Stephen Maher | The Star
DCVOnline dịch thuật
Posted
on January 8, 2026
Tin tốt
trong vụ Mỹ bắt cóc Nicolás Maduro là Venezuela cuối cùng đã thoát khỏi tay một
lãnh tụ tham nhũng, bạo ngược và lố bịch.
https://d1q2mfvhrzqh31.archive.ph/gnpMj/e505a3591ef34b8431606eec755731c4a93c6726.jpg
Người
biểu tình giơ cao biểu ngữ bên ngoài trụ sở Tổ chức những Quốc gia châu Mỹ
(OAS) tại Washington ngày 6 tháng Giêng. Jacquelyn Martin / AP
Tin
xấu là xứ này có thể sắp rơi vào tay một lãnh tụ khác cũng tham nhũng, bạo ngược
và lố bịch không kém — Donald Trump — người đang nóng lòng muốn phô trương sức
mạnh quân sự với những quốc gia khác trong khu vực Tây Bán Cầu.
Điều
ấy khiến những thủ đô mà ông đã từng hăm dọa phải toan tính lo âu: La Habana,
Bogota, Mexico City, Ottawa và cả Copenhagen.
Chúng
ta bỗng như trở lại đầu thế kỷ 20, khi Tổng thống Teddy Roosevelt “nói năng nhỏ
nhẹ nhưng cầm gậy lớn”, dùng gậy để đe dọa Canada và những quốc gia khác trong
vùng.
Donald
Trump nói hôm thứ Bảy,
“Đó
là, à, Học thuyết Monroe. Chúng ta đã quên nó. Nó từng rất quan trọng, nhưng
chúng ta quên mất. Giờ thì không quên nữa. Theo chiến lược an ninh quốc gia mới
của chúng ta, quyền thống trị của Mỹ tại Tây Bán Cầu sẽ không bao giờ bị chất vấn
nữa. Không thể đâu.”
Donald
Trump
Không
lạ gì khi Trump nhầm lẫn lịch sử. Học thuyết Monroe, do một nước Mỹ còn yếu ớt
tuyên bố vào năm 1823, chỉ là một khẳng định ôn hòa rằng những cường quốc Âu
châu không nên can thiệp vào công việc của những quốc gia độc lập tại Tân Thế
Giới.
Chính
Teddy Roosevelt đã biến nó thành vũ khí. Không như Trump, Roosevelt là một tay
cứng cựa thật sự; ông ta từng tiếp tục đọc bài diễn văn vận động tranh cử dù bị
bắn vào ngực. Năm 1904, sau một vụ tranh chấp giữa Venezuela và Đức,
Roosevelt
ban hành “Hệ luận Roosevelt” cho Học thuyết Monroe, khẳng định rằng Mỹ sẽ can
thiệp vào những quốc gia châu Mỹ La-tinh nếu có “hành vi sai trái nghiêm trọng
và kéo dài.”
Kể
từ đó cho đến cuối Chiến tranh Lạnh, Mỹ thường xuyên tìm thấy những “hành vi
sai trái nghiêm trọng và kéo dài” để có cớ dựng lên những lãnh đạo độc tài tàn
nhẫn, nhằm bảo đảm những hãng Mỹ được trồng chuối hay khoan dầu mà khỏi bận tâm
tới bầu cử, nghiệp đoàn, môi sinh hay nhân quyền.
Từ
năm 1898 đến 1994, chính phủ Mỹ đã thay đổi chính quyền ở châu Mỹ La-tinh ít nhất
41 lần, khởi đầu bằng cuộc chiến Tây Ban Nha–Mỹ tại Cuba, và kết thúc bằng vụ Mỹ
xâm lăng Haiti năm 1994, có khi bằng pháo hạm, có khi bằng quân đội, có khi bằng
thủ đoạn ngầm.
Panama,
chẳng hạn, chỉ hiện hữu vì Roosevelt đã khuyến khích một cuộc nổi dậy chống
Colombia để có thể đào kênh đào Mỹ tại đó.
Những
lần can thiệp phản dân chủ thường xuyên như thế, vì quyền lợi kinh tế của Mỹ,
đã khiến những xã hội châu Mỹ La-tinh bị đặt trong tình trạng lệ thuộc lâu dài,
không thể tự quyết về thể chế dân chủ của mình.
Nhà
văn lớn của Uruguay Eduardo Galeano gọi đó là vùng đất “những mạch máu mở,” nơi
sinh lực chảy đi nuôi người khác. Ông viết năm 1971 trong quyển Mạch
Máu Mở của Mỹ La-tinh: “Từ ngày bị khám phá đến nay, mọi thứ luôn bị biến
thành tư bản Âu châu, rồi tư bản Bắc Mỹ; và như thế, chúng tích tụ trong những
trung tâm quyền lực xa xôi.”
Lịch
sử dài của sự khuất phục ấy cuối cùng đã đến điểm bùng nổ vào năm 1959, khi
Fidel Castro dẫn người Cuba nổi dậy chống lại chính quyền tàn bạo do Mỹ hậu thuẫn.
Liên minh của Cuba với Liên Xô sau đó khiến Mỹ càng tàn nhẫn hơn tại châu Mỹ
La-tinh, huấn luyện biệt đội tử thần, nâng đỡ những nhân vật độc tài, chặt đầu
chính quyền theo ý muốn.
Khi
chính quyền Richard Nixon chuẩn bị đảo chính để lật đổ chính phủ xã hội chủ
nghĩa được dân bầu của Salvador Allende ở Chile, Henry Kissinger đã nói: “Tôi
không hiểu tại sao chúng ta phải đứng nhìn một nước trở thành cộng sản chỉ vì
dân chúng của họ vô trách nhiệm.”
Nhưng
kể từ cuộc bầu cử năm 1976 đưa Jimmy Carter lên làm tổng thống, ông đã trao trả
kênh đào lại cho Panama và đưa nhân quyền vào chính sách đối ngoại Mỹ, đường lối
Mỹ bắt đầu thay đổi. Khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, nỗi lo sợ về sự can thiệp của
ngoại bang giảm bớt, và Mỹ cho phép những quốc gia châu Mỹ La-tinh tự do chọn lấy
vận mạng dân chủ của họ.
Trump
đang tìm cách quay ngược kim đồng hồ. Trong bản Chiến lược An ninh Quốc
gia mới, ông hứa sẽ “tái khẳng định và thi hành Học thuyết Monroe để
phục hồi ưu thế của Mỹ tại Tây Bán Cầu, bảo vệ quê hương và quyền đến những vị
trí địa lý trọng yếu trong vùng.”
Khi
bắt cóc Maduro khỏi dinh thự ở Caracas cuối tuần qua và đưa sang New York, Mỹ gọi
ông ta là “tên khủng bố ma túy,” cáo buộc ông giúp những băng đảng vận chuyển
hàng ngàn tấn cocaine vào Mỹ. Có thể lời cáo buộc đúng, nhưng Trump mới đây vừa
ân xá cho cựu tổng thống Honduras Juan Orlando Hernández, người bị giam 45 năm
tại Mỹ vì tội tương tự.
Khi
loan báo cuộc xâm lăng, Trump không nhắc đến dân chủ lần nào, nhưng nói đến “dầu
hỏa” đến hai chục lần. Ông cũng chẳng nói chuyện với lãnh tụ đối lập Venezuela
María Corina Machado, người mà đảng của bà thực sự đã thắng cuộc bầu cử vừa
qua, có lẽ vì ông ganh tức khi bà được trao giải Nobel Hòa Bình mà ông thèm muốn.
Tuy
nhiên, theo tạp chí Politico, ông đã nói chuyện với những hãng dầu
Mỹ, thúc giục họ sớm khai thác. Rõ ràng đây là một vụ chiếm đoạt tài nguyên, đi
kèm với lời đe dọa chủ quyền của Mexico, Colombia, Greenland và Cuba.
Trump
đang hành xử như một tổng thống Mỹ đầu thế kỷ 20 hiếu chiến, nhưng thật khó tưởng
tượng rằng khu vực này sẽ chấp nhận loại can thiệp ấy nữa, vì châu Mỹ La-tinh
ngày nay thịnh vượng và trưởng thành hơn nhiều. Ai cũng có điện thoại. Trình độ
học vấn và năng lực của nhà nước cao hơn xa thời kỳ “ngoại giao pháo hạm.”
Kenneth Frankel, Chủ tịch Hội đồng Canada về châu Mỹ, người hiểu rõ khu vực
này, nói:
“Không
thể so sánh họ với trước kia. Những quốc gia nay đã có cơ cấu xã hội, chính trị
và kinh tế rất khác, với nhiều công dân thật sự có phần trong đời sống quốc
gia.”
Kenneth
Frankel
Quân
đội Mỹ đã phô trương sức mạnh kinh khủng của họ hôm thứ Bảy, nhưng họ có một
quá khứ dài thất bại trong những cuộc chiến chống du kích đòi hỏi kiên nhẫn và
khéo léo.
Chưa
rõ liệu lãnh tụ mới của Venezuela, bà Delcy Rodríguez, nguyên phó tổng thống của
Maduro, có chịu khuất phục trước đe dọa của Trump và giao dầu cho ông hay
không. Dù có, cũng phải mất 15 năm cùng hàng tỉ Mỹ kim đầu tư mới khôi phục được
mức sản xuất trước năm 1999, khi Hugo Chavez lên nắm quyền và quốc hữu hóa kỹ
nghệ dầu hỏa, đã tàn phá kinh tế và khiến những hãng dầu nổi giận.
Điều
đó có nghĩa là Mỹ vẫn còn cần dầu thô của Canada cho những nhà máy lọc dầu ở
vùng Trung Tây và Vịnh Mexico nhiều năm nữa, có lẽ cho đến sau khi Trump rời chức.
Vì thế, cuộc đảo chính tại Venezuela không đem lại cho Mỹ thêm lựa chọn nào
trong quan hệ mậu dịch với Canada, nhưng màn phô trương quyền lực liều lĩnh ấy
thật đáng lo ngại.
Mỹ,
từ sau Đệ nhị Thế chiến đã bảo đảm an ninh cho Canada gần như mặc nhiên, giờ
đang dòm ngó dầu của Canada và hăm dọa chúng ta.
Thời
Teddy Roosevelt, khi Mỹ thường xuyên xâm lăng những nước láng giềng phương Nam,
họ chưa bao giờ chĩa súng vào Canada, và lần này có lẽ cũng vậy, nhưng chúng ta
phải sẵn sàng đối phó với tình trạng hỗn loạn và bất trắc sẽ còn kéo dài.
Người
Canada cần làm tất cả những gì có thể để bảo vệ chủ quyền đất nước, chuẩn bị
tinh thần chấp nhận những điều khoản bất bình đẳng khi chúng ta tái đàm phán
NAFTA, và hy vọng rằng lịch sử sẽ dạy cho những người láng giềng của chúng ta
bài học mà các cường quốc thường chỉ học sau khi vấp ngã.
------------------
Tác
giả: Stephen
Maher là
ký giả chính trị kỳ cựu và tác giả quyển The Prince: The Turbulent
Reign of Justin Trudeau.
©
2026 DCVOnline
Nếu
đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”
Nguồn: Trump’s Venezuela
takeover is a warning for Canada. Here’s what we have to prepare for| Stephen
Maher | The Star | Jan. 7, 2026
No comments:
Post a Comment