bậc lão thành cách mạng, Cựu chiến binh, các tướng tá khác ở khắp toàn quốc về vấn đề tham nhũng, cho thuê rừng đầu nguồn, vụ Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa của Việt Nam nhưng các vị vẫn im lặng đáng sợ như thế mà là có dân chủ ư ? Trong Đảng không có dân chủ, không có công bằng làm sao ngoài xã hội có dân chủ, công bằng xã hội được. Phân biệt kẻ nghèo người giầu ở Việt Nam rõ ràng khoảng cách rất xa thì kẻ giầu là bọn nào, người nghèo thì thấy rất rõ là giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động …v.v… Thế thì những cái đó mà là dân chủ, công bằng ư ?
Thế thì Đảng ta sẽ đi đến đâu ? Chế độ ta sẽ đến đâu ? Nhân dân tha oán trong lòng mà họ không dám nói ra vì họ sợ các vị có chức quyền của nhà nước gán ghép cho cái tội chống Đảng, chống phá Nhà nước.
Anh Trần Trọng Tân thẳng thắn nói với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước là : "Đảng ta ngày càng mất uy tín vì có các vị lãnh đạo không xứng tầm, chế độ ta do các vị nắm quyền rồi không sớm thì chày họ cũng lật thuyền các vị thôi…". Đây là tôi nói thẳng thắn với các vị biết, nếu các vị không quyết tâm sửa chữa sớm và sửa chữa có kết quả thì trước mắt là uy tín các Đảng viên với nhân dân lao động nói chung ngày càng xuống thấp thì đến lúc các vị về nghỉ an toàn nhưng chắc chắn các vị không nghỉ vui sướng gì đâu, toàn dân xa lánh, căm ghét các vị đến đời sau vẫn còn nhớ trong tâm trí họ đấy...

4. Vấn đề thứ tư là vấn đề đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Anh Trần Trọng Tân nghiêm nghị nói : "Tôi rất buồn tại sao các vị đối xử với 1 Đại tướng, Tổng tư lệnh, một bậc khai quốc công thần của thời đại Hồ Chí Minh mà vô lễ đến thế, từ một vị tướng sang làm Phó thủ tướng, phải ra khỏi Bộ Chính trị, phụ trách công tác khoa học, công nghệ lại thêm cái “kế hoạch sinh đẻ” nữa. Sức khỏe Đại tướng nghe đâu đã yếu lắm rồi mà Phan Văn Khải còn làm thủ tướng ra quyết định làm lễ quốc tang chỉ có dành cho 4 vị có chức danh : Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ thôi.
Tôi liền viết kiến nghị phê phán quyết định đó, tôi nói thẳng với họ là bốn vị trên hiện nay còn đương chức và số về nghỉ hưu hãy xem lại mình có công lao gì to lớn mà để toàn Đảng, toàn thể nhân dân, toàn dân tộc phải tổ chức lễ quốc tang khi qua đời. Tôi hoàn toàn phản đối kịch liệt, tôi chỉ rõ quốc tang là giành cho những người có công lao to lớn với Đảng, Nhà nước, dân tộc, kể cả quốc tế như Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tại sao không tổ chức lễ quốc tang ? Các vị Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Quốc hội và Thủ tướng mà tham ô, tham nhũng, độc đoán, độc quyền, không có dân chủ, gia đình con cháu, vợ núp bóng đi buôn lậu, lưu manh, tham ô, tham nhũng thì làm lễ quốc tang, nếu quốc tang làm ô nhục Đảng, Nhà nước và dân tộc ta thì nhất định quốc tế họ cũng phản đối chê cười.
Trường hợp một nhạc sĩ Pốp gì đó ở một nước ngoài đã có công lao to lớn về âm nhạc, tiếng hát vang cả trong nước của họ và quốc tế thì tổng thống ở nước đó tổ chức lễ quốc tang 3 ngày, treo cờ rủ khi ca sĩ này mất thì đó mới là quốc tang cho một nhạc sĩ có uy tín với nhân dân trong nước và thế giới. Như thế họ làm đúng về quan điểm của họ đối với người có công lớn chớ đâu có phải cao thấp, Thủ tướng Phan Văn Khải quy định 4 chức danh trên là hoàn toàn không đúng chút nào. Ví dụ nhân dân bị thiên tai, bị hy sinh chiến tranh thì cũng phải làm lễ quốc tang cho họ có phải không các anh. Tôi kiến nghị rất căng là nếu Đại tướng Giáp qua đời mà quý vị không làm lễ quốc tang thì sẽ thấy chuyện xẩy ra không lường trước được. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân sẽ tự tổ chức quốc tang cho Đại tướng bằng trái tìm của mình chứ không phải bằng hình thức.
Tôi rất hoan nghênh các tướng tá, Cựu chiến binh, Lão thành cách mạng và nhân dân ở khắp cả đất nước đều có văn bản lên tiếng yêu cầu quốc tang, phong nguyên soái và giữ nguyên ngôi nhà số 30 phố Hoàng Diệu hiện nay làm nhà bảo tàng cho Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Anh Trần Trọng Tân nói bốn vấn đề ở trên khá dài tôi ghi sơ lược, sau này tôi gặp các anh sẽ trao đổi chi tiết thêm.
Anh Nguyễn Văn An nói theo ngay : "Cảm ơn anh Trần Trọng Tân đã cho biết thời sự rất tốt, còn tôi thì đã nhiều lần gặp đ/c Tổng Bí thư, các vị trong Bộ Chính trị cũng thẳng thắn góp ý về mất dân chủ trong Đảng, về đường lối, chính sách nhưng không biết họ có nghe không ?".
Anh An nói tiếp : “Tôi cũng thấy mình cũng có khuyết điểm khi còn nhậm chức, thật ra không có dân chủ đâu, vì bầu tôi làm ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội chỉ giới thiệu có một mình tôi thôi, nên khi đại biểu bỏ phiếu buộc phải bỏ cho tôi chứ sao nữa ? Như thế thì đâu có dân chủ phải không các anh, tôi suy nghĩ và đặt vấn đề với các anh lãnh đạo cần cải tổ chính trị về bầu bán trong Đảng, trong Quốc hội và các tổ chức xã hội chính trị khác... Các vấn đề xuống cấp trong Đảng thì rõ quá rồi, nhưng ngoài xã hội còn nhiều nhức nhối hơn nữa, không dẹp cái nạn loạn tham nhũng, hối lộ, không dẹp các loại chạy chức, chạy quyền, không dẹp các loại tệ nạn xã hội khác thì lòng tin của nhân dân sẽ mất hết, mất hết…
Tôi cũng như các anh, các chị cũng có những tâm sự lắm, nói làm sao để họ tiếp thu, sửa chữa là một vấn đề hết sức khó khăn…”.

Anh Nguyễn Văn An còn nói nhiều vấn đề bức xúc khác, việc hội ngộ thấy đã quá trưa nên anh nói với chị Hà, chị Cương xin tôi địa chỉ, điện thoại để khi anh về Hà Nội sẽ tiếp tục gặp anh Nguyễn Văn Chi trao đổi thêm. Anh An cho tôi số nhà là số 2 phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội và số điện thoại để bàn mời anh Nguyễn Văn Bé ra Hà Nội đến nhà anh trò chuyện nhiều hơn nữa.
Anh Bé liền đáp với anh An : "Tôi xin hỏi anh An nhé ! Vừa rồi anh đã nhận lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói về vụ Vũ Minh Trí tố cáo Nguyễn Chí Vịnh và Tổng cục II đã gửi cho các anh thì anh đã nhận được chưa ?".
Anh An : "Tôi nhận được rồi".
Anh Bé hỏi tiếp anh An luôn : "Thái độ, quan điểm của anh trong vấn đề này như thế nào ?".
Anh An chưa kịp trả lời thì anh Hà chen ngang : "Thôi hết giờ rồi để các anh còn đi nơi khác cho kịp ".

Thế là tiếc quá có phải không các anh.
Trên đây là sơ lược nội dung cuộc gặp anh Trần Trọng Tân và anh Nguyễn Văn An chứ anh Hà và chị Cương hơi bị điếc khó nghe được hết, lúc đó chị Cương cũng không còn thời gian nói nữa nên cuối cùng chị ấy chèn một câu : "Cái Đảng này phải ...".
Mọi người cùng cười vang rồi chào tạm biệt nhau.
Ngày 1 tháng 5 năm 2010
------------------------------------------------------

.

Chú thích về các nhân vật liên quan có tên trong bài viết này như sau :
.

1/ Ông Lê Hữu Hà, 64 năm tuổi đảng CSVN, 85 tuổi đời, nguyên trước đây là Tư lệnh chiến dịch Tây Bắc trong kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp.
2/ Bà Nguyễn Thị Cương đảng viên CSVN lão thành, 64 năm tuổi đảng, cán bộ tiền khởi nghĩa trước cách mạng tháng 8 năm 1945, được thưởng huân chương Độc lập hạng Ba.
3/ Cụ Nguyễn Văn Bé năm nay 86 tuổi, đảng viên lão thành cách mạng CSVN thời kỳ tiền khởi nghĩa tháng 8/1945, cụ nguyên là tiền bối ngành công an tỉnh Khánh Hòa, chiến sĩ 23/10 mặt trận Nha Trang trong kháng chiến chống Pháp. Cụ đã được thưởng nhiều huân huy chương trong 2 cuộc chiến tranh và sau thời kỳ hòa bình lập lại, như :
- Chiến sỹ thi đua “ Dũng sỹ diệt Mỹ” năm 1965-1968.
- “Huy chương vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc” do Mặt trận tổ quốc Việt Nam – Trung ương trao tặng.
Hiện cụ đang cư trú tại số 9 đường Phan Bội Châu, thành phố Nha Trang. Điện thoại số : 058-381-5267

DCVOnline

Nguồn: (1) Lược ghi buổi gặp mặt bạn bè, thân hữu nhân kỷ niệm 35 năm ngày 30/4/2010. Bài này đã được đăng trên doithoaionline.org, ngày 10 tháng Sáu năm 2010

.

.

.

ĐỪNG XÓA SỔ CHÙA CỦA TỔ TIÊN

GS.TS Trần Lâm Biền:

Đừng xóa sổ chùa của tổ tiên

Minh Anh

25/07/2010 06:48:19

http://bee.net.vn/channel/1988/201007/GSTS-Tran-Lam-Bie-Dung-xoa-so-chua-cua-to-tien-1760453/

GS.TS Trần Lâm Biền là nhà nghiên cứu văn hoá truyền thống. Ông đã dành cho KH&ĐS một cuộc trò chuyện đầy thú vị xung quanh câu chuyện xây mới những ngôi chùa.


Nhập vào chùa nhiều thứ không phải Phật


Theo ông, đạo Phật và những ngôi chùa có vị trí như thế nào trong đời sống người Việt?

Đối với người Việt, đạo Phật rất được tôn trọng. Trong tôn giáo tín ngưỡng người Việt, chính đạo Mẫu bắt nguồn từ thời nguyên thuỷ. Chỉ cách đây 2.000 năm đạo Phật mới tới từ phương Nam và nhanh chóng được tiếp nhận vì nó phù hợp với tinh thần của người Việt lúc đó. Sự xâm lược, quấy nhiễu của phương Bắc đã đi kèm theo việc người phương Bắc đưa đạo Nho, đạo Lão vào để dùng hệ tư tưởng ấy thống trị người Việt. Người Việt đã dùng đạo Phật như một sự đối trọng.

Đó là quá khứ. Còn hiện tại thì sao?

Gần đây, một số kẻ đã lợi dụng và biến đổi đạo Phật đi nhiều. Do vậy mà ứng xử với đạo Phật của một bộ phận người không đi vào bản chất tốt đẹp sâu xa của đạo. Bộ phận này vì không hiểu đến nơi đến chốn đạo Phật đã nhập vào chùa nhiều thứ không phải Phật. Nhiều khi những thứ đó còn gắn với mê tín dị đoan. Người ta đang sống phần nào vội vã, tuỳ tiện xây dựng lại nhiều ngôi chùa không theo truyền thống. Đạo Phật dạy con người đi tìm sự đơn sơ nhưng thuộc về bản chất tốt đẹp nhất.

Bái Đính - Sự khoe mẽ một cách thái quá

Nghe ông nói tôi mới nhớ, gần đây chùa Bái Đính nằm trong một quần thể du lịch ở Ninh Bình dù chưa hoàn thành nhưng đã giữ nhiều kỉ lục lớn nhất Đông Nam á: tượng Phật bằng đồng; chuông, 500 bức tượng La Hán...

Không nên gọi cái chùa mới xây đó là chùa Bái Đính. Chùa Bái Đính là ngôi chùa cũ. Nếu gọi cái mới xây đó là chùa Bái Đính là hoàn toàn xoá sổ chùa của tổ tiên đấy.

Ngôi chùa mới đó có một thứ lố bịch. Trong kiến trúc ba tầng mái, như chúng ta thấy kiến trúc ba tầng mái của chùa Bút Pháp có tháp Cửu phẩm liên hoa - là nơi thế giới của người chết. Nhưng chùa Bái Đính mới ấy lại có cái gọi là tam quan - ba tầng mái ở ngoài, khiến người ta đến với cái chết trước khi đến với Phật. Điều đó không chấp nhận được. Toà nhà ba tầng mái có nhiều ý nghĩa lắm, thường nó phải nằm ở phía sau như ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Sổ (Thanh Oai). Cái chùa Bái Đính mới ấy là phi văn hóa phật giáo truyền thống và mặt nào đó nó có tính khoe mẽ.

Phi văn hóa phật giáo truyền thống và có tính khoe mẽ! Ông có thể mở mang kiến thức cho tôi về điều này không?

Những ngôi chùa được xây to lớn nhiều khi nó có tính áp chế khiến con người khi bước vào ngôi chùa tâm hồn của mình bị “ngợp” bởi sự hoành tráng, hình thức làm người ta nhẹ cái tâm đi. Đứng trước ngôi chùa quá to lớn như Bái Đính mới thì con người cảm thấy tâm hồn của mình bị teo đi, nhỏ trước áp lực tinh thần nào đó.

Người ta không thấy được bản chất hoà vào thiên nhiên, hoà vào vũ trụ, hoà với thế gian của bản thân họ nữa mà chỉ còn tính quy phục mà thôi. Tính chất ấy không đúng với tinh thần của người Việt. Xu hướng xây dựng những ngôi chùa to lớn là khó có thể chấp nhận được trên dòng chảy truyền thống.

Chùa Bái Đính mới dù chưa hoàn thành nhưng khách tham quan đã đến rất đông trong một hai năm gần đây. Phải chăng vì ngôi chùa đó phù hợp với "văn hóa hiện đại"?


Khách tham quan thì cứ tham quan. Chúng ta không thể trách họ được. Chiến tranh đi qua đã tạo ra sự hụt hẫng về mặt tinh thần. Do vậy có nơi nào đó để giải toả tâm hồn là người ta sẽ đến. Người ta đến Bái Đính mới là "để xem", "để ngợi ca" sự to lớn về cái gì đó rất đời thường chứ không phải thờ đạo. Khi nào sự hiểu biết về đạo trong du khách được nâng cao thì vai trò của chùa Bái Đính mới sẽ tàn phai.

Người Việt Nam không chấp nhận sự to lớn, sự khoe mẽ một cách thái quá đâu! Người Việt đi sâu vào cái tâm. Sự vĩ đại của nó là ở cái tâm thánh thiện chứ không phải hình thức. Có thể hiện tại cái hình thức đang làm mờ cái tâm nhưng khi cái trí của mỗi người phát triển cao hơn thì họ sẽ nhận ra đó là sai lầm.

Khi biết thì sự đã rồi


Nhưng hiện nay không phải chỉ ở Ninh Bình xây chùa mới Bái Đính mà đã có rất nhiều nơi, nhiều địa phương tổ chức xây chùa mới?

Không ai cấm xây dựng những ngôi chùa mới nhưng đừng đem những ngôi chùa lớn vào đất của chùa cũ. Bởi chùa cũ là tiếng nói của tổ tiên. Đi vào tín ngưỡng chúng ta phải đi theo truyền thống, phải Việt Nam. Đừng để những ngôi chùa kiến trúc mới Tây không phải Tây, Tàu không Tàu. Một số ngôi chùa hiện đại đã được làm một cách tuỳ ý không theo kiến trúc truyền thống.

Một ngôi chùa hay đền, đình phải đạt chuẩn thông tam giới. Mái tượng trưng cho tầng trời. Đất - thân của nó là nơi thần và người tiếp cận, cần được thông nhau. Vì thế nền đất phải để mộc. Nếu có lát phải để những mạch rộng hoặc dùng gạch bát thấm nước để thông âm dương.

Những nơi đặt ban thờ thì gầm ban thờ lộ đất... để âm dương không bị cách trở. Nhưng nay thì người ta lát hết, thậm chí lát cả gạch men hoa. Họ tưởng là sang trọng nhưng họ không hiểu việc đó đã tạo nên sự ngăn cách âm dương không đi theo dòng truyền thống.

Vậy vì sao lại nhất định phải giữ lại những ngôi chùa cũ bé nhỏ và xuống cấp?

Giá trị của ngôi chùa cổ truyền thống thực sự không nằm ở vật chất mà ở chỗ khác. Đó là những di sản văn hoá cho chúng ta thấy tộc người chủ thể đi đến đâu để dấu tích lại tới đó. Điều đó quan trọng như thế nào? Chính những di sản văn hoá của tổ tiên để lại cho biết bước phát triển của cộng đồng dân tộc đi dần tới thống nhất như ngày nay một cách cực kỳ rõ ràng.

Thế mà nay cứ phá cái cũ đi để xây những cái mới lên thì còn gì để chúng ta chứng minh những điều ấy. Dù nó tàn phai thì vẫn để đấy vì nó vẫn đang nói với chúng ta những thì thầm của tổ tiên.

Nhưng thực tế xu hướng xây chùa mới to lớn, khang trang đang khá phổ biến?

Đó là một cảnh báo về hiện tượng phá hoại truyền thống văn hoá dân tộc. Đúng hơn là phá hoại bản sắc làm méo mó tâm hồn dân tộc. Một dân tộc có thiện tâm vô cùng cao nay lại chỉ quan tâm đến hình thức. Tôi xin nhắc lại là xây dựng chùa cao to mấy cũng được nhưng hãy để ra ngoài không gian kiến trúc của tổ tiên đã làm.

Phải chăng việc xây dựng những ngôi chùa mới nằm ngoài sự quản lý của ngành văn hoá?

Có thể ngành văn hoá cũng không biết đến điều ấy. Đến khi biết thì sự đã rồi.

Vâng. Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị mà ông đã dành cho độc giả của KH&ĐS.

-----------------------

GS Trần Lâm Biền là một trong những nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam, luôn tâm sức cho công cuộc bảo tồn các di sản văn hoá của dân tộc. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá dân gian, tín ngưỡng tôn giáo như: Phật giáo và văn hoá dân tộc; Một con đường tiếp cận lịch sử, Diễn biến kiến trúc truyền thống của người Việt; Chùa Việt; Đồ thờ trong di tích của người Việt.

Minh Anh (Thực hiện)

TIN LIÊN QUAN

GS Hà Văn Tấn giải thích cách bài trí tượng trong chùa

.

.

.

TRANH LUẬN VỀ CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

Tranh luận về cồng chiêng Tây Nguyên

Ngày 01.08.2010, 11:47 (GMT+7)

http://sgtt.vn/Van-hoa/126867/Tranh-luan-ve-cong-chieng-Tay-Nguyen.html

LTS: Sau bài viết “Cồng chiêng Tây Nguyên sản xuất tại Thái Lan” trên số báo SGTT ra ngày 27.7.2010, chúng tôi đã nhận được nhiều phản hồi của bạn đọc. Đáng lưu ý là phản hồi của nhà văn Nguyên Ngọc và ông Nguyễn Duy Ngọc. Theo ông Nguyễn Duy Ngọc, việc cồng chiêng Tây Nguyên do người Tây Nguyên làm ra như GS Trần Quang Hải đã trả lời phỏng vấn là không đúng và ông dẫn ra một số bằng chứng từ sự biết của ông. Nhà văn Nguyên Ngọc, người đã có nhiều tác phẩm văn học về Tây Nguyên và cũng đã xem Tây Nguyên là một phần máu thịt của mình, đã bức xúc khi nói về câu chuyện xuất xứ của cồng chiêng Tây Nguyên.

SGTT.VN - Chúng tôi gửi đến bạn đọc những ý kiến của ông Nguyễn Duy Ngọc và ông Nguyên Ngọc để chúng ta cùng nhau hiểu biết thêm về câu chuyện cồng chiêng Tây Nguyên, một trong những niềm tự hào của chúng ta khi đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể thế giới từ năm 2009.

Ông Nguyễn Duy Ngọc: Người Tây Nguyên có sản xuất được cồng chiêng không?

Các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không hề đúc được cồng chiêng. Họ chỉ sử dụng cồng chiêng “nhập ngoại” vào các sự kiện sinh hoạt văn hóa của họ. Lúc đầu cồng chiêng vào Tây Nguyên chủ yếu theo đường từ Lào sang, có xuất xứ từ Trung Quốc, Myanmar. Những chiếc cồng chiêng này có giá trị rất cao, thậm chí đổi nhiều con trâu mới có được một chiếc, nó là tài sản lớn trong các gia đình Bana, Jarai, Ê đê...

Sau này, và chỉ rất lâu sau này, các làng đúc đồng dọc theo duyên hải miền Trung mới đúc cồng chiêng mang lên bán cho người Tây Nguyên. Làng Phước Kiều (Điện Bàn, Quảng Nam) là nơi cùng cấp một số lượng lớn cồng chiêng lên Tây Nguyên cho đến bây giờ. Ông Dương Ngọc Sang, một nghệ nhân đúc đồng lão làng ở Phước Kiều cho biết trước đây ở Phước Kiều chỉ đúc các vật dụng gia đình bằng nhôm đồng như xoong, chảo..., cho đến khoảng sau 1960 mới bắt đầu đúc cồng chiêng mang lên Tây Nguyên bán.

Chuyện là những thợ nhôm đồng ở Phước Kiều khi mang nồi chảo lên các tỉnh Tây Nguyên bán dạo thì thấy những chiếc cồng chiêng được các dân tộc ở đây nâng niu, trao đổi nhau với giá trị cao. Họ nảy ra ý định đúc những chiếc cồng chiêng mô phỏng theo rồi đem lên bán. Lúc đầu họ chỉ biết đúc phôi, tiếng chiêng họ đúc kêu không đúng do họ không biết gì về âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên cả. Những người già ở các làng Tây Nguyên có am hiểu về cồng chiêng, dùng búa chỉnh lại độ dày mỏng để tiếng chiêng phát ra đúng, có thể chơi được trong giàn cồng chiêng. Mãi sau này người Phước Kiều mới học được cách chỉnh âm cho cồng chiêng sau khi đúc phôi xong. Và những chiếc chiêng từ Phước Kiều lên chất lượng và giá thường thấp hơn nhiều so với những chiếc cồng chiêng nhập vào qua đường Lào trước kia, mà sau này không hiểu vì lí do gì không còn nhập vào nữa.

Cồng chiêng được đúc từ hợp kim đồng và thiếc với tỉ lệ thích hợp. Vấn đề ở đây là kỹ thuật đúc, pha trộn kim loại sẽ quyết định chất lượng chiếc chiêng sau khi ra đời, chứ không phải là chuyện tỉ mẩn “tốn cả năm trời” như GS Hải nói. Thực sự việc đúc một chiếc chiêng không cần phải lâu đến vậy, thường chỉ vài ngày.

Ông Hải cho rằng: “Người Tây Nguyên tin rằng, lớp đồng đen trên bề mặt cồng chiêng được phết thêm máu gia súc dùng trong tế lễ, thì cái cồng, cái chiêng đó đánh lên, mới phát ra đúng âm thanh của Tây Nguyên. Ấy thế mà hiện nay lại có những chàng trai Tây Nguyên dám đem những cái cồng, cái chiêng ông bà, tổ tiên để lại ra gọt chỗ này, cạo chỗ kia, rồi tạo nên âm giai thất cung thay thế vào để chơi nhạc mới”.

Hầu như chiếc chiêng nào dù tốt đến mấy chơi một thời gian dài đều hỏng tiếng, mất tiếng, và đều phải cạo sửa, gõ búa để chỉnh lại độ dày mỏng, lấy lại đúng âm thanh ban đầu. Và âm thanh có tốt hay không là do chất lượng chiêng, kỹ thuật đúc, còn cái “huyền thoại máu thú” nghe “hấp dẫn kia” thì tôi chưa nghe ai nói, và khó mà chứng minh được. Còn việc các chàng trai Tây Nguyên mà sáng chế, chỉnh sửa lại bộ cồng chiêng nào đó mà chơi pop, rock... được thì quả tuyệt vời chứ, sáng tạo đáng khen chứ, sao lại chê. Khi nó chỉ là sáng tạo ở vài điểm, nó chỉ làm phong phú thêm, chứ khó mà biến đổi hết cả văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được. Các giai điệu cồng chiêng Tây Nguyên ở mỗi nơi đều khác khác nhau rất rõ, và có lẽ nó cũng đã có nhiều biến chuyển, bổ sung, thêm mới theo thời gian.

Vấn đề hiện nay của cồng chiêng Tây Nguyên không phải là không có các dự án hỗ trợ. Ngược lại đang có quá nhiều, mà lại làm một cách tạp nham, thiếu hiểu biết. Những chiếc chiêng “dự án” liệu có tốt không khi chỉ cần giảm một lượng thiếc nhất định trong hỗn hợp đồng - thiếc là giá thành chiêng sẽ giảm nhiều, vì thiếc có giá đắt gấp nhiều lần đồng. Kéo theo đó chất lượng sút giảm theo, đánh chỉ một thời gian là điếc, vứt xó. Có nhiều dự án, đưa cồng chiêng lên Tây Nguyên nhiều hẳn đã hay? Có khi lại gây bội thực, chán chê, người Tây Nguyên không mua cồng chiêng nữa, chỉ chờ đem cho. Rồi các lễ hội giả tạo do nhà nước bỏ tiền ra tổ chức, các buổi biểu diễn cồng chiêng theo kiểu sân khấu. Nó có làm sống lại được không gian cồng chiêng tồn tại bao đời? Không, nó chỉ là những "xác ướp", thậm chí còn không phải "xác ướp" của không gian cồng chiêng truyền thống Tây Nguyên, mà là những "xác ướp lạ” từ xa đem tới, phủ lớp áo Tây Nguyên. Các dự án đó chỉ có “bức tử” luôn những giá trị văn hóa hãy còn sống của Tây Nguyên mà thôi.

Văn hóa Tây Nguyên vốn đã bị “đứt gãy” nhiều bởi di dân ồ ạt, bởi những giá trị mới xô đến đột ngột, đè nát những giá trị cũ, bởi mất rừng, mất đất, mất rẫy... Bây giờ trong việc bảo tồn nền văn hoá này với những “dự án” moi tiền, những tác động thô bạo, thiếu hiểu biết... thì chỉ làm Tây Nguyên "tổn thương" thêm.

.

Ông Nguyên Ngọc: Nhân chuyện cồng chiêng Tây Nguyên

Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy, cồng chiêng chưa bao giờ được đúc ở Tây Nguyên. Do đó cũng không có chuyện giết trâu, giết heo, bôi máu… thiêng khi người Tây Nguyên tự tay làm ra cồng chiêng. Người Xơ Đăng ở bắc Tây Nguyên có công nghệ luyện thép lâu đời và nổi tiếng, nhưng cồng chiêng làm bằng đồng (có pha hợp kim thiếc) chứ không phải thép nên người Tây Nguyên không tự mình đúc được. Họ mua cồng chiêng chủ yếu từ Lào; tôi chưa nghe nói mua xa đến tận Trung Quốc, Myanmar…, nếu có thì chắc cũng là những cồng chiêng từ các nơi ấy bằng cách nào đó đã được chuyển sang Lào và người Tây Nguyên mua lại tại đấy. Họ cũng có mua cồng chiêng của người Việt từ vùng ven biển miền Trung, trong đó có trung tâm đúc đồng lâu đời là làng Phước Kiều ở Quảng Nam.

Theo tôi không chỉ đến 1960 người Tây Nguyên mới mua cồng chiêng từ đồng bằng miền Trung. Chúng ta đều biết từ rất xa xưa người Việt cũng đã có cồng chiêng. Chính đây là điều cần đặc biệt chú ý: người Tây Nguyên mua cồng chiêng từ nhiều vùng chung quanh, nhưng có thể nói đấy chỉ mới là những "cồng chiêng nguyên liệu thô" hoàn toàn chưa phải là cồng chiêng Tây Nguyên, công cụ của một nền nghệ thuật độc đáo và hết sức đặc sắc. Chiếc chiêng được đúc ra, chẳng hạn như chiêng của làng Phước Kiều Quảng Nam, mới chỉ là một thứ vật liệu thô, thậm chí chưa có nhạc tính, gõ vào đấy cũng gần như gõ vào một cái kẻng. Về sau, có thể qua học tập ở cồng chiêng Tây Nguyên, mà người Phước Kiều đã nâng cao tay nghề lên được một bước, họ đã có được một số công nghệ tạo một mức độ nhạc tính nào đó cho sản phẩm của mình.

Tôi đã nghe chính người làng Phước Kiều gọi công việc ấy là "dạy tiếng cho chiêng", song cũng mới chỉ là một kiểu tiếng nói bập bẹ, ngọng ngịu nào đó thôi. Tôi đã được thấy những chiếc chiêng người Tây Nguyên mua từ đồng bằng về, mặt chiêng gần như hoàn toàn bằng phẳng. Người ta dùng búa gõ tạo thành một đường rãnh vòng tròn men theo mép trong của vành chiêng. Rất lạ, chính cái đường rãnh được tạo theo một nghệ thuật riêng nào đó làm cho chiếc chiêng, vốn thô như một chiếc kẻng, bắt đầu có nhạc tính, trở thành một nhạc cụ.

Song đó cũng chỉ mới là bước đầu. Trong một dàn chiêng (số lượng chiêng tùy thuộc từng loại, đặc trưng cho nhạc cồng chiêng của từng dân tộc), mỗi chiếc phụ trách một âm, một "nốt". Người ta "dạy", trao cho từng chiêng một nốt riêng của nó. Bằng cách dùng một chiếc búa nhỏ, thường rất đẹp và rất quý, gõ nhẹ lên mặt chiêng, gõ từ mặt ngoài vào thì âm sẽ cao lên, gõ từ mặt trong ra thì âm sẽ thấp xuống. Chính vì thế mà ta thấy trên mặt chiêng có vô số những vết lồi lõm nhẹ, chẳng cái nào giống cái nào.

Mỗi chiếc chiêng có một diện mạo riêng, cũng như mỗi con người ở đời, không ai giống ai, có cá tính, có tính cách riêng. Tất nhiên đấy là một công việc vô cùng tinh tế, cả một nghệ thuật không phải ai cũng đạt được. Một dàn chiêng mua về phải được "dạy dỗ" công phu và đầy tài năng như vậy, thường hàng tháng trời, vô cùng tỉ mỉ và say mê, mới trở thành một bộ chiêng Tây Nguyên. Mới từ cái xác khô như những cái kẻng mua dưới Phước Kiều lên, trở thành những sinh vật sống, có hồn, có khi còn thiêng hơn cả con người…

Đại thể chiêng mua từ đồng bằng của người Việt lên là như vậy. Còn đối với những cái mua từ Lào về thì sao? Ở Lào nó đã là nhac cụ, đã có hồn. Nhưng là "hồn Lào". Phải dạy cho nó trở thành cồng chiêng Tây Nguyên. Cũng chỉnh bằng cách điều chỉnh với chiếc búa nhỏ được điều khiển hết sức tài tình, tinh tế như vậy. Dạy cho nó tiếng Tây Nguyên, tiếng Ba Na, tiếng Gia Rai, tiếng Ê Đê …, chứ không phải tiếng Lào.

Chiêng để lâu thì thường bị lạc giọng, các nốt sai đi, do thời tiết, do va chạm, do di chuyển, do khi đánh quá nặng hay quá nhẹ tay. Khi đó người ta bảo "chiêng bị bệnh". Nó ốm. Phải mời thầy thuốc đến chữa bệnh cho chiêng. Thường khắp cả một vùng mới có một thầy thuốc chuyên khoa như vậy, còn hơn cả một nghệ sĩ: một nhân vật thiêng. Ông được rước đến vô cùng trang trọng, và ông ngồi hàng ngày, có khi hàng nhiều ngày để chỉnh chiêng, cả làng im lặng và kính cẩn vây quanh chiêm ngưỡng ông thầy tài ba ấy chữa bệnh cho chiêng. Cũng chỉ với chiếc búa nhỏ quý và thiêng mà ông không để cho ai được chạm đến. Ở Tây Nguyên người ta gọi ông là "N'jâu" hay "P'jâu cing". N'jâu hay P'jâu có nghĩa là thầy thuốc. Tôi được nghe kể rằng ngày trước sau khi thầy đã chữa chiêng xong rồi, thì một người phải lên ngựa phi sang tận sườn núi xa bên kia, để từ bên ấy lắng nghe tiếng vọng của chiêng bên này mà đánh giá tài năng của thầy!

Như vậy người Tây Nguyên không đúc được chiêng, nhưng theo cách nào đó chính họ sáng tạo ra cồng chiêng, cồng chiêng Tây Nguyên, không nhầm lẫn với bất cứ cái vật bằng đồng hình tròn nào khác, mang từ dưới xuôi lên hay bên từ Lào về; riêng biệt, độc đáo, và đặc sắc, có một không hai.

Tất nhiên còn vô số điều phong phú và sâu sắc để nói về cồng chiêng Tây Nguyên. Xin hẹn dịp khác. Chỉ xin chú ý thêm một điều: Cái mà UNESCO đã sáng suốt công nhận là Di sản Văn hóa thế giới không phải là cồng chiêng Tây Nguyên, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên, mà là "Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên". Và không gian ấy là làng và rừng Tây Nguyên. Mất hết rừng, không còn làng rừng, thì sẽ không còn cồng chiêng Tây Nguyên nữa đâu, dù có bao nhiêu festival ồn ào, diêm dúa.

Riêng tôi, tôi không sợ cồng chiêng bị bán ra ngoài Tây Nguyên, tôi cũng không sợ cồng chiêng mua từ Thái Lan về (thì ngày trước nó vẫn được mua từ Lào về đấy, có sao đâu!). Người Tây Nguyên có một bản lĩnh văn hóa rất mạnh để biến cái vốn là ngoại lai thành tài sản văn hóa độc đáo của riêng mình, Tây Nguyên hóa tất cả, miễn là còn rừng. Rừng là sức mạnh vĩ đại của Tây Nguyên. Tôi chỉ sợ mất hết rừng Tây Nguyên rồi, tức cũng mất hết làng rừng Tây Nguyên. Mất chính cái Không gian mà UNESCO đã trân trọng thay mặt toàn thế giới văn hóa công nhận.

PV (ghi nhận)

.

.

Cồng chiêng Tây Nguyên sản xuất tại... Thái Lan

Ngày 24.07.2010, 16:35 (GMT+7)

http://sgtt.vn/Van-hoa/126404/Cong-chieng-Tay-Nguyen-san-xuat-tai-Thai-Lan.html

SGTT.VN - Từ Pháp trở về Việt Nam tham dự hai sự kiện lớn của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế đang cùng lúc diễn ra tại Hà Nội: Hội nghị lần 6 “Âm nhạc và các dân tộc thiểu số”; Hội nghị lần 2 “Âm nhạc dân tộc học ứng dụng”, giáo sư (GS) Trần Quang Hải bày tỏ mối lo trước hiện tượng hiện đại hoá các di sản văn hoá phi vật thể của dân tộc, đặc biệt là cồng chiêng Tây Nguyên.

GS đăng ký trình bày một tham luận có cái tên rất dài: “Phương Tây hoá và hiện đại hoá cồng chiêng của người Tây Nguyên Việt Nam: Điều đó có tốt cho sự phát triển âm nhạc của họ trong sự toàn cầu hoá âm nhạc thế giới?”.

Thực trạng nào khiến ông phải đặt ra câu hỏi ấy?

Kể từ khi được Unesco công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể của thế giới”, cồng chiêng Tây Nguyên bỗng thay đổi chóng mặt. Trong dàn cồng chiêng cổ, tôi thấy xuất hiện ngày càng nhiều cồng chiêng sản xuất tại Thái Lan. Trông thì đẹp mã, bóng bẩy, sơn son, phết vàng, về mặt chất lượng thì âm cũng chuẩn, cao độ cũng tốt, nhưng đó không phải là cồng chiêng của người Tây Nguyên.

Cồng chiêng do bàn tay người Tây Nguyên làm ra, nó thấm đẫm hơi thở của núi rừng. Mỗi một cái cồng, cái chiêng, có khi phải tỉ mẩn rèn, đúc cả năm trời mới làm xong. Cứ hoàn thành một dàn cồng chiêng, là lại tiến hành tế lễ, giết gà, mổ bò, mổ trâu.

Người Tây Nguyên tin rằng, lớp đồng đen trên bề mặt cồng chiêng được phết thêm máu gia súc dùng trong tế lễ, thì cái cồng, cái chiêng đó đánh lên, mới phát ra đúng âm thanh của Tây Nguyên. Ấy thế mà hiện nay lại có những chàng trai Tây Nguyên dám đem những cái cồng, cái chiêng ông bà, tổ tiên để lại ra gọt chỗ này, cạo chỗ kia, rồi tạo nên âm giai thất cung thay thế vào để chơi nhạc mới.

Người ta dùng những cái cồng, chiêng lai căng ấy chơi đủ thứ nhạc từ Pop đến Rock mà không hiểu rằng, sở dĩ cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới” là bởi nó là báu vật riêng có của núi rừng Tây Nguyên, và chỉ duy nhất cồng chiêng Tây Nguyên mới phát ra được thứ âm thanh độc đáo rặt Tây Nguyên. Vậy mà…

Chưa hết đâu, cách trình diễn cồng chiêng dạo này cũng được “cách tân” triệt để. Trước kia, một dàn cồng chiêng cần đến cả chục người cùng tham gia biểu diễn. Kỹ thuật đánh hết sức phong phú, và phải rèn luyên lâu năm mới thuần thục. Còn bây giờ, có khi, người ta gắn cồng, chiêng vào một cái khung, rồi một người đứng gõ cốc cốc. Cứ cái đà này, tôi nghĩ, cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ đánh mất mình, mà còn có thể đánh mất luôn danh hiệu cao quý “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”.

Từ trước đến nay đã có Di sản văn hoá phi vật thể thế giới nào bị Unesco lấy lại danh hiệu chưa, thưa GS?

Đã có một vài trường hợp. Unesco quy định rất rõ: Di sản văn hoá phi vật thể nào được vinh danh, thì cần phải bảo tồn, gìn giữ nguyên trạng, không được phép cải tiến, thay đổi. Nếu “phạm luật”, Unesco chắc chắn thu hồi lại danh hiệu.

Ông đã cảnh báo nguy cơ này với những người có trách nhiệm?

Chỉ một năm sau khi cồng chiêng Tây Nguyên trở thành “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”, tôi đã thấy GS Tô Ngọc Thanh lên tiếng cảnh báo. Tiếp đến là cha tôi, GS Trần Văn Khê. Nhưng từ đó đến nay, hiện tượng “Tây hoá” cồng chiêng Tây Nguyên không hề chấm dứt.

Sau khi được công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”, không chỉ cồng chiêng Tây Nguyên mà cả quan họ Bắc Ninh, nhã nhạc cung đình Huế đều bị phôi pha “hương đồng gió nội” trong cơn lốc du lịch hoá, thương mại hoá... Phải chăng chúng ta mới chỉ “vô tư” sở hữu danh hiệu cao quý ấy mà chưa nhận thức đầy đủ những trọng trách kèm theo?

Đúng vậy! Trước khi trở thành “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”, Tây Nguyên có 6.000 dàn cồng chiêng. Hiện tại, chỉ còn có 2.000, mất đi 4.000. Do đâu?

Cồng chiêng được vinh danh và bởi thế, thu hút nhiều hơn các nhà sưu tầm cổ vật cũng như du khách. Vì hoàn cảnh, nhiều người Tây Nguyên bất đắc dĩ buộc phải bán đi cái cồng, cái chiêng tồn tại đã bao đời của dân tộc mình, gia đình mình. Vậy mà những năm qua, tôi chưa thấy có dự án nào hỗ trợ bà con Tây Nguyên trong công cuộc bảo tồn, gìn giữ vốn quý cha ông để lại.

Quan họ Bắc Ninh dạo này xuất hiện khá nhiều trong các tour du lịch. Ở chỗ này, chỗ kia đã thấy người ta rì rầm chuyện liền anh, liền chị biểu diễn xong thì xuống xin du khách tiền bồi dưỡng. Quan họ mà đi xin tiền thì đâu còn là quan họ! Nhã nhạc cung đình Huế, gần đây bỗng dưng được trình diễn kèm với múa. Nhã nhạc “nguyên gốc” làm gì có múa. Nhã nhạc có múa tức là mang hơi hướng du lịch hoá, thương mại hoá rồi.

Làm sao để chấn chỉnh tình trạng này đây? Tôi nghĩ chỉ có thể trông đợi ở cấp quản lý. Nếu đã có luật thì ai làm sai, cứ phạt nặng. Như thế có thể là hơi khắt khe, nhưng cần thiết!

Hương Lan (thực hiện)

.

.

BÓ TAY VỚI ÔNG GS TRẦN QUANG HẢI

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/bo-tay-voi-ong-gs-tran-quang-hai.html

.

.

.

HOÀNG THÀNH THĂNG LONG CHÍNH THỨC TRỞ THÀNH DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI

Hoàng thành Thăng Long thành di sản thế giới

BBC

Cập nhật: 08:24 GMT - chủ nhật, 1 tháng 8, 2010

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/08/100801_hoanthanh_unesco.shtml

Ủy ban Di sản Thế giới của Unesco vừa chính thức công nhận Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới tại cuộc họp ở Brasilia.

Cuộc họp lần thứ 34 của ủy ban thuộc Tổ chức Văn hóa khoa học và giáo dục Liên Hiệp Quốc (Unesco) được tổ chức tại thủ đô Brazil từ 25/07-03/08.

Tại đây, Hoàng thành Thăng Long được đề cử cùng 38 di chỉ khác, gồm 8 di sản thiên nhiên, 29 di sản văn hóa và 2 di sản hỗn hợp.

Được biết, di tích này thỏa mãn ba trong số sáu tiêu chí của Ủy ban Di sản.

Hồ sơ đăng ký di sản Hoàng thành Thăng Long được đệ trình Unesco vào tháng 1/2009.

Năm nay cũng là năm kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội.

Việt Nam hiện có 9 di sản được Unesco công nhận, gồm cả di sản vật thể và phi vật thể.

Năm di sản vật thể là quần thể di tích cố đô Huế (1993), vịnh Hạ Long (1994 - di sản thiên nhiên và 2000 - di sản địa chất), phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn (1999), Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (2003).

Các di sản phi vật thể bao gồm nhã nhạc cung đình Huế (2003), không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên (năm 2005), không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh (2009) và ca trù (2009).

Trên toàn cầu có 890 địa danh được công nhận di sản thế giới, nằm tại 148 nước, trong đó 689 địa danh là di sản văn hóa, 176 di sản thiên nhiên, và 25 di sản văn hóa và thiên nhiên.

.

.

Hoàng thành Thăng Long chính thức là Di sản thế giới

vietnamnet

Cập nhật lúc 06:56, Chủ Nhật, 01/08/2010 (GMT+7)

http://vietnamnet.vn/chinhtri/201008/Hoang-Thanh-Thang-Long-chinh-thuc-la-Di-san-the-gioi-926009/

6h30 sáng nay, 1/8 - giờ Việt Nam (tức 20h30 tối 31/7 giờ Brazil), Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long của Việt Nam chính thức được công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Tin nóng vừa được TS Lê Thị Minh Lý, Cục phó Cục Di sản văn hóa báo về đã kết thúc chuỗi ngày nỗ lực của Việt Nam chinh phục danh hiệu di sản thế giới thứ 6 trong niềm hạnh phúc ngập tràn. Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long trở thành di sản thế giới thứ 900.

Trước đó, tại vòng hai, hồ sơ đề cử của Việt Nam đã bị ICOMOS (tổ chức chuyên môn độc lập xem xét các hồ sơ ứng cử di sản văn hóa của UNESCO) đề nghị hoãn việc xem xét công nhận trong năm nay.

Tuy nhiên, quyết tâm tổng thể của Chính phủ Việt Nam với các cam kết vững chắc sẽ bảo vệ di sản và nghiêm túc thực hiện các khuyến nghị của ICOMOS sau khi di sản được công nhận, quyết tâm bền bỉ của các nhà khoa học để "bác" lại một số những nhận định chưa chính xác về chuyên môn của ICOMOS, và "căng thẳng" nhất là những nỗ lực của các thành viên đoàn Việt Nam đang có mặt tại Brasilia đã thuyết phục được đa số trong 21 quốc gia thành viên Ủy ban Di sản thế giới.

Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất.

Trước Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Việt Nam đã có 5 di sản thế giới (trong tổng số 890 đã được công nhận tính đến trước kỳ họp này).

Trong số này, có 3 di sản văn hóa: Quần thể di tích cố đô Huế - 1993, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn - đều năm 1999) và 2 di sản thiên nhiên: Vịnh Hạ Long - 1994, được công nhận mở rộng vào năm 2000 và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - 2003.

Kỳ họp thứ 34 của Ủy ban Di sản thế giới đang diễn ra tại Brasilia, thủ đô của Brazil từ 25/7 đến 3/8. 39 hồ sơ đề cử được xem xét tại kỳ họp này, trong đó có 8 đề cử di sản thiên nhiên, 29 đề cử di sản văn hóa và 2 đề cử di sản hỗn hợp. Ngoài ra, có 9 hồ sơ đề nghị mở rộng phạm vi và giá trị di sản (đã được công nhận trước đó).

Khánh Linh

.

.

.