Monday, April 30, 2018

TẢN MẠN QUANH CHUYỆN 'ĐẠI THẮNG' HAY 'QUỐC HẬN' (Hà Sĩ Phu)




Hà Sĩ Phu
30/04/2018

1/ Đại thắng hay quốc hận?

Trong sự kiện 30-4-1975 của chiến trường Việt Nam, miền Bắc thắng miền Nam nên miền Bắc gọi đó là đại thắng, miền Nam thua và gọi đó là quốc hận. Nếu thoát ra khỏi nhãn quan của mỗi bên, chỉ lấy lợi ích và tương lai của cả đất nước, của toàn dân làm trọng thì xin hỏi biến cố kết thúc cuộc chiến như tháng Tư năm 1975 ấy là điều tốt hay xấu, có lợi hay có hại, đáng mừng hay đáng tiếc đây?

Có thể viện dẫn một chân lý chung đã thành kinh điển “Chiến tranh, nhất là nội chiến thì dù bên nào thắng, nhân dân cũng là kẻ thua”, nhưng cũng phải nói thêm: khi bên thắng là Cộng sản (CS) thì sự “thua” của nhân dân có phần đậm hơn! Bởi CS thắng thì đưa cả nước vào quỹ đạo CS là quỹ đạo của một chủ thuyết có tính chất dân túy (Populismus), ve vãn người dân bằng những ảo tưởng đến mức độ ngớ ngẩn về mặt khoa học, nhưng lại có sức lôi cuốn, kích động, cực đoan nên tàn phá xã hội đến mức tan hoang. Giương cao búa liềm Công Nông nhưng Công Nông thời CS khổ hơn bao giờ hết. Riêng VN thì con đường CS còn dẫn đến một đại họa bao trùm hết thảy là nạn Bắc thuộc mới, trở lại mối họa truyền kiếp với nước khổng lồ Bắc phương. Môt “đại thắng” của chuyên chính CS toàn trị lại trở thành một “quốc hận” đối với quốc gia, với nghĩa như một điều đáng ân hận, điều không may, điều đáng tiếc cho đất nước bởi khi CS nắm quyền toàn trị nó cản trở một cách mãnh liệt con đường Dân chủ pháp trị là con đường văn minh chung của nhân loại ngày nay.

2/ Những tấm gương của thế giới chứng minh điều gì?

Có 3 nước cùng bị chia đôi, một nửa thành CS một nửa vẫn là chế độ Dân chủ pháp trị của thế giới văn minh, đó là nước Đức, Việt Nam và Triều Tiên.

Lịch sử đã bày ra 3 tình huống khác nhau: Ở Đức chủ nghĩa CS sụp đổ, phần Tây Đức dân chủ làm chủ hoàn toàn đất nước thì có sự bao dung, hài hòa, tiếp tục là một quốc gia cường thịnh và dân chủ bậc nhất châu Âu.

Triều Tiên thì CS phía Bắc lúc đầu ngoan cố, hiếu chiến nhưng không thể khuất phục nổi nửa phía Nam nên dần dần được chính sách “Ánh dương” nhân đạo của Nam Hàn cảm hóa, nay đang có triển vọng hai miền bắt tay nhau thì hứa hẹn một quốc gia phát triển và hùng mạnh. Còn ở Việt Nam thì máu hiếu thắng của CS kết hợp với viện trợ của “kẻ thù truyền kiếp” Trung Cộng nên đã chiếm trọn miền Nam, đưa cả nước vào quỹ đạo CS thì đang tụt hậu khủng khiếp như ta đang thấy, kém thua bè bạn xung quanh hàng thế kỷ, có nguy cơ mất luôn cả độc lập! (xin không mô tả ra ở đây vì mọi việc đã phơi bày hàng ngày trên khắp các phương tiện truyền thông).

Đối chiếu tình hình 3 nước ấy rõ ràng bật ra quy luật: ở đâu mà Dân chủ pháp trị đứng vững (Hàn quốc) hoặc hoàn toàn làm chủ (Đức) thì ở đó tình hình sáng sủa, trái lại ở đâu CS thắng thế bao trùm thì ở đó xã hội phân ly, kinh tế bất ổn, văn hóa suy đồi và tương lai mất nốt cả độc lập, đó là Việt Nam. Đích danh thủ phạm đã hiện ra rõ mồn một chứ còn gì nữa, đó là chủ nghĩa CS, chủ nghĩa mà trí tuệ hiện đại của toàn châu Âu đã tổng kết thành nghị quyết 1481, đã chỉ rõ CNCS chẳng qua là một ngộ nhận nhất thời, một đại họa nhất thời của nhân loại, phải được loại trừ.

Tình hình đã rõ như thế, nhận thức tiên tiến của con người đã rành mạch như thế mà những người cầm quyền ở VN vẫn cứ nhất mực “kiên trì” cái chủ nghĩa phản động, phản tiến hóa ấy (mặc dù chính người đứng đầu ĐCSVN cũng phải công nhận một thế kỷ nữa cũng chưa rõ chân dung cái chủ nghĩa ấy sẽ có diện mạo thế nào). Biết rõ một chủ thuyết chỉ là tà thuyết nhưng không bỏ được vì không được bỏ! Mà quyền chọn con đường đi cho đất nước mình mới là Dân quyền và Nhân quyền cơ bản nhất, nó quyết định mọi thứ quyền cụ thể khác. Khi cái quyền cơ bản nhất ấy đã bị áp đặt thì xin đừng khoe các quyền khác làm gì!

3/ Những lực cản chính

Xin điểm vài nguyên nhân chính khiến cho tà thuyết chính trị Mác-Lê vẫn cứ chễm chệ trên đầu nhân dân ta:

- Chế độ chính trị Mác-Lê gây tác hại cho nhân dân và đất nước nhưng trái lại, nó đem đặc quyền đặc lợi như vua chúa cho đám người cầm quyền nên họ quyết giữ chế độ vả trị tội rất nặng công dân nào muốn phê phán chế độ.

- Chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng hiện nay chỉ có thể biến VN thành chư hầu theo kiểu “tằm ăn dâu” nếu VN cũng là chế độ CS, trong đó ĐCS nắm quyền tuyệt đối. Vì thếTrung Cộng quyết giữ cho VN phải ở chế độ CS để thực hiện cho xong dã tâm xâm lược. Lực cản này còn ác liệt hơn lực bảo thủ của bản thân ĐCSVN.

- Dân thì vô cảm, hầu như không quan tâm đến chính trị, trừ những nơi dân cần phải đứng lên để giữ lấy đất đai ruộng vườn đang bị cướp. Sự vô cảm của dân có những nguồn gốc khác nhau:

+ hoặc do lối sống thực dụng của xã hội tiêu thụ, chỉ biết vui thú với những hưởng thụ cá nhân và gia đình minh, không quan tâm gì đến số phận chung.
+ hoặc vốn đã có lý tưởng, có ý thức chính trị nhưng sau thời gian thấy bị lừa dối, phản bội nên nay đã chán ngấy tất cả.
+ hoặc nếu quan tâm đến chính trị là bị chính quyền gây khó, làm khổ ngay, nên phải tránh để được sống yên.
+ hoặc cũng muốn góp phần cải biến xã hội nhưng chẳng thấy có “ngọn cờ” nào có hiệu quả đáng để tin tưởng mà tham gia v.v…

Dân là những người thụ động, buộc phải thích nghi để sống còn nên không thể trách dân mà phải giúp cho dân thoát khỏi tình trạng lảng tránh, thờ ơ ấy. Đó là nhiệm vụ khó khăn đặt lên vai các nhà Dân chủ và các tổ chức Xã hội dân sự, mà hiện nay còn rất tản mạn chưa tìm được cách hoạt động chính thức trong một xã hội CS toàn trị, mà về dân chủ thậm chí còn thua cả thời Pháp thuộc).

4/ Một vài căn bệnh về tâm lý

bệnh hiếu thắng Cộng sản: bệnh hiếu thắng vốn có từ lâu nhưng từ khi lan truyền chủ nghĩa CS, nó xúi giục con người phải chiến thắng mọi thứ kẻ thù để giành chiến thắng thì hiếu thắng thành bệnh nặng. Đánh thắng cả “2 đế quốc to” là oai hùng lắm, nên khi đất nước tạm chia đôi lập tức phải tìm cách vũ trang để đánh thắng miền Nam cho kỳ được. Sau 1975 Mỹ sẵn sàng viện trợ thì không thèm nhận viện trợ, bảo VN chiến thắng thì Mỹ phải bồi thường chiến tranh mới đúng tư cách…Nhưng hiện nay đến lúc phải chiến đấu để chiến thằng âm mưu bành trướng của Tàu thì ý chí chiến thắng ở đâu chẳng thấy, cho nên sự hiếu thắng chỉ là hiếu thắng kiểu CS.

Ông cha mình biết chiến thắng quân ngoại xâm nhưng cũng phê phán thứ hiếu thắng vô bổ : “Chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang, chứ đánh được người thì mặt vàng như nghệ!”. Có những thứ chiến thắng mang lại tai họa ngay cho kẻ thắng. Đại thắng để chiếm miền Nam đúng là thứ hiếu thắng CS, nên cuộc Đại thắng trở thành Quốc hận đối với đất nước

( Xin nói thêm: Nếu đã coi ngày 30/4/1975 là ngày Quốc hận, CS làm chủ miền Nam, thì đó chỉ là Tiểu Quốc hậnĐại Quốc hận phải là ngày 19/8 và 2/9/1945, ngày đó đánh dấu cả giang sơn VN bắt đầu nhuộm đỏ, từ đó sinh ra mọi thứ “hận” về sau).

Sính dùng bạo lực, tưởng dùng lực với người khác là biểu thị sức mạnh. Nhưng cổ nhân đã dạy “ Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường” ( thắng người khác chỉ là thứ lực cơ giới, lực cơ bắp; tự thắng được mình mới là kẻ mạnh). Tự thắng mình để mình tiến bộ lên về trình độ đã là khó, nhưng khó nhất là tự bỏ được những thói rởm, thói hư của mình mới càng khó hơn, mà cái thói hư nhất của CS là bệnh say chiến thắng người khác trong khi tự nuông chiều mình, nuông chiều chế độ của mình vô hạn.

Tâm lý thích vọt lên đỉnh. Kẻ ở dưới đáy thường mơ khát vọng vọt lên đỉnh, vọt lên hàng đầu, vọt lên đón đầu, chứ không thích đứng khoảng giữa mặc dù từ đáy tiến lên hàng giữa đã là chuyện khó khăn. Ví dụ như một thằng học dốt luôn xếp thứ 50/50 ở lớp. Trong giấc mơ nó luôn mơ đứng đầu lớp cho oai chứ không mơ tiến lên vài bậc, xép thứ 40-45 chẳng hạn. Dễ hiểu tại sao lớp vô sản đầu tiên lại có khẩu hiệu “Trí Phú Địa Hào. Đào tận gốc trốc tận rễ” Chẳng qua vì Trí Phú Địa Hào là 4 cái khát khao nhất của họ, cho nên khi cướp được quyền là họ lao ngay vào cuộc tranh giành để trở thành Trí Phú Địa Hào như bấy lâu khao khát. “Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình” chẳng phải đã thành cái cần câu nhử tất cả những kẻ khát khao đó hay sao? Khi có quyền họ biến ngay thành Phú Địa Hào vì 3 thứ đó cướp được dễ dàng. Chỉ có cái Trí thì khó mà cướp ngay được nên thực hiện sau cùng, lắm của nhiều tiền rồi cũng phải mua lấy cái bằng …Tiến sĩ!

Để kết thúc câu chuyện bàn luận cho vui này, xin đọc lại bài thơ “Bài ca Trí Phú Địa Hào”:


                                   Bốn anh Trí Phú Địa Hào
                            Chỉ riêng anh Trí lao đao đến giờ
                                 Đảng ta thương Trí ngu ngơ
                       Cho CÔNG-NÔNG-TRÍ chung cờ liên minh
                                 Trông lên LIỀM-BÚA hai hình
                             Trí ta vẫn chẳng thấy mình ở đâu
                                  Quay sang tìm Phú, Địa, Hào
                              Thấy ba bụng phệ …đã vào…Đảng ta!
                              ( HSP-1996)

H.S.P.
30/4/2018








NHÂN NGÀY 30/4 : CHÚT HỒI ỨC VỀ MỘT NGƯỜI TÙ CẢI TẠO (FB Lê Nguyễn)




28-4-2018

XIN LƯU Ý – Đây chỉ là những gì mà ký ức còn ghi nhận được của một “người trong cuộc” sau 43 năm tang thương biến đổi, viết để các bạn đọc cho vui và có những cảm nhận cho riêng mình. Xin tuyệt đối không đưa ra những bình luận có tính cực đoan nhắm vào chính quyền hay chế độ hiện hành.
Trân trọng!

***
Chưa chi mà đã 43 năm rồi! Với những bạn FB dưới 50 tuổi, chắc ấn tượng về ngày 30.4.1975, các bạn chỉ có thể nghe qua lời kể của cha anh. Nhiều người 70, 80 trở lên, trí nhớ cũng đã thui chột dần. Thôi thì còn nhớ gì kể nấy, như những hồi ức vụn vặt về một thời điểm đáng nhớ trong đời của hàng triệu người trên đất nước này.
Không lâu sau ngày 30.4.1975, việc đầu tiên mà “ngụy quân, ngụy quyền” kéo nhau đi thực hiện là “trình diện đăng ký” với Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định, chủ tịch là Thượng tướng Trần Văn Trà, người ký trên giấy đăng ký là ông Cao Đăng Chiếm, Phó chủ tịch Ủy ban. Lúc bấy giờ giấy chứng nhận đăng ký trình diện là một thứ “giấy thông hành” của thành phần đặc biệt này, đi đâu cũng phải thủ nó trong túi. Trong vòng tháng 5, các hạ sĩ quan và binh sĩ phe thua cuộc được tham gia các buổi học chính trị tại chỗ kéo dài 3 hoặc 7 ngày. Mãi đến thượng tuần tháng 6, người ta mới kịp nói đến những thành phần cao cấp hơn: viên chức chính quyền từ Phó Ty, Phó Quận đến Phó Tổng thống, dân biểu, nghị sĩ, thẩm phán; đảng viên các đảng phái từ Phó bí thư Quận Huyện trở lên, viên chức trung ương tình báo từ trung cấp trở lên, và sĩ quan cảnh sát từ thiếu tá trở lên. Một trong những điều khoản ghi rõ trong thông cáo kêu gọi trình diện “học tập cải tạo” là “mang theo tiền bạc và đồ dùng đủ sử dụng trong một tháng”. 95% đối tượng HTCT đã “thất thủ” vì điều khoản này. Ai cũng nghĩ bụng, hạ sĩ quan, binh sĩ học tập tại chổ trong 3 ngày thì mình học 30 ngày, gấp 10 lần, cũng đã thỏa đáng lắm rồi, thôi thì ráng đi một tháng, có cái giấy chứng nhận lộn lưng, trở về tiếp tục cuộc mưu sinh nuôi gia đình. Thời gian trình diện trong ba ngày 13,14 và 15.6.1975; ngày 13 và 14 tại trường trung học Gia Long; ngày 15 tại trường Trưng Vương. Ác một cái: ngày 13 là thứ sáu, dân Công giáo kỵ; ngày 14 lại là mùng 5 âm lịch (mùng 5, mười bốn, hăm ba), dân Phật giáo ngại …Vì thế số người trình diện trong hai ngày này không nhiều, họ dồn hết vào ngày chủ nhựt 15.6 tại trường Trưng Vương. Sáng hôm ấy, mới 8g mà người trình diện “nhập học” đã xếp hàng rồng rắn từ cửa Sở Thú, đầu đường Thống Nhất (Lê Duẩn), đến đường Hồng Thập Tự (Nguyễn Thị Minh Khai). Đám đông mỗi lần chỉ được “nhập trường” 5 – 6 người, nên dòng người rồng rắn mỗi lúc một dài hơn. Những người đứng đầu hàng đang ngóng chờ đến lượt mình thì bỗng xuất hiện một đám đông khoảng chục người lố nhố, chạy đến, tíu ta tíu tít đưa cho mấy anh cán bộ phụ trách một tờ giấy gì đó. Hỏi kỹ thì mới biết đó là đám dân biểu, nghị sĩ xuất trình tờ giấy giới thiệu của ban Quân quản Quốc Hội đề nghị cho họ ưu tiên đi … ở tù. Thế là la ó, phản đối, rối beng trật tự khiến hai anh cảnh vệ đứng gần đó phải nổ súng chỉ thiên, lá me rơi tơi tả trên đầu, trên vai đám “sĩ tử” một cách rất ư là … lãng mạn. Xa trường học lâu rồi, sao mà họ nôn nóng được đi học đến thế. Có chị giữ chức vụ Chánh sở ở Bộ Xã Hội, không thuộc tiêu chuẩn đi học tập, thất vọng ra mặt, cứ gặp hết cán bộ này đến cán bộ khác, xin được nhập trường. Cuối cùng, chị được thỏa mãn nguyện vọng, gương mặt giãn ra, hớn hở.
Quên kể một chi tiết: theo thông cáo đi học tập, các học viên phải đóng tiền ăn một tháng hơn 10 ngàn đồng, và ngay bữa ăn đầu tiên tại trường Trưng Vương, thức ăn được nhà hàng (Đồng Khánh hay Á Đông gì đó) mang đến. Một bữa ăn giá vài trăm đồng lúc ấy sang lắm!
Nhưng chúng tôi không ở lại trường Trưng Vương lâu. Đêm hôm đó, lúc gần 11g, tất cả được lệnh mang hết đồ đạc ra ngồi ở sân trường. Không lâu sau, chúng tôi được đưa lên những chiếc GMC bít bùng, chạy quanh co giữa một thành phố ngủ im lìm như chết. Trời tối đen, chúng tôi nhìn qua những lỗ thủng nhỏ trên tấm bạt, đoán là xe chạy về hướng Vũng Tàu. Không lâu sau, xe rẽ trái, chạy lên một vùng đất hơi cao, có vẻ như một ngọn đồi nhỏ, rồi dừng lại. Khi xuống xe, nhiều người trong chúng tôi nhận ra đó là Làng cô nhi Long Thành, từng là một trung tâm nuôi dưỡng cô nhi nổi tiếng, hàng tuần, vào mỗi chủ nhật, số người giàu thiện tâm đổ xô lên đó để thăm viếng, giúp đỡ vô cùng đông đúc. Sau này mới biết người điều hành làng cô nhi này có bí danh Tư Sự, đã hoạt động cho MTGP từ trước ngày 30.4.
Hôm 15.6 ấy, vì số người được nhận vào đã đủ so với dự kiến, nhiều người xếp hàng phía sau không được “nhập trường”,. Họ thất vọng trở về và hầu hết những người này bị hốt ngay trong đêm ấy. Thành phần “nửa nạc nửa mỡ” đeo băng đỏ đông như quân Nguyên lúc đó, lập công đi trình báo với chính quyền là số người này trốn HTCT, và thế là họ bị hốt đi, giam cả vào khám Chí Hòa. Sáng hôm sau họ mới được thả ra sau khi người ta phối hợp biết nguyên nhân vì sao họ phải trở về. Họ chờ trình diện những đợt sau.
Khi chúng tôi lên tới, làng cô nhi Long Thành trống vắng, tiêu điều, chỉ có một hàng rào kẽm gai vây quanh. Nó trở thành ”Trại HTCT 16 NV” (NV: Nội vụ, vì trại này thuộc quyền quản lý trực tiếp của Cục quản lý trại giam Bộ Nội vụ, để phân biệt với các trại do địa phương quản lý) lúc ấy chứa khoảng 3.000 người, được chia thành 4 khối:
– Khối 1 gồm công chức từ Phó Ty, Phó Quận trở lên, dân biều, nghị sĩ, thẩm phán (chánh án, biện lý, phó biện lý, dự thẩm).
– Khối 2 gồm các đảng viên đảng phái phản động (tất nhiên trừ đảng Lao Động) chức vụ từ Phó bí thư quận huyện trở lên (đảng Dân Chủ, VNQDĐ, đảng Đại Việt, đảng Cấp Tiến…).
– Khối 3 gồm các viên chức Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo từ trung cấp trở lên.
– Khối 4 gồm sĩ quan cảnh sát từ cấp Thiếu tá trở lên.
Tất nhiên khối 1 là hùng hậu nhất, nhiều người từng là Tổng, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Tối cao Pháp viện, từng ngồi ghế chánh án các tòa án tỉnh (thời đó tòa án chỉ đến cấp tỉnh, không đến cấp quận như bây giờ). Trong khối 2 (đảng phái) có một nhân vật lừng lẫy trong kháng chiến chống Pháp, đó là cụ Vũ Hồng Khanh, nguyên thủ lãnh VNQDĐ, từng tham gia chính phủ liên hiệp kháng chiến năm 1946. Còn nhớ khá rõ hình ảnh cụ Vũ Hồng Khanh lúc ấy rất tiên phong đạo cốt. Tóc cụ bạc gần hết, để “củ nừng” phía sau, gương mặt cụ phương phi, hồng hào, chiều chiều cụ hòa theo dòng chảy của mấy ngàn người đi bách bộ trên con đường mà chúng tôi gọi vui là “đại lộ hoàng hôn”. Cụ lầm lũi đi, không nhìn quanh nhìn quất, đầu hơi cúi về phía trước, hai bàn tay chắp lại sau mông.
Khối 2 còn có luật sư Nguyễn Lâm Sanh, Phó chủ tịch Liên minh Á châu chống Cộng (chủ tịch là cựu Thủ tướng Phan Huy Quát), nghe đâu là người từng mở chung văn phòng luật sư với ông Nguyễn Hữu Thọ trước khi ông Thọ vào khu. Ở khối ba mới có chuyện hài, thông cáo đi học gồm những viên chức tình báo trung cấp trở lên, mà thời VNCH, thơ ký đánh máy (ngạch B3) đã được xếp vào công chức trung cấp, hạng B (hạng C là tùy phái, hạng D là lao công), báo hại các cô thư ký đánh máy của Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo đều đi trình diện tất, ở chung trong một nhà chứa khoảng 300 người, chung với phụ nữ thuộc các thành phần khác (dân biều, nghị sĩ, thẩm phán…). Mãi đến hơn 6 tháng sau, người ta mới có dịp truy xét và nhận ra rằng các cô này chỉ là … thơ ký đánh máy nên cho họ về trong một buổi sáng thật đông vui, náo nhiệt.
Sau khi đã ở đây gần hết một tháng, ai cũng nuôi hi vọng sớm trở về. Nhưng có những dấu hiệu “khó hiểu” xuất hiện. Người ta bắt đầu cho dựng lên căng-tin, bố trí phòng hớt tóc … để làm gì nhỉ? Vậy mà điều đó vẫn không ngăn cản nhiều học viên (khi đó, chúng tôi chưa bị gọi là “trại viên”) hàng đêm đóng sẵn va li, chờ đoàn xe từ Sài Gòn lên rước về, giữa đêm hôm khuya khoắt, như lúc ra đi. Chúng tôi đang ở trên một cao điểm nên đêm đêm, những ánh đèn pha của đoàn xe từ hướng Biên Hòa ra Vũng Tàu đủ khiến cho bao nhiêu trái tim rộn lên niềm hi vọng, để rồi thất vọng triền miên. Trong số những nhân vật chuẩn bị sẵn hành lý, chờ đợi và hi vọng đó, có cả một vị từng ở top 5, top 6 của lãnh đạo chế độ VNCH trước 1975!
Thế rồi, chúng tôi cũng không phải chờ đợi lâu. Sau khi hết một tháng, tất cả học viên được tập trung thông báo là “kể từ tháng thứ hai, chính quyền cách mạng sẽ đài thọ tiền ăn cho các anh chị”. Cú sốc khá nặng, một nữ thẩm phán là chị Phù T.H. đang mang cái bụng thè lẻ, bật khóc nức nở. May mà chỉ 1-2 tháng sau, chị được về, nếu không, chẳng biết sự thể sẽ ra sao.

CUỘC GẶP GỠ VỚI TRƯỞNG TY CÔNG CHÁNH PHƯỚC LONG

Buổi sáng đầu tiên khi chúng tôi vừa đến trại Long Thành, một chiếc xe GMC chở tới khoảng 5-6 người trung niên gầy ốm, mình chỉ mặc độc chiếc quần đùi. Họ được thả xuống và làm cái việc đào một số hố xí cho chúng tôi ngay sát cạnh hàng rào kẽm gai của trại. Chúng tôi tò mò ra đứng xem, không được đến gần họ, nhưng nhìn rõ mặt nhau và nói to thì có thể nghe nhau được. Bỗng nhiên có người trong nhóm chúng tôi nhận ra một trong những người mặc quần đùi nhếch nhác đó là anh Trưởng ty Công chánh Phước Long. Như vậy, có thể đoán là anh ta bị bắt làm tù binh vào tháng 1.1975, khi quân đội miền Bắc tấn công và chiếm đóng vĩnh viễn tỉnh này. Anh Trưởng ty Công chánh cũng nhận ra người quen trong đám chúng tôi, anh nhìn về hướng chúng tôi, rồi chỉ vào cái quần đùi và cái bụng nhễ nhại mổ hôi của mình: “rồi tụi bây cũng như tao vầy thôi”. Nghe như thế, nhưng hầu như chẳng ai trong chúng tôi tin lời anh ta. Tụi tôi đang ăn trắng mặc trơn, cơm canh đang được các nhà hàng Đồng Khánh, Á Đông mang đến tận miệng mà, sao có chuyện quần đùi trần trụi như bọn họ được. Để rồi phải chờ đến 1, 2 năm sau, lời cảnh báo của anh Trưởng ty Công chánh Phước Long mới được hiện thực hóa dần, hiện thực hóa dần …

TỪ CHÁNH SỞ LÊN LÀM PHÓ THỦ TƯỚNG TRONG CHƯA ĐẦY MỘT NĂM!

Anh B. là Chánh sự vụ một sở thuộc Bộ X. Chức vụ này xếp trên Chủ sự phòng (Trưởng phòng) và Trưởng ban, dưới Giám đốc và Tổng Giám đốc. Bữa trưa nọ, anh về ăn trưa, giữa bữa ăn, chị vợ đợi lúc anh vui, mở lời:
– Anh à, sáng nay em đi coi ông thầy bói rất nổi tiếng, nói đâu trúng đó, nhất là chuyện tương lai, hậu vận.
– Em lại mê tín, rồi sao?
– Anh à, ông ấy phán anh sắp làm … Phó Thủ tướng!
Ông Chánh sở dằn chén cơm xuống mâm một cái rầm, quắc mắt nhìn cô vợ:
– Ông thầy bói này khùng mà em tin sao? Tôi bây giờ mới là Chánh Sở mà bảo tôi sắp làm Phó Thủ tướng trời ạ!
Chị vợ sợ quá, im thin thít, không dám nhắc tới chuyện này nữa.
Tháng 6.1975, vào trại Long Thành, ngẫu nhiên anh Chánh Sở này được phân công làm Nhà trưởng, quản lý gần 300 học viên. Trưa nọ, đang ngồi nói chuyện khào với bạn bè, anh ta vỗ đùi đánh đét một cái:
– Trời ạ, tao ân hận quá! tao chửi oan ông thầy bói, ổng đoán tao sắp làm Phó Thủ tướng, đúng quá, tao đang quản lý cả chục ông Bộ trưởng và Thứ trưởng tại nhà này, tao không là Phó Thủ tướng thì là gì?

(Còn tiếp)

*
*

30-4-2018

XIN LƯU Ý – Đây chỉ là vài ký ức vụn vặt, góp thêm mấy nét chấm phá trong bức tranh xã hội những năm tháng sau 30.4.1975. Xin nhắc lại đề nghị không đưa ra những bình luận cực đoan nhắm vào chính quyền hay chế độ hiện hành.

***

CUỘC GẶP LẠI CỦA HAI “CỐ NHÂN”

Lúc ấy, trại CT Long Thành có 13 ngôi nhà dài, mỗi nhà chứa khoảng 300 người, được ngăn thành 4 hay 5 phòng, thông với nhau bằng một ô cửa trống. Nhiều nhân vật “sừng sõ” của chế độ VNCH được phân bố rải rác ở các nhà. Ngôi nhà 2 nơi tôi ở còn có tên A14, có những gương mặt quen thuộc như:
– Ông Trần Minh Tiết, từng làm Ủy viên Nội vụ (Bộ trưởng), Chủ tịch Tối Cao Pháp viện
– Ông Lưu Văn Tính, từng làm Tổng Giám Đốc Ngân sách và Ngoại viện, Bộ trưởng Tài chánh và cuối cùng là Cố vấn tài chánh tại Phủ Tổng thống.
– Ông Nguyễn Đình Xướng, Tỉnh trưởng Vĩnh Bình thời Ngô Đình Diệm, Tổng Thơ ký Bộ Nội vụ, Tổng Quản trị Hành chánh Phủ Tổng thống.
– KTS Ngô Viết Thụ, giải Khôi nguyên La Mã, người tái thiết Dinh Độc lập.
– và một người là nhân vật chính của câu chuyện này: ông Nguyễn Xuân Phong. Ông Phong sống ở Pháp khá lâu, tháng cuối cùng của chế độ VNCH, ông bay về Sài Gòn đảm nhận chức vụ Quốc vụ khanh đặc trách Ngoại giao của chính phủ Nguyễn Bá Cẩn và kẹt lại sau 30.4. Ông được biết đến nhiều với vai trò Trưởng phái đoàn hòa đàm Paris của chính phủ VNCH, tham gia đàm phán với phái đoàn miền Bắc do ông Xuân Thủy đứng đầu và phái đoàn CPCMLT CHMNVN của bà Nguyễn Thị Bình. (Cố vấn chỉ đạo phái đoàn Mỹ là Henry Kissinger, của phái đoàn VNCH là Tổng trưởng Ngoại giao Phạm Đăng Lâm, của phái đoàn VNDCCH là ông Lê Đức Thọ).
Tại nhà 2 trại Long Thành, ông Phong ở chung một đội với tôi. Nước da ông ngăm đen, mũi cao, tính rất hiền hòa, ít nói, anh em ai cũng quý mến ông. Sau khi chúng tôi ở với nhau được khoảng 2 tháng, buổi trưa nọ, bỗng nhiên có lệnh bất ngờ: tất cả vào nhà hết, không ai được đi ngoài sân. Lúc đó cứ giữa hai dãy nhà dài thì có một khoảng sân rộng độ 8 mét. Mọi người tuân thủ lệnh cấm, song hồi hộp lắm, tập trung trước các ô cửa sổ to nhìn ra sân, xem động tĩnh gì. Được khoảng 20 phút thì thấy đầu sân xuất hiện khoảng 5-6 người, một người thấp lùn, trán hơi hói cắm cúi đi trước, những người kia khép nép theo sau. Khi họ đi đến gần tầm mắt, chúng tôi chợt nhận ra người đi đầu là ông … Xuân Thủy, từng là trưởng phái đoàn miền Bắc đàm phán với phía VNCH mà đại diện là ông Nguyễn Xuân Phong. Khi những người này vừa đi khuất tầm mắt, tôi đưa mắt liếc sang ông Phong đang đứng cạnh mình. Ông ở trần, chống hai tay lên hông, gương mặt bình thản đến lạnh lùng. Vậy mà cái hình ảnh lạnh lùng ấy cứ ám ảnh tôi một thời gian dài mỗi khi nhớ đến ông Nguyễn Xuân Phong.
Mới đây, đọc tin trên mạng, được biết ông Phong đã qua đời ngày 29.7.2017 tại bang Florida, Hoa Kỳ. Theo người viết bản tin về sự ra đi của ông thì “sau khi định cư tại Hoa Kỳ ông sống một cuộc đời ẩn dật. Ông từ chối tất cả những cuộc phỏng vấn và đề nghị viết hồi ký. Ông sống rất đạm bạc và khó khăn lúc cuối đời”. Những lời mô tả này rất phù hợp với nhân cách Nguyễn Xuân Phong trong thời gian là bạn tù của chúng tôi tại trại CT Long Thành.

TẤM LÒNG NGƯỜI DÂN MIỀN NAM ĐỐI VỚI KẺ NGÃ NGỰA

Tại trại Long Thành, trong năm đầu tiên, chúng tôi chưa là … tù, còn được gọi là “học viên”, gọi các cán bộ trại là “anh”, chứ chưa là “cán bộ”. Mãi đến một năm sau (1976), hồ sơ của chúng tôi mới được thanh lọc kỹ, ai “không có tội” hay “tội nhẹ” thì được về, đa số còn ở lại được long trọng công bố một quyết định “tập trung cải tạo ba năm”. Trong quyết định có nêu rõ một điều khoản: ai học tập tốt, lập công chuộc tội thì được tha về trước ba năm, ai còn ngoan cố, không chịu cải tạo thì sẽ phải thụ hình thêm nữa. Trong ba năm đó, lập công thì chả biết công ở đâu để lập, còn ngoan cố, chống đối thì bố bảo cũng không dám, chúng tôi cứ nhũn như con chi chi, bảo gì làm nấy. Vậy mà sau khi hết hạn ba năm (1978), không khí vẫn im lặng như tờ, cũng không có một quyết định nào khác về số phận của chúng tôi. Một vài lần họp trại, chúng tôi có rón rén nhắc lại tinh thần của quyết định “tập trung cải tạo ba năm” thì được giải thích đại khái ngoài xã hội còn rất phức tạp, nhân dân còn rất căm thù chúng tôi, vì thế về lúc bấy giờ sẽ rất nguy hiểm cho chúng tôi. Chúng tôi tin rằng đó là một lời giải thích có tình, có lý, vì lúc ấy, chúng tôi còn ở trong trại giam, được bảo vệ nghiêm ngặt như thế, mà “nhân dân căm thù” cũng đã ném tới tấp nào đậu hũ, nào hủ tiếu, nào thuốc lá, vào người chúng tôi rồi.
* Trong bốn năm còn ở trại CT Long Thành, một trong những việc mà chúng tôi vẫn làm thường xuyên là được chở xuống thị trấn Biên Hòa, khiêng vác gạch xây dựng, xi măng mang về làm hàng rào kiên cố bao quanh trại. Công việc cực nhọc đối với lũ “chân yếu tay mềm” chúng tôi, song đây là những dịp mà chúng tôi vẫn mong muốn xảy ra thường xuyên. Vì cứ mỗi lần như thế, bạn tù bu lại nhờ mua đậu hũ chiên ở chợ Biên Hòa. Món này xắt ra từng miếng nhỏ rồi kho lên là thức ăn tuyệt vời nhất của người tù.
Bữa nọ, chúng tôi chất gạch cát, xi măng lên xe xong, như mọi lần, xin với cán bộ áp giải (một súng ngắn, một súng dài) cho vào chợ Biên Hòa mua đậu hũ. Ghé lại một bà cụ bán hàng, mua xong, chúng tôi trả tiền rồi bước đi. Được chừng mươi thước, chúng tôi bỗng nghe tiếng kêu to của bà cụ bán hàng:
– Mấy cậu ơi, đứng lại! đứng lại!
Chúng tôi giật mình, quay lại, tưởng như mình vừa trả thiếu tiền cho bà cụ. Khi vừa bắt kịp chúng tôi, bà cụ nói trong hơi thở dốc:
– Tui cho mấy cậu tàu hũ về ăn, tui không lấy tiền đâu.
Vừa nói, bà cụ vừa nhét những đồng tiền vo tròn vào tay chúng tôi. Không tiện dẳng co trước mặt súng ngắn, súng dài, chúng tôi cảm ơn bà cụ rồi quay gót. Trên đường về chúng tôi đoán rằng sau khi bán đậu hũ cho chúng tôi xong, bà cụ hỏi các bạn hàng chung quanh và lúc đó mới biết chúng tôi là tù cải tạo.
* Một lần khác, sau khi bốc vác gạch cát xong, trên đường về lại trại Long Thành, mấy anh em thèm hủ tiếu quá, xin xe cho ghé lại một quán hủ tiếu ven đường. Khi chúng tôi ăn gần xong, anh chủ quán đến gần, nói nhỏ:
– Các anh ăn xong rồi đi đi, có người trả tiền cho các anh rồi.
Cũng như với bà cụ bán đậu hũ, chúng tôi không tiện dang ca với anh chủ quán, chỉ biết kín đáo nhìn anh bằng cặp mắt hàm ơn rồi trở ra xe. Cho đến sau này, bữa hủ tiếu ngày hôm đó, anh chủ quán không lấy tiền hay có một “mạnh thường quân” nào thương xót chúng tôi mà bỏ tiền ra thanh toán, chẳng ai trong chúng tôi biết cả.
* Theo “tiêu chuẩn” lúc bấy giờ, những người có chức vụ và cấp bậc như chúng tôi đều phải ra Bắc. Trong gần 3.000 người ở trại Long Thành, ngoài một số không nhiều được trở về nhà sau cuộc thanh lọc hồ sơ, số đông còn lại được đưa ra Bắc trong hai đợt, mà chúng tôi gọi là “bao bố 1” và “bao bố 2” (sẽ có dịp giải thích mấy từ này sau). Số còn lại chờ đi “bao bố 3” chỉ còn chưa đầy 150 người. May sao, năm 1978, Bộ Nội Vụ có nhu cầu mở một trại mới giữa rừng Xuyên Mộc thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, chúng tôi dù là tù, cũng là tù “chén kiểu”, ít có nguy cơ bỏ trốn, nên một số người được đưa lên Xuyên Mộc lập trại mới. Trại lập xong, giữa năm 1979, gần 150 người còn lại ở Long Thành được đưa lên trại mới Xuyên Mộc. Thế là thoát được chuyến đi Bắc cuối cùng.
Hôm chuyển trại, chúng tôi được đưa đi bằng phương tiện là loại xe chở … trâu bò ở Hậu Giang. Đó là mô tả sự thật thôi, chứ thời đó, phương tiện rất khó tìm, việc chở tù bằng loại xe nào cũng chẳng có gì đáng kinh động cả. Thời đó, xe chở khách tư nhân thường chạy bằng than, đeo lủng lẳng một bình than cao quá đầu người ở đuôi xe, xe chạy, than bắn tung tóe trên đường, người ngồi sau xe như ngồi trong lò lửa. Vì thế chở tù bằng xe nào là chuyện không có gì quan trọng, điều đáng nói là lần đầu tiên trong đời, chúng tôi biết cái còng số 8 mùi gì. Di chuyển xa, mà mỗi xe chở tù chỉ có một cán bộ áp giải ngồi ở thùng xe phía trước, vì thế để tránh trường hợp tù nhảy trốn trên đường di chuyển, chúng tôi được chia sẻ với nhau cứ hai người chung một còng số 8. Một vài cụ lớn tuổi như cụ Nguyễn Bá Lương, nguyên Chủ tịch Hạ viện, cụ Nguyễn Văn Tho, nguyên Trưởng khối Dân tộc Thượng viện … được miễn còng tay, nhưng phải ra ngồi nơi áp sát với cabin trước (dành cho tài xế, phụ xế và cán bộ áp giải). Hài hước nhất thuộc về trường hợp một người bạn đồng môn của tôi là anh Huỳnh Viết V. (hiện sống ở Mỹ). Anh V. sót lại cuối cùng, được hưởng một mình một còng số 8, và để tránh bất an, người ta treo cánh tay đeo còng của anh lên tấm bửng đóng lại phía sau xe. Và cánh tay này của V. trở thành lời giải thích chính xác nhất cho công chúng hai bên đường khi đoàn xe chúng tôi chạy qua họ và nhiều người nhìn theo mà thắc mắc chưa biết xe chở thứ gì. Có đoạn đường, chúng tôi nghe họ nói với nhau: xe chở tù chị ơi, anh ơi …
Thời đó, con đường đi đến vùng Xuyên Mộc thuộc tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu bụi đỏ mù mịt, chưa đến nơi mà tóc tai, quần áo chúng tôi nhuộm đỏ cả. Xe đang chạy ngon trớn, bỗng anh phụ xế ló đầu nhìn vào thùng xe qua một ô nhỏ giữa thùng xe với cabin, rồi nói to:
– Các anh xê ra cho tôi xem can xăng có đó không
Tụi tôi nhìn quanh chẳng thấy can xăng đâu, gân cổ cãi lại với anh, song anh vẫn một mực:
– Có can xăng đây mà
Vừa xong câu nói, anh quăng nhanh xuống sàn xe ba gói thuốc hút Đà Lạt, Hoa Mai. Đến lúc đó, chúng tôi mới bật ngửa: anh phụ xe muốn cho chúng tôi thuốc hút nhưng sợ vi phạm lệnh cấm tiếp xúc với tù, nên mới phải bày ra trò tìm kiếm cái can xăng!
Đêm hôm đó, lần đầu tiên sống giữa rừng Xuyên Mộc, chim kêu vượn hú, nhiều anh tù thấy ấm lòng với những điếu thuốc mà một người lao động nghèo như anh phụ xe ấy đã chia sẻ cho mình.

* NỖI ĐAU CỦA NGƯỜI TÙ ĐƯỢC TRỞ VỀ ĐÊM 30 TẾT

Anh Phạm Văn Đ. là tù cảnh sát. Anh hơn tôi nhiều tuổi, tính tình hiền hòa nên dù mới gặp nhau ở Xuyên Mộc, chúng tôi đã sớm trở thành những người bạn thân. Trong thời gian anh ở tù, cô con gái, cháu Phạm Tuyết Tr., mới 17-18 tuổi, bị đau nặng. Vào những lần gia đình lên thăm nuôi năm 1981, anh cứ hỏi con đâu, nhà trả lời là cháu đau không lên thăm bố được. Cuối năm ấy, anh được thả về đúng đêm giao thừa. Còn niềm vui nào hơn sự đoàn tụ vào giữa đêm giao thừa sau nhiều năm xa cách? Tối hôm ấy, anh hí hửng xách túi bước vào nhà, mọi người bu lại. Nhìn quanh không thấy Tr. đâu, anh Đ. gặng hỏi, vợ anh òa khóc rồi chỉ lên bàn thờ, con gái anh đã ngồi ở đó tự bao giờ! Từ thế giới cực lạc bước vào thế giới bi thương chỉ trong một bước chân, anh Đ. ngã khuỵu xuống giữa nhà.
Nhiều năm qua, cả gia đình anh Đ. đã sống ở bang California, Mỹ (diện HO), ngôi mộ cháu Tuyết Tr. ở một khu đất chùa Bình Hưng Hòa không người thân chăm sóc. Và cứ thế, hàng năm, vào mỗi sáng mùng một tết, thương bạn, tôi lại lọ mọ lên ngôi chùa này, cắm vào mộ cháu một bó hoa, thắp cho cháu mấy nén hương. Nhìn lên mộ bia và hình ảnh của cháu, thấy thương lắm, cháu mất năm 1981, lúc mới 18 tuổi, nếu còn sống, bây giờ cháu cũng đã 55 tuổi rồi!

* ĐÊM SAY CUỐI CÙNG Ở TRẠI XUYÊN MỘC

Trại Xuyên Mộc những năm 1978 – 198.., có nhiều thành phần tù lắm: sĩ quan cấp úy từ các trại CT Vườn Đào (Mỹ Tho), Phước Long chuyển tới, văn nghệ sĩ vụ “Hồ Con Rùa” 1976 (Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Đằng Giao …), tù hình sự, tù “hiện hành” (chống phá chính quyền mới sau 30.4.1975) và viên chức dân sự chúng tôi, 145 người từ trại Long Thành chuyển đến.
Cho đến Tết năm 1982, trong số 145 người từ Long Thành lên, đã có 140 người được trả tự do, chỉ còn sót lại 5 người, trong đó có tôi. Nói thế để biết rằng, trong tù, nếu thiếu ý chí, sẽ khó trụ vững lắm. Nhưng dù có vững cách nào, chúng tôi cũng phải “ngã” trong đêm giao thừa, là thời khắc thiêng liêng của mọi gia đình. Tết năm Nhâm Tuất 1982 ấy, chúng tôi nhờ mấy cán bộ mua giúp được nhiều rượu đế. Họ giúp chúng tôi việc này hoặc vì thông cảm cho cảnh nhớ nhà dịp tết của chúng tôi, hoặc vì chút lợi lộc, hoặc cả hai thứ. Gần đến phút giao niên, ai cũng buồn hết, có người khóc rưng rức. Có người ôm cây guitar đàn và hát nho nhỏ một mình. Song phần lớn tìm đến rượu. Họ lặng lẽ đến những can rượu để ở các góc nhà, rót một chén rồi mang về chỗ nằm, nốc cạn, chẳng ai mời ai cả. Rượu ngấm dần, họ cũng lịm dần, song trước đó, còn kịp tỉnh để kê miệng lên một chiếc thau nhỏ đặt trên giường. Họ vẫn còn biết sợ chất nôn ói vương vải trên chỗ nằm và từ giường trên chảy xuống giường dưới. Hình ảnh đó nhớ lại thật bi hài, cứ mỗi người gác mỏ lên một cái thau như thế trong suốt đêm trừ tịch.
Đêm đó có một gã không quen rượu, nhưng cũng nốc một chén đầy cho đủ chếnh choáng hơi men, song vẫn còn tỉnh để lấy tờ giấy trắng trên chỗ nằm, nguệch ngoạc mấy dòng thơ … rác:

SAY PHÚT GIAO THỪA
Uống đi cho rượu cháy lòng,
Nửa đêm trừ tịch pháo hồng nổ ran,
Chập chờn giấc mộng trùng hoan,
Ngón tay rỏ máu, điệu đàn chơi vơi.
Ngoài kia thiên hạ đang vui,
Còn đây nỗi nhớ muôn đời riêng ta.

***
Uống đi những kẻ xa nhà,
Cho quên một thuở niên hoa ngậm ngùi.
Uống đi, nằm đó say vùi,
Men cay cháy bỏng bờ môi lạnh lùng.
Uống đi, nhạc đã vang lừng,
Sương giăng bãi vắng, núi rừng xôn xao,
Uống cho máu nóng sôi trào,
Rồi đem tâm sự gửi vào hư vô.
Uống cho lệ chảy thành thơ,
Con thuyền phiêu bạt bến bờ là đâu?
Uống cho tan tác cơn sầu,
Đêm nay thức trắng ngẩng đầu …cười vang
(Rừng Xuyên Mộc, giao thừa Xuân Nhâm Tuất 1982)
Cảm ơn các bạn, xin hẹn 30.4 năm sau nhé








NHÂN CÁCH VIỆT NAM TỪ NGÀY BA MƯƠI THÁNG TƯ!? (Nguyễn Ngọc Già - Danlambao)





Vật chất, dù tổn thất lớn cỡ nào đi chăng nữa, người ta vẫn có thể "thống kê và tất toán". Sự thiệt hại từ những cơn sóng thần, núi lửa, động đất hay một cuộc chiến đã tàn, quả thật khủng khiếp, nhưng hậu quả từ việc hủy diệt "nhân cách một dân tộc", lại không có bất kỳ phương tiện nào có thể đong đếm nổi!

Thay vì "biến cố", hãy cho tôi gọi tên "siêu thảm họa" với "nỗi ê chề tràn ứ" trong những ngày tháng Tư u ám và thê lương đang lừng lững hiện về!

Thật nghịch lý khi gọi tên "Quá Vãng", bởi "Ba Mươi Tháng Tư" không chỉ là kỷ niệm đau buồn của mỗi cá nhân, hoặc cùng nhau thương nhớ "Sài Gòn xưa" hay từng ánh mắt muộn phiền với nỗi nuối tiếc khôn nguôi dành cho một chế độ. "Ba Mươi Tháng Tư" cũng không hẳn là một "đại thảm họa" nhất thời mà các thế hệ đang "tưởng niệm".

Con người là thực thể phản ánh đầy đủ nhất phạm trù triết học "Vật Chất & Ý Thức". Nhân cách thuộc về "Ý Thức".

Hệ thống những phẩm giá của từng cá nhân đồng thời cũng phản ánh đầy đủ nhất "dân tộc tính" được biểu thị qua giá trị mang tên "Nhân Cách". 

Văn hóa - Giáo dục và Tôn giáo, các lãnh vực đó đã tạo nên điều, người đời thường gọi "hồn cốt" của một dân tộc.

"Ba Mươi Tháng Tư" dạo ấy, phải chăng nó chính là sự khởi đầu làm cho "nhân cách Việt Nam" băng hoại có hệ thống và liên tục? Phải chăng từng người Việt Nam đang chứng kiến nhân cách - dù lặng thầm nhưng mãnh liệt - đang "phân huỷ"?

Di họa từ ngày đó chưa có dấu hiệu chấm dứt, dù đã 43 năm?!

Những tưởng, không cần nhắc lại sự suy đồi nảy sinh từ "nhân cách cùi mòn" của một thời quá vãng. Hãy cùng đọc, cùng xem và cùng suy ngẫm... [1] trong những năm gần đây.

Khi hủy hoại nhân cách, dù sự hủy hoại đó thuộc phạm trù "trừu tượng" hay phạm trù "cụ thể", chính ta tự tay bào mòn nhân cách của mình. Từ đó, "bóng đêm tha hóa" của "Mặt trời Đen" [2] dần dần phủ trùm lên xã hội, xô đẩy con người trở về thuở hồng hoang?!

Nhân cách Việt Nam đang tàn tạ trên bình diện rất rộng!

Không dừng lại đó, nhân cách người Việt Nam bị hủy hoại thông qua nhân phẩm bị chà đạp từ mọi phía, mọi địa vị trong xã hội [3], khi chỉ cần tuyên bố "bảo vệ đảng" (?) 

"Uất khí & oán khí" trong dân chúng, từ đó lớn nhanh như thổi, tựa như con người ăn phải loại thực phẩm "biến đổi gen kỳ dị". Trong "môi trường" đó, người dân dần biến đổi và dần trở thành "siêu thú cuồng nộ" [4]. 

Tai họa và các thảm nạn đang lớn dần từng ngày, trên mọi lĩnh vực.

Nhật Bản tan hoang sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng người Mỹ không "hạ gục" nhân cách người Nhật. Hàn Quốc đi lên từ đói nghèo và độc tài, nhưng cố Tổng Thống Park Chung-hee không "bóp nát" nhân cách của đồng bào mình. Phải chăng với nền tảng "Nhân Cách" vẹn nguyên, đã giúp Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển nhanh chóng mà vẫn giữ được "hồn cốt" của dân tộc họ?

Nhân cách Việt Nam đang lịm tắt với nhịp độ "nhanh dần đều"?! Nếu quả thật như vậy, rồi đây dân tộc Việt Nam sẽ chọn đâu là điểm đến (?!)

_______________

[1] Các loại tội phạm nước ngoài do cảnh sát Nhật Bản công bố đầu tháng 4/2018 cho biết năm 2017 VN đã đẩy TQ xuống "hạng nhì" trên bảng xếp hạng. https://www.voatiengviet.com/a/vn-dung-dau-ve-toi-pham-nguoi-nuoc-ngoai-o-nhat/4343994.html.

Nhiều "bằng chứng" khác cho thấy nhân cách bị hủy hoại nghiêm trọng: Tha phương xứ người làm mại dâm; Nạn dụ dỗ, bắt cóc mua bán phụ nữ; Lao động tại Hàn Quốc rồi trốn ở lại; Các vụ cướp của giết người, thanh toán băng nhóm nhan nhản; Cựu đại tá công an cùng con trai đánh anh ruột đến chết http://www.baogiaothong.vn/cuu-dai-ta-cong-an-cung-con-trai-danh-anh-ruot-den-chet-d252716.html; Hai vợ chồng già, dù đã 70 tuổi vẫn "hiệp đồng" cắt tay chân người bà con cho đến chết, vì mâu thuẫn https://baomoi.com/cap-vo-chong-u70-cat-chan-tay-hang-xom-den-tu-vong/c/25600716.epi; Hiếp dâm trẻ em; Loạn luân; Những kẻ lừa đảo khoác áo "nhà ngoại cảm"; Ngân hàng làm mất tiền của khách vẫn dửng dưng như không v.v...

Hình ảnh Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Sơn v.v... van vỉ, nài nỉ, bật khóc; Mua bán sừng tê giác ở ĐSQVN tại Nam Phi, phơi vi cá mập ở ĐSQVN tại Chi Lê vẫn là chuyện không có gì nghiêm trọng; Tướng công an tổ chức và bảo kê đánh bạc trong thời gian rất dài, cứ như là chuyện "làm ăn bình thường" và còn nhiều vụ khác... 

Về Giáo dục: Thầy giáo đâm chết cô giáo chỉ vì tình yêu. http://dantri.com.vn/phap-luat/vu-nu-giao-vien-bi-dong-nghiep-sat-hai-thay-giao-ra-dau-thu-20180423185658226.htm. Cô giáo phạt học trò uống nước giẻ lau bảng; Cô giáo buộc học trò quỳ gối và bị phụ huynh bắt quỳ gối để trả đũa; Cô bảo mẫu hành hạ trẻ thơ; Học trò đâm thầy chỉ vì hình xăm và nhiều vụ bạo lực học đường khác... Vụ hàng chục những người bị loại khỏi danh sách được phong "giáo sư", Vụ "tư đạo văn" của đương kim BT BGDĐT Phùng Xuân Nhạ ...

Về Tôn giáo: San thành bình địa chùa Liên Trì; Ông Lương Công Quyết (pháp danh Thích Thanh Quyết) đại biểu QH) từng kiến nghị phải xây dựng QĐNDVN mạnh như...Bắc Hàn https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Thanh_Quy%E1%BA%BFt, cùng nhiều vụ suy đồi nhân cách của những kẻ khoác áo "tu hành"...

Về Văn hóa: Vụ phim "Điệp vụ biển đỏ" của TQ, những người có trách nhiệm vẫn không thấy một chút tội lỗi nào do mình gây ra; Cầu thang nhân tạo tại di sản Tràng An - Ninh Bình phá hỏng cảnh quan và di tích; Vụ tượng 12 con giáp khỏa thân tại Hải Phòng; Hàng ngàn người sẵn sàng nằm vật vạ để chờ khai hội giỗ Tổ Hùng Vương; Vụ nhà báo Anh Thoa bị tố cáo hiếp dâm nữ cộng tác viên; Vụ Nguyễn Thị Điền (với tên gọi "đạo Bác Hồ") lừa gạt hàng hàng người mà VTV đưa tin https://www.youtube.com/watch?v=PIVmUnxH4JI (từ 0:30 đến 5:00) v.v... cùng nhiều sự việc khác cho thấy "nhân cách VN" đang rữa nát trên lĩnh vực văn hóa...

Về khoa học tự nhiên và kỹ thuật, nhiều người VN khẳng định tên tuổi trên thế giới như: Lê Bá Khánh Trình, Lê Tự Quốc Thắng, Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn v.v... nhưng lĩnh vực khoa học xã hội & nhân văn, không có bất cứ tác phẩm VN nào được thế giới ghi nhận như là một giá trị đáng được vinh danh.

Mới đây, rất nhiều báo trong nước, trên các diễn đàn và mạng xã hội bàn về "Chim ưng và chàng đan sọt" của ông Bùi Việt Sỹ. Cuốn đó sẽ không bị dư luận phê phán dữ dội, nếu nó không được trao "giải thưởng sách hay quốc gia". Nếu nó không mang "danh phận" như vậy, có lẽ chưa đủ bằng chứng để nhận định quá trình "phân hủy" nhân cách dân tộc VN đang diễn ra mãnh liệt trên lĩnh vực văn hóa, bởi giải thưởng đó từ "nhà nước" mà nhà nước là "của dân, do dân, vì dân" theo điều 2 Hiến pháp, có nghĩa "sản phẩm" đó phản ánh "nhân cách người Việt Nam" (!). Tuy nhiên, trả lời RFA ông Bùi Việt Sỹ vẫn không nhận ra lý do, tại sao bị chỉ trích kịch liệt và ông ta nói rằng: “Những người nào có ý kiến với tôi thì hãy đọc hết sách của tôi rồi sau đó hãy có ý kiến, vì như tôi nói, nửa cái bánh mì là cái bánh mì, nhưng nửa sự thật thôi cũng là sự dối trá. Ở đây, người ta bình luận thậm chí chửi rủa cả tôi trong khi họ bị bịt mắt, chỉ đưa ra 1/600 sự thật thôi thì chứng tỏ người đó đã dối trá người đọc rất nhiều. Cho nên những người nào trước khi chửi bới tôi, phê phán tôi thì hãy đọc hết cuốn sách của tôi”. Dư luận không dối trá, người ta chỉ phê phán sự thô tục thông qua cách trình bày "thẩm mỹ tình dục" của ông Bùi Việt Sỹ. Tóm lại, "chim ưng và chàng đan sọt" đã "hạ gục" nhân cách Việt Nam.

Còn hàng ha sa số những sự việc, những hình ảnh cho thấy nhân cách VN suy đồi và suy tàn tận cùng mà tác giả không thể nào dẫn ra cho... đủ!

[2] Tên một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang. https://www.youtube.com/watch?v=PNYKyaIdcRI

[3] http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-42914152. Hội viên hội Cờ Đỏ báng bổ tượng Đức Mẹ và tự lãnh hậu quả trong một cuộc nhậu nhẹt say sưa mà dư luận cho rằng "quả báo nhãn tiền". http://www.vietnamthoibao.org/2018/04/oi-tuong-ap-pha-tuong-thanh-va-dung.html. Điều đáng nói, con người đánh mất nhân cách đó - Trần Văn Tuấn - chỉ là một viên chức vô cùng nhỏ bé với "danh phận" Bí thư chi đoàn xóm 7, Trưởng ban văn hoá xã Diễn Mỹ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, vốn gia cảnh rất khó khăn, người vợ trẻ đang khốn đốn, khi vừa phải nuôi ba đứa con thơ, vừa chạy vay tiền để chữa trị cho chồng... Đây là một trường hợp điển hình chứng minh rằng: Chỉ cần nhân danh "bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ", ngay lập tức có "quyền" lộng hành làm những điều xằng bậy nhất!

[4] Tên một bộ phim "bom tấn" Holywood đang trình chiếu tại VN.


-----------------------------------

Blogger Nguyễn Ngọc Già bình luận về ngày 30/4/1975. Vì sao ông gọi sự kiện 30/4 là “siêu thảm họa” đối với dân tộc Việt Nam?
Video cuộc phỏng vấn do CTV Danlambao thực hiện :
















TM CỘNG HÒA GẶP DOVE CỘNG SẢN TẠI THỦ ĐÔ HOA KỲ (Hiệu Minh's Blog)




30/04/2018

Tháng Tư năm nay có cuộc gặp giữa hai người bên phe cộng hòa và cộng sản tại thủ đô Washington D.C. Đó là chị TM và anh Dove, hai còm sỹ nổi tiếng của hang Cua. Xin trân trọng giới thiệu bài viết của chị TM về cuộc gặp đó. Cảm ơn chị TM.

Hai bên của cuộc chiến

Tuy cùng dòng máu đỏ da vàng, cùng một quê hương, nói cùng thứ tiếng, và cùng tự hào với nòi giống của mình, tôi và khách sống hoàn toàn cách biệt từ quá khứ đến hiện tại. Năm 1954, bố mẹ anh Dove trong Nam ra Bắc tập kết, đi theo cụ Hồ xây dựng CNXH, mang theo đứa con trai lớn là anh Dove, để đứa con gái nhỏ lại quê nhà. Gia đình bên nội tôi bồng bế dắt díu nhau lên tàu há mồm di cư từ Bắc vào Nam tránh nạn cộng sản.

Ông ngoại khách có vườn ruộng tại Thạnh Mỹ, Bến Tre, ủng hộ kháng chiến, cho con đi tập kết. Ông bà ngoại tôi từ Ba Tri, cùng tỉnh Bến Tre, trong những năm Việt minh nổi dậy giết địa chủ và Việt gian đã phải từ bỏ quê “chạy giặc” lên Sài Gòn sinh sống.

Khách lớn lên đi học dưới mái trường XHCN, diện ưu đãi sang Liên Xô du học, thành đạt vẻ vang, yêu tiếng Nga, người Nga, văn hóa Nga. Tôi lớn lên dưới mái trường VNCH, đi học tiếng Anh tại Hội Việt Mỹ, gặp ông xã từ Mỹ sang Việt nam làm việc cho USAID, sau này thành hôn.

Hai miền Nam-Bắc của một quốc gia nhỏ tí trên địa đồ thế giới, hai thế giới song song nhưng hoàn toàn biệt lập đó có một “sự nghiệp” chung: dự vào một cuộc chiến tranh tàn khốc đẫm máu suốt 20 năm, giết nhau chí tử, cuối cùng kết thúc khi miền Bắc trở thành phe thắng cuộc.

Miền Nam bại trận, bỏ vũ khí qui hàng, nhiều người bị người anh em thắng cuộc đày đọa đến những trại cải tạo hà khắc rồi bỏ thân nơi rừng thiêng nước độc hay trở về thân tàn ma dại sau thời gian dài tù tội. Nhiều người bỏ nước chạy ra biển, tìm chốn dung thân tại những quốc gia thứ 3.

Rồi hai bên thắng – thua cuộc “gặp” nhau trên mạng ảo trong blog Hiệu Minh có nhiều bài viết sâu sắc, quan điểm đa chiều, chủ blog là trí thức XHCN, tôn trọng còm sỹ, chừng mực, đôi khi phê phán nhẹ nhàng những tệ hại tại VN, không “đỏ như son”, nên có một số bên thua cuộc kéo nhau  vào còm.

Những trận “chiến tranh ủy nhiệm” diễn ra hằng ngày, thay vì súng ống bom mìn như ngày xưa thì nay dùng những ngón tay chỉ lên hay chỉ xuống để bày tỏ ủng hộ hộ hay phản đối, “ném đá” nhau chí tử.

Chửi Mỹ, chửi Tàu, chửi Nga, chửi bọn CS ngu dốt độc ác phá tan nát đất nước, chửi bọn cờ vàng chống cộng cực đoan đã bỏ chạy tụt quần, chửi túa xua không từ ai. Phe nào cũng giữ vững lập trường và vũ khí… chuột, đôi khi nóng tiết vịt thì không nề hà tấn công cá nhân thậm tệ, văng bậy vượt ngưỡng, thóa mạ không chừa gì, cứ như học trò lớp 3.

Vị khách đặc biệt

Vị khách tôi tiếp tại thủ đô kỳ này là còm sỹ Dove “quái kiệt” trong blog, vừa hồng vừa chuyên, mặc cho nhiều còm sỹ chế giễu chê bai, đả phá lập luận yếu kém, vạch ra lỗi ngụy biện đầy cả thúng, Dove cứ vững như kiềng ba chân, kiên định một lòng tin tưởng và rao giảng Mác Lê cùng tấm gương HCM.

Mặc dù Dove cho biết rõ anh không phải đảng viên, và tôi tin lời anh nhưng tôi vẫn xem Dove là một người cộng sản chân chính. Trong cái thời mà tổng bí thư đảng CSVN phải ngao ngán thốt lên: “Đảng viên nhan nhản, cộng sản mấy người”, thì vị còm sỹ này đích thực là cộng sản nòi dù không thẻ đảng.

Nghe tin anh chị sẽ sang Mỹ thăm con gái đang làm việc cho Google sau khi nhận học bổng đến học và tốt nghiệp tại trường Duke, North Carolina, và sẽ ghé “bản địa” Washington D.C. của tôi, tôi xun xoe làm chủ nhà ngỏ lời mời được gặp mặt để đãi cà phê hay một bữa cơm nếu có thì giờ.

Chúng tôi đã có nửa ngày vui, cùng đi dạo bờ hồ Tidal ngắm hoa anh đào, thăm đài kỷ niệm thế chiến II và bức tường chiến tranh VN đá cẩm thạch đen khắc tên 58 ngàn tên những người lính Mỹ đã bỏ mình hay mất tích tại Việt nam.

Cherry Blossom trên Tidal Basin. Ảnh: Dove

Chúng tôi nói đủ thứ chuyện, với nhau. Chuyện đời sống Hà nội, chuyện tình cảnh gia đình mỗi bên, chuyện trải nghiệm trong những ngày qua tại Mỹ của khách, chuyện sinh sống và làm việc tại Mỹ của “chủ”. Nếu có thì giờ nhiều hơn, chúng tôi sẽ còn tiếp tục hàn huyên mải không chán. Anh chị mang những món quà quê hương sang tặng làm tôi cảm động nao lòng. Tôi có dịp giới thiệu vài nét đặc sắc của thủ đô, và được lời hứa hẹn bao giờ về VN sẽ được tiếp đãi.

Con người ta sống với nhau là vậy. Trước lạ sau quen, người trong một nước phải thương nhau cùng. Gặp nhau tại đất khách quê người, cùng sánh vai đi giữa thủ đô nước Mỹ, giữa muôn nghìn du khách đủ mọi chủng tộc đến trẩy hội hoa đào, được thủ thỉ nói chuyện rỉ rả với nhau bằng tiếng mẹ đẻ là một điều hạnh phúc ấm lòng chủ khách.

Chị rất dễ thương, xinh xắn và nhu mì, hết mực yêu chồng con. Tôi tưởng tượng nếu hai chúng tôi cùng sống gần nhau từ tấm bé chắc sẽ thành đôi bạn thân thiết cả đời. Tuy nhiên, vì đất nước chia đôi, vì chiến tranh tàn khốc, mỗi người đã có một hướng đi hoàn toàn cách biệt. Thế mới biết, chiến tranh không chỉ giết người.

Tránh chính trị?

Trong buổi hội ngộ, tôi đã dặn lòng, và có lẽ khách cũng vậy, sẽ không nói chuyện chính trị. Thế là có được buổi gặp mặt vui. Nhưng chuyện đời đâu có dễ. Ngày nay giữa người Việt và người Việt, ở trong nước cũng như ngoài nước, vẫn còn quá nhiều ngăn cách chia rẽ, dù chiến tranh chấm dứt đã hơn 40 năm mà lòng người vẫn chưa về một mối.

Người Việt chạy ra nước ngoài tỵ nạn suốt cả đời không thoát được chính trị. Họ “ra đi mang theo cả quê hương”, mang theo cả một thời chinh chiến hào hùng, cả giây phút thua trận tủi nhục, cả những những năm bị đày đọa còn nhói buốt cả đời.

Trong nền chính trị VNCH, họ là những chiến sỹ dũng cảm kiên cường bảo vệ tổ quốc chống hiểm họa CS xâm lăng. Trong nền chính trị XHCN của đất nước thống nhất, họ là phường ngụy quân ngụy quyền chạy theo đế quốc ăn bơ thừa sữa cặn phản lại dân tộc, phải đền nợ máu với nhân dân trong ngày hòa bình. Chính trị đã tôn vinh họ vẻ vang, cũng chính trị đã dìm họ xuống bùn lầy, tùy phe nào nắm quyền. Làm sao sống được một cách hồn nhiên phi chính trị?

Trong nước, không thiếu những công dân ngày xưa ngùn ngụt lên đường đi cứu nước mà lòng phơi phới dậy tương lai, những người con ưu tú được đưa sang nước bạn ăn học, bằng cấp đỗ đạt, lãnh hội chuyên môn của người để về phục vụ tổ quốc. Những người hãnh diện đã kiên trì đi theo Đảng CS quang vinh chiến thắng vẻ vang cả 3 đế quốc sừng sỏ. Nền chính trị XHCN thấm đẫm trong dòng máu.

Như người CS tôi gặp hôm nay trên đất Mỹ, lúc nào cũng yêu tha thiết nước Nga, yêu lãnh tụ Putin, vui mừng trước những thành tựu của Nga, cực lực bênh vực những thất bại của Nga ngày nay. Làm gì có con người phi chính trị?

Người Việt ta

Người Việt ta tài không thiếu, tình tràn đầy, nhưng chính trị đã ngăn cản đôi bờ. Có những người  trong một đất nước thống nhất chưa nắm tay nhau: những người mang một mối đau thương thua cuộc không gột rửa được, những người ngạo nghễ với chiến thắng vang dội không thể quên.

Tôi ít thấy người anh em bên phe thắng cuộc chân thành tìm đọc những hồi ký cải tạo, vượt biển như Trại Kiên Giam, Đại học Máu, Vượt Tù Vượt Biển, v.v. Tôi cũng ít thấy phe thua cuộc tìm đọc những cuốn viết về hoạt động cách mạng trong gian khổ như Bất Khuất, Tù Côn đảo, v.v. Đọc mà xúc động, mà đau cho đồng bào phía bên kia của mình.

Mỗi bên yên trú trong lý tưởng và ánh hào quang của phe mình và dị ứng toàn tập với nỗi niềm của phe bên kia. Bao giờ thì lòng người rộng mở?

Hải ngoại đầy những người Việt yêu nước nồng nàn, sau mấy chục năm ly hương vẫn ngưỡng vọng về quê nhà. Người có tài, người có kiến thức, hay người đến vùng đất mới với hai bàn tay trắng, với thân hình còm cỏi bệnh hoạn, ai cũng đầy ý chí khắc phục trở ngại, và sau 5, 10 năm họ đã vươn lên. Hàng ngày vẫn ăn cơm chan nước mắm, ngày tết, ngày giỗ vẫn nấu mâm cơm cúng ông bà theo truyền thống, vẫn dạy con cháu giữ đất lề quê thói, trân trọng  tiếng nói tổ tiên.

Người ra đi nhìn về quê nhà vừa nhớ thương vừa oán trách, Việt Nam ngày nay thế này, Việt Nam ngày nay thế nọ… Ngắn gọn vơ đũa cả nắm vào hai chữ “Việt Nam”  trong những câu chê bai rỉa rói. Người trong nước nóng mũi, tự nhập mình vào chính quyền, phẫn nộ khi “Việt Nam” đương nhiên có mình trong đó, lại nhảy dựng lên.

Trong một bài viết ngày 25-4 đăng trên báo Người Đô Thị tựa đề “Những quả mìn thời hậu chiến”, tác giả Nguyễn Thị Hậu kể chuyện một cặp vợ chồng đã sống với nhau gần trọn đời, có nghề nghiệp vững vàng khá giả, nuôi con cái thành tài, mà nay đành chia tay. Chị là con một sĩ quan VNCH, anh là một cựu binh Việt cộng.

Hai người bỏ qua bao định kiến đến với nhau, và chị ở lại cùng anh khi cha mẹ có giấy sang Mỹ diện HO. Nay chị muốn ly dị để kết hôn giả với một bạn học ngày xưa lấy cái thẻ xanh, dự định sau này sẽ đón chồng con sang Mỹ. Anh can ngăn không được nên đành buông bỏ, không nghĩ rằng sẽ có “sau này”.

“Hơn 40 năm nhưng nước Mỹ vẫn chia cắt những người Việt…”, anh cay đắng nói. Tác giả phản bác: “Không chỉ vậy, mà do cả chúng ta nữa anh ạ!”. Chúng ta làm được quá ít ỏi những gì cần làm để hàn gắn, để thuyết phục lòng người… Chúng ta đã “hòa bình” với nước Mỹ nhưng chính nhiều người Việt không muốn hàn gắn những vết thương chiến tranh vì chưa vượt qua được hận thù, uất ức, chưa vượt qua được sĩ diện và mặc cảm “bên thắng bên thua”.

Tác giả viết thấm thía vô cùng. Cái nước mình nó thế!

Lại đến ngày 30 tháng 4!.

Gordon Thúy (TM) – Còm sỹ hang Cua. Maryland 4-2018








THÁNG TƯ NGHE LẠI "NỐI VÒNG TAY LỚN" (Bùi Văn Phú)




Bùi Văn Phú

Mặt đất bao la anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng
Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…

Khúc ca đó tôi đã thuộc lòng từ thời còn ở trung học đệ nhị cấp tại trường Nguyễn Bá Tòng và thường cất tiếng đồng ca cùng các bạn trong các sinh hoạt sinh viên.

Ngày 30/4/75 tôi đang lênh đênh trên biển, nghe ca từ thân quen qua sóng phát thanh mà nước mắt tuôn trào, vì trước đó Tổng thống Dương Văn Minh đã ra lệnh cho chính quyền Sài Gòn đầu hàng.

Tờ nhật ký trên biển của tác giả (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Khi đó tôi đã khóc vì không biết có còn gặp lại bố mẹ và các em. Tương lai rồi biết ra sao, trôi dạt về đâu.

Tôi buồn và nhớ đến những bạn học, mới còn đàn ca bên nhau, chia sẻ mơ ước về tương lai cuộc đời, mong đất nước hết chiến tranh, mà giờ đây hoà bình đã đến sao tôi lại ra đi, bỏ lại ước mơ:

Dù hôm nay tôi chưa nhìn Hà Nội
Dù hôm nay em chưa thấy Sài Gòn
Nhưng trong lòng tôi vẫn chưa mất niềm tin
Vì quê hương sẽ có ngày hoà bình
Cố nuôi vững bền những tình thương lớn…

Khi đến được trại tị nạn Camp Pendleton ở miền Nam California, trong các lều trại lại văng vẳng tiếng nhạc quê hương.

Nhiều hôm, sau vài giờ học tiếng Anh, về lều nằm nghỉ, tôi và các bạn nghe nhạc từ băng cát-sét và lấy bút ghi lại những lời ca, như sợ mai đây sẽ chẳng còn tìm lại được nữa: Nối vòng tay lớn, Huế Sài Gòn Hà Nội, Gia tài của Mẹ, Tôi sẽ đi thăm của Trịnh Công Sơn, cùng với Thà như giọt mưa, Con đường tình ta đi, Trả lại em yêu, Thuyền viễn xứ của Phạm Duy.

Lời ca Nối Vòng Tay Lớn được tác giả ghi lại khi còn ở trại tị nạn, 11 tháng 7 năm 1975 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Tôi rất yêu nhạc Trịnh Công Sơn, tình ca cũng như ca khúc da vàng. Nhạc Trịnh đến với tôi lần đầu qua hai giọng hát từ trường trung học đệ nhất cấp Thánh Tâm, ở Ngã ba Ông Tạ. Mỗi tuần đều có thuyết trình văn nghệ theo đội trong giờ hiệu đoàn với thày Nguyễn Văn Khải. Tôi thích viết bài thuyết trình, nhiều bạn như Trần Bá Nam, Trọng Nghĩa thích hát. Nguyễn Đức Bảo biết chơi đàn ghi-ta và cất giọng “Diễm xưa”.

Thày dạy văn Trần Văn Thuận cũng có máu văn nghệ, đem đàn vào lớp hát “Người già và em bé” cho học trò nghe. Thày còn kể chuyện về buổi văn nghệ cuối năm 1967 tại thính đường Đại học Văn khoa, hôm đó có Trịnh Công Sơn và Khánh Ly. Khi cán bộ thành đoàn lợi dụng cơ hội lên sân khấu tuyên bố mừng ngày thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam thì bị sinh viên quốc gia giựt lại mi-crô. Mấy sinh viên nằm vùng đã nổ súng gây trọng thương cho một lãnh đạo sinh viên quốc gia là Ngô Vương Toại.

Rồi chiến tranh ùa vào thành phố trong Tổng Công kích Tết Mậu Thân. Đại tá Lưu Kim Cương bị trúng đạn B-40 tử trận trên con đường gần nhà mà tôi thường đi qua, để từ đó ông trở thành bất tử qua ca từ nhạc Trịnh:

Anh nằm xuống cho hận thù vào viễn du
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa về cội nguồn…

Khi tôi lên trung học đệ nhị cấp thì nhạc Trịnh văng vẳng khắp khu xóm qua máy Akai hay cát-sét có trong nhiều gia đình lúc bấy giờ.

Những ca từ trong “Hát cho quê hương Việt Nam” cuốn số 1 – Chờ nhìn quê hương sáng chói, Gia tài của Mẹ, Nối vòng tay lớn, Tôi sẽ đi thăm, Huế Sài Gòn Hà Nội, Ca dao Mẹ, Đại bác ru đêm, Đồng dao hoà bình, Ngụ ngôn mùa đông, Dựng lại người dựng lại nhà – qua giọng hát Khánh Ly, như thấm vào lòng và từ đó tôi quyết tâm tự học đàn ghi-ta để có thể ngân nga những lời ca chuyên chở tâm tình và ước mơ của mình thời bấy giờ: mong quê hương hết chiến tranh, dân sống trong hoà bình, thanh niên góp tay xây dựng đất nước.

Ở tuổi trung học, nam sinh chúng tôi bắt đầu lo cho tương lai. Ra đường trong bóp phải có căn cước, giấy lược giải cá nhân nếu chưa đến tuổi 17, hay giấy hoãn dịch khi đã 18, vì nếu bị cảnh sát hỏi, thiếu những giấy tờ này thì sẽ bị đưa vào quân vụ thị trấn làm thủ tục nhập ngũ.

Cuối năm lớp 11 tôi thi đậu Tú tài I. Đó cũng là năm 1972 với Tổng tấn công Mùa hè đỏ lửa. Có lệnh đôn quân của bộ quốc phòng vì thế nhiều bạn dù đậu hay rớt cũng phải vào quân trường. Đậu thì vào Thủ Đức, rớt đi Đồng Đế Nha Trang.

Tôi thi đậu mỗi cuối niên học nên tiếp tục được hoãn dịch. Bạn học nhiều đứa vào quân đội, có dịp nghỉ phép về Sài Gòn lại rủ nhau đi ăn phở, bánh cuốn, uống cà-phê ở những quán trên đường Nguyễn Du không xa khung trời đại học. Ngồi nghe nhạc Trịnh và trầm tư trong khói thuốc.

Rồi thỉnh thoảng lại nghe tin bạn học tử trận. Nguyễn Đức Tuyển, Phạm Văn Thông, Trần Văn Doanh, Nguyễn Văn Nam, Lê Minh Châu. Có bạn là lính, có bạn là sĩ quan mới tốt nghiệp quân trường, đi vào cuộc chiến và không bao giờ trở lại.

Với chiến tranh, chia lìa và quá nhiều mất mát đau thương nên ai cũng mong hòa bình, thống nhất.

30/4/75 “Nối vòng tay lớn” được Trịnh Công Sơn cất lên với niềm hân hoan chào mừng ngày vui của dân tộc.

Sinh hoạt tại ĐH Berkeley trong lưu bút 1980 của tác giả. Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay Lớn (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Hát cho thuyền nhân Việt Nam ở Half Moon Bay, California tháng 2/1980: Sinh viên Phạm Thị Mộng Trinh (bìa trái), Phạm Hiền Diệu Thúy và Bùi Văn Phú (Ảnh từ lưu bút của Bùi Văn Phú)

Rời nước ra đi. Đến Mỹ tôi định cư ở thành phố đại học Berkeley và hai năm sau được nhận vào đại học này rồi cùng các bạn lập ra hội sinh viên vào năm 1979.

Lúc đó có chừng 100 sinh viên gốc Việt. Tôi phụ trách văn nghệ báo chí cho hội, chọn tên nội san là “Nối vòng tay” và trong các sinh hoạt luôn cất lên lời ca quen thuộc của những ngày còn ở quê hương.

Rừng núi dang tay nối lại biển xa.
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà.
Mặt đất bao la, anh em ta về.
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng.
Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam.
Cờ nối gió đêm vui nối ngày.
Giòng máu nối con tim đồng loại.
Dựng tình người trong ngày mới.
Thành phố nối thôn xa vời vợi.
Người chết nối linh thiêng vào đời.
Và nụ cười nối trên môi…

Nhưng sinh viên chúng tôi giờ hát trong khung cảnh khác, cảm xúc khác. Không còn là tinh thần của những trại hè mang tên “Nối vòng tay lớn” vào những năm 1973 và 1974 giữa sinh viên quốc nội cùng hát với sinh viên nước ngoài về thăm để tận mắt nhìn thấy quê hương đang cố gắng vươn lên.

Không còn mơ ước về quê hương thanh bình, người người chung tay xây dựng mà trong tinh thần người con xứ Việt tha hương tìm đến với nhau nơi đất khách quê người để nhớ về quê nhà, nơi sau năm 1975 tưởng đã hết chiến tranh nhưng hoà bình lại biến mất, thay vào bằng nhà tù học tập cải tạo, trí thức và văn nghệ sĩ bị đàn áp, sách vở bị đốt, dân bị đày đi kinh tế mới và thanh niên Việt tiếp tục bị đưa vào chiến tranh.

Sinh viên Việt Nam biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân Việt Nam, Sproul Plaza, UC Berkeley tháng 11/1979 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Nhiều câu chuyện được thuyền nhân kể lại. Bạn học ngày xưa ở lại tưởng có thể góp tay xây dựng quê hương nhưng không tham gia đoàn, đảng nên chẳng làm được gì, đành đối mặt với sóng dữ xuống tàu vượt biển.

Quanh vùng Vịnh San Francisco, nơi nổi tiếng với phong trào phản chiến mấy năm trước, những sinh viên từng hoạt động chống chiến tranh trước đây, ngay cả hội viên của Hội Việt kiều Yêu nước muốn về đóng góp xây dựng đất nước cũng không được, về thăm nhà cũng gặp khó khăn giấy tờ, bị công an theo dõi, canh giữ.

Năm 2011 tôi thực hiện loạt bài phỏng vấn về Trịnh Công Sơn cho mạng văn chương damau.org. Tham gia có cựu Đại tá Bùi Tín của Quân đội Nhân dân, có cựu Trung tá Bùi Đức Lạc của Quân lực Việt Nam Cộng hoà, có Nguyễn Vi Túy năm 1975 đang ở tuổi đôi mươi, có ca sĩ sinh viên Giang Trang sinh sau 1975 và thích hát nhạc Trịnh, có Trịnh Vĩnh Trinh là cô em út của nhạc sĩ, có Tiêu Dao Bảo Cự người từng là sinh viên tranh đấu, có nhà thơ Hoàng Xuân Sơn là một trong những người khai sinh ra quán Văn.

Trước đó mấy năm tôi cũng đã phỏng vấn Khánh Ly. Nhiều cái nhìn qua những góc cạnh khác nhau về Trịnh Công Sơn được xét soi, khen chê có cả.

Thời gian đó tôi cũng nhận được từ trong nước đoạn băng lịch sử ghi âm phát biểu của Trịnh Công Sơn trên đài Sài Gòn sau khi có lệnh đầu hàng. Ông gọi những người bỏ nước ra đi là thành phần phản bội tổ quốc.

Ở lại Trịnh Công Sơn cũng chẳng còn được tự do sáng tác, phải đi công trường lao động. Những ca khúc da vàng bị cấm.

Nội san Nối Vòng Tay của sinh viên Đại học Berkeley (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Hôm đầu tháng Ba vừa qua có hàng không mẫu hạm Mỹ ghé bến Đà Nẵng. Xuống bến giao lưu với dân, nữ thủy thủ Emily Kershaw của ban nhạc Hạm đội 7 đã cất tiếng hát “Nối vòng tay lớn” bên cầu Rồng.

Tôi ngạc nhiên khi nghe cô hát được tiếng Việt và ban nhạc đã chơi hoà âm như nguyên thủy trong băng “Hát cho quê hương Việt Nam” đầu tiên phát hành năm 1969, không như phiên bản rock của một vài ban nhạc trẻ sau này.

Sự kiện này mang ý nghĩa gì? Tôi không lạc quan tin rằng nó sẽ đem lại những thay đổi cho Việt Nam, vì 43 năm qua, từ khi ca khúc này được chính tác giả cất tiếng trên đài để chào mừng ngày đất nước thống nhất, hoà bình đến nay những ca khúc da vàng vẫn không được phép phổ biến.

Tôi xem lại tờ nhật ký biển của mình, với mấy hàng chữ ngắn gọn ghi dấu lịch sử trên giấy pơ-luya mong manh tôi có trong bóp, cùng với giấy tờ tùy thân khi rời Việt Nam:

29-4 16 g 30 Depart, thứ 3

30 9 g 30’ đầu hàng, 11 g 30 CS vô.

Giờ phút lịch sử của dân tộc trôi qua đã 43 năm. Trịnh Công Sơn mất 17 năm trước. Khánh Ly đã trở về hát trên quê hương, nhưng không được hát cho quê hương vì “Gia tài của Mẹ” vẫn chưa được phổ biến:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày…
Mẹ mong con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha quên hận thù

Và nhiều người Việt vẫn còn những trăn trở về đất nước hiện tại, như đã từng có trong quá khứ:

Xin dân tộc hãy vùng lên
Già gái trai cùng tiếp nối
Vì quê hương không có tương lai
Bao tháng ngày nhìn đời lửa cháy
Xin anh chị sẵn sàng đi tới
Đừng mong ai. Đừng nghi ngại
Vì đời ta hôm nay đã thắm máu người…

Tác giả là một trong những sáng lập viên của Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học Berkeley năm 1979. Ông hiện dạy đại học cộng đồng và là một cây bút tự do.
[Bài đã đăng trên bbcvietnamese.com27.04.2018, vietbao.com 29.04.2018]

Tháng Tư nghe lại “Nối vòng tay lớn” * Giờ phút lịch sử của dân tộc trôi qua đã 43 năm. Trịnh Công Sơn mất 17 năm trước. Khánh Ly đã trở về hát trên quê hương, nhưng không được hát cho quê hương vì “Gia tài của Mẹ” vẫn chưa được phổ biến