Ði Mát Cơ Va quên U Minh Hạ đói
Ngô Nhân Dụng
Friday, October 31, 2008
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=86273&z=7
Ở nước Mỹ này, khi kinh tế suy sụp thì ông tổng thống lo bị dân chán ghét (79%) và đảng của ông cũng bị vạ lây, đại biểu Quốc Hội lo mất ghế và ứng cử viên tổng thống chật vật khi tranh cử. Ở nước Việt Nam thì khác. Lạm phát lên 25% tới 30%, nông dân ở Cà Mau bữa rau bữa cháo. Nhưng đảng cầm quyền chỉ lo bỏ tù nhà báo nay, cất chức nhà báo khác, Quốc Hội họp gật lấy gật để. Ông thủ tướng thong dong sang Trung Quốc rồi ông quốc trưởng sang Nga với cả một phái đoàn rình rang.
Chuyện bất ngờ trong chuyến đi Nga là ông Nguyễn Minh Triết đã hứa với Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev sẽ đem tiền đầu tư ở nước Nga, một tỷ rưỡi Mỹ kim, để lập nhà máy chế tạo phân bón ở Kalmykia, bên bờ biển Caspian! Dân chúng vùng U Minh Hạ chắc ngạc nhiên hơn cả.Tại một miền nổi tiếng “trên cơm dưới cá” mà có bà mẹ 60 tuổi phải than với phóng viên báo Tuổi Trẻ: “Bữa nào ăn cháo đêm ngủ không được, nằm nuốt nước miếng tới sáng...! Xóm này nhà nào cũng phải ăn cháo!” Một em bé 8 tuổi năn nỉ mẹ đừng bắt ăn cháo nữa, người cha bật khóc, “Tôi thấy nhục quá, làm cha mà phải cho con ăn cháo trừ cơm!” Một người cha 63 tuổi nói thẳng: “Ðói là do người chớ không phải do trời...! Nước ngập thế này mà không cho xả thì lúa nào sống nổi!” Coi bộ ông Nguyễn Minh Triết không được đọc những bài báo đó, nếu ông đọc thì mấy ký giả khác có thể bị mất việc!
Nhưng không hiểu tại sao mấy ổng lại tính chuyện đem hàng tỉ Mỹ kim sang làm nhà máy phân bón ở Nga, để khai thác hơi đốt thiên nhiên trong biển Caspian trong khi nước mình cũng có bao nhiêu mỏ hơi đốt?
Trong các hợp đồng ký kết ở Nga lần này còn có việc hứa hẹn hợp tác với công ty RUSAL của Nga để lập một nhà máy ở Bình Phước, khai thác những mỏ bô xít (bauxite) ở vùng này, ước tính có 700 ngàn tấn bô xít. Việt Nam là nước có số bô xít lớn hàng thứ ba trên thế giới còn nằm dưới đất. Theo bản văn ghi nhận việc hợp tác thì đến năm 2012 công việc xây dựng mới bắt đầu. Trong khi đó thì nhà máy phân bón ở Kalmykia sang năm bắt đầu xây rồi. Tại sao tiền Việt Nam chạy sang Nga thì nhanh như vậy, trong khi tiền Nga đem qua Việt Nam lại chậm chạp? Người Việt Nam tính hay nghi ngờ, bàn nhau rằng Nga là một cửa ngõ để các nhà tư bản đỏ chuyển tiền, đem một tỷ rưỡi Mỹ kim qua đó sẽ giúp công tác rửa tiền dễ dàng và sạch sẽ hơn! Và việc rửa tiền cũng cấp bách hơn việc khai mỏ bô xít!
Nhưng liệu sang năm 2012 tiền Nga sẽ sang tới nước ta hay chưa? Cái đó còn tùy họ có tiền sẵn sàng hay không. Nếu biết tình trạng tài chánh của công ty này thì có thể nghi ngờ là còn lâu họ mới sẵn sàng!
Công ty United Company Rusal của nhà tỷ phú Oleg Deripaska, mà chính ông tỷ phú này lại đang gặp khó khăn vì nợ như chúa Chổm. Bữa Thứ Năm vừa qua chính phủ Nga đã phải bỏ ra 8 tỷ Mỹ kim cứu ông Oleg Deripaska, người giầu nhất nước Nga hiện nay và một đồng minh của Thủ Tướng Vladimir Putin. Ðó là sau khi chính phủ Putin đã đem 2 tỷ đô la cứu một nhà tỷ phú khác, Mikhail Fridman. Chính phủ Nga đang dành thêm 50 tỷ đô la làm công việc cứu trợ các công ty và ngân hàng gặp nạn. Chính phủ không những cho các ngân hàng vay mà còn đem tiền mặt tới cung cấp cho các máy rút tiền ATM của các ngân hàng nữa! Từ mấy tháng nay, chính phủ Nga đã dành 200 tỷ đô la để cứu các công ty và ngân hàng lâm nạn. Con số đó bằng 13% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, trong khi chính phủ Mỹ bỏ ra 700 tỷ cũng chỉ lớn bằng 5% GDP nước Mỹ. Cơn hoạn nạn tài chánh ở Nga khác bên Mỹ, nhưng vẫn là mối đe dọa trên nền kinh tế, sau một thời kỳ thịnh vượng rất mong manh vì không dựa trên những nền tảng vững chắc.
Ông Vladimir Putin gặp may mắn lên cầm quyền lúc kinh tế Nga đã xuống đến điểm thấp nhất, và những chính sách của chính phủ cũ của ông Yeltsin bắt đầu đem lại kết quả ổn định. Trong 8 năm làm tổng thống ông Putin được hưởng lộc nhờ giá dầu lửa lên cao vọt, mà đó là món hàng xuất cảng lớn nhất của Nga. Quỹ dự trữ ngoại tệ của Nga nhờ thế mà tăng lên, Tháng Tám năm 2008 đã lên tới 597 tỷ Mỹ kim, lớn hàng thứ ba trên thế giới. Nhưng từ mấy tháng nay nhiều người Nga đã chuyển tiền ra nước ngoài vì không tin tưởng vào nền kinh tế xứ họ, sau vụ ông Putin tấn công Georgia. Ðồng Rúp xuống giá vì người Nga cũng lo chuyển tiền ra nước ngoài. Quỹ ngoại tệ của chính phủ Nga đã giảm xuống chỉ còn 516 tỷ vào ngày 17 Tháng Mười vừa qua. Riêng trong tuần trước, quỹ dự trữ ngoại tệ đã giảm bớt 31 tỷ, cuối tuần này xuống còn 484 tỷ. Trong khi đó thì chính phủ phải lo bỏ thêm tiền cứu giúp các công ty và ngân hàng và giữ giá trị cho đồng “rúp.” Ngân Hàng Trung Ương Nga đã chi 13 tỷ Mỹ kim để mua đồng rúp trên thị trường để không cho tiền tụt giá. Người ta lo rằng với đà chi tiêu hiện nay của chính phủ Nga quỹ dự trữ ngoại tệ có thể cạn trong vòng 18 tháng.
Chính phủ Nga đổ lỗi cho các ngân hàng Mỹ gây nên cuộc khủng hoảng tài chánh khiến nước Nga bị vạ lây.
Nhưng các ngân hàng Mỹ không làm gì để cho thị trường chứng khoán Nga tụt giảm, giá trị đã mất 70% từ đầu năm tới nay. Trong hai Tháng Chín và Mười, chính phủ phải đóng cửa thị trường chứng khoán 15 lần để chờ đem công quỹ ra cứu! Vì số người Nga mua cổ phần còn ít, nên khi giá cổ phiếu xuống chỉ các đại tài chủ bị mất tiền và khi chính phủ cứu là cứu những người giầu nhất nước. Các tỷ phú ở Việt Nam đã mất tiền vì thị trường chứng khoán xuống, con số mất khoảng một tỷ Mỹ kim; nhưng ở Nga họ còn mất nhiều hơn nữa. Vì giá cổ phiếu các công ty giảm, các đại tài chủ Nga đã mất 230 tỷ Mỹ kim, trong số 300 tỷ mà họ làm chủ khi thị trường lên cao nhất. Giá dầu lửa tụt từ hơn 140 đô la hồi Tháng Bẩy xuống 65 đô la một thùng bây giờ càng làm cho triển vọng kinh tế Nga xuống thấp. Người ta đã tính nếu mỗi thùng dầu thô tụt giá một đô la thì tiền thu nhờ xuất cảng của Nga sẽ mất 3 tỷ đô la. Khi giá dầu lên, các nhà đầu tư ngoại quốc đem tiền tới nước Nga giúp thúc đẩy con số Tổng Sản Lượng Nội Ðịa tăng trung bình 7% một năm suốt thời gian ông Putin làm tổng thống. Nhưng khi thấy tình hình xuống thấp, họ cũng rút bớt tiền ra. Người dân Nga cũng biết lo. Trong Tháng Chín họ rút bớt 4% số tiền gửi ngân hàng vì không còn tin tưởng nữa. Có người đến rút một triệu rúp một lúc (37 ngàn Mỹ kim), nhét vô cặp sách về nhà cất! Nhiều người dùng Internet để chuyển tiền từ ngân hàng tư sang ngân hàng chính phủ. Dân Nga đã đổi tiền Rúp sang ngoại tệ, tổng cộng 3 tỷ rưỡi đô la. Các ngân hàng tư đã mất 30% số tiền ký thác vì bị rút ra. Ðã có mười ngân hàng sụp đổ.
Chính sách bành trướng và đe dọa các nước lân bang của ông Putin là một lý do khiến giới đầu tư quốc tế lo ngại muốn rút tiền ra. Nhưng các nhà tư bản thường họ nghĩ đến tiền nhiều hơn đến chính trị đối ngoại của nước Nga. Ðiều mà người ta lo ngại là cả nền kinh tế Nga dựa trên những nền tảng rất mong manh, rất dễ sụp đổ.
Ba món xuất cảng của Nga đem lại 80% ngoại tệ là kim loại, dầu khí, và thực phẩm. Từ năm 2000 lúc ông Putin mới lên cho đến năm 2007, giá kim loại tăng 275% sau khi tính trừ ảnh hưởng của lạm phát. Giá dầu khí tăng 210%, và thực phẩm tăng 160%. Tiền vào như nước, nhưng chính phủ Putin không có những chính sách phát triển các ngành khác ngoài ba lãnh vực trên để phân tản tài sản ra nhiều ngành sản xuất khác nhau. Một thiếu sót lớn nhất của chính phủ Putin trong 8 năm qua là không đầu tư đủ vào giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực thích ứng với nền kinh tế mới. Khi được phỏng vấn đa số thanh niên Nga tỏ ý thích làm công chức hơn là làm cho doanh nghiệp, điều đó cho thấy một hình ảnh của tương lai.
Kể từ Tháng Bẩy năm 2008, giá các món hàng xuất cảng bắt đầu xuống. Nói chung, giá của các loại nông sản và khoáng sản đã giảm bớt 20% trên thị trường thế giới. Các đại tài chủ Nga dựng lên cơ nghiệp; chính phủ Nga được thặng dư ngân sách, quỹ dự trữ ngoại tệ dồi dào đều nhờ khai thác những tài nguyên thiên nhiên như kim loại, dầu khí. Nay thời vận xuống, người dân tiêu thụ cũng bị ảnh hưởng. Công ty bán lẻ và siêu thị X5 lớn nhất nước Nga đang cắt giảm nhân viên 30%. Cửa hàng GK Viktoria số bán giảm bớt 10%. Các công trình xây cất đang ngưng lại. Một số các văn phòng du lịch Nga đã ngưng trả tiền các công ty hàng không quốc tế vì thiếu tiền!
Nhưng tai nạn tài chánh ở Nga hiện nay là do chính họ tạo ra, cũng vì một lý do quen thuộc là vay nợ nhiều quá, nhất là vay nợ từ ngoại quốc - không khác gì tình trạng những năm 1997-98 ở Thái Lan, Malaysia và chính nước Nga. Nền tài chánh Anh, Mỹ lâm nạn vì các ngân hàng “sa ngã” đầu tư vào các loại chứng khoán mới và quá rủi ro. Còn ở Nga thì các đại tài chủ đã vay nợ quá nhiều nhưng dùng để mua cổ phần các công ty trong nước cũng như nước ngoài. Hiện nay các công ty và ngân hàng Nga đang mắc nợ nước ngoài khoảng 450 tỷ Mỹ kim, và trong hai tháng cuối năm 2008 này phải trả 50 tỷ đáo hạn.
Một trường hợp điển hình là ông Oleg Deripaska, năm nay mới 40 tuổi. Ông làm chủ một du thuyền loại sang nhất thế giới thả neo ở Ðịa Trung Hải. Nhưng công ty UC Rusal của ông nợ đầy mình. Ông vay các ngân hàng, trong đó có Royal Bank of Scotland bên Anh, còn đang nợ 4.5 tỷ đô la, để mua một phần tư số cổ phần của công ty Norilsk, khai thác số mỏ kền (nickel) lớn nhất thế giới. Khi vay, ông đặt các cổ phần của Norilsk làm thế chấp. Bây giờ giá những cổ phần thế chấp đó tụt xuống quá thấp so với số nợ. Công ty UC Rusal sẽ phải bù tiền vào để cho cân bằng, tức là phải trả bớt một số nợ, hoặc phải được các ngân hàng chủ nợ ký giấy “miễn chấp” vào ngày hôm qua, 31 Tháng Mười năm 2008. Nếu không, các ngân hàng chủ nợ sẽ trở thành chủ nhân của các cổ phần trong công ty Norilsk!
Những món nợ 4.5 tỷ trên chỉ là một phần nhỏ trong cơn khốn đốn của ông Deripaska. Ông đã phải bán nhiều cổ phần ở các công ty tại Canada, và Âu Châu vì nợ không trả được! Ðại công ty Rusal có thể sẽ bị xé lẻ trong vài năm nữa!
Chính phủ Nga cứu ông Deripaska một lần này vì không muốn những cổ phần của Norilsk, một công ty kim loại lớn nhất nước lọt vào tay kiểm soát của các ngân hàng ngoại quốc! Chính vì thế, họ phải đưa tiền cho một ngân hàng quốc doanh Vnesheconombank (VEB) cho Rusal vay trả nợ! Nhưng từ đây, chính ngân hàng VEB, tức là chính phủ Nga sẽ thành chủ nhân các cổ phần này! Hồi đầu thập niên 1990, nhiều đại tài chủ đã cho chính phủ Nga vay, đến khi chính phủ Nga không có tiền trả, đã đem cổ phần các xí nghiệp quốc doanh gán để gán trả nợ. Nay là cảnh tượng ngược lại: chính phủ cho các đại tài chủ vay, và nhờ thế sẽ quốc hữu hóa một phần các xí nghiệp trở lại!
Ðó là tình cảnh kinh tế tài chánh nước Nga khi ông Nguyễn Minh Triết sang Mát Cơ Va thương thuyết các hợp đồng thương mại! Nhìn vào tình trạng khốn đốn của ông Oleg Deripaska và công ty UC Rusal của ông, không biết bao giờ các nhà máy khai thác bô xít ở Bình Phước mới bắt đầu được xây cất!
Trong khi đó thì những người dân ở vùng U Minh Hạ vẫn bữa rau bữa cháo! Ở những nước tự do dân chủ thì một chính phủ để cho dân chịu đói như vậy đã phải từ chức từ lâu rồi! Nhưng ở một nước độc tài đảng trị thì người dân chỉ biết khóc, như ông Nguyễn Thanh Toàn ở Cà Mau đã khóc khi bắt con ăn cháo: “Tôi thấy nhục quá!”
Những ông Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng và quý vị trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam không biết nhục là cái gì cả.
Saturday, November 1, 2008
Tòa Án CSVN Tiếp Tục Dùng Luật Rừng Đối Phó Với Giáo Dân Thái Hà
VNN
Cập nhật lên net ngày 01/11/2008
http://www.viettan.org/article.php3?id_article=6534
Như tin tức những ngày qua loan tải, sau khi Viện kiểm sát nhân dân CSVN (VKSND) quận Đống Đa hôm 24-10 vừa qua đã cho công bố bản cáo trạng và truy tố một số giáo dân Thái Hà ra toà về tội gây rối trật tự công cộng, thì vào ngày 28-10-2008 Toà án nhân dân CSVN quận Đống Đa lại trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận với lý do "Toà xét thấy cơ quan điều tra đã bỏ sót tội" và đề nghị truy tố thêm tội "huỷ hoại tài sản"!
Dư luận đã ngạc nhiên về việc toà án quận Đống Đa chưa cần xét xử mà đã biết là "còn sót tội". Theo luật định, thì toà án chỉ xét xử dựa theo bản cáo trạng của VKSND, và chỉ sau khi xét xử, nếu thấy Viện Kiểm Sát và cơ quan điều tra bỏ sót tội thì mới ra công văn đề nghị trả hồ sơ và điều tra lại. Người ta đặt câu hỏi, "không biết toà án nhân dân quận Đống Đa đã xử vụ này khi nào mà đã trả hồ sơ để đề nghị ghép thêm tội?!"
Tin tức ghi nhận cho biết, tính đến thời điểm này, nhà cầm quyền cộng sản VN đã thay đi đổi lại tội danh của những giáo dân vô tội ở Thái Hà tới ba bốn lần.
Cụ thể:
- Ngày 28-8 cảnh sát bắt giữ 4 giáo dân Thái Hà với tội danh "hủy hoại tài sản cộng cộng". Sau đó, cảnh sát điều tra xét thấy việc hủy hoại tài sản chưa có đủ yếu tố cấu thành tội, nên quyết định không truy tố 4 giáo dân này về tội hủy hoại tài sản, nhưng truy tố về tội "gây rối trật tự công cộng".
- Từ ngày 05 đến ngày 17-9-2008 cảnh sát điều tra quận Đống Đa tiếp tục bắt giữ thêm 4 người khác nữa về tội "gây rối trật tự công cộng".
- Ngày 15-10-2008, cảnh sát điều tra ra quyết định dứt khoát "hủy tội danh phá hoại tài sản" đối với 4 giáo dân bị bắt giữ đợt đầu và chỉ quy kết cho họ tội danh "gây rối trật tự công cộng".
- Ngày 20-10-2008 cơ quan điều tra công bố kết quả điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa.
- Ngày 24-10-2008 Viện kiểm sát ra cao trạng buộc tội gây rối trật tự công cộng cho 8 giáo dân Thái Hà.
- Ngày 27-10-2008 Viện kiểm sát chuyển cáo trạng sang Tòa án nhân dân CSVN quận Đống Đa.
- Ngày 28/10/2008 Tòa án nhân dân quận Đống Đa làm một chuyện "động trời", bất chấp pháp luật: Chưa cần xét xử nhưng đã biết là có "sót tội", nên trả lại hồ sơ cho cơ quan điều tra.
Được biết, chiều ngày 30/10/2008 các giáo dân nói trên lại bị triệu tập lên cơ quan công an điều tra quận Đống Đa để công an hỏi cung.
Theo một số nguồn tin đáng tin cậy từ nội bộ lãnh đạo cộng sản, vụ án đầy oan khiên này cũng sẽ được xét xử nhanh trong một vài ngày gần đây nhằm che giấu và đánh lừa dư luận. (Xuân Văn)
PHIÊN TÒA “LÀNH ÍT DỮ NHIỀU”
VietCatholic News (Thứ Hai 27/10/2008 12:58)
http://vietcatholic.net/News/Html/60439.htm
Vụ việc xảy ra cho giáo phận Hà Nội và giáo xứ Thái Hà tưởng chừng như đã yên lặng thì giờ đây lại bắt đầu nóng lên do việc tòa án CSVN chuẩn bị đưa 8 giáo dân ra hầu tòa.
Ai cũng biết rất rõ rằng đây là một phiên tòa bất công và bất nhân. Bất công ở chỗ nếu cáo trạng tòa đã nêu là đúng, tức là việc tập trung cầu nguyện của giáo dân trở thành việc “gây rối trật tự công cộng”. Tòa án sẽ trả lời thế nào về việc này? Tòa sẽ lấy đâu ra bằng chứng về việc những giáo dân này “gây rối trật tự công cộng”? Việc này không hề có trong bất cứ một điều luật nào trong hệ thống luật pháp Việt Nam hiện nay. Hay nhà nước vừa chế ra một cụm từ có nghĩa mới? Nếu không có bằng chứng thì chỉ có áp đặt một cách bất công. Bất nhân ở chỗ những người đang cầm trịch “vụ án” này thừa biết rằng họ đang chà đạp lên luật pháp và xúc phạm đến đời sống và hạnh phúc của 8 con người vô tội kia, nhưng họ vẫn giả điếc làm ngơ, vẫn nhẫn tâm bảo vệ cho sự gian dối và độc ác của một nhóm người có quyền lực.
Ai cũng biết rằng ở Việt Nam hiện nay không có sự thật trong các phiên tòa. Tòa án không phải là nơi thực thi công lý, vì quyền lực của đảng cs vẫn nằm trên luật pháp. Ngành tư pháp ở Việt Nam không có sự độc lập, vai trò của các luật sư chẳng có một tí nào. Nếu muốn có ví dụ về những điều trên thì vô số…, khỏi cần người viết phải liệt kê (xin xem thêm bài “Vai trò của luật sư vẫn còn bị xem nhẹ” tại http://www.rfi.fr/actuvi/articles/106/article_1205.asp).
Có người cho rằng chính quyền sẽ làm ngơ, xử cho qua vụ truy tố các giáo dân này để tránh sự bức xúc của dư luận trong nước và thế giới, vì cả thế giới đang theo dõi sát sao từng động thái của họ. Thế nhưng việc hủy bỏ tội danh “phá hoại tài sản” không đủ để tin rằng chính quyền csvn sẽ xử qua loa vụ này. Việc thay đổi tội danh của hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải vừa qua cho thấy điều đó. Chỉ có hình thức thay đổi, còn nội dung chẳng có gì khác. Ngoài ra, bản cáo trạng của viện kiểm sát quận Đống Đa cho thấy không có dấu hiệu của sự giảm nhẹ, mà còn cố tình gán ghép những giáo dân này vào tội hình sự.
Tất cả các tòa án của Việt Nam đều do đảng nắm gọn trong tay và chi phối hoàn toàn. Vì thế, cho dù luật sư có giỏi đến đâu cũng không thể vượt qua được quyền lực mafia này để bảo vệ công lý và sự thật. Mọi án đều đã được tuyên trước khi xử dưới chế độ độc tài đảng trị này (xin xem thêm bài “Sự thật ở đâu!” của luật sư Trần Quốc Dũng).
Có thể nói phiên tòa xử các giáo dân Thái Hà sắp tới sẽ không có công lý, không có sự thật. Chắc chắn sẽ có nhiều trò cười ra nước mắt của hệ thống tòa án csvn khi xử vụ án này. Chúng ta hãy chờ xem…
Về phần những người có đức tin Công giáo và kể cả những người tuy không phải Công giáo nhưng lại có niềm tin vào sự thật, tất cả chúng ta hãy hiệp thông và cầu nguyện cách đặc biệt cho những anh chị em đang gánh chịu bất công của chế độ hư hỏng này. Chúng ta cũng cầu xin Chúa cho xuất hiện trong hàng ngũ chính quyền, hàng ngũ những người “cầm cân nẩy mực” những khuôn mặt can đảm dám nói sự thật, để bảo vệ những người dân lành thấp cổ bé họng không ai che chở.
Phiên tòa sắp tới là một phiên tòa “lành ít dữ nhiều”.
Chúng ta cần phải cầu nguyện nhiều hơn nữa.
Hiếu Minh
VNN
Cập nhật lên net ngày 01/11/2008
http://www.viettan.org/article.php3?id_article=6534
Như tin tức những ngày qua loan tải, sau khi Viện kiểm sát nhân dân CSVN (VKSND) quận Đống Đa hôm 24-10 vừa qua đã cho công bố bản cáo trạng và truy tố một số giáo dân Thái Hà ra toà về tội gây rối trật tự công cộng, thì vào ngày 28-10-2008 Toà án nhân dân CSVN quận Đống Đa lại trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận với lý do "Toà xét thấy cơ quan điều tra đã bỏ sót tội" và đề nghị truy tố thêm tội "huỷ hoại tài sản"!
Dư luận đã ngạc nhiên về việc toà án quận Đống Đa chưa cần xét xử mà đã biết là "còn sót tội". Theo luật định, thì toà án chỉ xét xử dựa theo bản cáo trạng của VKSND, và chỉ sau khi xét xử, nếu thấy Viện Kiểm Sát và cơ quan điều tra bỏ sót tội thì mới ra công văn đề nghị trả hồ sơ và điều tra lại. Người ta đặt câu hỏi, "không biết toà án nhân dân quận Đống Đa đã xử vụ này khi nào mà đã trả hồ sơ để đề nghị ghép thêm tội?!"
Tin tức ghi nhận cho biết, tính đến thời điểm này, nhà cầm quyền cộng sản VN đã thay đi đổi lại tội danh của những giáo dân vô tội ở Thái Hà tới ba bốn lần.
Cụ thể:
- Ngày 28-8 cảnh sát bắt giữ 4 giáo dân Thái Hà với tội danh "hủy hoại tài sản cộng cộng". Sau đó, cảnh sát điều tra xét thấy việc hủy hoại tài sản chưa có đủ yếu tố cấu thành tội, nên quyết định không truy tố 4 giáo dân này về tội hủy hoại tài sản, nhưng truy tố về tội "gây rối trật tự công cộng".
- Từ ngày 05 đến ngày 17-9-2008 cảnh sát điều tra quận Đống Đa tiếp tục bắt giữ thêm 4 người khác nữa về tội "gây rối trật tự công cộng".
- Ngày 15-10-2008, cảnh sát điều tra ra quyết định dứt khoát "hủy tội danh phá hoại tài sản" đối với 4 giáo dân bị bắt giữ đợt đầu và chỉ quy kết cho họ tội danh "gây rối trật tự công cộng".
- Ngày 20-10-2008 cơ quan điều tra công bố kết quả điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa.
- Ngày 24-10-2008 Viện kiểm sát ra cao trạng buộc tội gây rối trật tự công cộng cho 8 giáo dân Thái Hà.
- Ngày 27-10-2008 Viện kiểm sát chuyển cáo trạng sang Tòa án nhân dân CSVN quận Đống Đa.
- Ngày 28/10/2008 Tòa án nhân dân quận Đống Đa làm một chuyện "động trời", bất chấp pháp luật: Chưa cần xét xử nhưng đã biết là có "sót tội", nên trả lại hồ sơ cho cơ quan điều tra.
Được biết, chiều ngày 30/10/2008 các giáo dân nói trên lại bị triệu tập lên cơ quan công an điều tra quận Đống Đa để công an hỏi cung.
Theo một số nguồn tin đáng tin cậy từ nội bộ lãnh đạo cộng sản, vụ án đầy oan khiên này cũng sẽ được xét xử nhanh trong một vài ngày gần đây nhằm che giấu và đánh lừa dư luận. (Xuân Văn)
PHIÊN TÒA “LÀNH ÍT DỮ NHIỀU”
VietCatholic News (Thứ Hai 27/10/2008 12:58)
http://vietcatholic.net/News/Html/60439.htm
Vụ việc xảy ra cho giáo phận Hà Nội và giáo xứ Thái Hà tưởng chừng như đã yên lặng thì giờ đây lại bắt đầu nóng lên do việc tòa án CSVN chuẩn bị đưa 8 giáo dân ra hầu tòa.
Ai cũng biết rất rõ rằng đây là một phiên tòa bất công và bất nhân. Bất công ở chỗ nếu cáo trạng tòa đã nêu là đúng, tức là việc tập trung cầu nguyện của giáo dân trở thành việc “gây rối trật tự công cộng”. Tòa án sẽ trả lời thế nào về việc này? Tòa sẽ lấy đâu ra bằng chứng về việc những giáo dân này “gây rối trật tự công cộng”? Việc này không hề có trong bất cứ một điều luật nào trong hệ thống luật pháp Việt Nam hiện nay. Hay nhà nước vừa chế ra một cụm từ có nghĩa mới? Nếu không có bằng chứng thì chỉ có áp đặt một cách bất công. Bất nhân ở chỗ những người đang cầm trịch “vụ án” này thừa biết rằng họ đang chà đạp lên luật pháp và xúc phạm đến đời sống và hạnh phúc của 8 con người vô tội kia, nhưng họ vẫn giả điếc làm ngơ, vẫn nhẫn tâm bảo vệ cho sự gian dối và độc ác của một nhóm người có quyền lực.
Ai cũng biết rằng ở Việt Nam hiện nay không có sự thật trong các phiên tòa. Tòa án không phải là nơi thực thi công lý, vì quyền lực của đảng cs vẫn nằm trên luật pháp. Ngành tư pháp ở Việt Nam không có sự độc lập, vai trò của các luật sư chẳng có một tí nào. Nếu muốn có ví dụ về những điều trên thì vô số…, khỏi cần người viết phải liệt kê (xin xem thêm bài “Vai trò của luật sư vẫn còn bị xem nhẹ” tại http://www.rfi.fr/actuvi/articles/106/article_1205.asp).
Có người cho rằng chính quyền sẽ làm ngơ, xử cho qua vụ truy tố các giáo dân này để tránh sự bức xúc của dư luận trong nước và thế giới, vì cả thế giới đang theo dõi sát sao từng động thái của họ. Thế nhưng việc hủy bỏ tội danh “phá hoại tài sản” không đủ để tin rằng chính quyền csvn sẽ xử qua loa vụ này. Việc thay đổi tội danh của hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải vừa qua cho thấy điều đó. Chỉ có hình thức thay đổi, còn nội dung chẳng có gì khác. Ngoài ra, bản cáo trạng của viện kiểm sát quận Đống Đa cho thấy không có dấu hiệu của sự giảm nhẹ, mà còn cố tình gán ghép những giáo dân này vào tội hình sự.
Tất cả các tòa án của Việt Nam đều do đảng nắm gọn trong tay và chi phối hoàn toàn. Vì thế, cho dù luật sư có giỏi đến đâu cũng không thể vượt qua được quyền lực mafia này để bảo vệ công lý và sự thật. Mọi án đều đã được tuyên trước khi xử dưới chế độ độc tài đảng trị này (xin xem thêm bài “Sự thật ở đâu!” của luật sư Trần Quốc Dũng).
Có thể nói phiên tòa xử các giáo dân Thái Hà sắp tới sẽ không có công lý, không có sự thật. Chắc chắn sẽ có nhiều trò cười ra nước mắt của hệ thống tòa án csvn khi xử vụ án này. Chúng ta hãy chờ xem…
Về phần những người có đức tin Công giáo và kể cả những người tuy không phải Công giáo nhưng lại có niềm tin vào sự thật, tất cả chúng ta hãy hiệp thông và cầu nguyện cách đặc biệt cho những anh chị em đang gánh chịu bất công của chế độ hư hỏng này. Chúng ta cũng cầu xin Chúa cho xuất hiện trong hàng ngũ chính quyền, hàng ngũ những người “cầm cân nẩy mực” những khuôn mặt can đảm dám nói sự thật, để bảo vệ những người dân lành thấp cổ bé họng không ai che chở.
Phiên tòa sắp tới là một phiên tòa “lành ít dữ nhiều”.
Chúng ta cần phải cầu nguyện nhiều hơn nữa.
Hiếu Minh
Thời Sự Hoa Kỳ
Đường vào Toà Bạch Ốc: Trò Chơi Ủng Hộ
Minh Thu
(LÊN MẠNG Thứ bảy 1, Tháng Mười Một 2008)
http://www.vnn-news.com/spip.php?article4898
Có thật là làng báo ở Mỹ thiên tả?
Vì sao nhiều nhân vật Cộng Hoà quay sang ủng hộ Obama?
"Endorsement" có thể được tạm dịch là ký tên chuyển nhượng, như khi ta ký vào phía sau các chi phiếu để chuyển nhượng sở hữu của mình sang cho người khác. Trong chuyện bầu cử trên chính trường, từ ngữ này thường được dùng để diễn tả việc một lãnh tụ hay một chính trị gia, một cá nhân có uy quyền hay một tổ chức có thực lực, một cơ quan truyền thông có uy tín lên tiếng chuyển nhượng sự ủng hộ cho một ứng cử viên nào đó.
Chẳng hạn như trong một cuộc bầu cử gồm rất nhiều ứng cử viên cùng nhảy ra tranh giành. Quy luật thông thường ấn định nếu như không có người nào đạt được đa số tuyệt đối (trên 50% cử tri), thì hai người có số phiếu cao nhất sẽ tiến vào vòng chung kết (runoff) để xem ai là người giành được nhiều phiếu hơn trong lần này. Cả hai người này sẽ tìm đủ cách để dụ dỗ những ứng viên còn lại hãy lên tiếng ủng hộ cho mình. Trên nguyên tắc, người nào được sự ủng hộ nhiều hơn, nếu như tổng số phiếu gộp lại cao hơn đối thủ, sẽ có nhiều cơ may hơn để thắng cuộc. Tuy vậy, điều này cũng không chắc chắn, vì cử tri ủng hộ các ứng viên bị thua này ở vòng đầu chưa chắc sẽ tuân lời để bỏ phiếu theo như sự lựa chọn ủng hộ này, hoặc trong nhiều trường hợp, có thể nản chí và không thèm đi đến phòng phiếu nữa. Bởi thế cho nên sức mạnh hay sự hiệu quả của các màn lên tiếng ủng hộ chưa chắc được chứng minh một cách xác đáng. Dẫu sao đi nữa, thì những màn "endorsement" như vậy cũng là một sự ủng hộ quý giá hay một khích lệ tinh thần, có vẫn còn hơn không.
Vì thế nên trong nhiều trường hợp khi không nhận được sự ủng hộ, người thua lại nhanh chóng phủ nhận giá trị hay sức mạnh của nó, mặc dù trước đó họ đã cầu khẩn hay van xin để mong đạt được. Hoặc người thua (không được ủng hộ) có thể tìm cách nguỵ biện khi cho rằng đối thủ của mình có thể nhận được sự ủng hộ của một chính trị gia nào đó nhưng chưa chắc đa số cử tri của vị chính trị gia này có nghe theo ý kiến ủng hộ này.
Trong một số ít trường hợp, phe bị thua, tức là không được sự ủng hộ, có thể tức giận và dùng những lời lẽ để nói lên sự thất vọng hay bực tức của mình. Thí dụ dễ thấy nhất đã xảy ra trong vòng bầu cử sơ bộ năm nay bên đảng Dân Chủ. Thoạt đầu, có ba ứng viên được coi là sáng giá nhất và có triển vọng thực sự trong số gần một chục người. Đó là các ông John Edwards, Barack Obama và bà Hillary Clinton. Đến khi ông Edwards rút lui sớm thì cả hai người còn lại là Obama và Clinton đều mong muốn nhận được sự ủng hộ của ông ta. Nhưng ông này đã giữ im lặng trong một thời gian dài sau đó, khiến cho tình hình tiếp tục ngang ngửa gay cấn. Một nhân vật thứ hai cũng được cả hai phe Obama và Clinton tìm cách chiêu dụ là Thống đốc Bill Richardson của tiểu bang New Mexico, với hy vọng rằng sự ủng hộ của ông này sẽ kéo theo sự ủng hộ đông đảo của cử tri gốc Mễ.
Đúng lý ra thì ông Richardson phải ủng hộ cho bà Clinton cho "trọn tình trọn nghĩa". Ông chỉ là một chính trị gia gốc Mễ thuộc hạng B, nằm trong một tiểu bang nhỏ, tầm thường, nhưng nhờ được TT Bill Clinton nâng đỡ lên làm tổng trưởng trong nội các. Nhưng việc ông cứ "lửng lơ con cá vàng" không chịu ủng hộ sớm chứng tỏ là lá bài Obama có một sức thu hút đặc biệt nào đó. Phe Clinton nhất quyết chiêu dụ, thậm chí còn đưa ông cựu tổng thống Bill Clinton đến dự party riêng coi trận banh Super Bowl cùng với ông Richardson. Họ hy vọng rằng trong trường hợp tệ lắm thì ông sẽ không lên tiếng ủng hộ ai, để không giúp cho phe ông Obama tạo được đà thắng lợi. Ấy vậy mà sau đó không lâu ông Richardson đã lên tiếng ủng hộ ông Obama, coi như một cú tát phũ phàng lên hai vợ chồng ông Clinton. Chẳng trách nào mà nhiều phụ tá thân cận của ông Clinton đã nổi giận và buông ra những tiếng chỉ trích thậm tệ về tính phản phé của ông Richardson. Đó là ông James Carville, đã không ngần ngại so sánh việc làm của ông Richardson không khác gì việc Judas bán Chúa. Tuy vậy, đa số cử tri gốc Mễ vẫn không bị ảnh hưởng bởi sự ủng hộ của ông Richardson, và vẫn mạnh mẽ tẩy chay ông Obama khi lựa chọn bà Clinton trong cuộc bầu cử sơ bộ tại tiểu bang Texas sau đó không lâu.
Một trường hợp "phản thùng" khác cũng đã xảy ra khi nghị sĩ Joe Lieberman lên tiếng ủng hộ ông McCain mặc dù trước đó không lâu ông đã ra ứng cử chức phó tổng thống trong liên danh Gore-Lieberman của phe Dân Chủ vào năm 2000, cũng như đã ra vận động tranh cử làm ứng viên tổng thống của đảng này vào năm 2004. Trong kỳ Đại hội Đảng Cộng Hoà vào đầu tháng 9 vừa qua, ông Lieberman cũng đã được đưa ra sân khấu để đọc một bài diễn văn ca tụng ông McCain và chê bai sự thiếu kinh nghiệm của ông Obama.
Nhiều phần là ông Lieberman sẽ bị phe Dân Chủ ở Thượng Viện trả đũa hay trừng phạt (bằng cách tước đoạt chức vụ chủ tịch một uỷ ban) một khi phe này sẽ nắm được đa số áp đảo sau kết quả bầu cử vào đầu tuần tới. Trên lý thuyết, ông Lieberman thuộc phe độc lập, nhưng vẫn còn bỏ phiếu theo phe Dân Chủ, vì ông đã thất cử trong vòng sơ bộ bên đảng Dân Chủ trong kỳ bầu cử năm 2006 trước đối thủ Ned Lamont, nhưng đã thắng cử sau cùng vào tháng 11 vì nhờ đa số cử tri bên đảng Cộng Hoà ở Connecticut dồn phiếu cho ông thay vì để cho ông Lamont đắc cử với lập trường chống Bush và phe Cộng Hoà kịch liệt. Việc ông Lieberman ủng hộ ông McCain cũng dễ hiểu vì quyền lợi cá nhân nhiều hơn. Trước khi chọn bà Palin vào giờ chót, ông Lieberman cùng với ông Tom Ridge, cựu thống đốc Pennsylvania và cựu tổng trưởng Bộ Nội An, là hai nhân vật sau cùng mà ông McCain cân nhắc để mời đứng phó. Ông Lieberman là người gốc Do Thái, và do đó luôn luôn ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến Iraq và những chính sách hiếu chiến dưới thời chính quyền Bush, và bị nhiều người chỉ trích đó là thái độ bảo vệ quyền lợi của Do Thái một cách quá đáng.
Nói chung, uy tín của một cá nhân hay tổ chức, cơ quan truyền thông càng cao thì sự ủng hộ sẽ càng được cân nhắc và tính toán kỹ lưỡng, trong nhiều trường hợp thường được giữ lại đến giờ phút chót, khi mà tình hình đã gần như ngã ngũ, nhằm để tránh cho người lên tiếng ủng hộ không bị hố, cũng như không bị khó khăn để biện minh cho quyết định ủng hộ của mình. Đó là trường hợp của nhiều vị dân cử thuộc loại "siêu đại biểu" (super-delegate) trong cuộc bầu cử sơ bộ bên đảng Dân Chủ. Những tên tuổi như Al Gore (cựu PTT), Nancy Pelosi (Chủ tịch Hạ Viện), Howard Dean (chủ tịch Uỷ ban Trung ương Đảng Dân Chủ) đều tránh né không muốn lên tiếng ủng hộ phe nào trong thời gian dài, nhằm để tránh chuốc lấy nhiều rắc rối về sau, cho dù người ta biết rằng họ không mấy ưa thích hai vợ chồng nhà Clinton. Trong vài trường hợp, đó cũng là kinh nghiệm muốn tránh những sơ hở trong quá khứ. Chẳng hạn như ông Al Gore, trong năm 2004, đã nhanh chóng lên tiếng ủng hộ ứng viên Howard Dean vì thành tích khuynh tả cấp tiến của ông, cũng như triển vọng của ông này thu hút được đông đảo cử tri phản chiến lúc bấy giờ. Đến khi ông Dean nhanh chóng thảm bại vài tháng sau đó thì uy tín của ông Gore cũng bị sứt mẻ nặng.
SỰ ỦNG HỘ CỦA GIỚI TRUYỀN THÔNG
Sự ủng hộ khác cũng được nhiều người chú ý, cho dù không được trông đợi nhiều từ phía các ứng cử viên, vì nằm ngoài tầm kiểm soát của họ, đó là từ các ban chủ biên của các tờ nhật báo trong nước. Thông thường nhiều người thường lầm tưởng rằng một tờ báo do ai làm chủ coi như sẽ lèo lái dư luận theo chiều hướng mong muốn của người này, và luôn đưa ra quan điểm ủng hộ hợp ý với người chủ nhân. Sự thật không đơn giản như vậy, do bởi ngành truyền thông lâu đời tại Hoa Kỳ đã khiến cho các vị chủ bút, các ký giả, các nhà báo đều có niềm tự trọng và thiên chức nghề nghiệp rất cao. Và các vị chủ báo cũng không hẳn coi những người cộng tác với mình là những nhân viên phải luôn tuân theo lời sai bảo, vì họ cũng ý thức được trình độ nhận xét của độc giả. Trước nhất, một tờ báo, dù là khuynh hữu hay khuynh tả, cũng phải làm tròn thiên chức thông tin của mình, bằng cách gửi ra những phóng sự hay bản tin phản ảnh trung thực những sự kiện đã xảy ra. Dĩ nhiên, trong một chừng mực nào đó, tuỳ theo cảm quan của mỗi nhà báo, việc sử dụng những từ ngữ hay văn phong của mỗi bài tường trình cũng có thể tạo ra những cảm giác hơi khác nhau từ phía độc giả.
Hãy lấy thí dụ của tờ Wall Street Journal, nhật báo lớn hàng thứ nhì ở Hoa Kỳ, chỉ sau tờ USA Today. Đây là tờ báo theo khuynh hướng bảo thủ nổi tiếng lâu đời, góp mặt từ năm 1889, về sau do các thành viên trong giòng họ Bancroft nắm quyền chủ nhân. Vào năm 2007, nhà tỷ phú Rupert Murdoch gốc Úc tự động đề nghị mua lại công ty truyền thông này với giá 5 tỷ Mỹ-kim. Đây là một cái giá rất cao, trong thời buổi đa số các tờ báo đều bị thua lỗ hay không còn làm ăn phát đạt như lúc xưa. Do đó, nó thu hút nhiều thành viên trong gia đình hám lợi nên sẵn sàng muốn bán. Tuy vậy nhiều người vẫn không thích ông Murdoch, cho dù ông đã dùng tiền để tậu mãi một lô các cơ quan truyền thông lớn như đài truyền hình FOX, và nhiều đài truyền hình, phát thanh, và báo chí tại nhiều quốc gia khác. Tuy FOX sau ngày được mua lại bởi ông Murdoch đã quay sang một chiều hướng khuynh hữu lộ liễu, nhưng gia đình Bancroft và ban quản trị cũng như ban giám đốc của tờ Wall Street Journal cũng không mấy hăm hở để sang nhượng lại cho nhà tỷ phú này. Cuộc điều đình mua bán chỉ được thực hiện sau khi hai bên đã có thoả thuận lập ra một uỷ ban đặc biệt để bảo đảm cho ban chủ biên có sự độc lập nghề nghiệp, chứ không thể hoàn toàn bị chi phối bởi ý muốn của công ty mẹ thuộc ông Murdoch.
Ngoài ra, các toà báo thường có một ban chủ biên (editorial board), gồm những nhà báo trụ cột cùng chia sẻ quan niệm và chính kiến trên nhiều vấn đề, và sẽ thi nhau viết những bài xã luận nói lên quan điểm chính thức của tờ báo này đối với một đề tài nào đó. Song song với ban chủ biên này, những tờ báo có uy tín và giá trị cũng thường kết nạp thêm nhiều nhà báo độc lập khác để đóng góp các cột mục thường xuyên, trình bày quan điểm riêng của các cây bút này. Thông thường, họ còn mời gọi sự đóng góp của nhiều nhà báo thuộc hai khuynh hướng đối chọi để giúp cho độc giả được dịp lắng nghe quan điểm từ hai phía. Chẳng hạn như tờ nhật báo uy tín nhất là New York Times, thường được coi như là có khuynh hướng nghiêng về phía cấp tiến, nhưng cũng đã thuê mướn nhiều cây bút bảo thủ nổi tiếng như William Safire, David Brooks, William Kristol (chủ biên tờ Weekly Standard, một tuần báo cực hữu). Do đó, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy các bài bình luận khuynh hữu của các vị này nằm cùng trang với những bài xã luận khuynh tả của ban chủ biên trên một hồ sơ nào đó. Việc cùng hợp tác, cùng góp mặt trên một diễn đàn truyền thông như vậy, sẽ khiến cho các nhà báo cẩn thận và cân nhắc hơn trong những nhận định hay bình luận của mình để tránh cảnh tự kiêu kiểu múa gậy vườn hoang (một tiêu chuẩn làm việc mà nhiều nhà báo tiếng Việt vẫn chưa thích làm quen), và trong đường dài sẽ giúp ích rất nhiều cho khách hàng tiêu thụ là độc giả.
Riêng trong việc quyết định ủng hộ cho một ứng cử viên vào mùa bầu cử, thông thường những nhà báo thành viên trong ban chủ biên sẽ được dịp phỏng vấn các ứng viên để từ đó lấy quyết định theo đa số để ủng hộ một nhân vật nào. Bài xã luận nói lên quan điểm ủng hộ sẽ cho thấy mức độ ủng hộ ra sao tuỳ theo những chi tiết. Nếu văn phong nói đến sự ủng hộ với những lời dè dặt, tức là trong ban chủ biên cũng đã có những tiếng nói đối lập không ủng hộ, tương tự như những phán quyết của Tối Cao Pháp Viện, tuy có giá trị theo đa số, nhưng luôn luôn có ghi ý kiến của những lập luận đối chọi. Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả những bình luận gia khác của tờ báo này, cũng như tất cả những nhà báo, ký giả, phóng viên làm việc tại đây đều phải có nhiệm vụ theo dõi và viết tin theo chiều hướng thuận lợi để cổ động cho việc đắc cử của người được tờ báo ủng hộ. Lý do đơn giản là giá trị và uy quyền của một chính trị gia hay lãnh tụ chỉ ngắn hạn trong một thời gian vài năm, nhưng uy tín của tờ báo thì to lớn và lâu dài hơn nhiều, và thiên chức nghề nghiệp không cho phép đa số các nhà báo được làm khác hơn.
Tin tức được nhiều người nói đến trong kỳ vận động tranh cử năm nay là việc ông Barack Obama nhận được sự ủng hộ đông đảo của các tờ nhật báo lớn tại Hoa Kỳ, nhiều hơn so với đối thủ John McCain. Theo tổng kết của ông Greg Mitchell, một trong những chủ biên của Editor & Publisher, tổ chức đại diện cho các vị chủ nhiệm và chủ bút trên Hoa Kỳ, cho đến sáng ngày thứ Hai 27-10-2008 thì đã có khoảng hơn 180 tờ nhật báo lên tiếng ủng hộ cho ông Obama, trong khi ông McCain chỉ giành được sự ủng hộ của 75 tờ. Quan trọng hơn nữa, hầu như tuyệt đại đa số các tờ báo lớn và uy tín đều ủng hộ ông Obama. Nếu so về lượng độc giả, thì các báo ủng hộ Obama có số độc giả lên hơn 19 triệu, trong khi số độc giả của các báo ủng hộ chỉ có khoảng 4 triệu rưởi.
Điều đáng chú ý nữa trong trò chơi "endorsement" kỳ này là con số các tờ báo đã ủng hộ ông Bush vào năm 2004 nhưng nay đã ngã sang phía ông Obama thay vì tiếp tục ủng hộ ông McCain, đã lên con số khá cao khoảng 38 tờ. Có những tờ báo chưa bao giờ, hay rất hiếm khi ủng hộ phe Dân Chủ từ thời mới xuất bản cả trăm năm về trước, nhưng đây là lần đầu tiên quyết định ủng hộ cho ông Obama, một ngoại lệ hiếm có cũng cần được nêu lên để hiểu vì sao có sự thay đổi chấn động trong tư duy của nhiều người trong kỳ bầu cử năm nay. Chẳng hạn như tờ Chicago Tribune, tờ nhật báo lớn nhất tại thành phố lớn thứ ba của Hoa Kỳ, tuy là địa phương của ông Obama, nhưng trong lịch sử 161 năm kể từ ngày ra mắt đến nay, đây là lần đầu tiên ban chủ biên tờ báo này quyết định ủng hộ cho ứng viên của phe cấp tiến. Hoặc như tờ Hartford Courant, đây là lần thứ hai trong 244 năm phát hành, đã quyết định ủng hộ cho phe cấp tiến và do đó đã lên tiếng ủng hộ cho ông Obama. Hoặc như tờ Los Angeles Times, tờ nhật báo lớn hàng thứ tư tại Hoa Kỳ, từ 36 năm qua chưa bao giờ ủng hộ cho phe Dân Chủ, nhưng nay lại ủng hộ cho ông Obama. Đó cũng là trường hợp tương tự của ban chủ biên tờ Houston Chronicle, đại nhật báo lớn nhất của thành phố Houston. Tại tiểu bang Texas, 3 trong số 5 tờ báo lớn nhất, trước đây ủng hộ ông Bush, nhưng nay đã quay sang ủng hộ cho ông Obama: đó là các tờ Houston Chronicle, Fort Worth Star Telegram và The Austin American-Statesman. Một chi tiết khác trong trò chơi ủng hộ này và khá mỉa mai và đau đớn cho liên danh McCain-Palin là tờ báo lớn nhất tại Alaska là tờ Anchorage Daily News cũng vừa mới lên tiếng ủng hộ cho ông Obama. Sự ủng hộ này khiến cho những lời của phe Cộng Hoà thường đánh bóng về bà Palin, một thống đốc được rất nhiều người dân tại tiểu bang mình ủng hộ, dễ trở thành lạc điệu và có vẻ như không xác thực lắm. Nó dễ khiến nhiều người đặt dấu hỏi vì sao ban chủ biên tờ báo lớn nhất trong tiểu bang lại không ủng hộ một chính trị gia hiện đang cầm quyền ngay địa phương mình.
Tuy vậy, con số các tờ báo ủng hộ cũng không đủ là yếu tố vững mạnh hay bảo đảm cho sự thành công. Bằng chứng là trong năm 2004, con số các tờ báo ủng hộ cho ông John Kerry cao hơn của TT Bush, tuy rằng với một tỉ lệ khít khao hơn, 213/205. Trong nhiều cuộc bầu cử ở cấp nhỏ hơn như nghị sĩ và dân biểu liên bang, thống đốc và các nghị sĩ, dân biểu tiểu bang hoặc các vị thị trưởng và nghị viên thành phố, có nhiều vị đã được sự ủng hộ của ban chủ biên các tờ báo lớn trong địa phương nhưng cuối cùng vẫn không được thắng cử.
LÀNG BÁO Ở MỸ THIÊN TẢ?
Ở đây cũng xin nói đến một điều mà nhiều người Việt thường lầm tưởng, có lẽ do bởi cảm quan tức giận trước những lời lẽ có tính cách phản chiến trong thời gian chiến tranh tại Việt Nam xảy ra, là đại đa số các tờ báo đều theo hướng khuynh tả và thích ủng hộ phe Dân Chủ nhiều hơn, và từ đó người ta thường dùng từ ngữ "các tờ báo thiên tả" mỗi khi nói về giới truyền thông tại Hoa Kỳ. Thật ra những con số thu lượm được một cách khách quan đã đưa ra những kết quả rất ngạc nhiên và trái ngược: Cái gọi là "làng báo thiên tả" (liberal press) đó đã thiên vị rất nhiều đối với đảng cánh hữu là Cộng Hoà, nhất là trong lãnh vực ủng hộ các ứng viên tổng thống. Ngay cả những tên tuổi sáng giá của đảng Dân Chủ như Franklin D. Roosevelt, John F. Kennedy, cũng đã bị đa số các tờ báo đều "chê" trong trò chơi ủng hộ vào mùa bầu cử.
Một bài viết của nhà báo Jodi B. Cohen, đề ngày 26/10/1996, đã đưa ra những con số thống kê rõ ràng không thể chối cãi. Trong hai năm 1940 và 1944, ông Roosevelt chỉ được sự ủng hộ của khoảng 22% ban chủ biên các tờ báo trong khi ứng viên phe Cộng Hoà được khoảng 60%; số còn lại không ủng hộ bên nào. Riêng ông Kennedy, một chính trị gia trẻ tuổi, lại theo đạo Thiên Chúa Giáo La-Mã, một sự kiện khác lạ lần đầu tiên trong các ứng cử viên tổng thống Mỹ, còn bị làng báo ở Mỹ thời đó tẩy chay mạnh hơn nữa: vào năm 1960, chỉ có hơn 16% các tờ báo ủng hộ ông, trong khi đối thủ Nixon nhận được khoảng gần 58%; phần còn lại hơn 25% không ủng hộ ai.
Phải đợi đến kỳ của ông Johnson vào năm 1964 thì phe Dân Chủ mới thắng được đối thủ Cộng Hoà trong trò chơi "endorsement", tuy rằng ông chỉ thắng với tỉ lệ khá khít khao trên đối thủ Barry Goldwater (42 trên 35%). Nhưng liền sau đó thì ứng viên phe Cộng Hoà lại giành được ưu thế trong phần ủng hộ của các ban chủ biên các tờ nhật báo lớn ở Mỹ suốt thời gian dài 28 năm cho đến khi ông Bill Clinton giành được "ưu thế" trở lại, lần này cũng rất khít khao. Vào năm 1992, ông Clinton được sự ủng hộ của khoảng 18%, so với 15% ủng hộ ông Bush Bố, chưa tới 1% giành cho ông Perot, trong khi có đến đa số 67% đứng ngoài cuộc, không dám hay không muốn lên tiếng ủng hộ bên nào. Ngay cả đến năm 1996, khi ông Clinton thắng dễ dàng trên đối thủ Bob Dole, ông cũng thua trên mặt trận "ủng hộ" của làng báo, với khoảng 80 ban chủ biên ủng hộ so với ông Dole được 122 tờ báo ủng hộ.
Trong kỳ bầu cử năm 2000, một cuộc thăm dò các vị chủ bút và chủ nhiệm trước đó cho thấy là có thể tỉ lệ ủng hộ ông Bush trên ông Gore ở mức 2/1. Kết quả sau cùng cho thấy đa số không áp đảo như vậy, nhưng ông Bush vẫn hơn: 137 tờ báo ủng hộ Bush trong khi chỉ có 99 tờ lên tiếng ủng hộ ông Gore. Kết quả năm 2004 được coi như là ngang ngửa với tỉ lệ đa số mong manh cho ông Kerry (213/205).
VÌ SAO NHIỀU NHÂN VẬT VÀ TỜ BÁO BẢO THỦ LẠI ỦNG HỘ OBAMA?
Kết quả kỳ năm 2008 kể ở trên (do Editors & Publishers thu thập được) quả là một sự ngạc nhiên đáng chú ý. Phải chăng ông Obama là một ứng viên đặc biệt - có thể hiểu dưới nhiều nghĩa khác nhau - và ông McCain là một ứng viên bết bát hay cẩu thả, dưới mắt nhìn của đa số các ban chủ biên của các tờ nhật báo lớn tại Hoa Kỳ?
Nếu đọc các bài xã luận bênh vực cho quan điểm ủng hộ các ứng viên của các tờ báo này, điểm nhiều người phải chú ý là hầu hết đều nói đến việc họ thoạt đầu vẫn còn ngần ngại trước cái thành tích hay kinh nghiệm ít ỏi của ông Obama để có thể bảo đảm hay hứa hẹn cho một tương lai tươi sáng. Nhưng trải qua suốt hơn 18 tháng dài vận động tranh cử, hầu hết đã có dịp tìm hiểu thêm về nhân vật đặc biệt này để nhìn ra những ưu và khuyết điểm, và suốt trong 3 kỳ tranh luận tay đôi với ông McCain, họ đủ tự tin để nói rằng việc chọn lựa ông Obama là một quyết định đứng đắn và có suy nghĩ chín chắn. Và từ đó, họ cũng đã can đảm nói lên sự ủng hộ công khai của mình, cho dù biết rằng điều này có thể khiến họ bị công kích dữ dội trong khối cử tri bảo thủ.
Đó là trường hợp của bà Kathleen Parker, một bỉnh bút gia bảo thủ kỳ cựu của tờ nhật báo uy tín Washington Post, đã nhận hàng trăm các email phản đối, kể cả chửi bới, sau khi bà đăng bài viết đầu tiên chê bai bà Sarah Palin, sau những lần bà này xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn với hai nhà báo Charles Gibson (của ABC News) và Katie Couric (CBS News) với những câu trả lời rất ngập ngừng, ấm ớ.
Một trường hợp khác bị chống đối dữ dội sau khi lên tiếng ủng hộ Obama đã xảy ra cho ông Christopher Buckley. Ông này là một tay vẽ biếm hoạ và cũng giữ một cột mục trên trang sau tờ National Review, một tạp chí bảo thủ cực hữu do ông bố là William Buckley sáng lập. Cậu con trai Christopher cũng có cổ phần trong hội đồng quản trị của tờ National Review. Thế nhưng sau bài viết ủng hộ Obama vào tháng 10, sự chống đối của độc giả trung thành cũng như những người yểm trợ tờ báo đã khiến cho ban chủ biên phải áp lực ông Buckley rút lui cột mục của mình mặc dù ông vẫn ăn lương, vì có cổ phần chủ nhân của tờ báo.
Trong nhiều lý do để biện minh cho quyết định ủng hộ ông Obama, hầu hết các ban chủ biên đều chỉ trích thậm tệ sự lựa chọn bà Sarah Palin đứng phó và cho đó là một quyết định cẩu thả, hay nông nổi của ông McCain, và từ đó khiến cho mọi người bắt đầu rút hết tất cả những ưu ái hay ủng hộ cho ông trước đó. Lý do chính thứ hai là chiều hướng tiêu cực, chỉ nhằm đánh phá, tấn công đối phương dưới mọi hình thức, kể cả việc chụp mũ nhiều cái nón cối (nói theo lời của nhà báo Hoàng Ngọc Quyên là có lẽ do ông McCain thu lượm được sau ngày bị Việt Cộng giam giữ ở nhà tù Hoả Lò). Từ việc tố cáo ông Obama "bồ tèo" với quân khủng bố, gốc gác hay có khuynh hướng theo đạo Hồi-giáo, cho đến "một Obama dẫn đưa Hoa Kỳ theo con đường xã hội chủ nghĩa", "một tổng thống Obama rất yếu kém" v.v. . .
Đó cũng là lý do khiến cho ông Colin Powell - một trong những nhân vật tên tuổi và có uy tín, cựu Cố vấn An ninh Quốc gia, cựu Tổng Tham mưu Trưởng Quân lực Mỹ, cựu Tổng trưởng Ngoại giao, được nhiều người nể trọng trong phe Cộng Hoà - đã mạnh mẽ lên tiếng ủng hộ ông Obama mặc dù rằng trước đó có nhiều chỉ dấu cho rằng ông sẽ không lên tiếng ủng hộ bên nào. Một trong những điều làm ông Powell bực mình nhất về chiến dịch tấn công chụp mũ của bộ tham mưu ông McCain là những loại tin đồn được phát tán mạnh mẽ khắp nơi qua email rằng ông Obama là người theo Hồi giáo (và hình như cũng được nhiều người Việt ủng hộ McCain thu lượm được và coi đó như là những loại tin nóng hổi, ít người biết được, và hí hửng hay hoảng hốt truyền bá tiếp!). Ông Powell nói thẳng: "Câu trả lời là không, ông ta (Obama) không là người theo đạo Hồi (Muslim), ông ta là người theo Cơ-đốc-giáo (Christian)." Nhưng rồi ông Powell nói tiếp, dường như để nói lên câu trả lời chính xác hơn: "Mà nếu giả sử như chuyện đó có thật thì đã sao? Có cái gì sai trái không khi một người sống ở Mỹ này theo đạo Hồi? Chắc chắn là không, vì đây là Hoa Kỳ. Có cái gì bất ổn không khi một em bé 7 tuổi sinh trưởng ở Mỹ nhưng theo đạo Hồi tin rằng một ngày nào đó em có thể trở thành tổng thống Mỹ? Ấy vậy mà tôi vẫn nghe nhiều vị tên tuổi lão thành trong đảng của mình (đảng Cộng Hoà) cứ gợi ý rằng ’Hắn là người Hồi-giáo và hắn có thể dính líu đến bọn khủng bố’. Chúng ta không thể làm việc hay suy nghĩ như vậy ở nước Mỹ này."
Không phải chỉ có những khuôn mặt theo phe Cộng Hoà nhưng được xếp vào loại ôn hoà như ông Powell đã quay lưng với liên danh cùng đảng McCain-Palin để quay sang ủng hộ cho đối phương Obama-Biden. Sự kiện nhiều nhân vật tên tuổi của đảng Cộng Hoà nhưng đã không ngần ngại lên tiếng ủng hộ ông Obama là một dấu hiệu phản ảnh một sự thay đổi khá quan trọng trong tư duy của đa số hiện nay, nhất là khi so sánh lại, gần như không một tên tuổi nào bên đảng Dân Chủ lại quay sang ủng hộ ông Obama, ngoại trừ trường hợp ngoại lệ của ông Lieberman. Nhiều phần là ông Lieberman sẽ về đầu quân với phe Cộng Hoà trong thời gian tới. Hiện nay trong số các nhân vật Cộng Hoà ủng hộ ông Obama có nhiều thành phần khác nhau, từ phe tân-bảo-thủ như ông Ken Adelman, cựu viên chức cao cấp về ngoại giao và quốc phòng từ thời các TT Ford, Reagan và Bush Bố, cho đến cựu thống đốc Weld tại Connecticut, trong năm nay cũng đã ủng hộ cho ông Mitt Romney, hoặc cho những người hồi đầu năm vẫn còn ủng hộ ông McCain như Charles Fried, giáo sư tại Đại học Luật ở Harvard, một trong những tư tưởng gia bảo thủ có uy tín và đã từng tham chính từ thời TT Reagan.
Như riêng kẻ viết bài này đã nhận định trong bài viết trước đây vào ngày 31-08-2008 với tựa đề "Khi ông McCain đánh ván bài xả láng", sự lựa chọn bà Sarah Palin của ông McCain ngay giữa lúc Đại hội Đảng Dân Chủ đang kết thúc, là một quyết định táo bạo, theo kiểu tố tapis như trong lối đánh xì-phé, "được ăn cả, ngã về không". Một phần sự lựa chọn đột ngột của ông dựa trên quyết định của ông Obama không chọn bà Clinton đứng phó, khiến cho số lượng cử tri thuộc giới phụ nữ da trắng bình dân và trung niên trở lên (thuộc đảng Dân Chủ) chưa chắc sẽ bỏ cho ông Obama. Sự xuất hiện của bà Palin có thể khiến cho số phụ nữ này, có thể sẵn sàng bỏ phiếu cho đảng Cộng Hoà theo cảm tính thay vì theo lý trí. Nhưng cái nguy hiểm của sự lựa chọn bà Palin, cũng đã được nhiều chuyên gia bên đảng Cộng Hoà gióng lên tiếng nói báo động và lo ngại, là ban tham mưu của ông McCain đã không có đầy đủ thời giờ để xem xét và đánh giá thật kỹ lưỡng về nhân vật Palin cũng như những ưu và khuyết điểm, một tiến trình thường gọi là "vetting" kéo dài cả tháng trời, nhưng ông McCain đã bất chấp và chỉ quyết định trong vòng 1 hay 2 ngày. Bởi vì khi sự lựa chọn đã được tung ra, nếu như những việc làm, lời nói và thành tích của bà Palin được đưa ra sau này và có đem lại bất lợi cho ông McCain, thì sự tai hại sẽ nặng nề hơn vì ông không còn phương cách nào để sửa chữa hoặc rút lui. Chẳng khác gì như trường hợp một kẻ đánh bạc đi "tố" đối phương, nhưng lá bài "tẩy" của mình bị lủng thì chỉ có đành ngậm đắng nuốt cay để nhìn mình bị thua cháy túi.
Và cũng mong rằng người Việt chúng ta nên bớt chủ quan để nghĩ rằng tất cả những diễn biến gần đây đều là do sự điều động, giật dây của cái gọi là "làng báo thiên tả" ở Hoa Kỳ này. Giống như lời của nhà báo Đào Nương thường thích nói: the fact speaks for itself. Những thống kê của Editor & Publisher nằm rành rành ra đó. Đố quý vị nào đưa ra những bằng chứng phản bác trước khi lên giọng thầy đời để dạy dỗ.
Minh Thu
Đường vào Toà Bạch Ốc: Trò Chơi Ủng Hộ
Minh Thu
(LÊN MẠNG Thứ bảy 1, Tháng Mười Một 2008)
http://www.vnn-news.com/spip.php?article4898
Có thật là làng báo ở Mỹ thiên tả?
Vì sao nhiều nhân vật Cộng Hoà quay sang ủng hộ Obama?
"Endorsement" có thể được tạm dịch là ký tên chuyển nhượng, như khi ta ký vào phía sau các chi phiếu để chuyển nhượng sở hữu của mình sang cho người khác. Trong chuyện bầu cử trên chính trường, từ ngữ này thường được dùng để diễn tả việc một lãnh tụ hay một chính trị gia, một cá nhân có uy quyền hay một tổ chức có thực lực, một cơ quan truyền thông có uy tín lên tiếng chuyển nhượng sự ủng hộ cho một ứng cử viên nào đó.
Chẳng hạn như trong một cuộc bầu cử gồm rất nhiều ứng cử viên cùng nhảy ra tranh giành. Quy luật thông thường ấn định nếu như không có người nào đạt được đa số tuyệt đối (trên 50% cử tri), thì hai người có số phiếu cao nhất sẽ tiến vào vòng chung kết (runoff) để xem ai là người giành được nhiều phiếu hơn trong lần này. Cả hai người này sẽ tìm đủ cách để dụ dỗ những ứng viên còn lại hãy lên tiếng ủng hộ cho mình. Trên nguyên tắc, người nào được sự ủng hộ nhiều hơn, nếu như tổng số phiếu gộp lại cao hơn đối thủ, sẽ có nhiều cơ may hơn để thắng cuộc. Tuy vậy, điều này cũng không chắc chắn, vì cử tri ủng hộ các ứng viên bị thua này ở vòng đầu chưa chắc sẽ tuân lời để bỏ phiếu theo như sự lựa chọn ủng hộ này, hoặc trong nhiều trường hợp, có thể nản chí và không thèm đi đến phòng phiếu nữa. Bởi thế cho nên sức mạnh hay sự hiệu quả của các màn lên tiếng ủng hộ chưa chắc được chứng minh một cách xác đáng. Dẫu sao đi nữa, thì những màn "endorsement" như vậy cũng là một sự ủng hộ quý giá hay một khích lệ tinh thần, có vẫn còn hơn không.
Vì thế nên trong nhiều trường hợp khi không nhận được sự ủng hộ, người thua lại nhanh chóng phủ nhận giá trị hay sức mạnh của nó, mặc dù trước đó họ đã cầu khẩn hay van xin để mong đạt được. Hoặc người thua (không được ủng hộ) có thể tìm cách nguỵ biện khi cho rằng đối thủ của mình có thể nhận được sự ủng hộ của một chính trị gia nào đó nhưng chưa chắc đa số cử tri của vị chính trị gia này có nghe theo ý kiến ủng hộ này.
Trong một số ít trường hợp, phe bị thua, tức là không được sự ủng hộ, có thể tức giận và dùng những lời lẽ để nói lên sự thất vọng hay bực tức của mình. Thí dụ dễ thấy nhất đã xảy ra trong vòng bầu cử sơ bộ năm nay bên đảng Dân Chủ. Thoạt đầu, có ba ứng viên được coi là sáng giá nhất và có triển vọng thực sự trong số gần một chục người. Đó là các ông John Edwards, Barack Obama và bà Hillary Clinton. Đến khi ông Edwards rút lui sớm thì cả hai người còn lại là Obama và Clinton đều mong muốn nhận được sự ủng hộ của ông ta. Nhưng ông này đã giữ im lặng trong một thời gian dài sau đó, khiến cho tình hình tiếp tục ngang ngửa gay cấn. Một nhân vật thứ hai cũng được cả hai phe Obama và Clinton tìm cách chiêu dụ là Thống đốc Bill Richardson của tiểu bang New Mexico, với hy vọng rằng sự ủng hộ của ông này sẽ kéo theo sự ủng hộ đông đảo của cử tri gốc Mễ.
Đúng lý ra thì ông Richardson phải ủng hộ cho bà Clinton cho "trọn tình trọn nghĩa". Ông chỉ là một chính trị gia gốc Mễ thuộc hạng B, nằm trong một tiểu bang nhỏ, tầm thường, nhưng nhờ được TT Bill Clinton nâng đỡ lên làm tổng trưởng trong nội các. Nhưng việc ông cứ "lửng lơ con cá vàng" không chịu ủng hộ sớm chứng tỏ là lá bài Obama có một sức thu hút đặc biệt nào đó. Phe Clinton nhất quyết chiêu dụ, thậm chí còn đưa ông cựu tổng thống Bill Clinton đến dự party riêng coi trận banh Super Bowl cùng với ông Richardson. Họ hy vọng rằng trong trường hợp tệ lắm thì ông sẽ không lên tiếng ủng hộ ai, để không giúp cho phe ông Obama tạo được đà thắng lợi. Ấy vậy mà sau đó không lâu ông Richardson đã lên tiếng ủng hộ ông Obama, coi như một cú tát phũ phàng lên hai vợ chồng ông Clinton. Chẳng trách nào mà nhiều phụ tá thân cận của ông Clinton đã nổi giận và buông ra những tiếng chỉ trích thậm tệ về tính phản phé của ông Richardson. Đó là ông James Carville, đã không ngần ngại so sánh việc làm của ông Richardson không khác gì việc Judas bán Chúa. Tuy vậy, đa số cử tri gốc Mễ vẫn không bị ảnh hưởng bởi sự ủng hộ của ông Richardson, và vẫn mạnh mẽ tẩy chay ông Obama khi lựa chọn bà Clinton trong cuộc bầu cử sơ bộ tại tiểu bang Texas sau đó không lâu.
Một trường hợp "phản thùng" khác cũng đã xảy ra khi nghị sĩ Joe Lieberman lên tiếng ủng hộ ông McCain mặc dù trước đó không lâu ông đã ra ứng cử chức phó tổng thống trong liên danh Gore-Lieberman của phe Dân Chủ vào năm 2000, cũng như đã ra vận động tranh cử làm ứng viên tổng thống của đảng này vào năm 2004. Trong kỳ Đại hội Đảng Cộng Hoà vào đầu tháng 9 vừa qua, ông Lieberman cũng đã được đưa ra sân khấu để đọc một bài diễn văn ca tụng ông McCain và chê bai sự thiếu kinh nghiệm của ông Obama.
Nhiều phần là ông Lieberman sẽ bị phe Dân Chủ ở Thượng Viện trả đũa hay trừng phạt (bằng cách tước đoạt chức vụ chủ tịch một uỷ ban) một khi phe này sẽ nắm được đa số áp đảo sau kết quả bầu cử vào đầu tuần tới. Trên lý thuyết, ông Lieberman thuộc phe độc lập, nhưng vẫn còn bỏ phiếu theo phe Dân Chủ, vì ông đã thất cử trong vòng sơ bộ bên đảng Dân Chủ trong kỳ bầu cử năm 2006 trước đối thủ Ned Lamont, nhưng đã thắng cử sau cùng vào tháng 11 vì nhờ đa số cử tri bên đảng Cộng Hoà ở Connecticut dồn phiếu cho ông thay vì để cho ông Lamont đắc cử với lập trường chống Bush và phe Cộng Hoà kịch liệt. Việc ông Lieberman ủng hộ ông McCain cũng dễ hiểu vì quyền lợi cá nhân nhiều hơn. Trước khi chọn bà Palin vào giờ chót, ông Lieberman cùng với ông Tom Ridge, cựu thống đốc Pennsylvania và cựu tổng trưởng Bộ Nội An, là hai nhân vật sau cùng mà ông McCain cân nhắc để mời đứng phó. Ông Lieberman là người gốc Do Thái, và do đó luôn luôn ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến Iraq và những chính sách hiếu chiến dưới thời chính quyền Bush, và bị nhiều người chỉ trích đó là thái độ bảo vệ quyền lợi của Do Thái một cách quá đáng.
Nói chung, uy tín của một cá nhân hay tổ chức, cơ quan truyền thông càng cao thì sự ủng hộ sẽ càng được cân nhắc và tính toán kỹ lưỡng, trong nhiều trường hợp thường được giữ lại đến giờ phút chót, khi mà tình hình đã gần như ngã ngũ, nhằm để tránh cho người lên tiếng ủng hộ không bị hố, cũng như không bị khó khăn để biện minh cho quyết định ủng hộ của mình. Đó là trường hợp của nhiều vị dân cử thuộc loại "siêu đại biểu" (super-delegate) trong cuộc bầu cử sơ bộ bên đảng Dân Chủ. Những tên tuổi như Al Gore (cựu PTT), Nancy Pelosi (Chủ tịch Hạ Viện), Howard Dean (chủ tịch Uỷ ban Trung ương Đảng Dân Chủ) đều tránh né không muốn lên tiếng ủng hộ phe nào trong thời gian dài, nhằm để tránh chuốc lấy nhiều rắc rối về sau, cho dù người ta biết rằng họ không mấy ưa thích hai vợ chồng nhà Clinton. Trong vài trường hợp, đó cũng là kinh nghiệm muốn tránh những sơ hở trong quá khứ. Chẳng hạn như ông Al Gore, trong năm 2004, đã nhanh chóng lên tiếng ủng hộ ứng viên Howard Dean vì thành tích khuynh tả cấp tiến của ông, cũng như triển vọng của ông này thu hút được đông đảo cử tri phản chiến lúc bấy giờ. Đến khi ông Dean nhanh chóng thảm bại vài tháng sau đó thì uy tín của ông Gore cũng bị sứt mẻ nặng.
SỰ ỦNG HỘ CỦA GIỚI TRUYỀN THÔNG
Sự ủng hộ khác cũng được nhiều người chú ý, cho dù không được trông đợi nhiều từ phía các ứng cử viên, vì nằm ngoài tầm kiểm soát của họ, đó là từ các ban chủ biên của các tờ nhật báo trong nước. Thông thường nhiều người thường lầm tưởng rằng một tờ báo do ai làm chủ coi như sẽ lèo lái dư luận theo chiều hướng mong muốn của người này, và luôn đưa ra quan điểm ủng hộ hợp ý với người chủ nhân. Sự thật không đơn giản như vậy, do bởi ngành truyền thông lâu đời tại Hoa Kỳ đã khiến cho các vị chủ bút, các ký giả, các nhà báo đều có niềm tự trọng và thiên chức nghề nghiệp rất cao. Và các vị chủ báo cũng không hẳn coi những người cộng tác với mình là những nhân viên phải luôn tuân theo lời sai bảo, vì họ cũng ý thức được trình độ nhận xét của độc giả. Trước nhất, một tờ báo, dù là khuynh hữu hay khuynh tả, cũng phải làm tròn thiên chức thông tin của mình, bằng cách gửi ra những phóng sự hay bản tin phản ảnh trung thực những sự kiện đã xảy ra. Dĩ nhiên, trong một chừng mực nào đó, tuỳ theo cảm quan của mỗi nhà báo, việc sử dụng những từ ngữ hay văn phong của mỗi bài tường trình cũng có thể tạo ra những cảm giác hơi khác nhau từ phía độc giả.
Hãy lấy thí dụ của tờ Wall Street Journal, nhật báo lớn hàng thứ nhì ở Hoa Kỳ, chỉ sau tờ USA Today. Đây là tờ báo theo khuynh hướng bảo thủ nổi tiếng lâu đời, góp mặt từ năm 1889, về sau do các thành viên trong giòng họ Bancroft nắm quyền chủ nhân. Vào năm 2007, nhà tỷ phú Rupert Murdoch gốc Úc tự động đề nghị mua lại công ty truyền thông này với giá 5 tỷ Mỹ-kim. Đây là một cái giá rất cao, trong thời buổi đa số các tờ báo đều bị thua lỗ hay không còn làm ăn phát đạt như lúc xưa. Do đó, nó thu hút nhiều thành viên trong gia đình hám lợi nên sẵn sàng muốn bán. Tuy vậy nhiều người vẫn không thích ông Murdoch, cho dù ông đã dùng tiền để tậu mãi một lô các cơ quan truyền thông lớn như đài truyền hình FOX, và nhiều đài truyền hình, phát thanh, và báo chí tại nhiều quốc gia khác. Tuy FOX sau ngày được mua lại bởi ông Murdoch đã quay sang một chiều hướng khuynh hữu lộ liễu, nhưng gia đình Bancroft và ban quản trị cũng như ban giám đốc của tờ Wall Street Journal cũng không mấy hăm hở để sang nhượng lại cho nhà tỷ phú này. Cuộc điều đình mua bán chỉ được thực hiện sau khi hai bên đã có thoả thuận lập ra một uỷ ban đặc biệt để bảo đảm cho ban chủ biên có sự độc lập nghề nghiệp, chứ không thể hoàn toàn bị chi phối bởi ý muốn của công ty mẹ thuộc ông Murdoch.
Ngoài ra, các toà báo thường có một ban chủ biên (editorial board), gồm những nhà báo trụ cột cùng chia sẻ quan niệm và chính kiến trên nhiều vấn đề, và sẽ thi nhau viết những bài xã luận nói lên quan điểm chính thức của tờ báo này đối với một đề tài nào đó. Song song với ban chủ biên này, những tờ báo có uy tín và giá trị cũng thường kết nạp thêm nhiều nhà báo độc lập khác để đóng góp các cột mục thường xuyên, trình bày quan điểm riêng của các cây bút này. Thông thường, họ còn mời gọi sự đóng góp của nhiều nhà báo thuộc hai khuynh hướng đối chọi để giúp cho độc giả được dịp lắng nghe quan điểm từ hai phía. Chẳng hạn như tờ nhật báo uy tín nhất là New York Times, thường được coi như là có khuynh hướng nghiêng về phía cấp tiến, nhưng cũng đã thuê mướn nhiều cây bút bảo thủ nổi tiếng như William Safire, David Brooks, William Kristol (chủ biên tờ Weekly Standard, một tuần báo cực hữu). Do đó, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy các bài bình luận khuynh hữu của các vị này nằm cùng trang với những bài xã luận khuynh tả của ban chủ biên trên một hồ sơ nào đó. Việc cùng hợp tác, cùng góp mặt trên một diễn đàn truyền thông như vậy, sẽ khiến cho các nhà báo cẩn thận và cân nhắc hơn trong những nhận định hay bình luận của mình để tránh cảnh tự kiêu kiểu múa gậy vườn hoang (một tiêu chuẩn làm việc mà nhiều nhà báo tiếng Việt vẫn chưa thích làm quen), và trong đường dài sẽ giúp ích rất nhiều cho khách hàng tiêu thụ là độc giả.
Riêng trong việc quyết định ủng hộ cho một ứng cử viên vào mùa bầu cử, thông thường những nhà báo thành viên trong ban chủ biên sẽ được dịp phỏng vấn các ứng viên để từ đó lấy quyết định theo đa số để ủng hộ một nhân vật nào. Bài xã luận nói lên quan điểm ủng hộ sẽ cho thấy mức độ ủng hộ ra sao tuỳ theo những chi tiết. Nếu văn phong nói đến sự ủng hộ với những lời dè dặt, tức là trong ban chủ biên cũng đã có những tiếng nói đối lập không ủng hộ, tương tự như những phán quyết của Tối Cao Pháp Viện, tuy có giá trị theo đa số, nhưng luôn luôn có ghi ý kiến của những lập luận đối chọi. Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả những bình luận gia khác của tờ báo này, cũng như tất cả những nhà báo, ký giả, phóng viên làm việc tại đây đều phải có nhiệm vụ theo dõi và viết tin theo chiều hướng thuận lợi để cổ động cho việc đắc cử của người được tờ báo ủng hộ. Lý do đơn giản là giá trị và uy quyền của một chính trị gia hay lãnh tụ chỉ ngắn hạn trong một thời gian vài năm, nhưng uy tín của tờ báo thì to lớn và lâu dài hơn nhiều, và thiên chức nghề nghiệp không cho phép đa số các nhà báo được làm khác hơn.
Tin tức được nhiều người nói đến trong kỳ vận động tranh cử năm nay là việc ông Barack Obama nhận được sự ủng hộ đông đảo của các tờ nhật báo lớn tại Hoa Kỳ, nhiều hơn so với đối thủ John McCain. Theo tổng kết của ông Greg Mitchell, một trong những chủ biên của Editor & Publisher, tổ chức đại diện cho các vị chủ nhiệm và chủ bút trên Hoa Kỳ, cho đến sáng ngày thứ Hai 27-10-2008 thì đã có khoảng hơn 180 tờ nhật báo lên tiếng ủng hộ cho ông Obama, trong khi ông McCain chỉ giành được sự ủng hộ của 75 tờ. Quan trọng hơn nữa, hầu như tuyệt đại đa số các tờ báo lớn và uy tín đều ủng hộ ông Obama. Nếu so về lượng độc giả, thì các báo ủng hộ Obama có số độc giả lên hơn 19 triệu, trong khi số độc giả của các báo ủng hộ chỉ có khoảng 4 triệu rưởi.
Điều đáng chú ý nữa trong trò chơi "endorsement" kỳ này là con số các tờ báo đã ủng hộ ông Bush vào năm 2004 nhưng nay đã ngã sang phía ông Obama thay vì tiếp tục ủng hộ ông McCain, đã lên con số khá cao khoảng 38 tờ. Có những tờ báo chưa bao giờ, hay rất hiếm khi ủng hộ phe Dân Chủ từ thời mới xuất bản cả trăm năm về trước, nhưng đây là lần đầu tiên quyết định ủng hộ cho ông Obama, một ngoại lệ hiếm có cũng cần được nêu lên để hiểu vì sao có sự thay đổi chấn động trong tư duy của nhiều người trong kỳ bầu cử năm nay. Chẳng hạn như tờ Chicago Tribune, tờ nhật báo lớn nhất tại thành phố lớn thứ ba của Hoa Kỳ, tuy là địa phương của ông Obama, nhưng trong lịch sử 161 năm kể từ ngày ra mắt đến nay, đây là lần đầu tiên ban chủ biên tờ báo này quyết định ủng hộ cho ứng viên của phe cấp tiến. Hoặc như tờ Hartford Courant, đây là lần thứ hai trong 244 năm phát hành, đã quyết định ủng hộ cho phe cấp tiến và do đó đã lên tiếng ủng hộ cho ông Obama. Hoặc như tờ Los Angeles Times, tờ nhật báo lớn hàng thứ tư tại Hoa Kỳ, từ 36 năm qua chưa bao giờ ủng hộ cho phe Dân Chủ, nhưng nay lại ủng hộ cho ông Obama. Đó cũng là trường hợp tương tự của ban chủ biên tờ Houston Chronicle, đại nhật báo lớn nhất của thành phố Houston. Tại tiểu bang Texas, 3 trong số 5 tờ báo lớn nhất, trước đây ủng hộ ông Bush, nhưng nay đã quay sang ủng hộ cho ông Obama: đó là các tờ Houston Chronicle, Fort Worth Star Telegram và The Austin American-Statesman. Một chi tiết khác trong trò chơi ủng hộ này và khá mỉa mai và đau đớn cho liên danh McCain-Palin là tờ báo lớn nhất tại Alaska là tờ Anchorage Daily News cũng vừa mới lên tiếng ủng hộ cho ông Obama. Sự ủng hộ này khiến cho những lời của phe Cộng Hoà thường đánh bóng về bà Palin, một thống đốc được rất nhiều người dân tại tiểu bang mình ủng hộ, dễ trở thành lạc điệu và có vẻ như không xác thực lắm. Nó dễ khiến nhiều người đặt dấu hỏi vì sao ban chủ biên tờ báo lớn nhất trong tiểu bang lại không ủng hộ một chính trị gia hiện đang cầm quyền ngay địa phương mình.
Tuy vậy, con số các tờ báo ủng hộ cũng không đủ là yếu tố vững mạnh hay bảo đảm cho sự thành công. Bằng chứng là trong năm 2004, con số các tờ báo ủng hộ cho ông John Kerry cao hơn của TT Bush, tuy rằng với một tỉ lệ khít khao hơn, 213/205. Trong nhiều cuộc bầu cử ở cấp nhỏ hơn như nghị sĩ và dân biểu liên bang, thống đốc và các nghị sĩ, dân biểu tiểu bang hoặc các vị thị trưởng và nghị viên thành phố, có nhiều vị đã được sự ủng hộ của ban chủ biên các tờ báo lớn trong địa phương nhưng cuối cùng vẫn không được thắng cử.
LÀNG BÁO Ở MỸ THIÊN TẢ?
Ở đây cũng xin nói đến một điều mà nhiều người Việt thường lầm tưởng, có lẽ do bởi cảm quan tức giận trước những lời lẽ có tính cách phản chiến trong thời gian chiến tranh tại Việt Nam xảy ra, là đại đa số các tờ báo đều theo hướng khuynh tả và thích ủng hộ phe Dân Chủ nhiều hơn, và từ đó người ta thường dùng từ ngữ "các tờ báo thiên tả" mỗi khi nói về giới truyền thông tại Hoa Kỳ. Thật ra những con số thu lượm được một cách khách quan đã đưa ra những kết quả rất ngạc nhiên và trái ngược: Cái gọi là "làng báo thiên tả" (liberal press) đó đã thiên vị rất nhiều đối với đảng cánh hữu là Cộng Hoà, nhất là trong lãnh vực ủng hộ các ứng viên tổng thống. Ngay cả những tên tuổi sáng giá của đảng Dân Chủ như Franklin D. Roosevelt, John F. Kennedy, cũng đã bị đa số các tờ báo đều "chê" trong trò chơi ủng hộ vào mùa bầu cử.
Một bài viết của nhà báo Jodi B. Cohen, đề ngày 26/10/1996, đã đưa ra những con số thống kê rõ ràng không thể chối cãi. Trong hai năm 1940 và 1944, ông Roosevelt chỉ được sự ủng hộ của khoảng 22% ban chủ biên các tờ báo trong khi ứng viên phe Cộng Hoà được khoảng 60%; số còn lại không ủng hộ bên nào. Riêng ông Kennedy, một chính trị gia trẻ tuổi, lại theo đạo Thiên Chúa Giáo La-Mã, một sự kiện khác lạ lần đầu tiên trong các ứng cử viên tổng thống Mỹ, còn bị làng báo ở Mỹ thời đó tẩy chay mạnh hơn nữa: vào năm 1960, chỉ có hơn 16% các tờ báo ủng hộ ông, trong khi đối thủ Nixon nhận được khoảng gần 58%; phần còn lại hơn 25% không ủng hộ ai.
Phải đợi đến kỳ của ông Johnson vào năm 1964 thì phe Dân Chủ mới thắng được đối thủ Cộng Hoà trong trò chơi "endorsement", tuy rằng ông chỉ thắng với tỉ lệ khá khít khao trên đối thủ Barry Goldwater (42 trên 35%). Nhưng liền sau đó thì ứng viên phe Cộng Hoà lại giành được ưu thế trong phần ủng hộ của các ban chủ biên các tờ nhật báo lớn ở Mỹ suốt thời gian dài 28 năm cho đến khi ông Bill Clinton giành được "ưu thế" trở lại, lần này cũng rất khít khao. Vào năm 1992, ông Clinton được sự ủng hộ của khoảng 18%, so với 15% ủng hộ ông Bush Bố, chưa tới 1% giành cho ông Perot, trong khi có đến đa số 67% đứng ngoài cuộc, không dám hay không muốn lên tiếng ủng hộ bên nào. Ngay cả đến năm 1996, khi ông Clinton thắng dễ dàng trên đối thủ Bob Dole, ông cũng thua trên mặt trận "ủng hộ" của làng báo, với khoảng 80 ban chủ biên ủng hộ so với ông Dole được 122 tờ báo ủng hộ.
Trong kỳ bầu cử năm 2000, một cuộc thăm dò các vị chủ bút và chủ nhiệm trước đó cho thấy là có thể tỉ lệ ủng hộ ông Bush trên ông Gore ở mức 2/1. Kết quả sau cùng cho thấy đa số không áp đảo như vậy, nhưng ông Bush vẫn hơn: 137 tờ báo ủng hộ Bush trong khi chỉ có 99 tờ lên tiếng ủng hộ ông Gore. Kết quả năm 2004 được coi như là ngang ngửa với tỉ lệ đa số mong manh cho ông Kerry (213/205).
VÌ SAO NHIỀU NHÂN VẬT VÀ TỜ BÁO BẢO THỦ LẠI ỦNG HỘ OBAMA?
Kết quả kỳ năm 2008 kể ở trên (do Editors & Publishers thu thập được) quả là một sự ngạc nhiên đáng chú ý. Phải chăng ông Obama là một ứng viên đặc biệt - có thể hiểu dưới nhiều nghĩa khác nhau - và ông McCain là một ứng viên bết bát hay cẩu thả, dưới mắt nhìn của đa số các ban chủ biên của các tờ nhật báo lớn tại Hoa Kỳ?
Nếu đọc các bài xã luận bênh vực cho quan điểm ủng hộ các ứng viên của các tờ báo này, điểm nhiều người phải chú ý là hầu hết đều nói đến việc họ thoạt đầu vẫn còn ngần ngại trước cái thành tích hay kinh nghiệm ít ỏi của ông Obama để có thể bảo đảm hay hứa hẹn cho một tương lai tươi sáng. Nhưng trải qua suốt hơn 18 tháng dài vận động tranh cử, hầu hết đã có dịp tìm hiểu thêm về nhân vật đặc biệt này để nhìn ra những ưu và khuyết điểm, và suốt trong 3 kỳ tranh luận tay đôi với ông McCain, họ đủ tự tin để nói rằng việc chọn lựa ông Obama là một quyết định đứng đắn và có suy nghĩ chín chắn. Và từ đó, họ cũng đã can đảm nói lên sự ủng hộ công khai của mình, cho dù biết rằng điều này có thể khiến họ bị công kích dữ dội trong khối cử tri bảo thủ.
Đó là trường hợp của bà Kathleen Parker, một bỉnh bút gia bảo thủ kỳ cựu của tờ nhật báo uy tín Washington Post, đã nhận hàng trăm các email phản đối, kể cả chửi bới, sau khi bà đăng bài viết đầu tiên chê bai bà Sarah Palin, sau những lần bà này xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn với hai nhà báo Charles Gibson (của ABC News) và Katie Couric (CBS News) với những câu trả lời rất ngập ngừng, ấm ớ.
Một trường hợp khác bị chống đối dữ dội sau khi lên tiếng ủng hộ Obama đã xảy ra cho ông Christopher Buckley. Ông này là một tay vẽ biếm hoạ và cũng giữ một cột mục trên trang sau tờ National Review, một tạp chí bảo thủ cực hữu do ông bố là William Buckley sáng lập. Cậu con trai Christopher cũng có cổ phần trong hội đồng quản trị của tờ National Review. Thế nhưng sau bài viết ủng hộ Obama vào tháng 10, sự chống đối của độc giả trung thành cũng như những người yểm trợ tờ báo đã khiến cho ban chủ biên phải áp lực ông Buckley rút lui cột mục của mình mặc dù ông vẫn ăn lương, vì có cổ phần chủ nhân của tờ báo.
Trong nhiều lý do để biện minh cho quyết định ủng hộ ông Obama, hầu hết các ban chủ biên đều chỉ trích thậm tệ sự lựa chọn bà Sarah Palin đứng phó và cho đó là một quyết định cẩu thả, hay nông nổi của ông McCain, và từ đó khiến cho mọi người bắt đầu rút hết tất cả những ưu ái hay ủng hộ cho ông trước đó. Lý do chính thứ hai là chiều hướng tiêu cực, chỉ nhằm đánh phá, tấn công đối phương dưới mọi hình thức, kể cả việc chụp mũ nhiều cái nón cối (nói theo lời của nhà báo Hoàng Ngọc Quyên là có lẽ do ông McCain thu lượm được sau ngày bị Việt Cộng giam giữ ở nhà tù Hoả Lò). Từ việc tố cáo ông Obama "bồ tèo" với quân khủng bố, gốc gác hay có khuynh hướng theo đạo Hồi-giáo, cho đến "một Obama dẫn đưa Hoa Kỳ theo con đường xã hội chủ nghĩa", "một tổng thống Obama rất yếu kém" v.v. . .
Đó cũng là lý do khiến cho ông Colin Powell - một trong những nhân vật tên tuổi và có uy tín, cựu Cố vấn An ninh Quốc gia, cựu Tổng Tham mưu Trưởng Quân lực Mỹ, cựu Tổng trưởng Ngoại giao, được nhiều người nể trọng trong phe Cộng Hoà - đã mạnh mẽ lên tiếng ủng hộ ông Obama mặc dù rằng trước đó có nhiều chỉ dấu cho rằng ông sẽ không lên tiếng ủng hộ bên nào. Một trong những điều làm ông Powell bực mình nhất về chiến dịch tấn công chụp mũ của bộ tham mưu ông McCain là những loại tin đồn được phát tán mạnh mẽ khắp nơi qua email rằng ông Obama là người theo Hồi giáo (và hình như cũng được nhiều người Việt ủng hộ McCain thu lượm được và coi đó như là những loại tin nóng hổi, ít người biết được, và hí hửng hay hoảng hốt truyền bá tiếp!). Ông Powell nói thẳng: "Câu trả lời là không, ông ta (Obama) không là người theo đạo Hồi (Muslim), ông ta là người theo Cơ-đốc-giáo (Christian)." Nhưng rồi ông Powell nói tiếp, dường như để nói lên câu trả lời chính xác hơn: "Mà nếu giả sử như chuyện đó có thật thì đã sao? Có cái gì sai trái không khi một người sống ở Mỹ này theo đạo Hồi? Chắc chắn là không, vì đây là Hoa Kỳ. Có cái gì bất ổn không khi một em bé 7 tuổi sinh trưởng ở Mỹ nhưng theo đạo Hồi tin rằng một ngày nào đó em có thể trở thành tổng thống Mỹ? Ấy vậy mà tôi vẫn nghe nhiều vị tên tuổi lão thành trong đảng của mình (đảng Cộng Hoà) cứ gợi ý rằng ’Hắn là người Hồi-giáo và hắn có thể dính líu đến bọn khủng bố’. Chúng ta không thể làm việc hay suy nghĩ như vậy ở nước Mỹ này."
Không phải chỉ có những khuôn mặt theo phe Cộng Hoà nhưng được xếp vào loại ôn hoà như ông Powell đã quay lưng với liên danh cùng đảng McCain-Palin để quay sang ủng hộ cho đối phương Obama-Biden. Sự kiện nhiều nhân vật tên tuổi của đảng Cộng Hoà nhưng đã không ngần ngại lên tiếng ủng hộ ông Obama là một dấu hiệu phản ảnh một sự thay đổi khá quan trọng trong tư duy của đa số hiện nay, nhất là khi so sánh lại, gần như không một tên tuổi nào bên đảng Dân Chủ lại quay sang ủng hộ ông Obama, ngoại trừ trường hợp ngoại lệ của ông Lieberman. Nhiều phần là ông Lieberman sẽ về đầu quân với phe Cộng Hoà trong thời gian tới. Hiện nay trong số các nhân vật Cộng Hoà ủng hộ ông Obama có nhiều thành phần khác nhau, từ phe tân-bảo-thủ như ông Ken Adelman, cựu viên chức cao cấp về ngoại giao và quốc phòng từ thời các TT Ford, Reagan và Bush Bố, cho đến cựu thống đốc Weld tại Connecticut, trong năm nay cũng đã ủng hộ cho ông Mitt Romney, hoặc cho những người hồi đầu năm vẫn còn ủng hộ ông McCain như Charles Fried, giáo sư tại Đại học Luật ở Harvard, một trong những tư tưởng gia bảo thủ có uy tín và đã từng tham chính từ thời TT Reagan.
Như riêng kẻ viết bài này đã nhận định trong bài viết trước đây vào ngày 31-08-2008 với tựa đề "Khi ông McCain đánh ván bài xả láng", sự lựa chọn bà Sarah Palin của ông McCain ngay giữa lúc Đại hội Đảng Dân Chủ đang kết thúc, là một quyết định táo bạo, theo kiểu tố tapis như trong lối đánh xì-phé, "được ăn cả, ngã về không". Một phần sự lựa chọn đột ngột của ông dựa trên quyết định của ông Obama không chọn bà Clinton đứng phó, khiến cho số lượng cử tri thuộc giới phụ nữ da trắng bình dân và trung niên trở lên (thuộc đảng Dân Chủ) chưa chắc sẽ bỏ cho ông Obama. Sự xuất hiện của bà Palin có thể khiến cho số phụ nữ này, có thể sẵn sàng bỏ phiếu cho đảng Cộng Hoà theo cảm tính thay vì theo lý trí. Nhưng cái nguy hiểm của sự lựa chọn bà Palin, cũng đã được nhiều chuyên gia bên đảng Cộng Hoà gióng lên tiếng nói báo động và lo ngại, là ban tham mưu của ông McCain đã không có đầy đủ thời giờ để xem xét và đánh giá thật kỹ lưỡng về nhân vật Palin cũng như những ưu và khuyết điểm, một tiến trình thường gọi là "vetting" kéo dài cả tháng trời, nhưng ông McCain đã bất chấp và chỉ quyết định trong vòng 1 hay 2 ngày. Bởi vì khi sự lựa chọn đã được tung ra, nếu như những việc làm, lời nói và thành tích của bà Palin được đưa ra sau này và có đem lại bất lợi cho ông McCain, thì sự tai hại sẽ nặng nề hơn vì ông không còn phương cách nào để sửa chữa hoặc rút lui. Chẳng khác gì như trường hợp một kẻ đánh bạc đi "tố" đối phương, nhưng lá bài "tẩy" của mình bị lủng thì chỉ có đành ngậm đắng nuốt cay để nhìn mình bị thua cháy túi.
Và cũng mong rằng người Việt chúng ta nên bớt chủ quan để nghĩ rằng tất cả những diễn biến gần đây đều là do sự điều động, giật dây của cái gọi là "làng báo thiên tả" ở Hoa Kỳ này. Giống như lời của nhà báo Đào Nương thường thích nói: the fact speaks for itself. Những thống kê của Editor & Publisher nằm rành rành ra đó. Đố quý vị nào đưa ra những bằng chứng phản bác trước khi lên giọng thầy đời để dạy dỗ.
Minh Thu
Bình Luận Hoa Kỳ
Khi Nền Kinh Tế Hết Thịnh Rồi Đến Suy
Mai Loan
(LÊN MẠNG Thứ bảy 1, Tháng Mười Một 2008)
http://www.vnn-news.com/spip.php?article4896
(VNN)
Ông James Grant là một bình luận gia được nhiều người lắng nghe trên hai lãnh vực tài chính và lịch sử Hoa Kỳ. Ông là một thành viên thường trực trong chương trình hội luận "Wall Street Week" của nhà báo Louis Rukeyser chủ xướng, chuyên bình luận về thị trường tài chính hàng tuần. Ông cũng thường xuất hiện trên nhiều chương trình truyền hình khác như 60 Minutes, Nightly Business Report và Bloomberg TV. Ông là người giữ cột mục "Current Yield" (Mức Lời Hiện Nay) trên tuần báo tài chính Barron’s trong một thời gian dài trước khi chuyển hướng để thực hiện một tờ báo chuyên đề có tên là Grant’s Interest Rate Observer, một bán nguyệt san độc lập, chuyên phân tích về các đề tài thời sự liên quan đến kinh tế và tài chính. Ông cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về tài chính và lịch sử, trong đó có cuốn "The Trouble with Prosperity" (Khó Khăn khi Thịnh Vượng), xuất bản cách đây hơn một thập niên, năm 1996.
Nội dung cuốn sách thu thập những dữ kiện trong lịch sử tài chính giúp cho tác giả đề ra một lý thuyết sơ khai về định mệnh kinh tế, theo đó những diễn biến hưng thịnh hay suy vi dường như đã được sắp đặt sẵn theo tiền định. Nếu như mọi sự đang có vẻ như huy hoàng tráng lệ, thì tức là nó sẽ trên đường đi xuống. Sự thành công bao giờ cũng khiến người ta đâm ra quá tự tin, dẫn đến những lạm dụng hay thái quá khiến cho mầm mống thất bại bắt đầu ló dạng. Ngược lại, nếu như mọi chuyện có vẻ như bi quan, ảm đạm thì đương nhiên chúng sẽ được khá hơn. Những cơn khủng hoảng gây khó khăn cũng là dịp tạo nên những cơ hội mới khiến cho sự phát triển có thể thăng hoa. Dường như những sự thành công vinh quang luôn đi kèm với những thất bại ê chề theo một chu kỳ bất biến, cho dù người ta đã cố gắng tìm cách ảnh hưởng hay thay đổi, nhưng không bao giờ đẩy lui được.
Thật ra thì điều này cũng dễ hiểu đối với đa số người Việt chúng ta. Trong ca dao tục ngữ đã có câu "Mấy ai giàu ba họ, mấy ai khó ba đời". Trong quân trường Bộ Binh ở Thủ Đức ngày xưa, các sinh viên sĩ quan của Việt Nam Cộng Hoà đều thuộc nằm lòng khẩu hiệu "Cư An Tư Nguy" (Trong lúc sống hoà bình thì đã phải lo nghĩ đến nguy cơ chiến tranh). Người dân bình thường có niềm tin theo Phật-giáo thì cũng dễ chấp nhận vì cho đó là định luật vô thường, không có gì vĩnh viễn trên cõi đời này, và trong hạnh phúc vui vầy thì thế nào cũng có mầm mống của đau khổ chia ly.
Theo nhận xét của nhà báo Grant thì những thời kỳ huy hoàng cực thịnh sẽ nảy sinh ra những mầm mống xấu xa vì hám lợi, tham quyền hay cẩu thả; và ngược lại. Trong bối cảnh của những biến động hoảng loạn trên thị trường tài chính gần đây, dẫn đến những hậu quả thê thảm và những lời buộc tội, kết án nặng nề, nhận xét này có lẽ là điều cần thiết để nhắc nhở cho mọi người đừng quên về cái định luật không sai đó. Cho dù nhiều người đã đưa ra những tiên đoán về một cuộc suy thoái khó khăn từ cả năm trước, khởi đi từ vụ khủng hoảng địa ốc tụt giá, nhưng có lẽ không ai ngờ tình trạng hoảng hốt đã lan rộng khắp nơi, khiến cho chính quyền tại nhiều nước phải đồng loạt nhập cuộc và áp dụng những biện pháp táo bạo và tốn kém kinh khủng để giải quyết, như việc chính quyền bỏ ra hàng trăm tỷ Mỹ-kim để bảo kê cho các đại công ty cho vay Fannie Mae và Freddie Mac, rồi đến đạo luật cứu nguy với tốn phí lên đến 700 tỷ, tiếp theo là quyết định của Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ chịu bỏ tiền ra để giúp vốn cho các ngân hàng tư, nhưng dường như thị trường tài chính vẫn chưa ổn định, với những đợt lên xuống giá đi từ cực này sang cực khác. Những điều đó đã đẩy mọi người lao vào những cuộc tranh luận để đổ lỗi hay phân công, cũng như bàn cãi về sự hiệu năng của các giải pháp đề ra, liệu có đủ để bảo vệ cho nền kinh tế hay không?
Người dân Hoa Kỳ thường nổi tiếng với tinh thần thực dụng và ... thiếu kiên nhẫn. Họ chỉ thích có những giải pháp tức thời để giải quyết những khó khăn, nhiều khi không cần màu mè hay lý thuyết trừu tượng, xa xôi. Nhiều người thường gọi đó là một đặc tính "thích mì ăn liền", nhanh chóng, giải quyết tức thời cái nhu cầu cần ăn mà lại tiện lợi, ít tốn kém. Nhưng người dân Mỹ cũng thường thích đòi hỏi tinh thần đạo đức trong sáng, rõ ràng, thích có những tiêu chuẩn để so sánh và hãnh diện. Nhưng thế giới chung quanh thì nhiều khi lại không đơn giản, mù mờ giữa tranh tối tranh sáng. Giống như hình ảnh trước đây của TT Bush thường hay nói về cuộc chiến chống khủng bố: "Hoặc là anh ở phía chúng tôi, hoặc là chống lại chúng tôi", trắng với đen rõ ràng, không có màu xam xám ở giữa. Cuộc tranh luận hiện nay là liệu những giải pháp đưa ra có đầy đủ chưa để chữa trị cơn bệnh khẩn cấp? Thế nhưng, thế nào mới gọi là đủ, và đủ để đạt được điều gì? Nếu như mục đích chỉ để tạo ổn định, tránh một sự suy sụp trầm trọng của thị trường tín dụng, thì câu trả lời có thể tạm gọi là có.
Tuần trước, chính phủ đã ra quyết định bảo đảm cho các món nợ giữa các ngân hàng, đồng thời áp lực lên 9 ngân hàng lớn chịu nhận thêm vốn từ Bộ Ngân Khố, với chi phí lên đến 125 tỷ Mỹ-kim. Đây là những bước có thể giúp cho các nhà băng sẵn sàng làm việc trở lại như bình thường, tức là đi vay người này để cho vay kẻ khác. Cái nỗi lo phải tích tụ vốn hay tiền mặt cho chắc ăn đã giảm thiểu nhiều khiến cho các nhà băng hết còn bị áp lực có thể bị sụp tiệm vì mọi người ồ ạt đòi rút tiền.
Thế nhưng, nếu cái mục đích chính là để ngăn chặn cho tình trạng suy thoái và những cơn biến động khác không xảy ra thì câu trả lời sẽ là không. Nhiều phần là Hoa Kỳ đã rơi vào tình trạng suy thoái, cho dù có hay không những lời xác nhận chính thức. Trong tháng 9 vừa qua, mức bán lẻ đã giảm xuống. Cộng với những hậu quả của thị trường địa ốc vẫn còn tệ hại, nạn thất nghiệp gia tăng, và giá cổ phiếu rơi rụng, tất cả những yếu tố trên đã tác động mạnh mẽ lên niềm tin của người dân, và mức tiêu thụ từ đó chắc chắn sẽ giảm nhiều so với lúc trước. Cho dù Ngân hàng Trung ương có giảm lãi suất nhưng các nhà băng đã siết chặt lại các điều kiện vay nợ, và do đó giới tiêu thụ cũng không còn tiêu xài rộng rãi vì không xin được tiền nợ. Tỉ lệ thất nghiệp, hiện nay đã ở mức khá cao 6,1%, có thể sẽ còn tăng lên nữa đến mức 7,5% trong những ngày tháng tới.
Những khó khăn trên thị trường tài chính không chỉ giới hạn ở các nhà băng tại Hoa Kỳ mà đã lan rộng sang nhiều nơi khác, từ Âu sang Á, hoặc như ở Nam Mỹ. Tại Ba Tây (Brazil), thị trường chứng khoán đã mất giá đến 50% so với thời điểm mấy tháng trước. Các quỹ đầu tư bạo gan như hedge funds cũng bị nhiều áp lực rút tiền, nên tìm cách bán bớt cổ phiếu, khiến cho thị trường càng dễ bị mất giá thêm.
Trong tình cảnh hỗn loạn khắp nơi như vậy, nhiều tiếng nói từ những diễn đàn khác nhau - các giáo sư, các kinh tế gia, các nhà nghiên cứu, các nhà báo và các chính trị gia - sẽ tìm cách phân tích để quy lỗi. Phải chăng đây là do những chính sách thả lỏng kiểm soát (deregulation) mà chính quyền phe Cộng Hoà thường chủ trương? Liệu những đầu óc đầu cơ và hám lợi đã khiến cho nhiều nhà đầu tư đi quá đà và trở nên cẩu thả? Phải chăng ông Alan Greenspan, cựu thống đốc Ngân hàng Trung ương trong một thời gian dài cực thịnh và trước đó được coi như là nhân tài lèo lái vững chắc để giúp cho nền kinh tế tiếp tục phát triển, mới chính là nguyên nhân gây ra tình trạng hỗn loạn hiện nay do bởi chính sách hạ giá phân lời và không kiểm soát thị trường? Hoặc là do lỗi của ông Robert Rubin, cựu tổng trưởng tài chính thời TT Clinton, đã không biết tiên liệu sớm về một tình trạng khủng hoảng có thể xảy tới?
Quả tình những lời buộc tội trên cũng đúng một phần nào. Ông tổng trưởng Rubin, sau ngày rời khỏi chính quyền, được nhà băng lớn nhất Citigroup mời về làm nhân vật chóp bu trong ban giám đốc. Nhưng, giống như những người lãnh đạo các cơ quan tài chính lớn khác, ông cũng không sớm nhận ra ảnh hưởng độc hại của những món nợ thế chấp địa ốc được chứng-khoán-hoá nằm đầy rẫy trong kho của Citigroup. Nếu ông còn ngồi làm việc trong chính quyền ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, liệu ông có để cho tình trạng nguy hiểm như vậy tiếp tục mãi hay không? Gần đây đã có nhiều bài phóng sự đăng trên các tờ báo New York Times và Washington Post cho thấy là chính phủ dưới thời Clinton cũng đã ủng hộ mạnh mẽ chính sách thả lỏng kiểm soát trên thị trường tài chính mà những vị dân cử phe Dân Chủ đang mạnh mẽ kết án.
Trường hợp của ông Greenspan thì có phần rắc rối hơn. Dĩ nhiên, giờ đây hào quang của ông đã bị lu mờ, và uy tín của ông có thể đã bị đổ vỡ nặng nề, hết còn những lời khen về một nhân vật xuất chúng đã góp công cho một thời kỳ phát triển dài lâu. Sự kiện ông thường luôn chống lại giải pháp cần kiểm soát điều lệ chặt chẽ hơn trên thị trường giờ đây đã bị chỉ trích là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến tình trạng khủng hoảng hiện nay. Và cũng khó có ai muốn nhảy ra bênh vực lập luận này của ông. Trong cuộc điều trần tại Hạ Viện vào ngày thứ Năm 23/10, ông đã bị các vị dân biểu "quay" ông tơi bời. Tuy không nhận mình là nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng, ông Greenspan cũng công nhận đây là một bài học sai lầm hiếm có, một "cơn sóng thần chỉ xảy ra một lần trong một thế kỷ" theo như lời ông nói để xác nhận về hậu quả tệ hại ngày nay.
Nhưng lời kết tội về chính sách hạ giá phân lời rất thấp của Ngân hàng Trung ương do ông Bernanke chủ trương có phần hơi vội vã, và cần phải được cứu xét kỹ lưỡng hơn. Dĩ nhiên là việc giảm lãi suất đến mức thật thấp (như chỉ còn 1% vào năm 2003) có hậu quả là bơm vào thị trường số lượng tiền tệ rất cao, đồng thời khiến cho nhiều người dễ sinh ra tinh thần tiêu tiền quá đáng, dễ dẫn đến tình trạng vay nợ bất cẩn, quá khả năng của mình, góp phần vào cơn khủng hoảng nợ subprime sau này. Nhưng tình thế lúc ấy buộc ông Greenspan phải hành động như vậy để chống đỡ lại những hậu quả tệ hại của cơn vỡ bóng đầu tư Internet và vụ khủng bố 9/11 vào cuối năm 2001. Nhờ vậy mà mức tiêu thụ không bị tụt giảm, giúp cho Hoa Kỳ tránh được một tình trạng suy thoái. Đến giữa năm 2004 thì Ngân hàng Trung ương đã bắt đầu tăng lãi suất trở lại. Nhưng điều bất ngờ là phân lời dài hạn (giành cho các món nợ địa ốc) lúc ấy đã không thay đổi theo mà vẫn còn rất thấp vì chịu theo quy luật của thị trường cung cầu. Một số người giải thích rằng nguyên nhân của vụ này là do số tiền đầu tư dồi dào của các nước Á Châu khiến cho dân Mỹ tiếp tục được hưởng các món nợ rẻ tiền.
Nhìn lại những diễn biến vừa qua, người ta cũng dễ nhận ra một bài học đơn giản. Đó là khi mọi chuyện xuông xẻ, mọi người ai cũng thích đứng trong hàng ngũ những người lạc quan, phù thịnh. Những kẻ bi quan hay đa nghi thì bị coi là những kẻ chậm lụt, khờ dại kiểu "trâu chậm uống nước đục". Vì thế cho nên, không một ai, kể cả chính phủ, muốn nhảy ra để nói lên những lời cảnh cáo hay báo động là "hãy coi chừng, cái chuyện kiếm ăn quá dễ dàng như vầy không thể nào kéo dài mãi."
Mọi người cứ thi nhau lạc quan, tin tưởng vào mô hình kiếm lời, từ những người sẵn sàng đi vay nợ mua nhà với bất cứ giá nào vì tin rằng giá nhà sẽ lên nữa, cho tới những tay môi giới và các chủ nhà băng lúc nào cũng hăng say cho mượn để kiếm hoa hồng cũng như tự tin rằng các nhà băng hay giới đầu tư khác sẽ nhanh chóng mua lại các món nợ của mình. Khi thị trường địa ốc bung lên một cách mạnh mẽ từ năm 2000 đến 2006, giá nhà tăng vọt đến 50%. Nếu căn nhà của bạn trước đó trị giá 500,000 Mỹ-kim, giờ đây chỉ sau 6 năm, bạn đã làm chủ được một tài sản lên đến 750,000 Mỹ-kim, bảo sao mà chẳng thích, chẳng mê, chẳng "sướng run người"? Các ngân hàng đầu tư cũng vì hám lợi nên đã xào nấu các món nợ lẫn lộn để gói ra những bọc nợ khác và bán lại trên thị trường. Chính phủ cũng đã dễ dãi cho Fannie Mae và Freddie Mac được tự do làm ăn mà không cần đòi hỏi có vốn liếng thế chấp cao để giảm bớt rủi ro. Đồng thời, Quốc Hội cũng nhập cuộc để mua chuộc cảm tình từ phía nhiều khối cử tri, bằng cách buộc các nhà băng phải tăng số lượng các món nợ địa ốc cho dân nghèo và trung lưu được dễ dàng vay, khiến cho cơn sốt nợ subprime càng dễ có cơ hội tăng mạnh hơn.
Kết quả diễn ra đúng như sự tiên đoán theo lý thuyết của ông James Grant. Mọi người chúng ta đều trải qua những chu kỳ theo tiền định mà trong đó có lúc mình cảm thấy sung sướng như trúng số, có lúc như mê sảng, nhưng rồi lại đến lúc rơi vào tình trạng u buồn, ủ dột và bi quan. Có lẽ cái an ủi duy nhất là từ trong những đổ vỡ hoang tàn của tình trạng hoảng loạn hiện nay sẽ nẩy mầm ra những hạt nhân mới mẻ, tươi tốt và khả quan hơn cho một cuộc hồi sinh trở lại trong tương lai.
Mai Loan
Khi Nền Kinh Tế Hết Thịnh Rồi Đến Suy
Mai Loan
(LÊN MẠNG Thứ bảy 1, Tháng Mười Một 2008)
http://www.vnn-news.com/spip.php?article4896
(VNN)
Ông James Grant là một bình luận gia được nhiều người lắng nghe trên hai lãnh vực tài chính và lịch sử Hoa Kỳ. Ông là một thành viên thường trực trong chương trình hội luận "Wall Street Week" của nhà báo Louis Rukeyser chủ xướng, chuyên bình luận về thị trường tài chính hàng tuần. Ông cũng thường xuất hiện trên nhiều chương trình truyền hình khác như 60 Minutes, Nightly Business Report và Bloomberg TV. Ông là người giữ cột mục "Current Yield" (Mức Lời Hiện Nay) trên tuần báo tài chính Barron’s trong một thời gian dài trước khi chuyển hướng để thực hiện một tờ báo chuyên đề có tên là Grant’s Interest Rate Observer, một bán nguyệt san độc lập, chuyên phân tích về các đề tài thời sự liên quan đến kinh tế và tài chính. Ông cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về tài chính và lịch sử, trong đó có cuốn "The Trouble with Prosperity" (Khó Khăn khi Thịnh Vượng), xuất bản cách đây hơn một thập niên, năm 1996.
Nội dung cuốn sách thu thập những dữ kiện trong lịch sử tài chính giúp cho tác giả đề ra một lý thuyết sơ khai về định mệnh kinh tế, theo đó những diễn biến hưng thịnh hay suy vi dường như đã được sắp đặt sẵn theo tiền định. Nếu như mọi sự đang có vẻ như huy hoàng tráng lệ, thì tức là nó sẽ trên đường đi xuống. Sự thành công bao giờ cũng khiến người ta đâm ra quá tự tin, dẫn đến những lạm dụng hay thái quá khiến cho mầm mống thất bại bắt đầu ló dạng. Ngược lại, nếu như mọi chuyện có vẻ như bi quan, ảm đạm thì đương nhiên chúng sẽ được khá hơn. Những cơn khủng hoảng gây khó khăn cũng là dịp tạo nên những cơ hội mới khiến cho sự phát triển có thể thăng hoa. Dường như những sự thành công vinh quang luôn đi kèm với những thất bại ê chề theo một chu kỳ bất biến, cho dù người ta đã cố gắng tìm cách ảnh hưởng hay thay đổi, nhưng không bao giờ đẩy lui được.
Thật ra thì điều này cũng dễ hiểu đối với đa số người Việt chúng ta. Trong ca dao tục ngữ đã có câu "Mấy ai giàu ba họ, mấy ai khó ba đời". Trong quân trường Bộ Binh ở Thủ Đức ngày xưa, các sinh viên sĩ quan của Việt Nam Cộng Hoà đều thuộc nằm lòng khẩu hiệu "Cư An Tư Nguy" (Trong lúc sống hoà bình thì đã phải lo nghĩ đến nguy cơ chiến tranh). Người dân bình thường có niềm tin theo Phật-giáo thì cũng dễ chấp nhận vì cho đó là định luật vô thường, không có gì vĩnh viễn trên cõi đời này, và trong hạnh phúc vui vầy thì thế nào cũng có mầm mống của đau khổ chia ly.
Theo nhận xét của nhà báo Grant thì những thời kỳ huy hoàng cực thịnh sẽ nảy sinh ra những mầm mống xấu xa vì hám lợi, tham quyền hay cẩu thả; và ngược lại. Trong bối cảnh của những biến động hoảng loạn trên thị trường tài chính gần đây, dẫn đến những hậu quả thê thảm và những lời buộc tội, kết án nặng nề, nhận xét này có lẽ là điều cần thiết để nhắc nhở cho mọi người đừng quên về cái định luật không sai đó. Cho dù nhiều người đã đưa ra những tiên đoán về một cuộc suy thoái khó khăn từ cả năm trước, khởi đi từ vụ khủng hoảng địa ốc tụt giá, nhưng có lẽ không ai ngờ tình trạng hoảng hốt đã lan rộng khắp nơi, khiến cho chính quyền tại nhiều nước phải đồng loạt nhập cuộc và áp dụng những biện pháp táo bạo và tốn kém kinh khủng để giải quyết, như việc chính quyền bỏ ra hàng trăm tỷ Mỹ-kim để bảo kê cho các đại công ty cho vay Fannie Mae và Freddie Mac, rồi đến đạo luật cứu nguy với tốn phí lên đến 700 tỷ, tiếp theo là quyết định của Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ chịu bỏ tiền ra để giúp vốn cho các ngân hàng tư, nhưng dường như thị trường tài chính vẫn chưa ổn định, với những đợt lên xuống giá đi từ cực này sang cực khác. Những điều đó đã đẩy mọi người lao vào những cuộc tranh luận để đổ lỗi hay phân công, cũng như bàn cãi về sự hiệu năng của các giải pháp đề ra, liệu có đủ để bảo vệ cho nền kinh tế hay không?
Người dân Hoa Kỳ thường nổi tiếng với tinh thần thực dụng và ... thiếu kiên nhẫn. Họ chỉ thích có những giải pháp tức thời để giải quyết những khó khăn, nhiều khi không cần màu mè hay lý thuyết trừu tượng, xa xôi. Nhiều người thường gọi đó là một đặc tính "thích mì ăn liền", nhanh chóng, giải quyết tức thời cái nhu cầu cần ăn mà lại tiện lợi, ít tốn kém. Nhưng người dân Mỹ cũng thường thích đòi hỏi tinh thần đạo đức trong sáng, rõ ràng, thích có những tiêu chuẩn để so sánh và hãnh diện. Nhưng thế giới chung quanh thì nhiều khi lại không đơn giản, mù mờ giữa tranh tối tranh sáng. Giống như hình ảnh trước đây của TT Bush thường hay nói về cuộc chiến chống khủng bố: "Hoặc là anh ở phía chúng tôi, hoặc là chống lại chúng tôi", trắng với đen rõ ràng, không có màu xam xám ở giữa. Cuộc tranh luận hiện nay là liệu những giải pháp đưa ra có đầy đủ chưa để chữa trị cơn bệnh khẩn cấp? Thế nhưng, thế nào mới gọi là đủ, và đủ để đạt được điều gì? Nếu như mục đích chỉ để tạo ổn định, tránh một sự suy sụp trầm trọng của thị trường tín dụng, thì câu trả lời có thể tạm gọi là có.
Tuần trước, chính phủ đã ra quyết định bảo đảm cho các món nợ giữa các ngân hàng, đồng thời áp lực lên 9 ngân hàng lớn chịu nhận thêm vốn từ Bộ Ngân Khố, với chi phí lên đến 125 tỷ Mỹ-kim. Đây là những bước có thể giúp cho các nhà băng sẵn sàng làm việc trở lại như bình thường, tức là đi vay người này để cho vay kẻ khác. Cái nỗi lo phải tích tụ vốn hay tiền mặt cho chắc ăn đã giảm thiểu nhiều khiến cho các nhà băng hết còn bị áp lực có thể bị sụp tiệm vì mọi người ồ ạt đòi rút tiền.
Thế nhưng, nếu cái mục đích chính là để ngăn chặn cho tình trạng suy thoái và những cơn biến động khác không xảy ra thì câu trả lời sẽ là không. Nhiều phần là Hoa Kỳ đã rơi vào tình trạng suy thoái, cho dù có hay không những lời xác nhận chính thức. Trong tháng 9 vừa qua, mức bán lẻ đã giảm xuống. Cộng với những hậu quả của thị trường địa ốc vẫn còn tệ hại, nạn thất nghiệp gia tăng, và giá cổ phiếu rơi rụng, tất cả những yếu tố trên đã tác động mạnh mẽ lên niềm tin của người dân, và mức tiêu thụ từ đó chắc chắn sẽ giảm nhiều so với lúc trước. Cho dù Ngân hàng Trung ương có giảm lãi suất nhưng các nhà băng đã siết chặt lại các điều kiện vay nợ, và do đó giới tiêu thụ cũng không còn tiêu xài rộng rãi vì không xin được tiền nợ. Tỉ lệ thất nghiệp, hiện nay đã ở mức khá cao 6,1%, có thể sẽ còn tăng lên nữa đến mức 7,5% trong những ngày tháng tới.
Những khó khăn trên thị trường tài chính không chỉ giới hạn ở các nhà băng tại Hoa Kỳ mà đã lan rộng sang nhiều nơi khác, từ Âu sang Á, hoặc như ở Nam Mỹ. Tại Ba Tây (Brazil), thị trường chứng khoán đã mất giá đến 50% so với thời điểm mấy tháng trước. Các quỹ đầu tư bạo gan như hedge funds cũng bị nhiều áp lực rút tiền, nên tìm cách bán bớt cổ phiếu, khiến cho thị trường càng dễ bị mất giá thêm.
Trong tình cảnh hỗn loạn khắp nơi như vậy, nhiều tiếng nói từ những diễn đàn khác nhau - các giáo sư, các kinh tế gia, các nhà nghiên cứu, các nhà báo và các chính trị gia - sẽ tìm cách phân tích để quy lỗi. Phải chăng đây là do những chính sách thả lỏng kiểm soát (deregulation) mà chính quyền phe Cộng Hoà thường chủ trương? Liệu những đầu óc đầu cơ và hám lợi đã khiến cho nhiều nhà đầu tư đi quá đà và trở nên cẩu thả? Phải chăng ông Alan Greenspan, cựu thống đốc Ngân hàng Trung ương trong một thời gian dài cực thịnh và trước đó được coi như là nhân tài lèo lái vững chắc để giúp cho nền kinh tế tiếp tục phát triển, mới chính là nguyên nhân gây ra tình trạng hỗn loạn hiện nay do bởi chính sách hạ giá phân lời và không kiểm soát thị trường? Hoặc là do lỗi của ông Robert Rubin, cựu tổng trưởng tài chính thời TT Clinton, đã không biết tiên liệu sớm về một tình trạng khủng hoảng có thể xảy tới?
Quả tình những lời buộc tội trên cũng đúng một phần nào. Ông tổng trưởng Rubin, sau ngày rời khỏi chính quyền, được nhà băng lớn nhất Citigroup mời về làm nhân vật chóp bu trong ban giám đốc. Nhưng, giống như những người lãnh đạo các cơ quan tài chính lớn khác, ông cũng không sớm nhận ra ảnh hưởng độc hại của những món nợ thế chấp địa ốc được chứng-khoán-hoá nằm đầy rẫy trong kho của Citigroup. Nếu ông còn ngồi làm việc trong chính quyền ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, liệu ông có để cho tình trạng nguy hiểm như vậy tiếp tục mãi hay không? Gần đây đã có nhiều bài phóng sự đăng trên các tờ báo New York Times và Washington Post cho thấy là chính phủ dưới thời Clinton cũng đã ủng hộ mạnh mẽ chính sách thả lỏng kiểm soát trên thị trường tài chính mà những vị dân cử phe Dân Chủ đang mạnh mẽ kết án.
Trường hợp của ông Greenspan thì có phần rắc rối hơn. Dĩ nhiên, giờ đây hào quang của ông đã bị lu mờ, và uy tín của ông có thể đã bị đổ vỡ nặng nề, hết còn những lời khen về một nhân vật xuất chúng đã góp công cho một thời kỳ phát triển dài lâu. Sự kiện ông thường luôn chống lại giải pháp cần kiểm soát điều lệ chặt chẽ hơn trên thị trường giờ đây đã bị chỉ trích là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến tình trạng khủng hoảng hiện nay. Và cũng khó có ai muốn nhảy ra bênh vực lập luận này của ông. Trong cuộc điều trần tại Hạ Viện vào ngày thứ Năm 23/10, ông đã bị các vị dân biểu "quay" ông tơi bời. Tuy không nhận mình là nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng, ông Greenspan cũng công nhận đây là một bài học sai lầm hiếm có, một "cơn sóng thần chỉ xảy ra một lần trong một thế kỷ" theo như lời ông nói để xác nhận về hậu quả tệ hại ngày nay.
Nhưng lời kết tội về chính sách hạ giá phân lời rất thấp của Ngân hàng Trung ương do ông Bernanke chủ trương có phần hơi vội vã, và cần phải được cứu xét kỹ lưỡng hơn. Dĩ nhiên là việc giảm lãi suất đến mức thật thấp (như chỉ còn 1% vào năm 2003) có hậu quả là bơm vào thị trường số lượng tiền tệ rất cao, đồng thời khiến cho nhiều người dễ sinh ra tinh thần tiêu tiền quá đáng, dễ dẫn đến tình trạng vay nợ bất cẩn, quá khả năng của mình, góp phần vào cơn khủng hoảng nợ subprime sau này. Nhưng tình thế lúc ấy buộc ông Greenspan phải hành động như vậy để chống đỡ lại những hậu quả tệ hại của cơn vỡ bóng đầu tư Internet và vụ khủng bố 9/11 vào cuối năm 2001. Nhờ vậy mà mức tiêu thụ không bị tụt giảm, giúp cho Hoa Kỳ tránh được một tình trạng suy thoái. Đến giữa năm 2004 thì Ngân hàng Trung ương đã bắt đầu tăng lãi suất trở lại. Nhưng điều bất ngờ là phân lời dài hạn (giành cho các món nợ địa ốc) lúc ấy đã không thay đổi theo mà vẫn còn rất thấp vì chịu theo quy luật của thị trường cung cầu. Một số người giải thích rằng nguyên nhân của vụ này là do số tiền đầu tư dồi dào của các nước Á Châu khiến cho dân Mỹ tiếp tục được hưởng các món nợ rẻ tiền.
Nhìn lại những diễn biến vừa qua, người ta cũng dễ nhận ra một bài học đơn giản. Đó là khi mọi chuyện xuông xẻ, mọi người ai cũng thích đứng trong hàng ngũ những người lạc quan, phù thịnh. Những kẻ bi quan hay đa nghi thì bị coi là những kẻ chậm lụt, khờ dại kiểu "trâu chậm uống nước đục". Vì thế cho nên, không một ai, kể cả chính phủ, muốn nhảy ra để nói lên những lời cảnh cáo hay báo động là "hãy coi chừng, cái chuyện kiếm ăn quá dễ dàng như vầy không thể nào kéo dài mãi."
Mọi người cứ thi nhau lạc quan, tin tưởng vào mô hình kiếm lời, từ những người sẵn sàng đi vay nợ mua nhà với bất cứ giá nào vì tin rằng giá nhà sẽ lên nữa, cho tới những tay môi giới và các chủ nhà băng lúc nào cũng hăng say cho mượn để kiếm hoa hồng cũng như tự tin rằng các nhà băng hay giới đầu tư khác sẽ nhanh chóng mua lại các món nợ của mình. Khi thị trường địa ốc bung lên một cách mạnh mẽ từ năm 2000 đến 2006, giá nhà tăng vọt đến 50%. Nếu căn nhà của bạn trước đó trị giá 500,000 Mỹ-kim, giờ đây chỉ sau 6 năm, bạn đã làm chủ được một tài sản lên đến 750,000 Mỹ-kim, bảo sao mà chẳng thích, chẳng mê, chẳng "sướng run người"? Các ngân hàng đầu tư cũng vì hám lợi nên đã xào nấu các món nợ lẫn lộn để gói ra những bọc nợ khác và bán lại trên thị trường. Chính phủ cũng đã dễ dãi cho Fannie Mae và Freddie Mac được tự do làm ăn mà không cần đòi hỏi có vốn liếng thế chấp cao để giảm bớt rủi ro. Đồng thời, Quốc Hội cũng nhập cuộc để mua chuộc cảm tình từ phía nhiều khối cử tri, bằng cách buộc các nhà băng phải tăng số lượng các món nợ địa ốc cho dân nghèo và trung lưu được dễ dàng vay, khiến cho cơn sốt nợ subprime càng dễ có cơ hội tăng mạnh hơn.
Kết quả diễn ra đúng như sự tiên đoán theo lý thuyết của ông James Grant. Mọi người chúng ta đều trải qua những chu kỳ theo tiền định mà trong đó có lúc mình cảm thấy sung sướng như trúng số, có lúc như mê sảng, nhưng rồi lại đến lúc rơi vào tình trạng u buồn, ủ dột và bi quan. Có lẽ cái an ủi duy nhất là từ trong những đổ vỡ hoang tàn của tình trạng hoảng loạn hiện nay sẽ nẩy mầm ra những hạt nhân mới mẻ, tươi tốt và khả quan hơn cho một cuộc hồi sinh trở lại trong tương lai.
Mai Loan
TIỀN CỦA CHÚNG TA MẤT ĐI ĐÂU ?
Tiền của chúng ta mất đi đâu?
Where have our monies gone?
Thuỷ-Triều
Thứ Bảy, ngày 1 tháng 11 năm 2008
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp?goto=VietNam/2008/20081101_01.htm
This article is mostly credited to Eric Carvin, Associated Press Writer, for his notion of "that was never really money".
Bài viết này được gợi ý bởi khái niệm về "Một-Số-Tiền-Ảo" của ký giả Eric Carvin.
Tổng số tiền mà ngân hàng đầu tư Lehman Brothers đã nợ là khoảng 613 tỉ mỹ kim khi Lehman Brothers khai phá sản. Một thí dụ điển hình là một thân chủ tiêu biểu trong rất nhiều thân chủ ở trên toàn nước Mỹ, ở những nước khác thì không rõ, đã ký gởi tiền đầu tư cho Lehman Brothers quản lý đầu tư là Hạt San Mateo và các thành phố thuộc Hạt San Mateo ở miền Bắc California, bao gồm các quỹ tiết kiệm của công chức ở các cơ quan hành chánh thuộc các thành phố, các khu học chánh, và các trường đại học cộng đồng thuộc Hạt San Mateo, v.v... Họ đã mất tiêu số tiền 150 triệu mỹ kim bởi vì ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản.
Tất cả số tiền của chúng ta đã mất sạch, nhưng số tiền đó đã mất đi đâu?
Hàng tỉ tỉ mỹ kim trị giá chứng khoán-đã mất sạch. Hàng tỉ tỉ mỹ kim trong các quỹ hưu trí, quỹ tiết kiệm-đã mất sạch. Một số lượng tiền rất lớn gồm có tiền mua nhà trả góp hàng tháng, tiền thế chấp nhà đất, tiền để dành cho con đi học đại học, và tiền trong các quỹ tiền lương của các công ty kinh doanh, xí nghiệp sản xuất-đều đã mất sạch.
Khi các thị trường chứng khoán ở các nơi đã liên tiếp tuột dốc và giá trị nhà đất vẫn bị giảm giá nhiều hơn nữa, điều này có nghĩa là chúng ta đã mất một số tiền quá lớn trong một thời gian không đầy một năm.
Ai đã thu tóm hết tất cả số tiền của chúng ta?
Những người tư bản tham lam ở Wall Street?
Những người cộng sản tham lam ở Hoa Lục, bởi vì hiện nay họ đang giữ trong tay của họ hơn 3 ngàn tỉ mỹ kim tiền mặt, chính thức cũng như bán chính thức, nhưng không rõ đó là tiền thật hay tiền giả? Ngay cả Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ cũng không có sẵn trong tay tới 1 ngàn tỉ mỹ kim. Số tiền lớn lao đó còn phải chờ in ra.
Hay những ông vua dầu lửa tham lam ở Á Rập trong thời gian vừa qua đã cho tăng giá dầu thô lên hơn 100 phần trăm?
Nếu chúng ta dò tìm dấu vết số tiền đã mất để nhận diện ra được những người nào đã gom hết số tiền đó, chúng ta sẽ yêu cầu họ hoàn trả số tiền đó lại cho chúng ta.
Tuy nhiên, theo nhận định của Eric Carvin, một ký giả lão luyện của hãng thông tấn Associated Press chuyên viết về các vấn đề kinh tế tài chánh trên thế giới, thì chúng ta thật là thất vọng bởi vì kết quả chúng ta biết được là số tiền đã mất dấu vết kia ngay từ lúc đầu đã là Một-Số-Tiền-Ảo (that was never really money).
Nếu nói một cách toạt móng heo như ông Giáo sư Robert Shiller dạy kinh tế học tại trường đại học Yale thì ông ta đã nhận định thẳng thừng về số tiền ở thị trường chứng khoán như sau: Cái khái niệm rằng quí vị đã mất đi một khối tiền lớn bất cứ khi nào thị trường chứng khoán tiêu thụ nó là một lối "nguỵ biện". Giáo sư Shiller nói rằng "cái giá trị của một chứng khoán đã không bao giờ giống như tiền mặt, nó chỉ đơn giản là một phỏng đoán hay nhất-best guess về một cái gì có giá trị của chứng khoán. Nó chỉ hiện hữu ở trong đầu óc của người ta. Chúng ta chỉ ghi nhận lại một sự đo lường của một cái gì đó mà người ta nghĩ rằng cái thị trường chứng khoán có giá trị. Một cái gì đó mà người ta sẵn lòng mua bán trao đổi trong ngày hôm nay; những người, mà thực ra là rất rất ít người, thực sự mua bán chứng khoán. Vì vậy, chúng ta chỉ việc suy đoán ra và nghĩ rằng: ối chà! có thể đó là những cái gì mà mọi người đều cho rằng nó có giá trị".
Giáo sư Shiller dùng một thí dụ của một giám định viên địa ốc lúc hiện tại đang định giá trị của một căn nhà là 350 ngàn mỹ kim; chỉ cách một tuần lễ sau khi ông ta đã xác định căn nhà đó trị giá 400 ngàn mỹ kim. Trong một ý nghĩa nhất định, 50 ngàn mỹ kim đã biến mất khi ông ta nói như vậy. Nhưng tất cả những điều đó chỉ có ở trong đầu óc của chúng ta mà thôi.
Dĩ nhiên là số tiền của chúng ta đã mất là Một-Số-Tiền-Thật mà chúng ta đã ký gởi đầu tư ngay từ lúc đầu. Nhưng có một giá trị nào đó đang biến mất trong khi các giá trị địa ốc và giá trị chứng khoán bị thay đổi rối rắm. Cho dù là khi cái giá trị cổ phiếu của chúng ta không phải là một nùi giấy hoá đơn ở trong cái ví của chúng ta, cho dù là cái giá trị căn nhà của chúng ta không phải là một cái gì đó để chúng ta có thể tự ý trừ ngang trả hết nợ, một cách chắc chắn là chúng ta phải chịu mất đi một số tiền-đó là một số tiền mà nó sẽ thuộc về chúng ta nếu chúng ta bán căn nhà hoặc là chúng ta rút hết ngân khoản của chúng ta ở quỹ tương trợ ngay bây giờ.
Và nếu chúng ta chỉ còn vài tháng nữa là nghỉ hưu trí, hoặc hi vọng bán được căn nhà lớn hiện tại và mua lại một căn nhà nhỏ hơn để có dư tiền trả học phí đại học cho đứa con của chúng ta, số tiền tiềm tàng (potential money) này là một cái gì đó chưa có thật nhưng nó để cho chúng ta dựa vào nó mà dự định làm những việc khác. Đối với những người cần tiền mặt và cần nó ngay bây giờ, thì đây là Một-Số-Tiền-Thật có thật, Hiện-Kim có trong tay, dù đúng hay không đúng, Nó-Là-Hiện-Kim, Một-Số-Tiền-Thật giải nghĩa được cái định nghĩa kỹ thuật của một thuật ngữ trong các lãnh vực kinh tế, tài chánh, thương mại, ngân hàng, đầu tư, và nhất là trong lãnh vực tín dụng mà chúng ta hiện nay đang bị khủng hoảng rất trầm trọng.
Nếu không phân biệt được rõ ràng sự khác nhau giữa một số tiền tiềm tàng (potential money) và một số tiền thật (real money, cash) thì chúng ta sẽ bị lâm vào cảnh rắc rối ngay. Chúng ta đã hiểu lầm rằng một số tiền tiềm tàng là một số tiền thật, như tiền mặt hiện đang có trong túi của chúng ta, hoặc như là số tiền thật có trong một tài khoản tiền gởi ngân hàng của chúng ta. Đây cũng là một hiểu lầm rất tai hại đã đang hình thành một cơn sóng thần tài chánh với một cường độ khủng khiếp mà nó sẽ cuốn trôi đi mất các định chế tài chánh tư nhân thẻ tín dụng chi tiêu ở khắp nơi.
Giáo sư kinh tế học Dale Jorgenson tại trường đại học Yale đã nhận định rằng sự nhầm lẫn một số tiền tiềm tàng là một số tiền thật là một lỗi lầm rất lớn. Giáo sư Jorgenson giải thích ở đây có một sự phân biệt quan trọng mà chúng ta đã không quan tâm: Trong khi số tiền thật hiện có ở trong túi của chúng ta thì nó không dễ dàng gì mà biến mất vào trong không khí, một số tiền thật mà chúng ta đã có thể có được, nếu chúng ta chỉ việc bán căn nhà của chúng ta rồi sau đó đổ dồn hết tiền vào những đầu tư chứng khoán của các quỹ tương trợ cách nay một năm. Chúng ta không thể hưởng được một phúc lợi nào từ quỹ tiết kiệm hưu trí 401(k) của chúng ta nếu cái quỹ này bị thất bại và không còn tồn tại nữa. Nếu chúng ta đổ dồn hết tiền của chúng ta vào các chứng khoán tài chánh và tất cả các chứng khoán này đã tuột giá 80 phần trăm. Thật đáng tiếc bởi vì đây là một thua lỗ vĩnh viễn khi cái giá trị 80 phần trăm đã mất kia sẽ không phục hồi được. Giáo sư Jorgenson còn nói thêm rằng chúng ta sẽ phải chịu đựng một sự giảm sút rất nhiều trong khu vực tài chánh hầu như ở mọi nơi trên thế giới.
Đã từng có một thời gian trong quá khứ không một người nào phải thắc mắc về những gì đã xảy ra cho một số tiền mà họ đã có được. Cho tới thế kỷ thứ chín khi một số tiền bằng giấy được phát minh và lưu hành ở trong nước Trung Hoa thì Tiền đã là một cái gì đó có tính chất cụ thể và có một giá trị với một mức độ nhất định. Thí dụ như là một đồng tiền vàng mà nó có một giá trị bằng với một mức độ cân lượng vàng được chứa trong đồng tiền theo như lời thuyết minh của ông Douglas Mudd, viên quản lý viện bảo tàng kim ngân American Numismatic Association's Money Museum ở thành phố Denver thuộc tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ.
Trong quá khứ nếu một số tiền mà chúng ta đã có được, rồi đột ngột nó bị biến mất, thì chỉ có một lý do giản dị là chúng ta đã tiêu xài nó, một người nào đó đã ăn cắp nó, hoặc là chúng ta đã làm rớt nó ở một chỗ nào ngoài đường phố, hoặc là có thể một cơn trốt xoáy hay một thiên tai đã xảy ra ở đúng cái nơi mà chúng ta đã để cất số tiền kia.
Tuy nhiên, trong hiện tại có những tiến bộ vượt bậc của xã hội hiện đại với những kỹ thuật siêu điện toán thần kỳ, chúng ta đang có được rất nhiều thứ được tính ra Trị-Giá-Bằng-Tiền nhưng chúng ta lại không-thể-nắm-giữ-Cái-Giá-Trị-Bằng-Tiền đó ở trong tay của chúng ta.
Nếu chúng ta đã chọn lựa công việc đầu tư chứng khoán thì chúng ta đã có thể đổ dồn phần lớn số tiền của chúng ta vào việc mua các cổ phiếu hay các trái phiếu của các công ty tư nhân và của các chính phủ, rồi sau đó phải theo dõi cái giá trị của từng cổ phiếu hay của từng trái phiếu diễn biến thay đổi từng ngày trên cái màn ảnh của máy điện toán. Chúng ta đã có tin tưởng rằng chúng ta đã kiếm được nhiều tiền khi chúng ta quyết định bán ra các cổ phiếu này với những giá cao hơn lúc ban đầu. Đã có hàng triệu triệu người ở khắp nơi mỗi ngày dán-cái-mặt-trừng-con-mắt của họ vào các màn ảnh của các máy điện toán để theo dõi rất nhiều con số chuyển động thay đổi, họ là những cá nhân đầu tư chứng khoán và họ cùng chia sẻ với chúng ta một niềm tin tưởng rằng cái giá trị bằng tiền của các danh sách vốn đầu tư (portfolios) của họ sẽ luôn luôn tăng trưởng lớn hơn nữa.
Theo Giáo sư Jorgenson đã nhận định thì cái niềm tin tưởng có tính cách tập thể kia đã tan như mây khói. Cái hệ quả thê thảm không thể tránh được khi niềm tin tưởng của những người đầu tư vào một hệ thống tài chánh đã bị rút cạn là họ sẽ bán đổ bán tháo các cổ phiếu của họ với bất cứ giá nào, và một khối lượng tiền khổng lồ mà chúng ta đã nghĩ rằng do công việc đầu tư của chúng ta tạo ra cái giá trị bằng tiền đó đã biến mất một cách nhanh chóng và giản dị. Họ bán đổ bán tháo các cổ phiếu của họ với bất cứ giá nào để thu về một số tiền mặt-một số tiền thật.
Nếu chúng ta đã có một lần tin tưởng rằng cái danh sách vốn đầu tư (portfolio) của chúng ta đã giống như một cái cặp da đựng đầy những tờ giấy bạc 100 mỹ kim, thì giờ đây một cách đột ngột chúng ta đâm ra nghi ngờ rằng nó không phải như vậy.
Dĩ nhiên trong hiện tình diễn biến tài chánh hiện nay chúng ta đang mất dần tài sản của chúng ta. Điều này có nghĩa là phải có một người nào đang thu tóm số tiền đó? Có phải thế giới này có một số tài sản nhất định mà nó luân chuyển giữa một số người, giữa một số quốc gia, và giữa một số định chế tài chánh công quản cũng như tư nhân với những lúc lên cao xuống thấp của một dòng kinh tế luân lưu liên tục?
Giáo sư Jorgenson đã nói rằng không phải như vậy. Một số tài sản trên thế giới "chỉ giảm bớt một cách đơn giản trong một tình hình như hiện nay". Giáo sư Jorgenson còn lưu ý chúng ta là đừng cho rằng những đầu tư thua lỗ của chúng ta có nghĩa là những thu lợi của một người nào khác, cũng giống như những người đầu cơ chứng khoán giàu có họ cố sức làm ra nhiều tiền bằng cách đánh cuộc rằng thị trường chứng khoán sẽ rớt xuống chạm đáy. Những người đầu cơ chứng khoán giàu có này đang chịu bị tuột mất những chiếc áo sơ mi của họ ở một mức độ phi thường. Họ đã sẵn sàng chấp nhận một rủi ro tổn thất rất lớn và bây giờ họ đang chịu đựng những hậu quả của nó.
Qua những buổi chất vấn của Uỷ Ban Điều Tra ở Quốc Hội Mỹ, chúng ta được biết những công ty tài chánh tín dụng đã công bố những báo cáo tín dụng màu hồng đã được thổi phồng các con số có tính chất gian lận. Những công ty tài chánh tín dụng này đã trả những món tiền lớn cho các cơ quan thẩm định tín dụng không chỉ riêng cho lệ phí thẩm định mà còn gồm cả lệ phí tham vấn cho các công ty tài chánh tín dụng này biết cách thức thế nào để tạo cơ cấu liên kết nhằm đạt được tối đa những đánh giá cao nhất. Tính cách gian lận độc đáo này có thể là một trong những nguyên nhân chính đã gây ra cơn khủng hoảng kinh tế tài chánh và tín dụng ở nước Mỹ cũng như ở các nước phát triển khác và ở các nước đang phát triển trên thế giới.
Các cơ quan thẩm định tín dụng đã không làm tròn chức năng của họ. Họ đã phản bội lại lòng tin của hàng triệu triệu người đầu tư cá nhân; những người đầu tư này trông cậy vào sự độc lập và những đánh giá tín dụng khách quan của họ. Kết quả của sự phản bội là toàn bộ hệ thống tài chánh tư nhân vụ lợi của chúng ta giờ đây có nguy cơ sụp đổ. Ở đây chúng ta cần phải phân biệt cho rõ là cái hệ thống tài chánh tư nhân vụ lợi rất khác với cái hệ thống tài chánh công quản mà tiêu biểu là Bộ Tài Chánh và Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ.
Vì vậy chúng ta đã nhận thấy rõ là một khi người trọng tài nhận được tiền thù lao rất trọng hậu từ tay những người chơi, thì sẽ không có ai phải ngạc nhiên khi trò chơi đó vuột ra khỏi sự kiểm soát của luật lệ. Những nhà làm luật của Mỹ đã kết tội các cơ quan thẩm định tín dụng về sự thất bại của họ trong cách thức họ đánh giá các chứng khoán địa ốc và các chứng khoán đầu tư khác.
Khi lạm bàn về cái chủ đề của cơn khủng hoảng tài chánh hiện tại, chúng ta nhận ra nó không phải là lòng tham lam quá độ, bởi vì lòng tham lam là cái bản chất của con người tư bản, nếu không tham lam thì không phải con người tư bản. Cái chủ đề của cơn khủng hoảng tài chánh hiện nay là sự minh bạch. Chính vì thiếu sự minh bạch nên công việc đầu tư chứng khoán địa ốc rối rắm, tín dụng địa ốc phức tạp. Tính cách phức tạp trở nên càng phức tạp nhiều hơn vì lòng tham lam quá độ đã thổi phồng thị trường địa ốc của nước Mỹ một cách quá đáng. Nếu có sự minh bạch thì sự minh bạch đã ngăn chặn được lòng tham lam quá độ rồi.
Chúng ta còn nhận thấy khi cho phép các định chế tài chánh tư nhân hoá hoàn toàn, vụ lợi tối đa, toàn quyền loại bỏ các quy định an toàn tài chánh cổ điển để tự áp dụng các kỹ thuật cải tiến, thì những công cụ và thủ pháp tài chánh rất phức tạp, kỳ lạ và hết sức kích thích lòng tham lam của con người đã được sắp đặt làm ra phức tạp hơn ở tại các ngân hàng đầu tư cho đến nỗi cả người bán lẫn người mua chứng khoán địa ốc không thể biết được giá trị đích thực của nó.
Sau khi nghe những người trong các ban giám đốc của các ngân hàng đầu tư Lehman Brothers, Bear Stearns, AIG, và các tập đoàn tài chánh khác trả lời trước một Ủy Ban Điều Tra của Quốc Hội Mỹ, chúng ta cũng đã nhận thấy rõ ràng là họ đã nắm giữ những công cụ tài chánh mà giá trị của chúng ít hơn cái giá trị mà họ đã tin tưởng. Tuy nhiên, không ai biết cái giá trị đích thực của chúng là bao nhiêu!Ông Michael Bloomberg, Thị Trưởng thành phố Nữu Ước, đã có một nhận định khiến cho tất cả chúng ta phải giật mình. Ông ta nói "Cái vấn đề là không một người nào biết được bất cứ một định chế tài chánh nào sở hữu cái gì, và những cái chứng khoán mà họ sở hữu có những điều kiện là gì, và những cái chứng khoán đó có giá trị là bao nhiêu."
Ông Thị Trưởng Bloomberg đang nói về những sản phẩm tài chánh mà một số người khác làm việc tại Wall Street đã vài lần từng nói tới là "Không một người nào có thể biết được những sản phẩm tài chánh này, những chứng khoán địa ốc, và có lẽ những loại chứng khoán khác nữa, có giá trị đích thực là bao nhiêu." Quả thật, không một người nào có thể biết được cái giá trị thật của một sản phẩm địa ốc khi đã bị thổi phồng quá đáng, mà hiện nay đang trên đà rớt giá xuống còn chưa chạm tới đáy.
Ông Alan Greenspan, Cựu Chủ Tịch Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ, đã trả lời trước Uỷ Ban Giám Sát và Cải Tiến Chính Phủ của Hạ Nghị Viện Mỹ rằng "Chúng ta đang ở giữa một cơn sóng thần tín dụng trăm năm mới xảy ra một lần-We are in the midst of a once-in-a-century credit tsunami." Ông Greenspan đã xác định rằng cái cao trào của các món tiền vay mua nhà đã đang gây ra hậu quả không tốt kia được thúc đẩy bởi nhu cầu của những nhà đầu tư trên thế giới, nhất là ở Hoa Lục, muốn mua chứng khoán địa ốc của nước Mỹ. Trong khi các cơ quan thẩm định tín dụng đã không đánh giá đúng mức những điều rủi ro gây tổn thất trong một thị trường địa ốc đã bị thổi phồng, những nhà đầu tư này lại tự thuyết phục chính mình rằng các chứng khoán địa ốc của nước Mỹ thì chắc chắn an toàn. Để đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu của những nhà đầu tư chứng khoán địa ốc, các ngân hàng cho vay tiền mua nhà đã gia tăng số lượng người được vay tiền với các điều kiện quá dễ dãi mà không quan tâm gì tới sự an toàn của các món tiền cho vay.
Ông Greenspan đã đảm trách chức vụ Chủ Tịch Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ trong một thời gian dài từ năm 1987 đến năm 2006, nay xác nhận rằng ông ta đã nhầm lẫn trong việc quá tự tin rằng những định chế tài chánh tư nhân vụ lợi như các ngân hàng đầu tư và các định chế cho vay tiền các loại là họ đã có khả năng tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của đa số các cổ đông của chính họ.
Ông Greenspan đã tỏ ra vẫn còn rất sửng sốt, ông vẫn không thể tin được khi các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi khổng lồ kỳ cựu của nước Mỹ đã sụp đổ. Có lẽ ông Greenspan đã tạm thời quên lững cái bản chất bẩm sinh của người tư bản là tham lam. Chính vì lòng tham lam quá độ mà họ đã thổi phồng cái quả bong bóng tín dụng địa ốc, và có thể một quả bong bóng khác là thẻ tín dụng chi tiêu cũng được thổi căng lên lớn nhất theo diễn-biến-làm- giàu-nhanh-rút-lui-sớm trong lịch sử trăm năm mới có một lần của nước Mỹ.
Chúng ta còn nhận thấy rõ ràng là trong khi các ngân hàng đầu tư phá sản, các tập đoàn tài chánh tín dụng địa ốc lụn bại, thì những người trong ban giám đốc của chúng lại thành công trong việc rút ra một số tiền mặt rất lớn và sẵn sàng về nhà nghỉ hưu trí. Họ đã phụ lòng tin tưởng của ông Greenspan khi họ vì tư lợi của chính họ mà không bảo vệ được quyền lợi của đa số các cổ đông. Họ đã phá hoại cái chủ thuyết kinh tế tài chánh mà ông Greenspan đã hơn 40 năm làm việc chuyên môn rất nhiệt tình, năng động cổ võ cho công cuộc tư nhân hoá hoàn toàn các định chế tài chánh vụ lợi tối đa, áp dụng các sáng kiến canh tân nền kinh tế tài chánh, các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi có toàn quyền loại bỏ các quy định an toàn tài chánh cổ điển gò bó nếu thấy cần thiết để thu lợi nhuận tối đa...trong khuôn khổ của luật pháp. Một nền luật pháp của nước Mỹ luôn luôn bảo vệ các hoạt động của thị trường tự do và mậu dịch tự do với các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi hoàn toàn tự do.
Trong lúc làm Chủ Tịch Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ ông Greenspan đã chống lại việc áp dụng các quy định tài chánh cổ điển gò bó để cho phép các món tiền vay thế chấp nhà đất được gom chung lại thành những chứng khoán địa ốc và được dễ dàng bán lại cho những nhà đầu tư. Tuy nhiên, thời gian tiếp theo đó những chứng khoán địa ốc này đã trở nên nặng nề làm nghiêng lệch những bản cân đối của các ngân hàng đầu tư và các định chế cho vay một khi các món nợ thế chấp không thể trả tiền lại đúng định kỳ.
Cái vấn đề không phải là các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi đã loại bỏ các quy định an toàn tài chánh cổ điển mà họ thiếu những quy định mới cập nhật thích hợp với các cải tiến kỹ thuật siêu điện toán và các thủ pháp tài chánh hiện đại. Cơn sóng thần tín dụng đã đang nổi lên trong các vấn đề chuyển khoản mua bán chứng khoán các loại ở Wall Street không phải do việc loại bỏ các quy định cổ điển mà xảy ra. Cơn sóng thần tín dụng đã đang và sẽ còn tiếp tục nổi lên chỉ vì tất cả các giới chức có trách nhiệm chấp hành các quy định an toàn tài chánh để ngăn chặn kịp thời những rủi ro tổn thất đã quá thụ động, họ chỉ trố mắt đứng nhìn các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi ở Wall Street sáng tạo ra rồi phát triển mạnh các sản phẩm tài chánh phức tạp càng ngày càng phức tạp thêm và không thể dự đoán được các sản phẩm tài chánh này sẽ như thế nào. Một cách quá rõ ràng là chúng đã đang trở thành những con quái vật nuốt chững các món tiền tiết kiệm, các món tiền đầu tư của chúng ta, những người đầu tư cá nhân bình thường quá nhỏ nhoi nếu so sánh với các nhà đại tư bản?
Vào năm 2005 chính ông Greenspan đã có lên tiếng cảnh báo cho chúng ta về hiện tượng những con quái vật tài chánh Wall Street đã đang dần dần tuột ra khỏi tầm kiểm soát của mọi người có trách nhiệm, nhưng không có ai để ý lắng nghe ông ta, và cái guồng máy Wall Street cứ tiếp tục chạy vì nó bị bắt buộc phải chạy trong cái ảo tưởng giàu có của rất nhiều người, trong số đó có mặt của chúng ta, những người đã từng vui mừng khi thấy giá cổ phiếu đầu tư chứng khoán của chúng ta tăng cao mà không bao giờ ngờ được đó là một giá trị ảo, một số tiền ảo như ký giả Eric Carvin đã nhận định.
Bây giờ chúng ta được nghe chính ông Greenspan xác nhận rằng thế giới quan và hệ tư tưởng về kinh tế tài chánh của ông trong 40 năm qua đã không đúng, đã trở thành hão huyền. Ông Greenspan đã thực sự giật mình sửng sốt bởi vì ông ta không thể ngờ được các thủ pháp kỹ thuật siêu điện toán thần kỳ của thế giới ảo đã chắc chắn biến đổi thế giới quan và hệ tư tưởng của ông trở thành hão huyền. Với thái độ rất thành thật của một người trí thức đã từng là cột trụ của hệ tư tưởng thị trường tự do, mậu dịch tự do, tư nhân hoá hoàn toàn và canh tân các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi, ông Greenspan xác nhận rằng cá nhân ông đã thất bại, ông đã sai lầm khi tin tưởng rằng lòng tham lam của con người tư bản cũng ... có giới hạn như một đời người của mỗi chúng ta.
Không chỉ riêng ông Greenspan, còn những người ở trên cái đỉnh cao của chiếc thang quyền lực tài chánh Wall Street cũng thực sự không hiểu được những người thuộc quyền của mình, những người rất tài giỏi về điện toán, ở dưới chân chiếc thang này đã đang làm gì. Họ chỉ biết có một điều duy nhất là mọi chuyện đều đã tốt đẹp, cái guồng máy Wall Street vẫn chạy trơn tru bởi sự chăm nom tỉ mỉ cẩn thận của các chuyên viên điện toán siêu đẳng và họ đã đang làm ra rất nhiều tiền. Một cách chắc chắn đó là số tiền thật cho chính họ bởi vì họ cho rằng họ rất xứng đáng được hưởng như vậy.
Khi cái chỉ số chứng khoán tăng lên đỉnh điểm thì họ làm giàu với một số tiền thật. Khi cái chỉ số chứng khoán giảm xuống tận đáy thì chúng ta sạch túi vì một số tiền ảo. Đây rõ ràng là một lối nguỵ biện trân tráo cho lòng tham lam quá độ của họ và sự ngu ngốc hết sức của chúng ta một khi chúng ta đã tin tưởng vào các giao dịch về tài chánh thiếu tính minh bạch.
Bởi vì số tiền của chúng ta đã mất là có thật, một số tiền thật, nó được để dành ra từ tiền lương, từ những nguồn lợi tức chính đáng của chúng ta, nên tất cả chúng ta rất cần những luật lệ tài chánh cập nhật thích hợp với kỹ thuật siêu điện toán hiện đại và sự minh bạch trong các giao dịch kinh tài của các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi để phân biệt được thế giới ảo của siêu điện toán với số tiền ảo và thế giới thật với số tiền thật của đa số người bình dân ở khắp nơi như chúng ta./.
Thuỷ-Triều 31/10/2008
Where have our monies gone?
Thuỷ-Triều
Thứ Bảy, ngày 1 tháng 11 năm 2008
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp?goto=VietNam/2008/20081101_01.htm
This article is mostly credited to Eric Carvin, Associated Press Writer, for his notion of "that was never really money".
Bài viết này được gợi ý bởi khái niệm về "Một-Số-Tiền-Ảo" của ký giả Eric Carvin.
Tổng số tiền mà ngân hàng đầu tư Lehman Brothers đã nợ là khoảng 613 tỉ mỹ kim khi Lehman Brothers khai phá sản. Một thí dụ điển hình là một thân chủ tiêu biểu trong rất nhiều thân chủ ở trên toàn nước Mỹ, ở những nước khác thì không rõ, đã ký gởi tiền đầu tư cho Lehman Brothers quản lý đầu tư là Hạt San Mateo và các thành phố thuộc Hạt San Mateo ở miền Bắc California, bao gồm các quỹ tiết kiệm của công chức ở các cơ quan hành chánh thuộc các thành phố, các khu học chánh, và các trường đại học cộng đồng thuộc Hạt San Mateo, v.v... Họ đã mất tiêu số tiền 150 triệu mỹ kim bởi vì ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản.
Tất cả số tiền của chúng ta đã mất sạch, nhưng số tiền đó đã mất đi đâu?
Hàng tỉ tỉ mỹ kim trị giá chứng khoán-đã mất sạch. Hàng tỉ tỉ mỹ kim trong các quỹ hưu trí, quỹ tiết kiệm-đã mất sạch. Một số lượng tiền rất lớn gồm có tiền mua nhà trả góp hàng tháng, tiền thế chấp nhà đất, tiền để dành cho con đi học đại học, và tiền trong các quỹ tiền lương của các công ty kinh doanh, xí nghiệp sản xuất-đều đã mất sạch.
Khi các thị trường chứng khoán ở các nơi đã liên tiếp tuột dốc và giá trị nhà đất vẫn bị giảm giá nhiều hơn nữa, điều này có nghĩa là chúng ta đã mất một số tiền quá lớn trong một thời gian không đầy một năm.
Ai đã thu tóm hết tất cả số tiền của chúng ta?
Những người tư bản tham lam ở Wall Street?
Những người cộng sản tham lam ở Hoa Lục, bởi vì hiện nay họ đang giữ trong tay của họ hơn 3 ngàn tỉ mỹ kim tiền mặt, chính thức cũng như bán chính thức, nhưng không rõ đó là tiền thật hay tiền giả? Ngay cả Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ cũng không có sẵn trong tay tới 1 ngàn tỉ mỹ kim. Số tiền lớn lao đó còn phải chờ in ra.
Hay những ông vua dầu lửa tham lam ở Á Rập trong thời gian vừa qua đã cho tăng giá dầu thô lên hơn 100 phần trăm?
Nếu chúng ta dò tìm dấu vết số tiền đã mất để nhận diện ra được những người nào đã gom hết số tiền đó, chúng ta sẽ yêu cầu họ hoàn trả số tiền đó lại cho chúng ta.
Tuy nhiên, theo nhận định của Eric Carvin, một ký giả lão luyện của hãng thông tấn Associated Press chuyên viết về các vấn đề kinh tế tài chánh trên thế giới, thì chúng ta thật là thất vọng bởi vì kết quả chúng ta biết được là số tiền đã mất dấu vết kia ngay từ lúc đầu đã là Một-Số-Tiền-Ảo (that was never really money).
Nếu nói một cách toạt móng heo như ông Giáo sư Robert Shiller dạy kinh tế học tại trường đại học Yale thì ông ta đã nhận định thẳng thừng về số tiền ở thị trường chứng khoán như sau: Cái khái niệm rằng quí vị đã mất đi một khối tiền lớn bất cứ khi nào thị trường chứng khoán tiêu thụ nó là một lối "nguỵ biện". Giáo sư Shiller nói rằng "cái giá trị của một chứng khoán đã không bao giờ giống như tiền mặt, nó chỉ đơn giản là một phỏng đoán hay nhất-best guess về một cái gì có giá trị của chứng khoán. Nó chỉ hiện hữu ở trong đầu óc của người ta. Chúng ta chỉ ghi nhận lại một sự đo lường của một cái gì đó mà người ta nghĩ rằng cái thị trường chứng khoán có giá trị. Một cái gì đó mà người ta sẵn lòng mua bán trao đổi trong ngày hôm nay; những người, mà thực ra là rất rất ít người, thực sự mua bán chứng khoán. Vì vậy, chúng ta chỉ việc suy đoán ra và nghĩ rằng: ối chà! có thể đó là những cái gì mà mọi người đều cho rằng nó có giá trị".
Giáo sư Shiller dùng một thí dụ của một giám định viên địa ốc lúc hiện tại đang định giá trị của một căn nhà là 350 ngàn mỹ kim; chỉ cách một tuần lễ sau khi ông ta đã xác định căn nhà đó trị giá 400 ngàn mỹ kim. Trong một ý nghĩa nhất định, 50 ngàn mỹ kim đã biến mất khi ông ta nói như vậy. Nhưng tất cả những điều đó chỉ có ở trong đầu óc của chúng ta mà thôi.
Dĩ nhiên là số tiền của chúng ta đã mất là Một-Số-Tiền-Thật mà chúng ta đã ký gởi đầu tư ngay từ lúc đầu. Nhưng có một giá trị nào đó đang biến mất trong khi các giá trị địa ốc và giá trị chứng khoán bị thay đổi rối rắm. Cho dù là khi cái giá trị cổ phiếu của chúng ta không phải là một nùi giấy hoá đơn ở trong cái ví của chúng ta, cho dù là cái giá trị căn nhà của chúng ta không phải là một cái gì đó để chúng ta có thể tự ý trừ ngang trả hết nợ, một cách chắc chắn là chúng ta phải chịu mất đi một số tiền-đó là một số tiền mà nó sẽ thuộc về chúng ta nếu chúng ta bán căn nhà hoặc là chúng ta rút hết ngân khoản của chúng ta ở quỹ tương trợ ngay bây giờ.
Và nếu chúng ta chỉ còn vài tháng nữa là nghỉ hưu trí, hoặc hi vọng bán được căn nhà lớn hiện tại và mua lại một căn nhà nhỏ hơn để có dư tiền trả học phí đại học cho đứa con của chúng ta, số tiền tiềm tàng (potential money) này là một cái gì đó chưa có thật nhưng nó để cho chúng ta dựa vào nó mà dự định làm những việc khác. Đối với những người cần tiền mặt và cần nó ngay bây giờ, thì đây là Một-Số-Tiền-Thật có thật, Hiện-Kim có trong tay, dù đúng hay không đúng, Nó-Là-Hiện-Kim, Một-Số-Tiền-Thật giải nghĩa được cái định nghĩa kỹ thuật của một thuật ngữ trong các lãnh vực kinh tế, tài chánh, thương mại, ngân hàng, đầu tư, và nhất là trong lãnh vực tín dụng mà chúng ta hiện nay đang bị khủng hoảng rất trầm trọng.
Nếu không phân biệt được rõ ràng sự khác nhau giữa một số tiền tiềm tàng (potential money) và một số tiền thật (real money, cash) thì chúng ta sẽ bị lâm vào cảnh rắc rối ngay. Chúng ta đã hiểu lầm rằng một số tiền tiềm tàng là một số tiền thật, như tiền mặt hiện đang có trong túi của chúng ta, hoặc như là số tiền thật có trong một tài khoản tiền gởi ngân hàng của chúng ta. Đây cũng là một hiểu lầm rất tai hại đã đang hình thành một cơn sóng thần tài chánh với một cường độ khủng khiếp mà nó sẽ cuốn trôi đi mất các định chế tài chánh tư nhân thẻ tín dụng chi tiêu ở khắp nơi.
Giáo sư kinh tế học Dale Jorgenson tại trường đại học Yale đã nhận định rằng sự nhầm lẫn một số tiền tiềm tàng là một số tiền thật là một lỗi lầm rất lớn. Giáo sư Jorgenson giải thích ở đây có một sự phân biệt quan trọng mà chúng ta đã không quan tâm: Trong khi số tiền thật hiện có ở trong túi của chúng ta thì nó không dễ dàng gì mà biến mất vào trong không khí, một số tiền thật mà chúng ta đã có thể có được, nếu chúng ta chỉ việc bán căn nhà của chúng ta rồi sau đó đổ dồn hết tiền vào những đầu tư chứng khoán của các quỹ tương trợ cách nay một năm. Chúng ta không thể hưởng được một phúc lợi nào từ quỹ tiết kiệm hưu trí 401(k) của chúng ta nếu cái quỹ này bị thất bại và không còn tồn tại nữa. Nếu chúng ta đổ dồn hết tiền của chúng ta vào các chứng khoán tài chánh và tất cả các chứng khoán này đã tuột giá 80 phần trăm. Thật đáng tiếc bởi vì đây là một thua lỗ vĩnh viễn khi cái giá trị 80 phần trăm đã mất kia sẽ không phục hồi được. Giáo sư Jorgenson còn nói thêm rằng chúng ta sẽ phải chịu đựng một sự giảm sút rất nhiều trong khu vực tài chánh hầu như ở mọi nơi trên thế giới.
Đã từng có một thời gian trong quá khứ không một người nào phải thắc mắc về những gì đã xảy ra cho một số tiền mà họ đã có được. Cho tới thế kỷ thứ chín khi một số tiền bằng giấy được phát minh và lưu hành ở trong nước Trung Hoa thì Tiền đã là một cái gì đó có tính chất cụ thể và có một giá trị với một mức độ nhất định. Thí dụ như là một đồng tiền vàng mà nó có một giá trị bằng với một mức độ cân lượng vàng được chứa trong đồng tiền theo như lời thuyết minh của ông Douglas Mudd, viên quản lý viện bảo tàng kim ngân American Numismatic Association's Money Museum ở thành phố Denver thuộc tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ.
Trong quá khứ nếu một số tiền mà chúng ta đã có được, rồi đột ngột nó bị biến mất, thì chỉ có một lý do giản dị là chúng ta đã tiêu xài nó, một người nào đó đã ăn cắp nó, hoặc là chúng ta đã làm rớt nó ở một chỗ nào ngoài đường phố, hoặc là có thể một cơn trốt xoáy hay một thiên tai đã xảy ra ở đúng cái nơi mà chúng ta đã để cất số tiền kia.
Tuy nhiên, trong hiện tại có những tiến bộ vượt bậc của xã hội hiện đại với những kỹ thuật siêu điện toán thần kỳ, chúng ta đang có được rất nhiều thứ được tính ra Trị-Giá-Bằng-Tiền nhưng chúng ta lại không-thể-nắm-giữ-Cái-Giá-Trị-Bằng-Tiền đó ở trong tay của chúng ta.
Nếu chúng ta đã chọn lựa công việc đầu tư chứng khoán thì chúng ta đã có thể đổ dồn phần lớn số tiền của chúng ta vào việc mua các cổ phiếu hay các trái phiếu của các công ty tư nhân và của các chính phủ, rồi sau đó phải theo dõi cái giá trị của từng cổ phiếu hay của từng trái phiếu diễn biến thay đổi từng ngày trên cái màn ảnh của máy điện toán. Chúng ta đã có tin tưởng rằng chúng ta đã kiếm được nhiều tiền khi chúng ta quyết định bán ra các cổ phiếu này với những giá cao hơn lúc ban đầu. Đã có hàng triệu triệu người ở khắp nơi mỗi ngày dán-cái-mặt-trừng-con-mắt của họ vào các màn ảnh của các máy điện toán để theo dõi rất nhiều con số chuyển động thay đổi, họ là những cá nhân đầu tư chứng khoán và họ cùng chia sẻ với chúng ta một niềm tin tưởng rằng cái giá trị bằng tiền của các danh sách vốn đầu tư (portfolios) của họ sẽ luôn luôn tăng trưởng lớn hơn nữa.
Theo Giáo sư Jorgenson đã nhận định thì cái niềm tin tưởng có tính cách tập thể kia đã tan như mây khói. Cái hệ quả thê thảm không thể tránh được khi niềm tin tưởng của những người đầu tư vào một hệ thống tài chánh đã bị rút cạn là họ sẽ bán đổ bán tháo các cổ phiếu của họ với bất cứ giá nào, và một khối lượng tiền khổng lồ mà chúng ta đã nghĩ rằng do công việc đầu tư của chúng ta tạo ra cái giá trị bằng tiền đó đã biến mất một cách nhanh chóng và giản dị. Họ bán đổ bán tháo các cổ phiếu của họ với bất cứ giá nào để thu về một số tiền mặt-một số tiền thật.
Nếu chúng ta đã có một lần tin tưởng rằng cái danh sách vốn đầu tư (portfolio) của chúng ta đã giống như một cái cặp da đựng đầy những tờ giấy bạc 100 mỹ kim, thì giờ đây một cách đột ngột chúng ta đâm ra nghi ngờ rằng nó không phải như vậy.
Dĩ nhiên trong hiện tình diễn biến tài chánh hiện nay chúng ta đang mất dần tài sản của chúng ta. Điều này có nghĩa là phải có một người nào đang thu tóm số tiền đó? Có phải thế giới này có một số tài sản nhất định mà nó luân chuyển giữa một số người, giữa một số quốc gia, và giữa một số định chế tài chánh công quản cũng như tư nhân với những lúc lên cao xuống thấp của một dòng kinh tế luân lưu liên tục?
Giáo sư Jorgenson đã nói rằng không phải như vậy. Một số tài sản trên thế giới "chỉ giảm bớt một cách đơn giản trong một tình hình như hiện nay". Giáo sư Jorgenson còn lưu ý chúng ta là đừng cho rằng những đầu tư thua lỗ của chúng ta có nghĩa là những thu lợi của một người nào khác, cũng giống như những người đầu cơ chứng khoán giàu có họ cố sức làm ra nhiều tiền bằng cách đánh cuộc rằng thị trường chứng khoán sẽ rớt xuống chạm đáy. Những người đầu cơ chứng khoán giàu có này đang chịu bị tuột mất những chiếc áo sơ mi của họ ở một mức độ phi thường. Họ đã sẵn sàng chấp nhận một rủi ro tổn thất rất lớn và bây giờ họ đang chịu đựng những hậu quả của nó.
Qua những buổi chất vấn của Uỷ Ban Điều Tra ở Quốc Hội Mỹ, chúng ta được biết những công ty tài chánh tín dụng đã công bố những báo cáo tín dụng màu hồng đã được thổi phồng các con số có tính chất gian lận. Những công ty tài chánh tín dụng này đã trả những món tiền lớn cho các cơ quan thẩm định tín dụng không chỉ riêng cho lệ phí thẩm định mà còn gồm cả lệ phí tham vấn cho các công ty tài chánh tín dụng này biết cách thức thế nào để tạo cơ cấu liên kết nhằm đạt được tối đa những đánh giá cao nhất. Tính cách gian lận độc đáo này có thể là một trong những nguyên nhân chính đã gây ra cơn khủng hoảng kinh tế tài chánh và tín dụng ở nước Mỹ cũng như ở các nước phát triển khác và ở các nước đang phát triển trên thế giới.
Các cơ quan thẩm định tín dụng đã không làm tròn chức năng của họ. Họ đã phản bội lại lòng tin của hàng triệu triệu người đầu tư cá nhân; những người đầu tư này trông cậy vào sự độc lập và những đánh giá tín dụng khách quan của họ. Kết quả của sự phản bội là toàn bộ hệ thống tài chánh tư nhân vụ lợi của chúng ta giờ đây có nguy cơ sụp đổ. Ở đây chúng ta cần phải phân biệt cho rõ là cái hệ thống tài chánh tư nhân vụ lợi rất khác với cái hệ thống tài chánh công quản mà tiêu biểu là Bộ Tài Chánh và Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ.
Vì vậy chúng ta đã nhận thấy rõ là một khi người trọng tài nhận được tiền thù lao rất trọng hậu từ tay những người chơi, thì sẽ không có ai phải ngạc nhiên khi trò chơi đó vuột ra khỏi sự kiểm soát của luật lệ. Những nhà làm luật của Mỹ đã kết tội các cơ quan thẩm định tín dụng về sự thất bại của họ trong cách thức họ đánh giá các chứng khoán địa ốc và các chứng khoán đầu tư khác.
Khi lạm bàn về cái chủ đề của cơn khủng hoảng tài chánh hiện tại, chúng ta nhận ra nó không phải là lòng tham lam quá độ, bởi vì lòng tham lam là cái bản chất của con người tư bản, nếu không tham lam thì không phải con người tư bản. Cái chủ đề của cơn khủng hoảng tài chánh hiện nay là sự minh bạch. Chính vì thiếu sự minh bạch nên công việc đầu tư chứng khoán địa ốc rối rắm, tín dụng địa ốc phức tạp. Tính cách phức tạp trở nên càng phức tạp nhiều hơn vì lòng tham lam quá độ đã thổi phồng thị trường địa ốc của nước Mỹ một cách quá đáng. Nếu có sự minh bạch thì sự minh bạch đã ngăn chặn được lòng tham lam quá độ rồi.
Chúng ta còn nhận thấy khi cho phép các định chế tài chánh tư nhân hoá hoàn toàn, vụ lợi tối đa, toàn quyền loại bỏ các quy định an toàn tài chánh cổ điển để tự áp dụng các kỹ thuật cải tiến, thì những công cụ và thủ pháp tài chánh rất phức tạp, kỳ lạ và hết sức kích thích lòng tham lam của con người đã được sắp đặt làm ra phức tạp hơn ở tại các ngân hàng đầu tư cho đến nỗi cả người bán lẫn người mua chứng khoán địa ốc không thể biết được giá trị đích thực của nó.
Sau khi nghe những người trong các ban giám đốc của các ngân hàng đầu tư Lehman Brothers, Bear Stearns, AIG, và các tập đoàn tài chánh khác trả lời trước một Ủy Ban Điều Tra của Quốc Hội Mỹ, chúng ta cũng đã nhận thấy rõ ràng là họ đã nắm giữ những công cụ tài chánh mà giá trị của chúng ít hơn cái giá trị mà họ đã tin tưởng. Tuy nhiên, không ai biết cái giá trị đích thực của chúng là bao nhiêu!Ông Michael Bloomberg, Thị Trưởng thành phố Nữu Ước, đã có một nhận định khiến cho tất cả chúng ta phải giật mình. Ông ta nói "Cái vấn đề là không một người nào biết được bất cứ một định chế tài chánh nào sở hữu cái gì, và những cái chứng khoán mà họ sở hữu có những điều kiện là gì, và những cái chứng khoán đó có giá trị là bao nhiêu."
Ông Thị Trưởng Bloomberg đang nói về những sản phẩm tài chánh mà một số người khác làm việc tại Wall Street đã vài lần từng nói tới là "Không một người nào có thể biết được những sản phẩm tài chánh này, những chứng khoán địa ốc, và có lẽ những loại chứng khoán khác nữa, có giá trị đích thực là bao nhiêu." Quả thật, không một người nào có thể biết được cái giá trị thật của một sản phẩm địa ốc khi đã bị thổi phồng quá đáng, mà hiện nay đang trên đà rớt giá xuống còn chưa chạm tới đáy.
Ông Alan Greenspan, Cựu Chủ Tịch Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ, đã trả lời trước Uỷ Ban Giám Sát và Cải Tiến Chính Phủ của Hạ Nghị Viện Mỹ rằng "Chúng ta đang ở giữa một cơn sóng thần tín dụng trăm năm mới xảy ra một lần-We are in the midst of a once-in-a-century credit tsunami." Ông Greenspan đã xác định rằng cái cao trào của các món tiền vay mua nhà đã đang gây ra hậu quả không tốt kia được thúc đẩy bởi nhu cầu của những nhà đầu tư trên thế giới, nhất là ở Hoa Lục, muốn mua chứng khoán địa ốc của nước Mỹ. Trong khi các cơ quan thẩm định tín dụng đã không đánh giá đúng mức những điều rủi ro gây tổn thất trong một thị trường địa ốc đã bị thổi phồng, những nhà đầu tư này lại tự thuyết phục chính mình rằng các chứng khoán địa ốc của nước Mỹ thì chắc chắn an toàn. Để đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu của những nhà đầu tư chứng khoán địa ốc, các ngân hàng cho vay tiền mua nhà đã gia tăng số lượng người được vay tiền với các điều kiện quá dễ dãi mà không quan tâm gì tới sự an toàn của các món tiền cho vay.
Ông Greenspan đã đảm trách chức vụ Chủ Tịch Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ trong một thời gian dài từ năm 1987 đến năm 2006, nay xác nhận rằng ông ta đã nhầm lẫn trong việc quá tự tin rằng những định chế tài chánh tư nhân vụ lợi như các ngân hàng đầu tư và các định chế cho vay tiền các loại là họ đã có khả năng tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của đa số các cổ đông của chính họ.
Ông Greenspan đã tỏ ra vẫn còn rất sửng sốt, ông vẫn không thể tin được khi các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi khổng lồ kỳ cựu của nước Mỹ đã sụp đổ. Có lẽ ông Greenspan đã tạm thời quên lững cái bản chất bẩm sinh của người tư bản là tham lam. Chính vì lòng tham lam quá độ mà họ đã thổi phồng cái quả bong bóng tín dụng địa ốc, và có thể một quả bong bóng khác là thẻ tín dụng chi tiêu cũng được thổi căng lên lớn nhất theo diễn-biến-làm- giàu-nhanh-rút-lui-sớm trong lịch sử trăm năm mới có một lần của nước Mỹ.
Chúng ta còn nhận thấy rõ ràng là trong khi các ngân hàng đầu tư phá sản, các tập đoàn tài chánh tín dụng địa ốc lụn bại, thì những người trong ban giám đốc của chúng lại thành công trong việc rút ra một số tiền mặt rất lớn và sẵn sàng về nhà nghỉ hưu trí. Họ đã phụ lòng tin tưởng của ông Greenspan khi họ vì tư lợi của chính họ mà không bảo vệ được quyền lợi của đa số các cổ đông. Họ đã phá hoại cái chủ thuyết kinh tế tài chánh mà ông Greenspan đã hơn 40 năm làm việc chuyên môn rất nhiệt tình, năng động cổ võ cho công cuộc tư nhân hoá hoàn toàn các định chế tài chánh vụ lợi tối đa, áp dụng các sáng kiến canh tân nền kinh tế tài chánh, các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi có toàn quyền loại bỏ các quy định an toàn tài chánh cổ điển gò bó nếu thấy cần thiết để thu lợi nhuận tối đa...trong khuôn khổ của luật pháp. Một nền luật pháp của nước Mỹ luôn luôn bảo vệ các hoạt động của thị trường tự do và mậu dịch tự do với các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi hoàn toàn tự do.
Trong lúc làm Chủ Tịch Ngân Khố Dự Trữ Liên Bang Mỹ ông Greenspan đã chống lại việc áp dụng các quy định tài chánh cổ điển gò bó để cho phép các món tiền vay thế chấp nhà đất được gom chung lại thành những chứng khoán địa ốc và được dễ dàng bán lại cho những nhà đầu tư. Tuy nhiên, thời gian tiếp theo đó những chứng khoán địa ốc này đã trở nên nặng nề làm nghiêng lệch những bản cân đối của các ngân hàng đầu tư và các định chế cho vay một khi các món nợ thế chấp không thể trả tiền lại đúng định kỳ.
Cái vấn đề không phải là các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi đã loại bỏ các quy định an toàn tài chánh cổ điển mà họ thiếu những quy định mới cập nhật thích hợp với các cải tiến kỹ thuật siêu điện toán và các thủ pháp tài chánh hiện đại. Cơn sóng thần tín dụng đã đang nổi lên trong các vấn đề chuyển khoản mua bán chứng khoán các loại ở Wall Street không phải do việc loại bỏ các quy định cổ điển mà xảy ra. Cơn sóng thần tín dụng đã đang và sẽ còn tiếp tục nổi lên chỉ vì tất cả các giới chức có trách nhiệm chấp hành các quy định an toàn tài chánh để ngăn chặn kịp thời những rủi ro tổn thất đã quá thụ động, họ chỉ trố mắt đứng nhìn các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi ở Wall Street sáng tạo ra rồi phát triển mạnh các sản phẩm tài chánh phức tạp càng ngày càng phức tạp thêm và không thể dự đoán được các sản phẩm tài chánh này sẽ như thế nào. Một cách quá rõ ràng là chúng đã đang trở thành những con quái vật nuốt chững các món tiền tiết kiệm, các món tiền đầu tư của chúng ta, những người đầu tư cá nhân bình thường quá nhỏ nhoi nếu so sánh với các nhà đại tư bản?
Vào năm 2005 chính ông Greenspan đã có lên tiếng cảnh báo cho chúng ta về hiện tượng những con quái vật tài chánh Wall Street đã đang dần dần tuột ra khỏi tầm kiểm soát của mọi người có trách nhiệm, nhưng không có ai để ý lắng nghe ông ta, và cái guồng máy Wall Street cứ tiếp tục chạy vì nó bị bắt buộc phải chạy trong cái ảo tưởng giàu có của rất nhiều người, trong số đó có mặt của chúng ta, những người đã từng vui mừng khi thấy giá cổ phiếu đầu tư chứng khoán của chúng ta tăng cao mà không bao giờ ngờ được đó là một giá trị ảo, một số tiền ảo như ký giả Eric Carvin đã nhận định.
Bây giờ chúng ta được nghe chính ông Greenspan xác nhận rằng thế giới quan và hệ tư tưởng về kinh tế tài chánh của ông trong 40 năm qua đã không đúng, đã trở thành hão huyền. Ông Greenspan đã thực sự giật mình sửng sốt bởi vì ông ta không thể ngờ được các thủ pháp kỹ thuật siêu điện toán thần kỳ của thế giới ảo đã chắc chắn biến đổi thế giới quan và hệ tư tưởng của ông trở thành hão huyền. Với thái độ rất thành thật của một người trí thức đã từng là cột trụ của hệ tư tưởng thị trường tự do, mậu dịch tự do, tư nhân hoá hoàn toàn và canh tân các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi, ông Greenspan xác nhận rằng cá nhân ông đã thất bại, ông đã sai lầm khi tin tưởng rằng lòng tham lam của con người tư bản cũng ... có giới hạn như một đời người của mỗi chúng ta.
Không chỉ riêng ông Greenspan, còn những người ở trên cái đỉnh cao của chiếc thang quyền lực tài chánh Wall Street cũng thực sự không hiểu được những người thuộc quyền của mình, những người rất tài giỏi về điện toán, ở dưới chân chiếc thang này đã đang làm gì. Họ chỉ biết có một điều duy nhất là mọi chuyện đều đã tốt đẹp, cái guồng máy Wall Street vẫn chạy trơn tru bởi sự chăm nom tỉ mỉ cẩn thận của các chuyên viên điện toán siêu đẳng và họ đã đang làm ra rất nhiều tiền. Một cách chắc chắn đó là số tiền thật cho chính họ bởi vì họ cho rằng họ rất xứng đáng được hưởng như vậy.
Khi cái chỉ số chứng khoán tăng lên đỉnh điểm thì họ làm giàu với một số tiền thật. Khi cái chỉ số chứng khoán giảm xuống tận đáy thì chúng ta sạch túi vì một số tiền ảo. Đây rõ ràng là một lối nguỵ biện trân tráo cho lòng tham lam quá độ của họ và sự ngu ngốc hết sức của chúng ta một khi chúng ta đã tin tưởng vào các giao dịch về tài chánh thiếu tính minh bạch.
Bởi vì số tiền của chúng ta đã mất là có thật, một số tiền thật, nó được để dành ra từ tiền lương, từ những nguồn lợi tức chính đáng của chúng ta, nên tất cả chúng ta rất cần những luật lệ tài chánh cập nhật thích hợp với kỹ thuật siêu điện toán hiện đại và sự minh bạch trong các giao dịch kinh tài của các định chế tài chánh tư nhân vụ lợi để phân biệt được thế giới ảo của siêu điện toán với số tiền ảo và thế giới thật với số tiền thật của đa số người bình dân ở khắp nơi như chúng ta./.
Thuỷ-Triều 31/10/2008
BẢN CÁO TRẠNG CHO AI ?
Bản cáo trạng cho ai ???
Xã Luận bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 62 (1-11-2008)
Xin mời bấm vào đây để xem BNS Tự do Ngôn luận số 62
Từ mấy tháng nay, Cộng sản Việt Nam bỗng lên cơn hăng máu, dậy cơn cuồng nộ ra một loạt bản Cáo trạng nhắm vào nhiều đối tượng trong nhân dân. Sau đây xin liệt kê vài bản cáo trạng và đối tượng tiêu biểu:
Đối tượng trước hết là Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, lãnh đạo Công giáo Hà Nội. Chỉ vì một lời phát biểu trước Ủy ban Nhân dân thành phố sáng ngày 20-09-2008 mà ngay hôm sau, viên Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo liền ra Công văn số 1370 buộc tội vị lãnh đạo tinh thần đã “trực tiếp tham gia kích động, lôi kéo, khuyến khích bằng các bài trả lời phỏng vấn, thư hiệp thông, các văn bản có nội dung xấu, xuyên tạc sự thật đăng tải trên một số phương tiện thông tin đại chúng nước ngoài…. Những hành vi nêu trên của ông trong suốt thời gian qua là có hệ thống, thể hiện rõ hanh vi coi thường pháp luật, chưa bao giờ từ bỏ ý đồ đòi đất trái pháp luật… Ông đã không thực hiện đúng chức trách với cương vị là Tổng giám mục… không thực hiện đúng bổn phận của một công dân… Ông còn phát ngôn miệt thị chính dân tộc, đất nước mình…” Tiếp đấy là vô số bài vở của những tay bồi bút trên báo Hà Nội Mới, An ninh Thủ đô vốn cùng sủa vang theo chủ .
Mới đây, ngày 15-10, trong cuộc triệu tập ngoại giao đoàn tại Hà Nội để thông báo mọi chi tiết liên quan đến vụ việc tại tòa Khâm sứ, xứ Thái Hà, Nguyễn Thế Thảo cũng lại giở giọng cáo trạng: “Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt đã lợi dụng hoạt động tôn giáo, lợi dụng đức tin và sự thiếu hiểu biết của một số giáo dân, cố tình vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và của giáo hội… Vì vậy chính quyền phải quyết định cảnh cáo đối với ông ta và một số giáo sĩ Nhà thờ Thái Hà; cơ quan công an đã khởi tố vụ án phá hoại tài sản và gây rối trật tự công cộng...”. Đặc biệt Thảo còn phát biểu: “Kiến nghị không để ông Ngô Quang Kiệt giữ chức vụ Tổng giám mục địa phận Hà Nội, vì uy tín, tín nhiệm của cá nhân ông Kiệt đối với nhân dân Thủ đô, thậm chí đối với cả giáo dân đã không còn nữa…” (Sài Gòn Giải Phóng 16-10-2008).
Đối tượng thứ hai là các linh mục và giáo dân tại Giáo xứ Thái Hà. Ngoài UBND Hà Nội với Công văn số 1407 ngày 22-9-2008, kẻ tuyên cáo trạng lần này là hai viên tướng công an đang nắm quyền sinh sát tại cái gọi là “thủ đô của nhân quyền”. “Chiều 08-09, thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Bộ Công an cho biết việc Công an Hà Nội khởi tố vụ án hình sự, bắt tạm giam một số bị can có hành vi quá khích, gây rối, hủy hoại tài sản là biện pháp cần thiết và đúng pháp luật… Trong vụ việc này cũng đã xuất hiện một số đối tượng có bài viết đưa lên mạng, nội dung xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt. Hành vi này là vi phạm pháp luật… Đối với các giáo dân, linh mục do nhận thức chưa đúng, bị đối tượng xấu kích động, xúi giục, cơ quan chức năng sẽ tăng cường giáo dục, tuyên truyền để họ có nhận thức đúng đắn…”. Thiếu tướng Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc Công an Hà Nội, cũng cho hay: “Riêng việc các linh mục có mặt tại các địa điểm có đông giáo dân tụ tập, cầu nguyện trái phép hoặc tại địa điểm có hành vi gây rối, huỷ hoại tài sản thì việc có mặt đó đã là hành vi xúi giục, kích động…”. (Báo mạng CAND ngày 08-09-2008).
Đối tượng thứ ba là chính các giáo dân Thái Hà với bản cáo trạng dài ngoằng 16 trang do Viện kiểm sát Nhân dân quận Đống Đa viết ngày 24-10, trong đó có những lời lẽ : “Khu đất 178 Nguyễn Lương Bằng được Nhà nước giao cho Công ty cổ phần may Chiến Thắng quản lý, sử dụng là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nhà thờ Thái Hà và một số giáo dân đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật gây sức ép với chính quyền nhằm mục đích đòi lại khu đất nói trên. Các hành vi này kéo dài liên tục từ đầu năm 2008, đặc biệt từ đầu tháng 8-2008 các hành vi này diễn ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng… Hành vi trên đây của các bị can [8 giáo dân] đã phạm vào tội gây rối trật tự công cộng… được quy định ở tiết a khoản 2 điều 245 Bộ luật hình sự… Vì các lẽ trên, quyết định truy tố các bị can ra trước Tòa án nhân dân quận để xét xử…”.
Đối tượng thứ tư là hai sĩ quan công an và hai nhà báo trong phiên tòa ngày 14-10-2008 tại Hà Nội với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258, chuyển từ tội danh “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điều 281 (cho hai nhà báo), và tội danh “cố ý làm lộ bí mật công tác” theo điều 286 chuyển từ tội danh “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điều 281 (cho hai sĩ quan) vì họ đã tích cực làm rõ vụ tham nhũng PMU 18 năm 2006. Cả 4 đã bị án từ cảnh cáo đến 2 năm tù giam.
Đối tượng thứ năm là hai ông Lý Tiến Dũng và Đặng Ngọc, Tổng và Phó Biên tập báo Đại Đoàn Kết, vốn đã bị cảnh cáo và chuyển công tác, nghĩa là bị cách chức sa thải vào ngày 27-10 vừa qua bởi Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN, với lý do “vi phạm luật báo chí”: đăng tham luận của Linh mục Nguyễn Thiện Cẩm (đòi xóa bỏ bao cấp về chính trị), bài viết của 2 nhà báo Thái Duy và Hữu Nguyên (bàn đến một số vấn đề bức xúc tại quốc nội) và thư góp ý của Đại tướng CS Võ Nguyên Giáp (đề nghị không đập bỏ Hội trường Ba Đình).
Cũng phải nói đến một đối tượng thứ sáu là Hòa thượng Thích Quảng Độ với bản cáo trạng dưới hình thức “điện khẩn” được ông Nguyễn Thế Kỷ, vụ trưởng Vụ Báo chí-Xuất bản của Ban Tuyên giáo Trung ương đảng CS ký ngày 9-10-2008, gửi Các cơ quan báo chí nước, có nội dung: “…Trong trường hợp Thích Quảng Ðộ được trao giải [Nobel Hòa bình], báo chí ta đăng lời của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam kịch liệt phê phán việc trao giải vừa phi lý, thiếu thiện chí vừa làm hoen ố một giải thưởng vốn danh giá, hướng thiện. Lên án những hoạt động lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng của nhà nước để vi phạm pháp luật, giáo lý nhà Phật, phản dân, hại nước, đi ngược lại ước nguyện hòa bình, hạnh phúc, tiến bộ của nhân dân Việt Nam. Chuẩn bị sẵn bài viết, phóng sự, hình ảnh, tư liệu về vấn đề này để đấu tranh. Chú ý phỏng vấn, lấy ý kiến người dân, ý kiến các bậc chân tu phản đối việc trao giải, lên án Thích Quảng Ðộ và các thế lực đen tối khác…”
Điều đáng nói là các bản cáo trạng trên -theo nhận định của công luận trong và ngoài nước- không thực sự tạo ra các bị cáo và phạm nhân mà đã tạo ra các nạn nhân và anh hùng. Trước nhất là vì các bản cáo trạng đó hoặc (1) hoàn toàn vi phạm luật pháp, vượt quá quyền hạn, hỗn láo xấc xược (công văn ngày 21-09 và tuyên bố ngày 15-10 của Nguyễn Thế Thảo), hoặc (2) xuyên tạc vu khống, biến sở hữu chủ thành tên chiếm đoạt, người đấu tranh ôn hòa thành kẻ xách động bạo hành, cử chỉ hiệp thông thành hành vi xúi giục (lời hăm dọa của hai viên tướng công an), hoặc (3) biến một hành vi chỉ đáng bị xử phạt hành chính thành tội phạm phải bị xử lý hình sự (cáo trạng đối với 8 giáo dân Thái Hà), hoặc (4) bao che phe nhóm và củng cố đảng quyền (hai bảng cáo trạng đối với báo chí và nhóm công an điều tra tham nhũng), hoặc vu khống thóa mạ một vị tu hành (điện khẩn).
Thật ra, kẻ đáng bị ra bản cáo trạng nhất chính là đảng CSVN. Và thực sự đã có ngay những bản cáo trạng nhắm vào đối tượng sừng sỏ này rồi. Trước nhất là chính lời của Đức TGM Hà Nội: “Tôn giáo là quyền lợi chứ không phải ân huệ… Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam” (bài phát biểu ngày 20-09), rồi lời của Hội đồng GMVN: “Phải để người dân có quyền làm chủ tài sản, đất đai của họ… Phải hết sức cẩn trọng khi đưa tin tức và hình ảnh, nhất là khi liên quan đến danh dự và uy tín của cá nhân cũng như tập thể… Phải chấm dứt mọi hình thức bạo lực, trong hành động cũng như trong ngôn từ…” (Bài Quan điểm ngày 25-09).
Trên bình diện quốc tế, đó là lời của Đức Giám mục Thomas G. Wenski, Chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hoà Bình Quốc tế thuộc HĐGM Hoa Kỳ: “Khi Đức ông Parolin dẫn đầu phái đoàn Vatican đến VN hồi tháng 6-2008, đã có thảo luận việc dần dần hoàn trả cho Giáo hội quyền xử dụng những tài sản trước đây đã bị quốc hữu hoá. Hành động đơn phương vừa rồi của chính phủ VN là trực tiếp đi ngược lại những điều trước đây đã thỏa thuận... Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã bị chính quyền điạ phương vu cáo là khuấy động gây bất ổn” (Thư gởi Chủ tịch HĐGM Việt nam ngày 01-10). Đó là Nghị quyết của Quốc hội Châu Âu ngày 22-10-2008, đòi hỏi CSVN “trả tự do tức khắc cho mọi cá nhân bị quản chế, tù đày hay giam giữ vì lý do biểu tỏ ôn hòa chính kiến hay tôn giáo… cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được quyền sinh hoạt tôn giáo mà không bị chính quyền can dự… bãi bỏ các luật pháp Việt Nam nhằm kết tội các nhà bất đồng chính kiến hay các hoạt động tôn giáo… chấm dứt sự kiểm duyệt và kiểm soát đối với các cơ quan truyền thông quốc gia, kể cả mạng lưới Internet và điện tử, và cho phép phát hành nhật báo và tập san tư nhân, độc lập”. Đó là Bảng Xếp hạng tự do báo chí thế giới do tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontières) vừa phổ biến ngày 22-10 trong đó Việt Nam đứng thứ 168/173. Đó cũng là Nghị quyết 1636 của Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu thông qua ngày 3-10-2008 vừa qua để đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ.
Bản cáo trạng đối với đảng CSVN còn được viết bằng máu và nước mắt của hàng chục triệu đồng bào vô tội kể từ các cuộc Cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, Thảm sát Mậu Thân, Xâm lăng miền Nam… đến các cuộc Cải tạo tư sản, Vượt biển tìm tự do, Giam cầm quân cán chính VNCH, Tước đoạt tài sản tư nhân và tôn giáo, Đàn áp các công dân đấu tranh đòi lại quyền làm người… Tất cả đã thành sử liệu, tài liệu, chứng liệu để nhân dân sẵn sàng đưa các tay đồ tể ra truy tố, như bên Đông Âu đang làm. Tập đoàn lãnh đạo CSVN hãy liệu hồn đấy!
BAN BIÊN TẬP
Xã Luận bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 62 (1-11-2008)
Xin mời bấm vào đây để xem BNS Tự do Ngôn luận số 62
Từ mấy tháng nay, Cộng sản Việt Nam bỗng lên cơn hăng máu, dậy cơn cuồng nộ ra một loạt bản Cáo trạng nhắm vào nhiều đối tượng trong nhân dân. Sau đây xin liệt kê vài bản cáo trạng và đối tượng tiêu biểu:
Đối tượng trước hết là Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, lãnh đạo Công giáo Hà Nội. Chỉ vì một lời phát biểu trước Ủy ban Nhân dân thành phố sáng ngày 20-09-2008 mà ngay hôm sau, viên Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo liền ra Công văn số 1370 buộc tội vị lãnh đạo tinh thần đã “trực tiếp tham gia kích động, lôi kéo, khuyến khích bằng các bài trả lời phỏng vấn, thư hiệp thông, các văn bản có nội dung xấu, xuyên tạc sự thật đăng tải trên một số phương tiện thông tin đại chúng nước ngoài…. Những hành vi nêu trên của ông trong suốt thời gian qua là có hệ thống, thể hiện rõ hanh vi coi thường pháp luật, chưa bao giờ từ bỏ ý đồ đòi đất trái pháp luật… Ông đã không thực hiện đúng chức trách với cương vị là Tổng giám mục… không thực hiện đúng bổn phận của một công dân… Ông còn phát ngôn miệt thị chính dân tộc, đất nước mình…” Tiếp đấy là vô số bài vở của những tay bồi bút trên báo Hà Nội Mới, An ninh Thủ đô vốn cùng sủa vang theo chủ .
Mới đây, ngày 15-10, trong cuộc triệu tập ngoại giao đoàn tại Hà Nội để thông báo mọi chi tiết liên quan đến vụ việc tại tòa Khâm sứ, xứ Thái Hà, Nguyễn Thế Thảo cũng lại giở giọng cáo trạng: “Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt đã lợi dụng hoạt động tôn giáo, lợi dụng đức tin và sự thiếu hiểu biết của một số giáo dân, cố tình vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và của giáo hội… Vì vậy chính quyền phải quyết định cảnh cáo đối với ông ta và một số giáo sĩ Nhà thờ Thái Hà; cơ quan công an đã khởi tố vụ án phá hoại tài sản và gây rối trật tự công cộng...”. Đặc biệt Thảo còn phát biểu: “Kiến nghị không để ông Ngô Quang Kiệt giữ chức vụ Tổng giám mục địa phận Hà Nội, vì uy tín, tín nhiệm của cá nhân ông Kiệt đối với nhân dân Thủ đô, thậm chí đối với cả giáo dân đã không còn nữa…” (Sài Gòn Giải Phóng 16-10-2008).
Đối tượng thứ hai là các linh mục và giáo dân tại Giáo xứ Thái Hà. Ngoài UBND Hà Nội với Công văn số 1407 ngày 22-9-2008, kẻ tuyên cáo trạng lần này là hai viên tướng công an đang nắm quyền sinh sát tại cái gọi là “thủ đô của nhân quyền”. “Chiều 08-09, thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Bộ Công an cho biết việc Công an Hà Nội khởi tố vụ án hình sự, bắt tạm giam một số bị can có hành vi quá khích, gây rối, hủy hoại tài sản là biện pháp cần thiết và đúng pháp luật… Trong vụ việc này cũng đã xuất hiện một số đối tượng có bài viết đưa lên mạng, nội dung xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt. Hành vi này là vi phạm pháp luật… Đối với các giáo dân, linh mục do nhận thức chưa đúng, bị đối tượng xấu kích động, xúi giục, cơ quan chức năng sẽ tăng cường giáo dục, tuyên truyền để họ có nhận thức đúng đắn…”. Thiếu tướng Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc Công an Hà Nội, cũng cho hay: “Riêng việc các linh mục có mặt tại các địa điểm có đông giáo dân tụ tập, cầu nguyện trái phép hoặc tại địa điểm có hành vi gây rối, huỷ hoại tài sản thì việc có mặt đó đã là hành vi xúi giục, kích động…”. (Báo mạng CAND ngày 08-09-2008).
Đối tượng thứ ba là chính các giáo dân Thái Hà với bản cáo trạng dài ngoằng 16 trang do Viện kiểm sát Nhân dân quận Đống Đa viết ngày 24-10, trong đó có những lời lẽ : “Khu đất 178 Nguyễn Lương Bằng được Nhà nước giao cho Công ty cổ phần may Chiến Thắng quản lý, sử dụng là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nhà thờ Thái Hà và một số giáo dân đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật gây sức ép với chính quyền nhằm mục đích đòi lại khu đất nói trên. Các hành vi này kéo dài liên tục từ đầu năm 2008, đặc biệt từ đầu tháng 8-2008 các hành vi này diễn ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng… Hành vi trên đây của các bị can [8 giáo dân] đã phạm vào tội gây rối trật tự công cộng… được quy định ở tiết a khoản 2 điều 245 Bộ luật hình sự… Vì các lẽ trên, quyết định truy tố các bị can ra trước Tòa án nhân dân quận để xét xử…”.
Đối tượng thứ tư là hai sĩ quan công an và hai nhà báo trong phiên tòa ngày 14-10-2008 tại Hà Nội với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258, chuyển từ tội danh “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điều 281 (cho hai nhà báo), và tội danh “cố ý làm lộ bí mật công tác” theo điều 286 chuyển từ tội danh “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điều 281 (cho hai sĩ quan) vì họ đã tích cực làm rõ vụ tham nhũng PMU 18 năm 2006. Cả 4 đã bị án từ cảnh cáo đến 2 năm tù giam.
Đối tượng thứ năm là hai ông Lý Tiến Dũng và Đặng Ngọc, Tổng và Phó Biên tập báo Đại Đoàn Kết, vốn đã bị cảnh cáo và chuyển công tác, nghĩa là bị cách chức sa thải vào ngày 27-10 vừa qua bởi Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN, với lý do “vi phạm luật báo chí”: đăng tham luận của Linh mục Nguyễn Thiện Cẩm (đòi xóa bỏ bao cấp về chính trị), bài viết của 2 nhà báo Thái Duy và Hữu Nguyên (bàn đến một số vấn đề bức xúc tại quốc nội) và thư góp ý của Đại tướng CS Võ Nguyên Giáp (đề nghị không đập bỏ Hội trường Ba Đình).
Cũng phải nói đến một đối tượng thứ sáu là Hòa thượng Thích Quảng Độ với bản cáo trạng dưới hình thức “điện khẩn” được ông Nguyễn Thế Kỷ, vụ trưởng Vụ Báo chí-Xuất bản của Ban Tuyên giáo Trung ương đảng CS ký ngày 9-10-2008, gửi Các cơ quan báo chí nước, có nội dung: “…Trong trường hợp Thích Quảng Ðộ được trao giải [Nobel Hòa bình], báo chí ta đăng lời của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam kịch liệt phê phán việc trao giải vừa phi lý, thiếu thiện chí vừa làm hoen ố một giải thưởng vốn danh giá, hướng thiện. Lên án những hoạt động lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng của nhà nước để vi phạm pháp luật, giáo lý nhà Phật, phản dân, hại nước, đi ngược lại ước nguyện hòa bình, hạnh phúc, tiến bộ của nhân dân Việt Nam. Chuẩn bị sẵn bài viết, phóng sự, hình ảnh, tư liệu về vấn đề này để đấu tranh. Chú ý phỏng vấn, lấy ý kiến người dân, ý kiến các bậc chân tu phản đối việc trao giải, lên án Thích Quảng Ðộ và các thế lực đen tối khác…”
Điều đáng nói là các bản cáo trạng trên -theo nhận định của công luận trong và ngoài nước- không thực sự tạo ra các bị cáo và phạm nhân mà đã tạo ra các nạn nhân và anh hùng. Trước nhất là vì các bản cáo trạng đó hoặc (1) hoàn toàn vi phạm luật pháp, vượt quá quyền hạn, hỗn láo xấc xược (công văn ngày 21-09 và tuyên bố ngày 15-10 của Nguyễn Thế Thảo), hoặc (2) xuyên tạc vu khống, biến sở hữu chủ thành tên chiếm đoạt, người đấu tranh ôn hòa thành kẻ xách động bạo hành, cử chỉ hiệp thông thành hành vi xúi giục (lời hăm dọa của hai viên tướng công an), hoặc (3) biến một hành vi chỉ đáng bị xử phạt hành chính thành tội phạm phải bị xử lý hình sự (cáo trạng đối với 8 giáo dân Thái Hà), hoặc (4) bao che phe nhóm và củng cố đảng quyền (hai bảng cáo trạng đối với báo chí và nhóm công an điều tra tham nhũng), hoặc vu khống thóa mạ một vị tu hành (điện khẩn).
Thật ra, kẻ đáng bị ra bản cáo trạng nhất chính là đảng CSVN. Và thực sự đã có ngay những bản cáo trạng nhắm vào đối tượng sừng sỏ này rồi. Trước nhất là chính lời của Đức TGM Hà Nội: “Tôn giáo là quyền lợi chứ không phải ân huệ… Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam” (bài phát biểu ngày 20-09), rồi lời của Hội đồng GMVN: “Phải để người dân có quyền làm chủ tài sản, đất đai của họ… Phải hết sức cẩn trọng khi đưa tin tức và hình ảnh, nhất là khi liên quan đến danh dự và uy tín của cá nhân cũng như tập thể… Phải chấm dứt mọi hình thức bạo lực, trong hành động cũng như trong ngôn từ…” (Bài Quan điểm ngày 25-09).
Trên bình diện quốc tế, đó là lời của Đức Giám mục Thomas G. Wenski, Chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hoà Bình Quốc tế thuộc HĐGM Hoa Kỳ: “Khi Đức ông Parolin dẫn đầu phái đoàn Vatican đến VN hồi tháng 6-2008, đã có thảo luận việc dần dần hoàn trả cho Giáo hội quyền xử dụng những tài sản trước đây đã bị quốc hữu hoá. Hành động đơn phương vừa rồi của chính phủ VN là trực tiếp đi ngược lại những điều trước đây đã thỏa thuận... Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã bị chính quyền điạ phương vu cáo là khuấy động gây bất ổn” (Thư gởi Chủ tịch HĐGM Việt nam ngày 01-10). Đó là Nghị quyết của Quốc hội Châu Âu ngày 22-10-2008, đòi hỏi CSVN “trả tự do tức khắc cho mọi cá nhân bị quản chế, tù đày hay giam giữ vì lý do biểu tỏ ôn hòa chính kiến hay tôn giáo… cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được quyền sinh hoạt tôn giáo mà không bị chính quyền can dự… bãi bỏ các luật pháp Việt Nam nhằm kết tội các nhà bất đồng chính kiến hay các hoạt động tôn giáo… chấm dứt sự kiểm duyệt và kiểm soát đối với các cơ quan truyền thông quốc gia, kể cả mạng lưới Internet và điện tử, và cho phép phát hành nhật báo và tập san tư nhân, độc lập”. Đó là Bảng Xếp hạng tự do báo chí thế giới do tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontières) vừa phổ biến ngày 22-10 trong đó Việt Nam đứng thứ 168/173. Đó cũng là Nghị quyết 1636 của Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu thông qua ngày 3-10-2008 vừa qua để đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ.
Bản cáo trạng đối với đảng CSVN còn được viết bằng máu và nước mắt của hàng chục triệu đồng bào vô tội kể từ các cuộc Cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, Thảm sát Mậu Thân, Xâm lăng miền Nam… đến các cuộc Cải tạo tư sản, Vượt biển tìm tự do, Giam cầm quân cán chính VNCH, Tước đoạt tài sản tư nhân và tôn giáo, Đàn áp các công dân đấu tranh đòi lại quyền làm người… Tất cả đã thành sử liệu, tài liệu, chứng liệu để nhân dân sẵn sàng đưa các tay đồ tể ra truy tố, như bên Đông Âu đang làm. Tập đoàn lãnh đạo CSVN hãy liệu hồn đấy!
BAN BIÊN TẬP
TẬP ĐOÀN LỢI ÍCH TRUNG QUỐC
Tập đoàn lợi ích Trung Quốc: bắt cóc chính sách quốc gia
Đinh Học Lương
Tam Dương lược dịch
31.10.2008
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=14627&rb=0402
Nguồn: Tạp chí Quan sát tháng 10/2008, mạng Hua xia kuai di ngày 19/10/2008
Tiến bộ đột xuất nhất trong 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc là đã chế độ hóa từng bước. Thể hiện đột xuất nhất của nó là sự chuyển giao quyền lực chính trị cao nhất càng ngày càng được tiến hành theo trình tự qui định trước, có một thời gian biểu đại thể. Điều đó có nghĩa là dân chúng Trung Quốc càng ngày càng biết một cách khẳng định là đại khái đến năm nào, vào lúc họp đại hội nào thì chỗ ngồi của người lãnh đạo nào sẽ giao cho ai.
Mặc dù loại chế độ hóa này chưa phải là dân chủ hóa, nhưng không được xem thường ý nghĩa lịch sử của nó: chế độ hóa như vậy đều rất quan trọng, không chỉ dưới thể chế của Đảng Cộng sản sau năm 1949 mà còn với cả lịch sử Trung Quốc trên hai ngàn năm. Bởi vì tình trạng cơ bản trong lịch sử Trung Quốc là: hoàng đế không thể nghỉ hưu, vì hoàng đế là con trời. Đã tại vị là ông ta ngồi đến chết, trừ khi bị người lật đổ.
Từ cuối năm 1990 đến nay, chính là do chế độ hóa việc chuyển giao quyền lực cao nhất cũng như việc định kỳ hóa những hội nghị quan trọng liên quan đến việc đó (đây cũng là một phần của chế độ hóa) đã khiến cho trong xã hội Trung Quốc cứ vào dịp trước, sau việc thay thế ban lãnh đạo khóa mới, hoặc trước khi triệu tập hội nghị quan trọng nào đó, công chúng sẽ có rất nhiều chờ mong. Chờ mong cái gì? Chờ mong có biện pháp quan trọng nào đó được đưa ra, chờ mong chính sách được đưa ra sẽ càng phù hợp với lợi ích của họ hơn, nói tóm lại là dân chúng chờ mong đưa ra “động tác lớn”, chính sách cải cách mở cửa có “đột phá lớn”.
Trong đời sống chính trị Trung Quốc, điều này đã trở thành sự chờ mong không ngừng lặp đi lặp lại. Đáng tiếc là đối ứng với sự chờ mong không ngừng lặp đi lặp lại đó lại là sự thất vọng không ngừng. Mấy năm trước đây, mỗi khi tầng lớp cao có biến động nhân sự, là Trung Quốc có đủ loại tin đồn; đợi đến khi hoàn thành việc chuyển giao quyền lực, ban lãnh đạo mới nhận nhiệm vụ, hoặc kết thúc một hội nghị quan trọng, phần lớn dân chúng chờ mong Trung Quốc lại tương đối thất vọng.
Hiện tượng này phản ánh một vấn đề sâu sắc, tức sự kỳ vọng của nhân dân Trung Quốc đối với việc sáng tạo ra chính sách mới của mỗi khóa lãnh đạo mới phần lớn là sự chờ mong quá cao, đối với việc ban bố các biện pháp cải cách mở cửa trọng đại cũng chờ mong quá cao. Nguyên nhân của việc chờ mong quá cao là vì chúng được được thiết lập trên một sự coi thường căn bản, tức đã coi thường trong tiến trình 30 năm cải cách mở cửa, trong hệ thống chính trị và hành chính của Trung Quốc đã từng bước hình thành một số tập đoàn lợi ích đặc biệt tương đối ổn định vững chắc. Lúc mới bắt đầu, lực lượng những tập đoàn lợi ích đặc biệt này còn chưa đủ lớn, nhìn chưa rõ lắm cục diện phát triển lớn của toàn bộ công cuộc cải cách mở cửa, nhưng sau một thời gian dài, họ càng nhìn càng rõ. Như hiện nay họ đã biết một cách vô cùng rõ ràng rằng vào lúc nào, ở bộ phận, vị trí nào làm cái gì và làm như thế nào, nói cái gì và nói như thế nào thì mới có thể làm cho lợi ích đặc biệt của tập đoàn mình nhanh chóng to lớn lên nhất.
Còn nhớ, sau lần ra nước ngoài học tập về nước, một người bạn làm việc trong ngành thể chế có bảo: “Bạn ở nước ngoài đã gần 10 năm, sau khi trở về cần phải thay đôi kính khi quan sát vấn đề Trung Quốc. Khi bạn ra nước ngoài, Trung Quốc đang ở thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, phần lớn những tranh luận lớn đều liên quan tới hình thái ý thức, bây giờ khác rồi, mọi người càng ngày càng làm rõ lợi ích thực tế của mình là ở đâu, cho nên mâu thuẫn hiện nay là các tập đoàn lợi ích đặc biệt khác nhau, đang vật lộn với nhau, vấn đề ý thái hình thức trở thành rất thứ yếu.” Bây giờ nghĩ lại thấy câu nói đó đúng là một quan điểm của một người minh bạch, vô cùng cảnh tỉnh. Đương nhiên người có nhận thức như vậy càng ngày càng nhiều, nhưng ngay từ mùa Thu năm 1993 mà đã có cách nhìn đó, quả thực là một phán đoán chuẩn xác.
Trong cuốn Sự hưng, vong của một quốc gia (The Rise and Cecline of Nations) của giáo sư Mancur Olson, trường Đại học Mariland, Mỹ, chữ “quốc gia” mà ông dùng không phải là state (chính quyền quốc gia) mà là nation, thể hiện rất phù hợp với định nghĩa quốc gia của người Trung Quốc chúng ta, vừa bao gồm chính quyền cũng bao gồm nhân dân. Điểm quan trọng của cuốn sách này là, bất kỳ một quốc gia nào chỉ cần có thời gian ổn định chính trị đủ dài là sẽ xuất hiện tập đoàn lợi ích đặc biệt, hơn nữa chúng sẽ trở nên càng ngày càng minh bạch, thành thục, có kỹ xảo. Sau đó chúng sẽ càng ngày càng biết nên thao túng chính sách công quan trọng nhất của quốc gia, sự phát triển kinh tế của quốc gia, bộ máy chính trị, nhất là hành chính và pháp luật của bộ máy đó như thế nào, hiểu được khi thao túng phải làm thế nào để tìm được lý do tốt. Vì kỹ xảo của chúng càng ngày càng thành thạo, nên lợi ích thu được càng ngày càng bền vững, càng nhiều. Cuối cùng dần dần dẫn tới thể chế, chính sách, tổ chức về các mặt như kinh tế, xã hội, hành chính, pháp luật v.v… của quốc gia đó biến thành sự sắp xếp phù hợp nhất với tập đoàn lợi ích đặc biệt, khiến động lực mới của sự phát triển của quốc gia này càng ngày càng bị kiềm chế, các ngành càng ngày càng xơ cứng, điều này tất dẫn đến sự suy vong của quốc gia.
Thời đại Mao Trạch Đông từ năm 1949 đến năm 1977, ở Trung Quốc lúc đó rất khó tìm được tập đoàn lợi ích đặc biệt nào có ý nghĩa kinh tế chính trị học (có một cái ngoại lệ, nhưng không nói ở đây - Lời tác giả) bởi vì Mao không để cho thể chế quốc gia ổn định, cứ mấy năm lại làm một phong trào. Phong trào của Mao làm tổn thương rất nhiều người, cần phải phủ định, nhưng về khách quan, những cuộc động loạn trời nghiêng đất lở cứ mấy năm một lần đó đúng là đã làm cho không dễ dàng hình thành được tập đoàn lợi ích đặc biệt ổn định chắc chắn. Tất nhiên cũng có người nói, bên cạnh Mao cũng có một tập đoàn lợi ích, nhưng Mao không phải là người phân chia lợi ích về ý nghĩa kinh tế chính trị học, ông ta là kẻ thống trị tối cao, là hai việc khác nhau.
Từ ý nghĩa kinh tế chính trị học mà nói, tập đoàn lợi ích đặc biệt chỉ có thể từ từ hình thành và củng cố dưới sự ổn định chính trị tương đối dài. Trung Quốc bước vào thời đại Đặng Tiểu Bình, những động loạn lớn càng ngày càng ít, nhất là sau cuộc sóng gió năm 1989 đã duy trì được ổn định chính trị cơ bản 20 năm, cung cấp bầu không khí rất tốt cho việc hình thành tập đoàn lợi ích.
Bất kỳ người nào nếu công tác tại Trung Quốc một khoảng thời gian, chỉ cần có lực quan sát nhất định là có thể kể ra một số tập đoàn lợi ích đặc biệt. Ví dụ như, ở Trung Quốc thường nghe nói hệ thống thủy điện là tập đoàn lợi ích quan trọng, nó lớn đến mức không chỉ các con sông lớn của Trung Quốc và ngay những con sông loại vừa cũng đều bị nó ôm lấy xây dựng nhà máy điện, đập lớn, mỗi cái đều hàng trăm triệu, hàng tỷ, hàng chục tỷ tiền vốn. Nhiều người Trung Quốc cũng có thể nói được ai là đại biểu quan trọng nhất của tập đoàn lợi ích này, có cựu Bộ trưởng Bộ Thủy điện, có cựu Thủ tướng v.v…, tất nhiên còn có một số nói chung là “các chuyên gia” luôn nghĩ cách tìm ra “lý do” khoa học kỹ thuật để luận chứng cho các hạng mục của tập đoàn này.
Ngoài ra, ngành nhà đất xuất hiện trong 20 năm này cũng là một tập đoàn lợi ích đặc biệt, có thể đứng trong đội ngũ nhà đất không phải là những người bình thường, bởi vì tài nguyên đất đai vô cùng thiếu hiếm, đặc biệt là ở những thành phố lớn.
Càng không được coi thường, hệ thống sinh đẻ có kế hoạch cũng là một tập đoàn lợi ích. Dân số Trung Quốc lão hóa vô cùng nhanh. Các nhà khoa học trong nước dự đoán, đến năm 2030 nếu xu thế khống chế dân số hiện nay không thay đổi, thì tỷ lệ công nhân viên chức tại chức và nghỉ hưu của Trung Quốc sẽ xuất hiện bước ngoặt căn bản, số người đi làm không gánh nổi gánh nặng số người đã nghỉ hưu. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy biện pháp tốt nhất để khống chế sinh đẻ có kế hoạch là nâng cao trình độ học vấn, nhất là ở nông thôn và đối với phụ nữ, trên thế giới những phụ nữ có trình độ giáo dục trung cấp hoặc cao hơn nữa đều biết tự nguyện giảm thiểu sinh đẻ. Cưỡng bức chỉ dẫn tới phát sinh những bi kịch, tỷ lệ nam nữ mất cân đối là một ví dụ. Vì sao Trung Quốc chưa làm được việc này, bởi vì mấy chục năm qua chính sách sinh đẻ có kế hoạch đã tạo ra một tập đoàn lợi ích, ít nhất cũng tới mấy chục vạn người, hoặc còn nhiều hơn, dựa vào “sinh đẻ có kế hoạch” mà làm quan, nắm và khống chế tiền, quyền.
Ở Trung Quốc, hơn một nửa số người có thể nói ra một số tập đoàn lợi ích, nhưng những ai có quan hệ xã hội với chúng? Mỗi tập đoàn lợi ích đều không cần vận tác trên tài nguyên kinh tế mà điều quan trọng hơn là sự bảo hộ về chính trị. Tập đoàn lợi ích phải là thể kết hợp giữa tài nguyên chính trị với tài nguyên thương mại.
Những công dân bình thường ở Trung Quốc ngày nay dù có bất mãn với tập đoàn lợi ích đặc biệt cũng chẳng thể có biện pháp đối phó. Còn tập đoàn lợi ích đặc biệt sau khi bắt cóc chính sách công đặc biệt, những kết quả mặt trái tạo ra sau chính sách pháp triển của quốc gia tức là bắt toàn xã hội, nhất là nhóm người dễ bị tổn thương phải trả tiền. Đầu lớn của lợi ích, bọn họ ôm lấy, còn đầu lớn của cái giá phải trả thì chủ yếu do những người dân bình thường gánh chịu. Vì vậy dưới cục diện đó, mỗi khi tầng lớp cao thay đổi khóa, cử hành hội nghị quan trọng, công chúng Trung Quốc chờ mong rất cao “chính sách mới ra đời”, “đưa ra biện pháp tốt”, nhưng rất nhanh chóng những chờ mong đó đã biến thành thất vọng.
Nói một cách khách quan, tập đoàn lợi ích đặc biệt không chỉ Trung Quốc mới có, mà là hiện tượng sau khi tiến vào công nghiệp hóa, thương mại hóa, xã hội loài người thường gặp phải. Dưới thể chế tại Mỹ, Tây Âu có thể kể ra một số tập đoàn lợi ích đặc biệt như các tập đoàn lợi ích có liên quan tới dầu mỏ, tới ngành tài chính tiền tệ v.v… Trong các tập đoàn lợi ích đặc biệt tại Mỹ bị người ta chỉ trích nhiều nhất, chủ yếu là bị phái trung tả nước Mỹ kẹp chặt không buông là tập đoàn, ngành sản xuất quân sự. Ngành này không ngừng kêu gào rằng nước Mỹ bị uy hiếp quân sự thì mới có thể hưởng được phần lớn hơn của cái bánh (ngoài ra còn có thể kể thêm luật sư cũng là một tập đoàn lợi ích đặc biệt tại Mỹ - người dịch lược bỏ.)
Mặc dù tại Mỹ và Tây Âu cũng tồn tại tập đoàn lợi ích đặc biệt, nhưng thể chế môi trường lớn của họ vô cùng khác Trung Quốc. Dưới thể chế Mỹ, Âu tập đoàn lợi ích nào đó có thể ảnh hưởng tới chính sách, pháp qui, nhưng không thể một tay che kín bầu trời. Thứ nhất không có tập đoàn lợi ích đặc biệt nào có thể thao túng toàn quá trình bầu cử người đứng đầu hành chính, cho dù có thể ảnh hưởng tới nó. Nếu không, chúng ta không thể giải thích trong bầu cử toàn quốc Mỹ, Âu, thường có những khuôn mặt mới đứng ra, ví dụ như Obama hiện nay là một ví dụ rất rõ.
Thứ hai, tập đoàn lợi ích cũng không thể thao túng bầu cử quốc hội toàn quốc, cho dù trong đó đúng là có một bộ phận là kẻ du thuyết cho họ, nhưng chúng không thể thao túng cả hai viện vào tay mình. Điều này cho thấy vì sao tại Mỹ khi tranh luận về chính sách của tập đoàn lợi ích quân sự, hai bên tranh cãi ghê gớm mà phương án có lợi cho tập đoàn lợi ích quân sự vẫn bị phủ quyết.
Thứ ba, tập đoàn lợi ích đặc biệt cũng không thể một tay thao túng giới truyền thông, cho dù có thể ảnh hưởng tới một bộ phận trong đó.
Thứ tư, Mỹ và Tây Âu là những nơi trình độ toàn cầu hóa vô cùng cao, trước sau đều ở trong cuộc canh tranh quốc tế dữ dội. Bất kể là xét từ lịch sử hay từ lý luận, một nước dính líu vào cuộc cạnh tranh quốc tế cao nhiều mặt, thì các tập đoàn lợi ích thường bị buộc phải có thỏa hiệp.
Bốn loại kiềm chế nói trên khiến các tập đoàn lợi ích đặc biệt Mỹ, Âu không thể bắt cóc chính sách phát triển và chiến lược phát triển quốc gia lâu dài, mặc dù nó có thể ảnh hưởng một thời gian, hoặc ở một nơi nào đó. Nhưng những điều kiện kiềm chế trên, trong thể chế hiện có của Trung Quốc nếu không tồn tại thì cũng vô cùng yếu ớt. Điều này mới là lý do khiến chúng ta phải hết sức quan tâm chú ý và lo lắng.
Lãnh đạo hành chính Trung Quốc không phải qua trình tự tranh cử công khai minh bạch bầu ra, nghị sĩ quốc hội và ủy viên Chính hiệp cũng không phải do dân chúng bầu ra, có trên một nửa đại biểu hội đồng nhân dân các cấp là các quan chức đương nhiệm hoặc vừa nghỉ hưu, điều này đã tạo ra điều kiện tốt đẹp cho tập đoàn lợi ích đặc biệt củng cố mạng lưới của mình. Đồng thời mặc dù Trung Quốc có rất nhiều phương tiện truyền thông, trên một số vấn đề nào đó có thể vạch trần một phần chân tướng nhưng trong phần lớn thời gian và trên phần lớn vấn đề quan trọng vẫn bị sự khống chế có hiệu quả, nhất trí trên toàn quốc.
Sự thay đổi khiến người ta tương đối được cổ vũ là trong 30 năm trong xu thế quốc tế hóa này, so với trước Trung Quốc đã có tiến bộ rõ ràng. Trong một lĩnh vực nào đó có khi tập đoàn lợi ích đặc biệt định lấy tay che lấp bầu trời nhưng khi thấy không ổn đã buộc phải lùi bước hoặc khuất phục, ví dụ hệ thống y tế Trung Quốc cũng là tập đoàn lợi ích đặc biệt, thời kỳ đầu của dịch SARS cũng đã định một tay che lấp bầu trời nhưng kết quả là do nguyên nhân quốc tế hóa, nên mới có chuyện mất quan, mất chức. Vụ sữa Tam Lộc lần này cũng không khác mấy, nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài (Thủ tướng New Zealand) thì khả năng che giấu còn tiếp tục kéo dài… (Đến đây tác giả bài báo còn phân tích một đoạn khá dài và rút ra kết luận, sự bắt cóc chính sách phát triển quốc gia của tập đoàn lợi ích đặc biệt sản xuất vũ khí Liên Xô trước đây là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến Liên Xô sụp đổ - người dịch lược bỏ.)
Hiện nay tầng lớp cao Trung Quốc đúng là có những ý tưởng cầm quyền không giống với trước đây; một vài năm nữa, ban lãnh đạo cao cấp Trung Quốc lại thay khóa mới. Tôi nghĩ rằng những người lãnh đạo hiện nay và khóa sau, nếu trong lòng họ muốn làm một số động tác cải cách lớn nào đó, nhưng có thể do họ còn chưa có quyền uy giống như Đặng Tiểu Bình hồi đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nên chưa thể có biện pháp buộc các tập đoàn lợi ích lớn mạnh có những nhượng bộ lớn. Và đó có thể là cục diện cơ bản trong nhiều năm sắp tới.
Vì vậy nếu muốn chính sách phát triển quốc gia, chính sách công của Trung Quốc không bị các tập đoàn lợi ích “bắt cóc” quá mức, chúng ta chỉ có thể thúc đẩy một cách vững chắc Trung Quốc tiến vào cuộc cạnh tranh quốc tế nhiều mặt, đó mới là sự lựa chọn có suy nghĩ tương đối thực sự cầu thị, tương đối hiện thực.
Bản tiếng Việt © 2008 talawas
Đinh Học Lương
Tam Dương lược dịch
31.10.2008
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=14627&rb=0402
Nguồn: Tạp chí Quan sát tháng 10/2008, mạng Hua xia kuai di ngày 19/10/2008
Tiến bộ đột xuất nhất trong 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc là đã chế độ hóa từng bước. Thể hiện đột xuất nhất của nó là sự chuyển giao quyền lực chính trị cao nhất càng ngày càng được tiến hành theo trình tự qui định trước, có một thời gian biểu đại thể. Điều đó có nghĩa là dân chúng Trung Quốc càng ngày càng biết một cách khẳng định là đại khái đến năm nào, vào lúc họp đại hội nào thì chỗ ngồi của người lãnh đạo nào sẽ giao cho ai.
Mặc dù loại chế độ hóa này chưa phải là dân chủ hóa, nhưng không được xem thường ý nghĩa lịch sử của nó: chế độ hóa như vậy đều rất quan trọng, không chỉ dưới thể chế của Đảng Cộng sản sau năm 1949 mà còn với cả lịch sử Trung Quốc trên hai ngàn năm. Bởi vì tình trạng cơ bản trong lịch sử Trung Quốc là: hoàng đế không thể nghỉ hưu, vì hoàng đế là con trời. Đã tại vị là ông ta ngồi đến chết, trừ khi bị người lật đổ.
Từ cuối năm 1990 đến nay, chính là do chế độ hóa việc chuyển giao quyền lực cao nhất cũng như việc định kỳ hóa những hội nghị quan trọng liên quan đến việc đó (đây cũng là một phần của chế độ hóa) đã khiến cho trong xã hội Trung Quốc cứ vào dịp trước, sau việc thay thế ban lãnh đạo khóa mới, hoặc trước khi triệu tập hội nghị quan trọng nào đó, công chúng sẽ có rất nhiều chờ mong. Chờ mong cái gì? Chờ mong có biện pháp quan trọng nào đó được đưa ra, chờ mong chính sách được đưa ra sẽ càng phù hợp với lợi ích của họ hơn, nói tóm lại là dân chúng chờ mong đưa ra “động tác lớn”, chính sách cải cách mở cửa có “đột phá lớn”.
Trong đời sống chính trị Trung Quốc, điều này đã trở thành sự chờ mong không ngừng lặp đi lặp lại. Đáng tiếc là đối ứng với sự chờ mong không ngừng lặp đi lặp lại đó lại là sự thất vọng không ngừng. Mấy năm trước đây, mỗi khi tầng lớp cao có biến động nhân sự, là Trung Quốc có đủ loại tin đồn; đợi đến khi hoàn thành việc chuyển giao quyền lực, ban lãnh đạo mới nhận nhiệm vụ, hoặc kết thúc một hội nghị quan trọng, phần lớn dân chúng chờ mong Trung Quốc lại tương đối thất vọng.
Hiện tượng này phản ánh một vấn đề sâu sắc, tức sự kỳ vọng của nhân dân Trung Quốc đối với việc sáng tạo ra chính sách mới của mỗi khóa lãnh đạo mới phần lớn là sự chờ mong quá cao, đối với việc ban bố các biện pháp cải cách mở cửa trọng đại cũng chờ mong quá cao. Nguyên nhân của việc chờ mong quá cao là vì chúng được được thiết lập trên một sự coi thường căn bản, tức đã coi thường trong tiến trình 30 năm cải cách mở cửa, trong hệ thống chính trị và hành chính của Trung Quốc đã từng bước hình thành một số tập đoàn lợi ích đặc biệt tương đối ổn định vững chắc. Lúc mới bắt đầu, lực lượng những tập đoàn lợi ích đặc biệt này còn chưa đủ lớn, nhìn chưa rõ lắm cục diện phát triển lớn của toàn bộ công cuộc cải cách mở cửa, nhưng sau một thời gian dài, họ càng nhìn càng rõ. Như hiện nay họ đã biết một cách vô cùng rõ ràng rằng vào lúc nào, ở bộ phận, vị trí nào làm cái gì và làm như thế nào, nói cái gì và nói như thế nào thì mới có thể làm cho lợi ích đặc biệt của tập đoàn mình nhanh chóng to lớn lên nhất.
Còn nhớ, sau lần ra nước ngoài học tập về nước, một người bạn làm việc trong ngành thể chế có bảo: “Bạn ở nước ngoài đã gần 10 năm, sau khi trở về cần phải thay đôi kính khi quan sát vấn đề Trung Quốc. Khi bạn ra nước ngoài, Trung Quốc đang ở thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, phần lớn những tranh luận lớn đều liên quan tới hình thái ý thức, bây giờ khác rồi, mọi người càng ngày càng làm rõ lợi ích thực tế của mình là ở đâu, cho nên mâu thuẫn hiện nay là các tập đoàn lợi ích đặc biệt khác nhau, đang vật lộn với nhau, vấn đề ý thái hình thức trở thành rất thứ yếu.” Bây giờ nghĩ lại thấy câu nói đó đúng là một quan điểm của một người minh bạch, vô cùng cảnh tỉnh. Đương nhiên người có nhận thức như vậy càng ngày càng nhiều, nhưng ngay từ mùa Thu năm 1993 mà đã có cách nhìn đó, quả thực là một phán đoán chuẩn xác.
Trong cuốn Sự hưng, vong của một quốc gia (The Rise and Cecline of Nations) của giáo sư Mancur Olson, trường Đại học Mariland, Mỹ, chữ “quốc gia” mà ông dùng không phải là state (chính quyền quốc gia) mà là nation, thể hiện rất phù hợp với định nghĩa quốc gia của người Trung Quốc chúng ta, vừa bao gồm chính quyền cũng bao gồm nhân dân. Điểm quan trọng của cuốn sách này là, bất kỳ một quốc gia nào chỉ cần có thời gian ổn định chính trị đủ dài là sẽ xuất hiện tập đoàn lợi ích đặc biệt, hơn nữa chúng sẽ trở nên càng ngày càng minh bạch, thành thục, có kỹ xảo. Sau đó chúng sẽ càng ngày càng biết nên thao túng chính sách công quan trọng nhất của quốc gia, sự phát triển kinh tế của quốc gia, bộ máy chính trị, nhất là hành chính và pháp luật của bộ máy đó như thế nào, hiểu được khi thao túng phải làm thế nào để tìm được lý do tốt. Vì kỹ xảo của chúng càng ngày càng thành thạo, nên lợi ích thu được càng ngày càng bền vững, càng nhiều. Cuối cùng dần dần dẫn tới thể chế, chính sách, tổ chức về các mặt như kinh tế, xã hội, hành chính, pháp luật v.v… của quốc gia đó biến thành sự sắp xếp phù hợp nhất với tập đoàn lợi ích đặc biệt, khiến động lực mới của sự phát triển của quốc gia này càng ngày càng bị kiềm chế, các ngành càng ngày càng xơ cứng, điều này tất dẫn đến sự suy vong của quốc gia.
Thời đại Mao Trạch Đông từ năm 1949 đến năm 1977, ở Trung Quốc lúc đó rất khó tìm được tập đoàn lợi ích đặc biệt nào có ý nghĩa kinh tế chính trị học (có một cái ngoại lệ, nhưng không nói ở đây - Lời tác giả) bởi vì Mao không để cho thể chế quốc gia ổn định, cứ mấy năm lại làm một phong trào. Phong trào của Mao làm tổn thương rất nhiều người, cần phải phủ định, nhưng về khách quan, những cuộc động loạn trời nghiêng đất lở cứ mấy năm một lần đó đúng là đã làm cho không dễ dàng hình thành được tập đoàn lợi ích đặc biệt ổn định chắc chắn. Tất nhiên cũng có người nói, bên cạnh Mao cũng có một tập đoàn lợi ích, nhưng Mao không phải là người phân chia lợi ích về ý nghĩa kinh tế chính trị học, ông ta là kẻ thống trị tối cao, là hai việc khác nhau.
Từ ý nghĩa kinh tế chính trị học mà nói, tập đoàn lợi ích đặc biệt chỉ có thể từ từ hình thành và củng cố dưới sự ổn định chính trị tương đối dài. Trung Quốc bước vào thời đại Đặng Tiểu Bình, những động loạn lớn càng ngày càng ít, nhất là sau cuộc sóng gió năm 1989 đã duy trì được ổn định chính trị cơ bản 20 năm, cung cấp bầu không khí rất tốt cho việc hình thành tập đoàn lợi ích.
Bất kỳ người nào nếu công tác tại Trung Quốc một khoảng thời gian, chỉ cần có lực quan sát nhất định là có thể kể ra một số tập đoàn lợi ích đặc biệt. Ví dụ như, ở Trung Quốc thường nghe nói hệ thống thủy điện là tập đoàn lợi ích quan trọng, nó lớn đến mức không chỉ các con sông lớn của Trung Quốc và ngay những con sông loại vừa cũng đều bị nó ôm lấy xây dựng nhà máy điện, đập lớn, mỗi cái đều hàng trăm triệu, hàng tỷ, hàng chục tỷ tiền vốn. Nhiều người Trung Quốc cũng có thể nói được ai là đại biểu quan trọng nhất của tập đoàn lợi ích này, có cựu Bộ trưởng Bộ Thủy điện, có cựu Thủ tướng v.v…, tất nhiên còn có một số nói chung là “các chuyên gia” luôn nghĩ cách tìm ra “lý do” khoa học kỹ thuật để luận chứng cho các hạng mục của tập đoàn này.
Ngoài ra, ngành nhà đất xuất hiện trong 20 năm này cũng là một tập đoàn lợi ích đặc biệt, có thể đứng trong đội ngũ nhà đất không phải là những người bình thường, bởi vì tài nguyên đất đai vô cùng thiếu hiếm, đặc biệt là ở những thành phố lớn.
Càng không được coi thường, hệ thống sinh đẻ có kế hoạch cũng là một tập đoàn lợi ích. Dân số Trung Quốc lão hóa vô cùng nhanh. Các nhà khoa học trong nước dự đoán, đến năm 2030 nếu xu thế khống chế dân số hiện nay không thay đổi, thì tỷ lệ công nhân viên chức tại chức và nghỉ hưu của Trung Quốc sẽ xuất hiện bước ngoặt căn bản, số người đi làm không gánh nổi gánh nặng số người đã nghỉ hưu. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy biện pháp tốt nhất để khống chế sinh đẻ có kế hoạch là nâng cao trình độ học vấn, nhất là ở nông thôn và đối với phụ nữ, trên thế giới những phụ nữ có trình độ giáo dục trung cấp hoặc cao hơn nữa đều biết tự nguyện giảm thiểu sinh đẻ. Cưỡng bức chỉ dẫn tới phát sinh những bi kịch, tỷ lệ nam nữ mất cân đối là một ví dụ. Vì sao Trung Quốc chưa làm được việc này, bởi vì mấy chục năm qua chính sách sinh đẻ có kế hoạch đã tạo ra một tập đoàn lợi ích, ít nhất cũng tới mấy chục vạn người, hoặc còn nhiều hơn, dựa vào “sinh đẻ có kế hoạch” mà làm quan, nắm và khống chế tiền, quyền.
Ở Trung Quốc, hơn một nửa số người có thể nói ra một số tập đoàn lợi ích, nhưng những ai có quan hệ xã hội với chúng? Mỗi tập đoàn lợi ích đều không cần vận tác trên tài nguyên kinh tế mà điều quan trọng hơn là sự bảo hộ về chính trị. Tập đoàn lợi ích phải là thể kết hợp giữa tài nguyên chính trị với tài nguyên thương mại.
Những công dân bình thường ở Trung Quốc ngày nay dù có bất mãn với tập đoàn lợi ích đặc biệt cũng chẳng thể có biện pháp đối phó. Còn tập đoàn lợi ích đặc biệt sau khi bắt cóc chính sách công đặc biệt, những kết quả mặt trái tạo ra sau chính sách pháp triển của quốc gia tức là bắt toàn xã hội, nhất là nhóm người dễ bị tổn thương phải trả tiền. Đầu lớn của lợi ích, bọn họ ôm lấy, còn đầu lớn của cái giá phải trả thì chủ yếu do những người dân bình thường gánh chịu. Vì vậy dưới cục diện đó, mỗi khi tầng lớp cao thay đổi khóa, cử hành hội nghị quan trọng, công chúng Trung Quốc chờ mong rất cao “chính sách mới ra đời”, “đưa ra biện pháp tốt”, nhưng rất nhanh chóng những chờ mong đó đã biến thành thất vọng.
Nói một cách khách quan, tập đoàn lợi ích đặc biệt không chỉ Trung Quốc mới có, mà là hiện tượng sau khi tiến vào công nghiệp hóa, thương mại hóa, xã hội loài người thường gặp phải. Dưới thể chế tại Mỹ, Tây Âu có thể kể ra một số tập đoàn lợi ích đặc biệt như các tập đoàn lợi ích có liên quan tới dầu mỏ, tới ngành tài chính tiền tệ v.v… Trong các tập đoàn lợi ích đặc biệt tại Mỹ bị người ta chỉ trích nhiều nhất, chủ yếu là bị phái trung tả nước Mỹ kẹp chặt không buông là tập đoàn, ngành sản xuất quân sự. Ngành này không ngừng kêu gào rằng nước Mỹ bị uy hiếp quân sự thì mới có thể hưởng được phần lớn hơn của cái bánh (ngoài ra còn có thể kể thêm luật sư cũng là một tập đoàn lợi ích đặc biệt tại Mỹ - người dịch lược bỏ.)
Mặc dù tại Mỹ và Tây Âu cũng tồn tại tập đoàn lợi ích đặc biệt, nhưng thể chế môi trường lớn của họ vô cùng khác Trung Quốc. Dưới thể chế Mỹ, Âu tập đoàn lợi ích nào đó có thể ảnh hưởng tới chính sách, pháp qui, nhưng không thể một tay che kín bầu trời. Thứ nhất không có tập đoàn lợi ích đặc biệt nào có thể thao túng toàn quá trình bầu cử người đứng đầu hành chính, cho dù có thể ảnh hưởng tới nó. Nếu không, chúng ta không thể giải thích trong bầu cử toàn quốc Mỹ, Âu, thường có những khuôn mặt mới đứng ra, ví dụ như Obama hiện nay là một ví dụ rất rõ.
Thứ hai, tập đoàn lợi ích cũng không thể thao túng bầu cử quốc hội toàn quốc, cho dù trong đó đúng là có một bộ phận là kẻ du thuyết cho họ, nhưng chúng không thể thao túng cả hai viện vào tay mình. Điều này cho thấy vì sao tại Mỹ khi tranh luận về chính sách của tập đoàn lợi ích quân sự, hai bên tranh cãi ghê gớm mà phương án có lợi cho tập đoàn lợi ích quân sự vẫn bị phủ quyết.
Thứ ba, tập đoàn lợi ích đặc biệt cũng không thể một tay thao túng giới truyền thông, cho dù có thể ảnh hưởng tới một bộ phận trong đó.
Thứ tư, Mỹ và Tây Âu là những nơi trình độ toàn cầu hóa vô cùng cao, trước sau đều ở trong cuộc canh tranh quốc tế dữ dội. Bất kể là xét từ lịch sử hay từ lý luận, một nước dính líu vào cuộc cạnh tranh quốc tế cao nhiều mặt, thì các tập đoàn lợi ích thường bị buộc phải có thỏa hiệp.
Bốn loại kiềm chế nói trên khiến các tập đoàn lợi ích đặc biệt Mỹ, Âu không thể bắt cóc chính sách phát triển và chiến lược phát triển quốc gia lâu dài, mặc dù nó có thể ảnh hưởng một thời gian, hoặc ở một nơi nào đó. Nhưng những điều kiện kiềm chế trên, trong thể chế hiện có của Trung Quốc nếu không tồn tại thì cũng vô cùng yếu ớt. Điều này mới là lý do khiến chúng ta phải hết sức quan tâm chú ý và lo lắng.
Lãnh đạo hành chính Trung Quốc không phải qua trình tự tranh cử công khai minh bạch bầu ra, nghị sĩ quốc hội và ủy viên Chính hiệp cũng không phải do dân chúng bầu ra, có trên một nửa đại biểu hội đồng nhân dân các cấp là các quan chức đương nhiệm hoặc vừa nghỉ hưu, điều này đã tạo ra điều kiện tốt đẹp cho tập đoàn lợi ích đặc biệt củng cố mạng lưới của mình. Đồng thời mặc dù Trung Quốc có rất nhiều phương tiện truyền thông, trên một số vấn đề nào đó có thể vạch trần một phần chân tướng nhưng trong phần lớn thời gian và trên phần lớn vấn đề quan trọng vẫn bị sự khống chế có hiệu quả, nhất trí trên toàn quốc.
Sự thay đổi khiến người ta tương đối được cổ vũ là trong 30 năm trong xu thế quốc tế hóa này, so với trước Trung Quốc đã có tiến bộ rõ ràng. Trong một lĩnh vực nào đó có khi tập đoàn lợi ích đặc biệt định lấy tay che lấp bầu trời nhưng khi thấy không ổn đã buộc phải lùi bước hoặc khuất phục, ví dụ hệ thống y tế Trung Quốc cũng là tập đoàn lợi ích đặc biệt, thời kỳ đầu của dịch SARS cũng đã định một tay che lấp bầu trời nhưng kết quả là do nguyên nhân quốc tế hóa, nên mới có chuyện mất quan, mất chức. Vụ sữa Tam Lộc lần này cũng không khác mấy, nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài (Thủ tướng New Zealand) thì khả năng che giấu còn tiếp tục kéo dài… (Đến đây tác giả bài báo còn phân tích một đoạn khá dài và rút ra kết luận, sự bắt cóc chính sách phát triển quốc gia của tập đoàn lợi ích đặc biệt sản xuất vũ khí Liên Xô trước đây là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến Liên Xô sụp đổ - người dịch lược bỏ.)
Hiện nay tầng lớp cao Trung Quốc đúng là có những ý tưởng cầm quyền không giống với trước đây; một vài năm nữa, ban lãnh đạo cao cấp Trung Quốc lại thay khóa mới. Tôi nghĩ rằng những người lãnh đạo hiện nay và khóa sau, nếu trong lòng họ muốn làm một số động tác cải cách lớn nào đó, nhưng có thể do họ còn chưa có quyền uy giống như Đặng Tiểu Bình hồi đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nên chưa thể có biện pháp buộc các tập đoàn lợi ích lớn mạnh có những nhượng bộ lớn. Và đó có thể là cục diện cơ bản trong nhiều năm sắp tới.
Vì vậy nếu muốn chính sách phát triển quốc gia, chính sách công của Trung Quốc không bị các tập đoàn lợi ích “bắt cóc” quá mức, chúng ta chỉ có thể thúc đẩy một cách vững chắc Trung Quốc tiến vào cuộc cạnh tranh quốc tế nhiều mặt, đó mới là sự lựa chọn có suy nghĩ tương đối thực sự cầu thị, tương đối hiện thực.
Bản tiếng Việt © 2008 talawas
Subscribe to:
Posts (Atom)