Saturday, November 1, 2008

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN THẮNG

Chủ nghĩa tư bản thắng, không phải chủ nghĩa xã hội
(Tuần báo Ba Lan Wprost phỏng vấn John McCain)
Lê Diễn Đức dịch và giới thiệu
1.11.2008
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=14646&rb=0402

Lời người dịch: Trong ngày 29/10/2008, Đảng Dân chủ thực hiện cuộc tổng phản công trên toàn nước Mỹ: vào giờ ăng-ten cao điểm nhất, các đài truyền hình lớn BS, Fox, NBC, BET, MSNBC, TV One và cả kênh tiếng Tây Ban Nha Univision, đồng nhất phát đoạn phim nói về các chương trình của Barack Obama, dài kỷ lục – tới 30 phút. Theo Foxnews.com (ngày 30/10/2008), quảng cáo này tốn từ 4–5 triệu đôla và Evan Tracey, giám đốc Trung tâm Phân tích Các chiến dịch Tranh cử bình luận rằng, nó “đã tước hết ôxy dự trữ của Thượng nghị sĩ John McCain”.

Với nguồn thu trên 600 triệu đôla, gấp hai lần McCain, Obama đã giành ưu thế gần như tuyệt đối trên các phương tiện truyền thông vô cùng đắt đỏ của nước Mỹ. Cũng theo Foxnews.com, trong bức thư gửi cử tri, nói về khó khăn tài chính của uỷ ban tranh cử của mình, John McCain viết: “Các cuộc thăm dò càng ngày càng gần nhau hơn về kết quả. Chúng tôi cần đến ủng hộ của bạn trong những ngày cuối cùng của cuộc vận động. Liên danh Dân chủ Obama-Biden lấy hết thời gian trên truyền thông đại chúng để quảng cáo, hầu thuyết phục quần chúng rằng họ đã sẵn sàng lãnh đạo nhà nước. Đơn giản là họ hoàn toàn chưa sẵn sàng. Chúng tôi cần ngay lập tức sự ủng hộ tài chính để thuyết phục những người còn lưỡng lự.”

Trong thư của McCain còn có đoạn: “Trong sự thiên vị của truyền thông, các ứng viên Dân chủ Obama, Biden và chiến hữu của họ muốn các bạn hiểu rằng đã đến lúc kết thúc. Trong diễn tiến của mùa tranh cử, tôi nhớ lại câu nói của Gấu Yogi
[1] ‘Không có gì kết thúc khi nó chưa kết thúc’.”

Thomas Sowell, người Mỹ gốc Phi, giáo sư Hoover Institut của Stanford University, một trong những nhà kinh tế bảo thủ nổi tiếng thế giới, trong bài
“Những thằng cha trong Nhà Trắng” gọi bộ phận truyền thông Mỹ quá thiên vị Obama là “những kẻ man rợ (barbarian) trong vườn thú Washington”, có thái độ thù địch với Sarah Palin chỉ vì “bà là người phụ nữ bình thường, có tính thuyết phục ngoại lệ của con người, nói bằng ngôn ngữ khác với giới elite xã hội cấp tiến của Washington, Boston hay New York, làm ngơ trước các khuôn mẫu đạo đức và trí thức, không đếm xỉa đến sự thừa nhận hay thoá mạ của họ.”

“Không phụ thuộc vào những nhược điểm (ai không có nhược điểm?), John McCain cũng như Sarh Palin là những con người gắn với các giá trị quốc gia của người Mỹ. Lòng trung thành của họ với đất nước và sự dấn thân của họ cho các định chế nền tảng của Hoa Kỳ không làm bất cứ ai nghi ngờ. Không ai trong họ cộng tác với những kẻ khinh thị hoặc căm thù đất nước tôi. Họ hoàn toàn trái ngược với những kẻ giành được kinh nghiệm, nhưng từ những đại sa-lông chính trị ở Washington” – Thomas Sowell viết – “đó là lý do tại sao người Mỹ lại không nên bỏ phiếu cho Barack Obama.” – Ông kết luận.

Phóng viên nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza, Marcin Bosacki, viết từ Washington (28/10/2008) bài “John McCain – lịch sử của những cú ngã quỵ và vươn lên đỉnh điểm” (Wprost số 44, ngày 2/11/2008), kể lại những thất bại của McCain từ ngày còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, từ những cuộc tình, từ thời kỳ bị giam tại Hoả Lò (Hà Nội) đến những hoàn cảnh khác tưởng như ông phải khuất phục, nhưng ông đã vươn lên và khẳng định được mình. Bài báo thuật lại lời McCain nói bốn ngày trước đó trong một phỏng vấn của đài truyền hình NBC: “Chúng tôi nằm ở phía sau trong những cuộc thăm dò, chúng tôi có ít tiền bạc hơn, nhưng tất cả đều xác nhận cơ hội của chúng tôi – đó là tất cả những gì tôi thích thú. Tôi đã ở trong hoàn cảnh như thế nhiều lần. Tôi tin rằng chúng tôi sẽ thắng.”

Chung cuộc sẽ ra sao? Trọng tài vẫn chưa nổi tiếng còi chấm dứt cuộc đấu. Chúng ta còn phải chờ đến ngày 4/11/2008.

Bài phỏng vấn John McCain dưới đây – do Ludwik M. Bednarz, phóng viên tuần báo Wprost (Ba Lan) thực hiện tại San Francisco, đăng trên Wprost số 44, ra ngày 2/11/2008 – hy vọng cung cấp thêm đôi điều xung quanh quan điểm của John McCain.
Lê Diễn Đức

Wprost: Là người Cộng hoà, ông có cảm thấy chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng bùng nổ vào thời gian mà đảng của ông cầm quyền?
John McCain: Nền kinh tế nằm vào điểm kết của chu kỳ tăng trưởng, đó là hiện tượng khách quan. Khủng hoảng tài chính làm tăng thêm các vấn đề trong bối cảnh này. Đây không phải là sự việc có thể dễ dàng đổ lỗi cho một ai cụ thể – ít nhất, một ai đó trong chính quyền hiện tại. Giờ đây cần tập trung tạo ra các điều kiện nhằm đánh thức sự tăng trưởng kinh tế mới.

Wprost: Các điều kiện như thế nào?
John McCain: Một phương pháp đã được kiểm chứng là giảm thuế.

Wprost: Nhưng sự can thiệp của chính phủ và hệ thống ngân hàng Federal Reserve trong mục đích cứu các ngân hàng làm tăng nợ công tới trên 11 ngàn tỷ đôla. Bội chi ngân sách cũng tăng lên nhanh chóng. Việc giảm thuế liệu có ý nghĩa gì khi nó thu hẹp đi nguồn tài chính quốc gia?
John McCain: Trong năm đầu tiên sau khi nhậm chức tôi sẽ cắt giảm chi phí cho tất cả các cơ quan liên bang, trừ chi phí quốc phòng, an ninh đối nội và các khoản dành cho cựu chiến binh. Tất nhiên điều này chưa đủ. Bài toán dài hạn hơn cần có trợ giúp của giảm thuế và các công cụ của chính sách tiền tệ phù hợp với sự phát triển. Đánh thức tính doanh nghiệp và cả nền kinh tế bằng cách này sẽ tạo ra nguồn thu thuế lớn hơn.

Wprost: Barack Obama cũng hứa sẽ giảm thuế.
John McCain: Tôi đề nghị giảm thuế cho tất cả – gia đình và các doanh nghiệp – còn Thượng nghị sĩ Obama trong thực tế muốn tăng thuế, trong đó với các doanh nghiệp. Ông ấy phải tiến tới điều này để giành được nguồn tài chính cho việc thực hiện các chương trình hoạch định của chính phủ với phí tổn trên một ngàn tỷ đôla. Đây là chính sách truyền thống của những người Dân chủ: ‘Hãy thu thuế và hãy chi tiêu’ (tax and spend). Tôi không đồng ý như vậy.

Wprost: Obama khẳng định chỉ tăng thuế đối với người giàu và các doanh nghiệp, còn giảm cho người nghèo. Ông ấy còn khuyến cáo ông về thiện ý với các doanh nghiệp lớn.
John McCain: Tôi không biết ông ấy làm bằng cách nào. Gần một nửa người Mỹ được miễn thuế, bởi vì thu nhập dưới ngưỡng quy định hoặc có những ưu đãi khác. Đa số những người nộp thuế thật sự là các doanh nghiệp nhỏ - nền móng của kinh tế Mỹ. Doanh nghiệp nhỏ mang lại một nửa tổng thu nhập quốc dân và tạo ra rất nhiều việc làm. Sự tăng thêm khó khăn cho khu vực này sẽ phản hồi lên nền kinh tế.

Wprost: Trong trường hợp giành thắng lợi, cuộc cải cách trong khu vực bảo vệ sức khoẻ đang chờ đợi ông. Việc này có thực hiện được không?
John McCain: Chúng tôi có các định chế tư nhân bảo hiểm sức khoẻ đang hoạt động tốt. Vấn đề ở chỗ là nhiều gia đình không đủ khả năng mua bảo hiểm này. Vì vậy tôi đề nghị trả lại từ phần thu thuế tới 2500 đôla cho các cá thể và tới 5000 đôla cho gia đình. Thượng nghị sĩ Obama thì lại muốn giải quyết bằng phương thức xã hội chủ nghĩa – thành lập một cơ quan tài chính với nguồn từ ngân sách để đảm bảo cho mỗi công dân được chăm sóc sức khoẻ. Các định chế quan liêu khổng lồ này sẽ không hiệu quả và lãng phí tiền bạc. Trong khi đó, những người nghèo nhất đang được bảo đảm chăm sóc qua hệ thống liên bang hiện hữu là Medicaid. Ngoài ra, bất kỳ ai khi đến bệnh viện cấp cứu đều được giúp đỡ miễn phí, thậm chí cả trường hợp không có bảo hiểm. Hoàn toàn sai sự thật khi nói rằng, ở Mỹ rất nhiều người nghèo không được chăm sóc y tế.

Wprost: Sự suy thoái có thể của kinh tế sẽ làm đảo lộn các kế hoạch của ông với những đòi hỏi đầu tư lớn lao để không phụ thuộc vào nhập khẩu dầu mỏ?
John McCain: Ngày hôm nay, chúng tôi chi 700 tỷ đôla nhập khẩu dầu mỗi năm. Đây là sự trao chuyển tài nguyên lớn nhất trong lịch sử. Tệ hại nhất là điều, một phần tiền ấy lọt vào két những chính phủ không thân thiện, thậm chí vào tay những tên khủng bố Hồi giáo. Cho nên, độc lập về năng lượng không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc dân. Tôi muốn đến 2030 sẽ có thêm 45 lò phản ứng hạt nhân mới thêm vào 104 cái đang có. Tôi cũng sẽ ủng hộ cái được gọi là công nghệ sạch. Thế nhưng chúng tôi phải chịu đựng giai đoạn quá độ và trong giai đoạn này phải nạp xăng và dầu máy cho 260 triệu chiếc xe hơi. Vì thế tăng thêm khai thác dầu từ các nguồn riêng tại Alaska và trên thềm lục địa được xem là hàng đầu. Thượng nghị sĩ Obama chống lại khai thác dầu dọc bờ biển nước Mỹ. Ông ta hứa năng lượng từ những nguồn tìm kiếm mới. Chỉ không biết lấy gì ngay lúc này để nạp xăng cho xe hơi.

Wprost: Chi phí cho các cuộc chiến Iraq và Afghanistan tăng nợ công của Mỹ thêm 12–13 tỷ đôla mỗi tháng. Nước Mỹ còn đủ sức cho các cuộc tác chiến này?
John McCain: An ninh của đất nước là vấn đề quan trọng nhất. Sau vụ khủng bố 11 tháng Chín năm 2001, chúng tôi chuyển cuộc chiến đấu với chủ nghĩa Hồi giáo hung hăng sang lãnh thổ của kẻ thù. Sau vô số sai lầm mà chính quyền Tổng thống George W. Bush mắc phải, ngày hôm nay ở Iraq đã thấy ánh sáng cuối đường hầm. Chính phủ được bầu lên một cách dân chủ với hậu thuẫn của lực lượng Mỹ và đồng minh đang kiểm soát đa số các tỉnh. Tôi đề nghị một kịch bản chiến thắng, tức là rút quân đội của chúng tôi khi chính phủ Iraq tự đảm bảo được an ninh cho nhân dân cả nước và nắm kiểm soát toàn bộ biên giới. Thượng nghị sĩ Obama thì lại muốn triệt thoái quân đội trong vòng 16 tháng – không phụ thuộc vào tình hình. Đây là kịch bản của sự thất bại và sự hỗn loạn tiếp tục tại Iraq.

Wprost: Cuộc chiến với Taliban ở Afghanistan cũng có thể giành thắng lợi?
John McCain: Giống như cuộc chiến đấu với phát-xít trong Chiến tranh Thế giới thứ II, cuộc chiến chống khủng bố không phải là vấn đề riêng của nước Mỹ. Nếu như các nước thuộc NATO biểu hiện thiện chí chính trị hơn và tham dự quân sự nhiều hơn, chúng ta sẽ chiến thắng nhanh hơn.

Wprost: Việc Ba Lan rút quân đội ra khỏi Iraq có ảnh hưởng đến quan hệ song phương?
John McCain: Không ảnh hưởng. Ngoài ra tôi đánh giá cao việc ký kết hiệp ước về lá chắn chống tên lửa giữa Ba Lan và Mỹ. Đây là bước đi thực chất về phía bảo vệ châu Âu và Mỹ trước các tấn công từ bên ngoài.

Wprost: Điều cần thay đổi là khẩu hiệu chính của cuộc tranh cử. Tại sao cử tri có thể tin rằng, bảo đảm cho nó là John McCain, thành viên của giới quyền lực từ hơn một phần tư thế kỷ nay?
John McCain: Cử tri biết tôi như một người thực hiện nguyên tắc: “Trước hết quyền lợi của đất nước, sau đó mới tới quyền lợi của đảng tôi.” Những lần bỏ phiếu của tôi tại Thượng viện chứng minh điều này. Cũng vì nó mà có cái tên lóng “Maverick”, tức là độc lập về chính trị, không sáo mòn. Đã rất nhiều lần tôi chống lại chính sách của Đảng Cộng hoà và chính quyền của Tổng thống George W. Bush. Đó là những sự việc có thật.

Wprost: Thống đốc Alaska Sarah Palin, ứng viên Phó Tổng thống của ông, ban đầu mang lại cho ông rất nhiều phiếu, nhưng hôm nay khá nhiều người vạch ra sự thiếu chuẩn bị của bà ấy đối với cương vị quan trọng như thế. John McCain: Sarah có nhiều kinh nghiệm hơn cả ứng viên Đảng Dân chủ trước kia Bill Clinton, bấy giờ là Thống đốc tiểu bang nhỏ Arkankas. Bà kiểm soát ngân sách 14 tỷ đôla và tiểu bang của bà là một trong những tiểu bang lớn nhất trong lĩnh vực khai thác dầu, khí đốt và nhiều tài nguyên khác – rất quan trọng về kinh tế. Cách thức vận động tranh cử của bà xác nhận đẳng cấp của một chính khách toàn quốc. Ngoài ra bà ấy được biết như một người độc lập, đặt quyền lợi đất nước lên trên những điều khác.

Wprost: Nước Mỹ của McCain khác gì với nước Mỹ của Obama?
John McCain: Chúng tôi đang đứng trên hai cực chính trị đối nghịch. Dựa trên phân tích những lần bỏ phiếu tại Thượng viện, Barack Obama đã trở thành một Thượng nghị sĩ cực tả. Để so sánh: Thượng nghị sĩ cũng rất thiên tả Hillary Clinton, người thua với ông ấy trong việc chọn ứng viên tổng thống của Đảng Dân chủ, đứng vị trí thứ mười sáu trong xếp hạng. Đấy là câu trả lời.

Bản tiếng Việt © 2008 talawas


------------------------------
[1]Gấu Yogi (Yogi Bear): nhân vật hoạt hình được nhân cách hoá, do Hanna-Barbera Productions sáng tạo, xuất hiện lần đầu trong các phim của hãng này vào năm 1958. (Chú thích của talawas)

DỪ ÁN BAUXIT DAK-NONG và KINH NGHIỆM TÂY NGUYÊN

Dự án bauxit ở Đắk Nông và kinh nghiệm Tây Nguyên
Nguyên Ngọc
01:18-31/10/2008
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=2492

Trong dự án to lớn: khai thác bauxit ở Đắk Nông, nếu có những chỗ cần cân nhắc thì điều cần cân nhắc nhất có thể chưa hẳn là chuyện môi trường mà trước hết và quan trọng hơn cả là chuyện xã hội – văn hóa, hoặc nói đúng hơn, chuyện môi trường, xã hội – văn hóa liên quan khắng khít với nhau. Và đấy chính là một đặc điểm của xã hội Tây Nguyên, phải hết sức chú ý khi tính toán, giải quyết bất kỳ vấn đề lớn nhỏ nào ở vùng này.

Là người từng hoạt động ở Tây Nguyên và gắn bó với vùng đất và người này hơn nửa thế kỷ qua, tôi hết sức băn khoăn với dự án này, rất sợ rằng những toan tính vội vã và hời hợt của chúng ta sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức nặng nề. Và sẽ rất kỳ lạ nếu chúng ta làm chuyện quá ư to lớn này ở đây mà không hề nghĩ, không hề nhớ đến những gì đã diễn ra trong 30 năm qua, những bài học lớn, sâu và cay đắng 30 năm ấy còn để lại, sờ sờ ra đấy, rất có thể lại còn dạy ta lần nữa, nhiều lần nữa, và thường vẫn vậy, lần sau bao giờ cũng nghiêm khắc hơn lần trước.

Bài học lớn ở Tây Nguyên hơn 30 năm qua là gì?

Có thể nói vắn tắt và đơn giản thế này: sau năm 1975, chúng ta đã chủ trương và tiến hành những việc rất lớn ở Tây Nguyên: Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng vững chắc về an ninh và quốc phòng; Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước – và để thực hiện hai chủ trương chiến lược đó, đã tổ chức một cuộc đại di dân chưa từng có từ đồng bằng lên Tây Nguyên. Chủ trương chiến lược đối với Tây Nguyên như vậy là đúng, nhưng biện pháp để thực hiện chủ trương đó, tăng cường lực lượng lao động cho Tây Nguyên bằng một cuộc đại di dân từ đồng bằng lên, với cường độ và tốc độ rất lớn, như đến nay đã chứng tỏ, chắc chắn là sai lầm lớn, thậm chí là sai lầm chiến lược như có người đã cảnh báo ngay từ lúc bấy giờ, nhưng hoàn toàn không được nghe.

Chúng ta đã hành động ở Tây Nguyên rất thản nhiên, không hề quan tâm đến chỗ đây là một vùng đất và người rất đặc biệt về nhiều mặt, thậm chí đặc biệt nhất trong cả nước, không giống bất cứ vùng nào khác, kể cả các vùng dân tộc phía Bắc và phía Nam. Thậm chí có thể nói không quá lời, chúng ta đã làm mọi việc ở Tây Nguyên mà không hề quan tâm đến những điều cơ bản và sơ đẳng nhất của vùng đất và người rất đặc trưng này. Không hề quan tâm đến lịch sử rất đặc biệt của Tây Nguyên (chẳng hạn có ai biết Tây Nguyên chính thức thuộc về Việt Nam từ khi nào? Các dân tộc Tây Nguyên đã đến và gắn bó với cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ bao giờ, bằng những con đường nào, có những điểm nào trên con đường đó để lại ảnh hưởng sâu xa trong sự gắn bó ấy? Từng dân tộc ở Tây Nguyên, như dân tộc Mơ Nông ở Đắk Nông đây, có những đặc điểm gì về lịch sử, về truyền thống, về tính cách, v.v…). Rồi tổ chức xã hội cổ truyền của Tây Nguyên ra sao đã khiến cho Tây Nguyên tồn tại bền vững qua mọi thử thách hàng nghìn năm nay, kể cả thử thách vô cùng khắc nghiệt của hai cuộc chiến tranh trong thời hiện đại, và còn ảnh hưởng rất sâu đậm cho đến tận ngày nay; những việc làm của chúng ta hiện nay tác động tốt xấu như thế nào đến cơ cấu tổ chức xã hội đã từng tỏ ra rất hiệu lực đó. Đặc điểm của các dân tộc và từng dân tộc ở Tây Nguyên, mối quan hệ giữa họ với nhau và với các dân tộc bên cạnh. Có đại biểu đã nêu rõ rằng những vấn đề tự nhiên và môi trường ở Tây Nguyên, ở Đắk Nông, là có tính chất “liên quốc gia”, rất đúng như vậy. Tôi xin nói thêm: vấn đề dân tộc ở đây cũng có tính chất liên quốc gia, hẳn chúng ta đều biết quá rõ và chắc chắn không thể coi thường khía cạnh rất nhạy cảm này. Và vấn đề cốt tử hàng đầu của mọi xã hội nông nghiệp là vấn đề đất đai, quyền sở hữu đất đai; có ai đã để tâm nghiên cứu vấn đề đất đai và quyền sở hữu đất đai ở Tây Nguyên xưa và nay ra sao? Trong những năm qua đã biến đổi như thế nào? Đang để lại những bài toán nào khiến chúng ta còn phải rất đau đầu tìm cách giải quyết (mà hầu như chưa thật sự có đường ra). Có một số tác giả đã có những công trình công phu và rất có trách nhiệm về đề tài vừa cơ bản vừa nóng hổi này, nhưng theo chỗ tôi được biết các công trình đó đều bị xếp kín vào tủ, chẳng được mấy người có trách nhiệm từ cấp cao đến người thực hiện cụ thể ở cơ sở tại Tây Nguyên quan tâm, thậm chí liếc mắt nhìn qua. Tôi xin được nói rõ lại một số điều chính các tác giả ấy đã nói rồi mà bị bỏ ngoài tai.
Ở Tây Nguyên đất tức là rừng, và từ xưa, ở Tây Nguyên không có đất và rừng vô chủ. Rừng núi mênh mông vậy nhưng đều có chủ rất rõ rệt và cụ thể. Người chủ tuyệt đối đó là các làng, từng làng, đất và rừng của từng làng có ranh giới hết sức rành mạch, là thiêng liêng, của tổ tiên ngàn đời trao lại, của “Thần linh” ban cho làng, được ghi rất chặt chẽ trong luật tục, không ai được xâm phạm hay làm ô uế. Các nhà khoa học gọi đây là “quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng”. Quyền sở hữu đó là cơ sở, là nền tảng vật chất và kinh tế của tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên là làng. Làng và rừng của làng, từng làng, là "không gian xã hội" hay "không gian sinh tồn" của con người ở đây, nghĩa là khi không gian ấy bị xâm phạm, bị biến dạng, bị mất đi, thì con người không còn sinh tồn, nói nôm na là không còn sống được nữa. Mất nền tảng ấy thì làng tan, văn hóa tan, con người trở nên bơ vơ, lạc lõng, tha hóa, bởi văn hóa Tây Nguyên là văn hóa làng, văn hóa rừng, con người Tây Nguyên là con người của làng, của rừng. Và như thế xã hội tất rối loạn…

30 năm qua chúng ta đã xử trí như thế nào đối với đất và rừng ở Tây Nguyên?

Chúng ta coi đấy là đất và rừng giữa trời, vô chủ, lấy đi hàng triệu hecta đất và rừng của các làng, từng làng giao cho các đơn vị bộ đội, các Liên hiệp xí nghiệp nông lâm công nghiệp, rồi các nông trường, lâm trường và cho hàng triệu người di cư từ nơi khác đến, là những tác nhân phá rừng kinh khủng (rồi ta lại đổ cho đồng bào dân tộc tại chỗ làm rẫy phá rừng, điều nếu quả họ đã làm thì họ đã bị tiêu diệt mất hàng vạn năm nay rồi!).

Những điều tôi nói trên đây là không có gì mới, chắc mỗi người trong chúng ta có nói thẳng ra hay không đều biết, hoặc ít ra đều cảm thấy rồi. Nhưng tôi muốn nói lại những điều đó ở đây để thử đặt lại câu hỏi: trên hơn 2/3 diện tích của tỉnh Đắk Nông mà ta sẽ chặt trụi, cạo sạch đi hết rừng, rồi đào bới lên để lấy bauxit, trên cái diện tích không hề nhỏ ấy vốn có bao nhiêu rừng và đất của bao nhiêu làng Mơ nông, sự tan vỡ của các làng Mơ nông ngàn đời ấy sẽ đưa lại hậu quả gì? Những điều chúng ta, những người chủ trương dự án, những nhà đầu tư và thực thi dự án hứa với đồng bào Mơ Nông, với các làng Mơ Nông, những làng từng sống chết ngàn đời ở đây, những lời hứa đó có bao nhiêu căn cứ? Bao nhiêu khả năng hiện thực? Ai sẽ chịu trách nhiệm nếu đó chỉ là lời hứa cho xong chuyện, cho được việc hôm nay, vì những quyền lợi cấp thời bây giờ?

Tôi có nghe ý kiến nói rằng Tây Nguyên còn đến 2 triệu hecta rừng, rừng mất vì khai khoáng ở Đắk Nông là không đáng kể, và đấy cũng là vùng không có rừng, nên chẳng ảnh hưởng gì! Theo tôi con số 2 triệu hecta rừng là một con số ma. Trong chiến tranh chống Pháp tôi từng có hoạt động ở vùng Đăk Mil, chúng tôi tồn tại được thời bấy giờ là do được rừng đại ngàn che chỡ. Nay rừng đã bị phá rất nhiều, đến gần hết, chúng ta muốn tiếp tục sa mạc hóa hoàn toàn vùng này chăng? Cũng không thể không nói thật rằng cái gọi là kế hoạch hoàn thổ sau khi đã cạo sạch rừng, bóc đi từ 1 mét đến 1,5 mét đất cho đến quặng, rồi tiếp tục moi đến hàng chục mét nữa để vét hết quặng, rồi lấp lại, trồng rừng lên, lập lại làng, khôi phục lại cuộc sống cho dân … là một sự nói chơi, nói đùa cho vui, nếu không phải là nói bừa cho xong, cho được việc trước mắt, hoặc không phải là một sự lừa phỉnh trắng trợn. Mùa mưa rừng Tây Nguyên, ai từng ở đây hẳn đều biết, dữ dội như thế nào, lại trên đất Đắk Nông cao trên 800 mét và dốc đến 25°, hoàn thổ thế nào kịp trước mùa mưa? Sẽ là một cuộc cạo sạch vĩnh viễn và khai thác tàn phá có tịnh tiêu diệt không hơn không kém, chắc chắn sẽ để lại một hoang mạc, như nhiều nhà khoa học đã cảnh báo, không chỉ ở đây, mà còn ở cả một vùng rộng lớn Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

Gần đây chúng ta nói đến tai họa Vedan. Tai họa do chất thải độc từ khai thác bauxit ở trên độ cao và dốc như Đắk Nông chắc chắn còn gấp trăm lần tai họa Vedan… Và rồi những người Mơ Nông bản địa bị thu hồi đất sẽ đi đâu, tái định cư như thế nào, làm gì ở vùng đất mới của họ, và họ đứng đâu, làm gì trong các nhà máy hiện đại của chúng ta? Kinh nghiệm suốt hơn 30 năm qua cho thấy, trong những dự án quy mô nhỏ hơn, ít hiện đại hơn nhiều, chưa đâu thành công trong việc đưa người bản địa trở thành những công nhân hiện đại trong các cơ sở kinh tế công nghiệp hiện đại. Hầu như chắc chắn họ chỉ còn hai con đường: lui vào rừng ngày càng sâu, ngày càng khốn khổ và bế tắc; hoặc ở lại và trở thành người làm thuê đơn giản cho những người nơi khác đến, tức người Kinh (và 26.000 cán bộ, công nhân kỹ thuật như kế hoạch dự kiến sẽ đưa lên đây) và cả những người nước ngoài mà chúng ta không hề mong muốn. Bị đẩy vào tình cảnh tất yếu đó, hoặc họ sẽ là một dân tộc bị suy tàn, mai một, hoặc họ sẽ có phản ứng không thể lường. Trong tình hình đó những cơ sở khai khoáng hoành tráng và những nhà máy huy hoàng của chúng ta có thể bảo đảm an toàn chăng?..

Các nhà khoa học đã phác ra bức tranh phải nói là khá đen tối về môi trường. Tôi xin thử hình dung bức tranh xã hội như vậy. Và muốn nói thêm rằng ở đây vấn đề môi trường cũng là vấn đề xã hội, là vấn đề dân tộc, và đã là vấn đề dân tộc thì chớ coi thường. Như chúng ta đều biết tôn giáo và dân tộc là hai vấn đề lâu dài nhất, khó nhất, thậm chí vĩnh viễn của thế giới, và cũng là của từng quốc gia.
Chúng ta đang đứng trước một vấn đề như vậy ở đây, hôm nay.

Quả thật nếu cứ một mực dấn tới, tôi không thấy có đường ra. Tôi là một người lính, từng trải qua chiến tranh. Tôi biết trong chiến tranh có một kinh nghiệm thoạt nghe hơi lạ: Quyết định nổ súng, mở đầu một trận đánh, một chiến dịch là rất khó. Đã chuẩn bị đầy đủ chưa? Đã rà soát chu đáo hết mọi chi tiết nhỏ nhất chưa? Còn sơ sót nào không, mà mỗi sơ sót nhỏ nhất đều là xương máu, thậm chí thất bại đau đớn? … Rất khó. Nhưng quyết định chấm dứt một trận đánh, một chiến dịch lại càng khó hơn. Trong khi tất cả đang hăng hái, hừng hực lao lên, mà dám sáng suốt nhận ra những bất lợi đang hé lộ chưa thật rõ, song có thể sẽ là chí tử, hiểu rằng nên dừng lại đi, lao lên thêm chút nữa là đang thắng có thể chuyển ngay thành bại, thảm hại, dám dũng cảm quyết đoán dừng lại, rút lui. Một sự anh minh và dũng cảm còn hơn cả khi quyết định nổ súng.

Tôi có cảm giác hiện nay chúng ta đang đứng trước một tình huống như vậy ở Đắk Nông này.

Nguyên Ngọc

CHỦ DỀ NHÂN QUYỀN TẠI LIÊN HOAN PHIM BUDAPEST

Chủ đề nhân quyền nổi bật tại Liên hoan phim Tài liệu ở Budapest
Tuấn Thảo
Bài đăng ngày 31/10/2008 - Cập nhật lần cuối ngày 31/10/2008 17:18
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/106/article_1445.asp
Theo ban tổ chức, đã có khoảng 300 phim từ 27 quốc gia đã được gửi tới liên hoan phim. Trong số này, có 57 phim được tuyển chọn và sẽ được công chiếu tại 3 rạp hát ở Budapest. 36 phim lần đầu tiên ra mắt khán giả Hungary. Thông tín viên Hoàng Nguyễn tường trình từ Budapest

Dưới sự bảo trợ của đạo diễn nổi tiếng Jancsó Miklós và Ủy ban Helsinki Hungary (một tổ chức nhân quyền lớn của Hung), các chủ đề chính của LHP là chủ nghĩa cuồng tín trong tôn giáo và chính trị, chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa dân tộc, sự nghèo khó, tình trạng di dân, bản sắc giới tính, sự áp bức chính trị, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và sự sống còn của văn hóa.

Đồng thời với những buổi chiếu phim, theo thông lệ, LHP Verzió có nhiều cuộc trò chuyện, giao lưu với các tác giả, các nhà xã hội học, nhằm mổ xẻ những đề tài "khó xử", mang tính cấm kỵ liên quan đến từng bộ phim. Trong LHP Verzió lần thứ 5, còn có loạt chương trình riêng dành cho giới học sinh trung học yêu điện ảnh, muốn thảo luận và đi sâu vào phê bình điện ảnh.

Khán giả của LHP sẽ có dịp bình chọn các bộ phim trong thể loại dự thi: giải thưởng chính mang tên Giải Khán giả Học viện Xã hội Mở (Open Society Institute) sẽ được trao cho bộ phim tài liệu được nhiều phiếu bầu nhất. Điểm đặc biệt là sau đó, bộ phim được giải sẽ được chiếu miễn phí cho công chúng.

57 bộ phim tài liệu xuất sắc của thế giới và Hungary được xếp theo 5 hạng mục. Được chờ đợi nhất là hạng mục Toàn cảnh thế giới với 30 bộ phim từ mọi miền trên thế giới, với những phim đã "thành danh" tại các LHP Quốc tế như "Công dân Havel" (Občan Havel, chân dung cá nhân của nguyên tổng thống Vaclav Havel), "Tình yêu máy" (Mechanical Love, về tình yêu và lý trí), "Những vị hôn thê của Allah" (Brides of Allah, về trường hợp của các phụ nữ trở thành khủng bố), hay "Nhà hàng Tàu lớn nhất thế giới" (The Biggest Chinese Restaurant in the World, về một doanh nghiệp lớn của Trung Quốc).

Bên cạnh Toàn cảnh thế giới là loạt Toàn cảnh Hungary với 11 bộ phim xuất sắc và gợi mở như "Ba trang thiếu" (Három hiányzó oldal) của Schuster Richárd (về một tình yêu phải giấu kín trong 60 năm), hay tác phẩm của Hajdú Eszter về sự hận thù chính trị hiện tại ở Hungary.

Từ năm 2005 trở đi, chương trình chính của LHP Verzió còn được bổ sung bởi loạt Chương trình Hồi tưởng về lịch sử điện ảnh. Trong năm nay, sẽ có 5 bộ phim của Trung Quốc, trong loạt phim mang tên "Những mảnh gương sành từ lịch sử Trung Hoa". Các bộ phim mang tựa đề "Nhân danh hoàng đế", "Sau cái chết của tôi" (Though I am Gone), "Ánh nắng ban mai" (Bā Jiǔ Diǎn Zhōng de Tàiyáng), "Thiên An Môn" (Tiananmen: The Gate of Heavenly Peace) và "Nghệ thuật đỏ" (Red Art) có kỳ vọng giới thiệu những khoảnh khắc đầy mâu thuẫn của lịch sử Đại lục, dưới những cái nhìn khác nhau.

Đặc biệt, nhân kỷ niệm 5 năm, LHP Verzió sẽ trình chiếu 5 bộ phim kinh điển, được coi là những tác phẩm điện ảnh đã đưa thể loại phim tài liệu sang những viễn ảnh mới. Tuy nhiên, vì đã xuất hiện cách đây nhiều thập niên nên khán giả hiện tại ít có điều kiện tiếp cận và thưởng thức. Trong số đó, có "Biên niên sử một mùa hạ" (Chronique d’un été, 1961) của đạo diễn Pháp Jean Rouch, hay "Quyết định" (A határozat, 1972) của hai tác giả Gazdag Gyula và Ember Judit, cùng những kiệt tác của các bậc thày như Errol Moris, Krzysztof Kieślowski và Róbert Drew.

Đáng chú ý là bộ phim nổi tiếng "Người thường trực đêm" (Z punktu widzenia nocnego portiera, 1977) của đạo diễn Ba Lan Krzysztof Kieślowski, nói về một người thường trực có sở thích oái ăm là săm soi, kiểm tra người khác - năm 2005, một đạo diễn Áo là Andreas Horvath đã tìm gặp nhân vật chính của bộ phim năm 1977, để làm một phim mới mang tựa đề "Người thường trực đêm về hưu" (Views of a Retired Night Porter) với đề tài, gần 3 thập niên trôi qua đã khiến ông thường trực thay đổi ra sao. Cả hai bộ phim trên sẽ được chiếu trong lễ khai mạc, sẽ do đạo diễn nổi tiếng của Hungary Tarr Béla mở đầu.

Ngoài ra, ở hạng mục Khách mời, những tác phẩm điện ảnh xuất sắc nhất của LHP Tài liệu Leipzik (DOK Leipzik, CHLB Đức) sẽ được giới thiệu.

Là một LHP về đề tài nhân quyền, tuy nhiên, với những mảnh đề tài rất bao quát và phong phú, có thể nói LHP Quốc tế Verzió lần thứ 5 đã đả động đến hầu hết những vấn đề văn hóa, chính trị và xã hội của thế giới đương đại, trong đó có nhiều bộ phim chắc chắn sẽ khiến chính giới phải suy ngẫm về những hành động của họ, nếu họ chịu khó là khán giả của một buổi chiếu.

TÔI ĐỌC "BIỂN ĐỎ VIỆT NAM" của NGUYỄN QUANG

Tôi đọc “Biển Đỏ Việt Nam” của Nguyễn Quang
Bài của Đòan Thanh Liêm.

Cơ sở Cội Nguồn từ San Jose, California vừa mới cho ấn hành một tác phẩm mới của một cựu tù nhân chính trị mà hiện còn sinh sống tại Việt nam, đó là ông Nguyễn Quang.
Tác giả nguyên là Chủ tịch sinh viên công giáo Cư xá Đắc Lộ, thuộc Dòng Tên Saigon (1974-75). Ông bị giam giữ suốt 17 năm (1979-96) tại nhiều trại giam khắc nghiệt, nhất là traị Xuân Phước, Tuy Hòa mà các tù nhân thường gọi là “Thung lũng Tử thần”, vì nơi đây đã có rất nhiều tù nhân chính trị bị giam cầm tàn bạo, nghiệt ngã quá đỗi, nên một số khá đông đã phải bỏ xác trong tù.

Đây có thể coi là một “Truyện ký” (recit) của một người tù nhân lương tâm dưới chế độ “vô sản chuyên chính” ở Việt nam sau năm 1975. Sách dài gần 400 trang, trình bày rất trang nhã, với khổ chữ vừa đủ lớn, in trên loại giấy trắng rất dễ đọc. Vì mới được viết gần đây, nên cuốn sách chứa đựng nhiều chi tiết khá mới mẻ, cập nhật với tình hình thực trạng ở trong nước, sau khi tác giả trở về với đời sống tự do thoải mái bình thường.

Sách gồm 2 phần rõ rệt :
Phần 1 ghi lại rất chi tiết về cuộc sống trong tù, dài trên 200 trang,
Phần 2 kể lại một số việc tác giả làm sau khi ra tù, đặc biệt ở Đà lat.

Trong Phần 1, tác giả lấy tên là Thiện Nam để tường thuật lại khá nhiều chi tiết rất sinh động về cảnh sống đầy đọa tàn ác trong nhà tù, về sự đàn áp, trả thù man rợ của cán bộ coi tù, và nhất là về tình trạng bi đát, thảm não của các bạn tù đồng cảnh với mình. Đây rõ rệt là một chứng từ rất trung thực của một người tù có lòng tự trọng, ngay thẳng, không tô vẽ thêm bớt do thành kiến hay thù hận đối với kẻ đã từng hành hạ tàn nhẫn ngay cả đối với chính bản thân mình.

Vì thuộc loại trọng án, Thiện Nam luôn luôn ở sát cạnh những bạn tù trong khu dành cho người bị án chung thân hay tử hình. Vì thế anh có nhiều dịp trao đổi tâm sự với họ; đặc biệt là với những người sắp bị đem ra trường bắn. Anh kể về những bị can vào loại này, nhiều khi còn rất trẻ, vào tuổi dưới ba mươi, nhất là các em quê gốc ở miền Trung và nằm trong hang ngũ Đảng Đại Việt ở địa phương. Họ rất khẳng khái, can trường, không hề tỏ ra khiếp sợ trước cái chết gần kề. Đọc qua mấy đọan này, tôi có thắc mắc không biết trong Đảng Đại Việt, có ai thâu thập hồ sơ về các đảng viên của mình mà bị sát hại trong nhà tù cộng sản như tác giả Nguyễn Quang đã mô tả trong cuốn sách này hay không?

Nhân tiện cũng cần biết thêm chi tiết về các cựu tù nhân chính trị ở trại Xuân Phước, thì các vị này có tổ chức thành một thứ Hội Ái hữu Tù nhân Xuân Phước như trường hợp của các bạn tại trại tù Bình Điền ở gần Huế chăng? Cần phải có tài liệu ghi lại các nạn nhân bị sát hại cũng như bị chết trong tù vì bị bỏ đói, bị tật bệnh hay bị biệt giam tàn ác. Hiện tại ở trong nước, thì chỉ mới có một tổ chức dám có can đảm, kiên trì đứng ra hoạt động, đó là” Hội Ái hữu Cựu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo” do Thượng tọa Thích Thiện Minh sáng lập cách nay vài năm. Thượng tọa Thiện Minh vừa được Mang Lưới Nhân Quyền Việt Nam tuyển chọn là một trong hai cá nhân được trao giải Nhân Quyền Việt nam năm 2008 này, trong một buổi lễ sẽ được tổ chức tại thành phố Westminster, California vào ngày 14 Tháng 12 năm 2008 sắp tới đây. Mong rằng Hội Ái Hữu này sẽ có đủ phương tiện tài chính, cũng như nhân lực để tiến hành việc thâu thập đầy đủ các tài liệu về các tù nhân chính trị ở Việt nam suốt trong vòng mấy chục năm gần đây.

Tác giả cũng ghi nhận khá chi tiết về những người bị mắc bệnh tâm thần thuộc đủ mọi dạng do tinh thần bị khủng hoảng tàn phá trầm trọng vì bị giam giữ, bị xiềng chân, bị đối xử quá ư là tàn bạo, dã man liên tục trong nhiều năm tháng ở trong các phòng biệt giam dơ dáy, hôi thối nhầy nhụa và rồi còn bị bỏ đói khát, rét buốt hay bị phơi nắng đến độ bị ngất xỉu ngoài trời. Sự tàn ác này đã vượt quá sức chịu đựng của con người, kể các các tu sĩ của nhiều tôn giáo khác nhau, thì cũng không thể giữ vững được thể xác cũng như tinh thần của mình trong những điều kiện sinh sống quá ngặt nghèo của trại giam như vậy. Tác giả mô tả khá nhiểu dạng bệnh rối lọan tâm thần, từ lọan cảm giác, xao xuyến bất an đến ảo tưởng, ảo giác, trầm cảm, rối lọan cảm xúc, rối lọan tư duy, hoang tưởng, lọan thần kinh, tâm thần phân liệt v.v…Nhiều trường hợp nạn nhân quẫn trí quá đến độ đã quyên sinh bằng nhiều hình thức kể cả nhảy xuống giếng sâu, hay nhảy vào ngọn lửa, vào chảo nước đang sôi sục.

Tác giả còn liệt kê cả tên tuổi của một số linh mục bị chết trong tù như các LM Nguyễn văn Vàng, Nguyễn huy Chương, Nguyễn Luân, Nguyễn văn Thuyên, Trần văn Long, Nguyễn văn Phong... Và riêng LM Trần học Hiệu thì bị án tử hình. Mà so sánh với các Nhà sư bên Phật giáo, thì số vị sư bị chết trong tù vẫn ít hơn nhiều, cho dù họ cũng bị giam giữ rất lâu ngày, cụ thể như Thầy Thiện Minh đã nói ở trên, thì thầy ấy bị giam giữ đến 26 năm và mới được thả ra vào năm 2005 mới đây thôi.

Về phần một số lãnh tụ các nhóm hoạt đông chính trị, thì tác giả cũng ghi lại một số khía cạnh hoang tưởng, ngây thơ đến ngộ nghĩnh của các vị này, mà phần đông sức chịu đựng đã bị”bào mòn” sau bao nhiêu đói khổ, đầy đọa áp bức hạ nhục cũng như bị chính các bạn đồng cảnh phản bội đi tố giác với cán bộ coi tù. Rõ ràng là sức đề kháng chịu đựng của con người chỉ có thể tới một giới hạn nào đó mà thôi. Cho nên ta phải thông cảm cho các sự “Yếu đuối rất người như thế”. Con người ta đâu có phải ai ai cũng có thể là “anh hùng xuất chúng “ cả được?

Tác giả còn khắc họa khá rõ nét về nhiều “cán bộ coi tù” mà hầu hết đều tàn ác, nham hiểm, đánh đập tù nhân không thương tiếc bằng những trận “đòn hội chợ”, hành hạ, bêu riếu, làm nhục bất kể tù nhân nào, vì họ đều coi tù nhân chính trị như kẻ thù cho nên đã thẳng tay “trả thù đến tận cùng sự độc ác “ mà họ có thể nghĩ ra đuợc. Với tác phong của cán bộ canh tù như vậy, ta không lạ gì mà kẻ thắng trận đã chẳng làm sao mà “cải tạo” được tâm hồn của người thua trận, và nhất là những thành phần đối lập chính trị ở miền Nam Việt nam.

Trường hợp của các tù nhân từ con tàu Việt nam Thương tín từ Mỹ trở về nước vào cuối năm 1975 lại còn thê thảm hơn, mà sao chưa thấy các cựu tù nhân này họp nhau lại để làm thành một hồ sơ chi tiết về mấy trăm con người bạn cùng đồng hành với mình trên chuyến tàu định mệnh đó nhỉ?

Trong Phần 2, tác giả ghi lại các nhận xét về tình hình xã hội trong nước kể từ năm 1996 sau khi được trả tự do cho đến những năm gần đây. Đăc biệt là cái chuyện giao dịch hợp tác với chính quyền ở Đalat để mở một trường Dậy nghề lấy tên là “Trường Công nghệ Yersin” để dậy về kỹ thuật hiện đại cho giới thanh thiếu niên tại địa phương. Dù được sự hỗ trợ của nhiều giới, đặc biệt là sự khích lệ và cố vấn tận tình của cặp vợ chồng Mười Anh/Bác sĩ Văn, mà nhà trường cũng chỉ hoạt đông được trong một thời gian ngắn, vì gặp phải sự chống đối của chính Sở Lao động, thay vì phải khuyến khích mở mang việc dậy nghề, thì lại đi hoạnh họe bắt lỗi đủ kiểu này nọ, khiến đưa đến việc rút giấy phép, đóng cửa trường dậy nghề này.
Thật là một nét trái nghịch, mâu thuẫn với khung cảnh của miền cao nguyên vốn rất thuận lợi cho việc đào tạo sinh viên học sinh để cung cấp kỹ năng chuyên môn cho công cuộc phát triển kinh tế tại địa phương.

Xét chung, thì đây là một chứng liệu rất có giá trị của một người trẻ tuổi đã có can đảm đứng lên tranh đấu cho nhân phẩm và nhân quyền của người dân Việt nam ngay từ hồi sau 1975. Và do đó mà bị đầy đọa, giam cấm nghiệt ngã ở trong nhà tù suốt 17 năm trong cái tuổi thanh xuân của mình. Tác giả không hề tỏ ra có sự oán hận, thù hằn gì với người cộng sản. Nhưng đã trung thực ghi chép lại những điều chính bản thân đã trải nghiệm, bằng tai nghe mắt thấy trong môi trường lao tù cực kỳ tàn tệ của chế độ cộng sản ở quê hương mình.Tuy lời văn mộc mạc, kỹ thuật trình bày cũng như bố cục tác phẩm chưa được điêu luyện, trau chuốt; nhưng bằng sự quan sát tinh tường, bình tĩnh và nhất là với tấm lòng nhân hậu, thông cảm sâu sắc đối với các bạn cùng là nạn nhân của bạo lực như mình, tác giả Nguyễn Quang đã cống hiến cho chúng ta một tài liệu chi tiết rất đáng tin cậy. Tác phẩm này xứng đáng được xếp vào loại “Chúng tích của một thời đại bạo ngược, man rợ” trên đất nước ta dưới chế độ độc tài chuyên chế cộng sản hiện nay.
Cái độc đáo của tác phẩm này không phải là nó đem cho người đọc một sự thỏa mãn với lời giải đáp đầy đủ cho sự thắc mắc về tình hình phức tạp của Việt nam, mà chính là ở chỗ nó tạo thêm cho chúng ta một nhu cầu tìm hiểu tường tận hơn về thân phận của những tù nhân chính trị đã bị hành quyết, hay đã bị hành hạ đầy đọa đến độ bị kiệt sức vì đói khát, bệnh hoạn khiến đã phải bỏ thây ở trong tù. Những trang lịch sử đen tối đó cần phải được viết ra với thật nhiều chi tiết và sự chính xác khoa học. Những cựu tù nhân còn sống sót như chúng ta thì cần phải sát cánh với nhau để thực hiện được việc này. Đó là cách tốt nhất để tưởng nhớ đến các chiến hữu đã hy sinh cho chính nghĩa Tự do, Dân chủ và Nhân quyền của dân tộc chúng ta vậy.

Xin có lời chúc mừng và cảm ơn đến tác giả và nhà xuất bản đã cống hiến cho chúng ta một cuốn sách có giá trị này./
California, Tháng Mười 2008
Đoàn Thanh Liêm
Cựu tù nhân chính trị
http://www.doi-thoai.com/baimoi1008_479.html
Ký Võ Đắc Danh – người nông dân viết
Nguyễn Thị Ngọc Hải

Nguồn:
Người Đô Thị
Tháng 10/2008

Võ Đắc Danh(Ảnh do Trần Hữu Dũng chụp)
http://www.viet-studies.info/VoDacDanh.jpg

Anh lại đọat giải nhất thi bút ký báo Văn nghệ với câu chuyện bà mẹ già và người con trai “sắp già” chưa lấy vợ vì bận nuôi 10 trẻ mồ côi trên đỉnh núi Cấm An Giang, Người Đô Thị có cuộc trò chuyện trước ngày anh ra Hà Nội nhận giải.

I. Kiểu “bolero” bình dân

PV: Các giải thưởng văn học ở ta ít gây được tiếng vang. Trong giới văn chương lại hay ồn ào tung hô một số người đôi khi rất “vô lối”. Nhận giải thưởng về ký, cảm tưởng của anh thế nào?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Tôi được nhiều giải về ký rồi. Đồng bằng Sông Cửu Long 2 giải. Lần này bút ký “Cổ tích trên đỉnh Mồ Côi” giải nhất. Một cuộc chơi. Vì cái này đẹp, dễ chấm, chứ không gai góc. Kỳ thi về “Việt Nam Tổ quốc tôi” thì cái này chỉ là câu chuyện cá biệt, không đại diện phản ánh được vấn đề gì lớn của đất nước. Giải thưởng chỉ tạo quan tâm của người dự thi. Tôi không bao giờ viết với tâm lý dự thi cả.

PV: Có người nói ký Võ Đắc Danh “ăn theo” cái dễ xúc động là chuyện người nghèo khổ và ký của anh kiểu “bình dân Sài Gòn xưa” – chứ chẳng có cách tân kỹ thuật hiện đại nào trong bút pháp. Anh thấy đúng hay sai?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Có thể đúng ở khía cạnh nào đó. Tôi không tìm kiếm kỹ thuật, không sa đà vào định hướng nào. Tôi giãi bày, tư cách người kể chuyện với bạn đọc cái tôi bức xúc. Tôi là người viết của bình dân. Không đi vào thân phận con người e vô cảm. Nghệ thuật không tìm sự đồng cảm thì tìm gì. Bỏ qua đồng cảm thì nghệ thuật không còn gì. Gu của tôi là “bolero”. Người đọc mọi thành phần, ai cũng cảm được, không sang trọng chữ nghĩa. Tôi thấy các nhà văn lớn suốt đời một giọng, chỉ khác ở tầm nhìn. Như ở Việt Nam có Sơn Nam, Trang Thế Hy.

PV: Anh viết cả trăm bút ký và có “thương hiệu”. Có thể tóm đặc điểm ký “kiểu Võ Đắc Danh” là gì?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Đặc điểm: viết về nông dân và dân nghèo thành thị, có sẵn tâm, bao giờ cũng xúc động trước số đông đó. Cách viết: giấu cái tôi, sử dụng chất liệu thông qua chi tiết đời sống. Để tự câu chuyện nói. Mộc mạc, không thủ pháp, không kỹ xảo, kỹ năng. Mạnh nhất là chất liệu.

PV: Còn bao nhiêu nhân vật, câu chuyện thời đại khác, doanh nhân, trí thức không làm anh rung động hay sao?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Tôi cũng viết đấy chứ. Những nhân vật trong ký của tôi như Phan Văn Xoàn, Trần Bá Dương, ông chủ Sông Đốc… là khó kiếm. Những người chân chính đủ tạo cảm xúc mạnh thì ít vì kinh tế chuyển đổi sang thị trường, con người phải chụp giựt nhiều hơn. Giàu có mà nhân cách phẩm chất còn kiếm hoi.

PV: Nói thế anh không sợ bị giận sao?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Không sợ giận. Tôi quí trọng những người đóng góp làm giàu cho đất nước, hàng ngày giờ thay đổi đời sống kinh tế. Nhưng có cảm nhận từng mức độ. Thí dụ, cuộc thi rồi trong các bài ký được giải viết về ông gốm sứ Minh Long thì tôi chịu. Tôi quý ông đi lên từ nghèo khổ, sống chết với nghề. Còn ông doanh nhân kiểu nào đó giàu lên làm sân sau của quan chức, được cấp cho nhiều đặc lợi làm ăn. Người như thế, cho chị 100 triệu, bảo chị viết về họ, chị có cảm xúc nổi không?

II. Ra khỏi đường nhựa thấy gì?

PV: Anh viết nhiều về nông dân, vậy anh thấy đời sống họ có khá lên? Không lẽ họ không được hưởng lợi gì (dù ít hơn) trong cuộc chuyển đổi kinh tế và phát triển đất nước?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Nông thôn nghèo hơn. Xơ xác. Chị thử đi một lần. Ra khỏi đường nhựa là nhà không ra nhà, người không ra người, bần cùng tăm tối. Tôi đã có làm phim tài liệu giữa rừng U Minh. Cảnh con nít mặt mày vằn vện ăn chuối luộc thay cơm, khán giả không cầm được nước mắt. Miền Tây thì những người không nhà cửa, sống trên ghe giăng câu thì nhiều.

PV: Anh thử tả một cảnh nghèo nhất dã gặp?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Thí dụ một gia đình ở lòng hồ Trị An. Sống lều bạt, xuồng câu, gạo chạy từng ngày. Bốn con. Vợ liệt ngồi xe lăn. Không điện. Không chữ nghĩa. Tất cả đều không. Mà sống cách Thủy điện Trị An chỉ 1 km. Nghe bạn đi trên đó về nói họ khổ. Tôi tới xem nó coi sao.

PV: Có phải vấn đề đô thị hóa và đất đai là thủ phạm?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Ảnh hưởng vùng ven phát triển tới đâu phát sinh tới đó. Nhiều người bị cưỡng ép giao đất, đền bù. Thí dụ ở Nhơn Trạch tôi biết có công ty do tư nhân núp bóng. Xí phần 7-8 mẫu, huyện ra quyết định thu hồi. Một mét vuông nhà đầu tư đền dân 39.000đ. Không đi, cưỡng chế. Rồi chưa đổ đất, họ đã bán lại 9 triệu 1 mét vuông. Thường theo “công thức” ai cũng biết: Doanh nghiệp nói với chính quyền. Phê duyệt, ký quyết định thu hồi đất. Đền bù giá rẻ đi đâu thì đi. Đất giao nhà đầu tư. Chính ra nhà đầu tư không hưởng nhiều bằng chính quyền.

PV: Nhưng người ta bảo mở mang, cần đất xây dựng là quy luật của phát triển?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Đồng ý phát triển. Nhưng có công thức tốt sao không làm. Cho dân góp vốn bằng đất của họ, họ cũng được hưởng lợi từ vốn đó. Phát triển là qui luật, phải nghĩ quyền lợi của người nông dân trước đã. Không thể một chủ dự ánh làm giàu, trăm ngàn nông dân khốn khó. Thực tế, không dự án nào có dự án an sinh xã hội đi kèm. Đưa ra một cục tiền, đi đâu thì đi. Đừng biện minh cho sự cướp bóc. Tôi đã viết “Trên đồng bưng 6 xã” đăng trên báo Văn Nghệ một gia đình đặc công rừng Sác nay mất đất. Bị gài độ phản ứng đến nỗi vợ con vô tù. Phải nói nơi đó là tột đỉnh tội ác.

PV: Anh viết ký, kể rõ người thật việc thật, có địa chỉ cụ thể, đăng công khai, vậy có tác dụng hoặc phản hồi gì không?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Ký của tôi chỉ nói nhiều điều đánh động lương tâm, làm giàu cho lòng nhân ái được khơi dậy trước số phận con người. Nhưng vẫn không làm cái ác giảm đi được. Thực tế chứng minh nhiều bài bút ký về đất đai, mafia cướp đất, họ chỉ im lặng hoặc chựng lại một thời gian rồi lại tiếp tục. Nó không làm cho kẻ vô cảm có cảm xúc.

PV: Vậy sao anh không dành hẳn phản ánh bộ mặt phía cái ác, có giá trị tác động vào cái ác hơn là cứ tả mãi phía nghèo khổ chịu đựng?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Có lần tôi đã thử làm thế. Miêu tả đối tượng là cái ác. Thí dụ, ở Long An, có cả ngàn dân mất cả ngàn mẫu đất. Cảnh cưỡng chế 2 hộ dân, có công an, cứu hỏa, cần cẩu, cứu thương, xe bít bùng bắt người… đủ cả. Bà phó giám đốc của công ty Tân Đức còn mắng: Chính quyền cưỡng chế không “máu lửa” gì cả, và người của họ nhào vô làm. Hay như cái vụ ở Nhơn Trạch, chính chủ tịch huyện chỉ huy cưỡng chế, chính quyền trở thành công cụ của các nhà đầu tư. Báo in ra, có người bỏ tờ báo gửi cho chính chủ tịch huyện đọc. Tất cả đều im lặng, không có trả lời.

PV: Anh thấy người nông dân không có thái độ hoặc cách gì sao?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Người nông dân ở trình độ dân trí thấp, lo ăn không xong, không tự tìm lối thoát. Phải từ nhà nước, các nhà đầu tư.

III. Phẩm giá thời đại


PV: Vậy anh thấy phẩm giá của thời đại chỉ có ở người nghèo khổ cam chịu và những tấm lòng tốt như ở cổ tích thôi sao? Dòng phẩm giá tử tế trong xã hội tồn tại như thế nào?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Người ta cứu giúp nhiều. Ở người nghèo khổ, sự vươn lên không phải không có. Nhưng họ luôn dừng trong chừng mực là sống có phẩm giá và không đương đầu nổi với cái ác. Nếu không khơi dậy cộng đồng cứu giúp thì suy sụp bế tắc. Thí dụ khi tôi viết “một bà mẹ chưa được tôn vinh”. Một bà đánh tàu, biệt động, 2 vợ chồng thương binh. Bà bảo con phải học tử tế mới thoát nghèo. Một ngày bả chèo 50km. Lá chuối đọt dừa cũng bán, dựng chòi nuôi con ăn học. Hai con gái lớn tốt nghiệp sư phạm đi xin việc, họ đòi 3 cây vàng. Chịu. Tôi cầm tờ báo đưa các cơ quan chức năng, các cô được nhận dạy học, 1 doanh nghiệp cho cậu con trai máy tính vì cậu học CNTT, được mua nền nhà giá thấp trả góp. Đó chỉ là thí dụ hy hữu cứu giúp được thôi.

PV: Vậy cái đích của anh là tìm sự đồng cảm giúp đỡ của xã hội? Có người nói anh viết ở Sài Gòn Tiếp thị có đối tượng đọc riêng kinh doanh - tiêu dùng, người nghèo ít đọc?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Người nghèo có đọc báo nào đâu. Chỉ đọc báo Công an. Tôi cũng tìm cách đăng trên Văn nghệ. Tưởng chỉ mấy cha nhà văn đọc. Nhưng sau tôi thấy người đọc Sài Gòn Tiếp Thị nhiều mặt bằng văn hóa khác nhau và quan trọng là họ hành động. Đối tượng có vẻ là người trung lưu, doanh nhân, tiểu thương, nhưng nhiều người đọc không chỉ tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Tôi không tham vọng gì cả. Tôi không xác định mình làm văn hay báo. Giới báo gọi tôi là nhà văn. Giới văn gọi tôi là nhà báo. Ai gọi gì kệ. Tôi là người nông dân cầm bút, không gì khác hơn. Người cầm bút có viết hay không là ở cảm xúc. Câu chữ uốn éo không là chỗ dựa. Vui nhất là nhân vật được giúp đỡ. Buồn nhất là nhân vật mình chịu bất công không cứu giúp được gì, bao nỗi đau rơi vào im lặng. Tôi không có quyền lực gì cả, chỉ là công cụ của dân thấp cổ bé họng. Trong nền dân chủ chập chờn, tôi tranh thủ làm công việc đó của mình. Nhà báo phải xem đó là trách nhiệm

IV. Trên “lốc’ thấy sự tử tế

PV: Anh mới mở blog 3 tháng, nghe nói thiên hạ vào nhiều lắm.
Nhà báo Võ Đắc Danh: Bài của tôi trên báo mạng người ta biết hơn báo giấy. Trên đó rạch ròi sân chơi từng đối tượng. Qua comment, người ta phản hồi nhiều. Còn sách báo đâu biết được. Qua “lốc” thấy được sự tử tế cuộc đời còn rất nhiều. Tôi không đi xa khám phá. Chỗ nào có chất liệu con người đáng chia sẻ thì viết. Nhiều điều giản dị mà phấn đấu mãi đã được đâu. Sơn Nam có viết câu chuyện ông cắt tóc vỉa hè bị hỏi hộ khẩu, trả lời: là công dân nhỏ lớn không biết hộ khẩu. Ông hiểu thế nào là Tổ quốc? “Là một nơi có thể sống được bằng một nghề lương thiện và có những người bạn chơi được, đừng ba trợn.” Khát vọng của ông già hớt tóc ấy nay hàng triệu người không có. Chị nghĩ xem, bao người còn đi tìm 2 cái đó. Đâu đơn giản. Mới thấy ông già Sơn Nam ghê. Sức mạnh đâu phải ngoằn ngoèo câu chữ “Đổi mới”.

V. Không thể quay lưng

PV: Anh đến với ký như thế nào?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Tôi đến với nghề viết ngẫu nhiên. Đi học trễ. Nhà nghèo. Một bữa ra công viên ngồi, anh bạn làm báo đi ngang ngồi lại nói chuyện, rủ đi làm báo. Thử việc có một cái tin nhận ngay. Nghe đọc truyện đêm khuya, mê nhất cái ký Cô Tô của Mai Văn Tạo. Rồi mê ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân. Làm việc ở báo Minh Hải, về Hội VH-NT Minh Hải. Lên Sài Gòn làm phim tài liệu, tính nghỉ viết. Rồi làm Trưởng VPĐD báo NLĐ ở miền Tây, làm báo Pháp Luật, rồi báo Sài Gòn Tiếp Thị. Trong các sự kiện lúc đi làm báo, thấy có chất liệu đời sống nhiều, tôi viết ký. Tôi không ý thức thể loại. Viết gì nó cũng thành ký thôi à.

PV: Cuộc sống gian truân chắc là lợi thế cho anh trải nghiệm để viết ký về người nghèo khổ?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Có chứ. Tôi xuất thân gia đình nông dân, kháng chiến, đội bom đội đạn, nuôi chứa cán bộ. Sau 75, tôi vẫn là nông dân. Mẹ tôi từng giấu bao lúa trốn chiến dịch thời cải tạo kinh tế. Tới thời lúa rớt giá nông dân bị bỏ rơi. Nay thời nông dân “bị cướp đất”. Cái gì cũng trải. Hỏi gốc mình thế này, nhìn nỗi khổ không đau xót sao được. Bản thân từng nuôi tôm, nuôi trăn, làm da trăn, lái tôm, vỡ nợ, lăn lộn với thương trường. Xuống Gành Hào vay nợ nuôi tôm 3 tháng, ngày xổ tôm chủ nợ ngồi cống chờ. Tôm chết sạch.

PV: Anh từng gặp nhiều tai nạn vì các bài ký của mình như thế nào?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Hồi ở Cà Mau, viết ký đụng vấn đề nông dân bị áp bức, cường hào, cải tạo nông nghiệp. Có lần bí thư Tỉnh ủy ra lệnh bắt nhưng VKS không ký. Có cả lần viết báo Văn nghệ trẻ bị thu thẻ nhà báo đến nỗi có ông ở tòa soạn báo dặn nhau: Thôi, không đăng bài thằng Danh nữa. Nhưng tôi không thể quay lưng lại với những người khốn khó. Những kẻ chối bỏ, quay lưng sẽ biến đổi nhân cách.

PV: Vậy trong công việc anh gặp nhiều niềm vui không?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Vui vì nhìn thấy lòng trắc ẩn còn rất nhiều trong xã hội và nhìn thấy phẩm giá của người bình dân. Tôi viết bà bán bánh chuối ở nhà sách Lê Lợi. Buôn bán nuôi hai đứa con khùng, đứa xơ gan. Nhà 8m2 – xã hội cả ngàn người như vậy. Nhưng một chi tiết: một ngày bà đi bán bằng hai cuốc xe ôm 30 ngàn. Có tối tôi bảo để tôi đưa dì về, con gái tôi nghe chuyện cũng muốn đưa bà về. Bả từ chối: Tội nghiệp chú xe ôm đang chờ. Dì đâu bỏ chú. Mưa gió gì người ta cũng đợi mình. Câu chuyện cổ tích trên núi Mồ Côi cũng vậy. Anh Bông ngoài 40 tuổi cũng chưa lấy vợ, lo cho lũ trẻ mồ côi. Điều kiện của anh: thà ở giá, còn ai đến với anh phải vì những đứa bé. Nghe đâu bên Mỹ có cô Việt kiều gửi thư. Cả chục cô rồi, muốn “nhẩy” vào tham gia chuyện cổ tích. Anh còn đang “úp mở” chưa nói. Bà mẹ sẽ già đi. Anh Bông có tiếp tục hay không. Việc nuôi nấng, học hành của mười đứa trẻ trên đỉnh núi ra sao. Cổ tích có hậu người xưa giải quyết bằng phép màu.

PV: Anh dự định viết tiếp về vấn đề gì?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Chắc phải tiếp tục. Tôi ít đọc lại cái đã viết. Nếu không làm cái mới chính tôi sẽ tự chán mình.

PV: Xin cảm ơn anh.

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI
23-10-08
http://www.viet-studies.info/NTNgocHai_VoDacDanh.htm


Chính Sách Không Mang Gương Mặt Con Người
Osin's Blog
Friday October 31, 2008 - 11:59am (ICT)
http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?p=6195
“Đói quay quắt ở rừng U Minh Hạ” và chuyện “thấp bé nhẹ cân” không được lái xe là hai vấn đề rất khác nhau và tưởng như không có gì liên quan tới nhau. Nhưng, về sâu xa, cả hai đều là hệ quả của một quy trình ban hành chính sách. Một quy trình mà ở đó “việc” đã được đặt lên trên yếu tố con người.
Hơn 6000 nông dân giữ rừng U Minh Hạ đang “đói quay quắt”, đói “không phải do trời”. Theo báo Tuổi Trẻ, thì đây là những nông dân nhận khoán rừng, nhưng vì, chu kỳ thu lợi của rừng là 13 năm, để có cái ăn hằng năm, họ phải “xen canh” cây lúa. Tuy nhiên, do phải giữ nước để phòng cháy rừng, lúa của những người nông dân này đã bị ngập không sống được.
Yếu tố “xung đột” về lợi ích trong bài toán giữ rừng có vẻ như không phải là câu chuyện riêng tư ở rừng U Minh. Tại một địa phương, khi cán bộ tuyên truyền nói với bà con, phá rừng sẽ làm cho môi trường và con người chết dần. Bà con hiểu và nhất trí với cán bộ. Cán bộ hỏi, “vậy sao vẫn còn phá rừng?”. Bà con nói, “thưa cán bộ, phá rừng thì chết dần, nhưng không phá rừng, không có cái ăn thì vợ con mình chết liền”. Giữ rừng là quyết định của những nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược. Nhưng, câu chuyện ở U Minh cho thấy, “chiến lược” sẽ không thể nào đứng được, nếu như khi ban hành chính sách đã không tính đến bữa cơm cho vợ con của những người ở rừng.
Quyết định 33, ngày 30-9-2008 của Bộ Y Tế, trở thành câu chuyện đàm tếu của báo chí trong và ngoài nước. Ngoài những yếu tố hài hước như “ngực lép” hay “thấp bé, nhẹ cân” không được lái xe gắn máy, đây còn là một ví dụ rất điển hình về quy trình ban hành chính sách. Chỉ riêng việc quyền đi lại và làm việc của hàng triệu người dân bị vô hiệu bởi một văn thư cấp Bộ đã cho thấy, không chỉ phải sửa đổi một số nội dung phi lý trong quyết định ấy mà còn phải xem xét lại cả quy trình ban hành nó và thẩm quyền pháp lý của các cơ quan được đưa ra những loại văn bản này.
Theo Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, được Quốc hội thông qua năm 1996 và sửa đổi năm 2002, thì với những điều luật cần có sự hướng dẫn bởi các thông tư, nghị định thì các cơ quan soạn thảo phải trình ngay các bản dự thảo thông tư, nghị định cho Quốc hội trước khi luật ấy được thông qua.
Nhưng, quy định này dường như rất ít khi được chấp hành và hệ lụy của nó là vô cùng to lớn. Nghị định ban hành theo luật lẽ ra chỉ là những văn bản hướng dẫn quy trình thực hiện những quy phạm được ban hành trong luật và các thông tư (của các bộ) chỉ hướng dẫn thêm một vài thủ tục. Nhưng, trong lịch sử ban hành các văn bản quy phạm đã có không ít lần, chính những quy định trong các thông tư, nghị định mới thực sự là “luật” chứ không phải là những “luật khung” mà Quốc hội thông qua. Thậm chí, có những văn thư cấp bộ đã đụng chạm tới những quyền căn bản như quyền tự do đi lại, tự do cư trú… được minh định trong Hiến pháp.
Vì sao, Quyết định 33 đã được dự thảo tới 11 lần, được hỏi ý kiến các bộ ngành và 64 tỉnh thành nhưng chỉ khi nó được công bố, Bộ Y tế mới nhận ra rằng “không hợp”. Không chỉ vì các kiến thức về sức khỏe, Quyết định 33 đụng chạm tới “quyền” đi xe gắn máy của hàng triệu con người. Quyền lợi của hàng triệu con người ấy không thể chỉ được quyết định thông qua thủ tục của một văn thư hành chánh. Nó phải được đưa ra bàn thảo dựa trên những quyền căn bản của Hiến pháp hiện hành.
Nếu như Quyết định 33 được ban hành theo đúng quy trình ban hành một đạo luật, thì một trong các tác giả của nó, Cục phó Cục Quản lý Khám và Chữa bệnh Trần Quý Tường đã không phải “phỏng đoán”: Đối tượng đó (những người ngực lép, thấp bé) không nhiều (Pháp Luật TP HCM), mà phải khảo sát để cho thấy thực sự con số đó là bao nhiêu. (Dựa trên số liệu nghiên cứu của mình, TS Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, sẽ có khoảng 270 nghìn nam và 5 triệu nữ sẽ không đủ tiêu chuẩn đi xe máy nếu áp dụng những quy định đó). Nếu như, làm đúng quy trình phân tích chính sách, Bộ Y tế sẽ nhận thấy, các dữ liệu thống kê không ghi nhận tình trạng tai nạn giao thông xảy ra do “thấp bé, nhẹ cân” lên tới mức phải điều chỉnh bằng cách tước quyền đi xe của họ. Nếu Quyết định 33 được nhận thức đúng là một đạo luật thì khi dự thảo, nó đã phải được để cho nhân dân tham gia ý kiến chứ không phải đợi đến sau khi “ký”, một vị Thứ trưởng Bộ Y tế mới “lẫy”: nếu “không hợp lòng dân thì thôi”.
Những người đã từng đi thi lấy bằng lái xe ở nhiều nước phát triển sẽ thấy, thí sinh không phải đi khám bác sỹ mà chỉ được phát một tờ khai về sức khỏe, cơ quan cấp bằng sẽ có một kiểm tra nhỏ về mắt để xem người sắp có bằng lái ấy có khả năng nhìn thấy các biển chỉ đường. Trong khi đó, một người Việt Nam khi đi thi hoặc đổi bằng lái xe (nếu QĐ 33 có hiệu lực- theo Tuổi Trẻ) phải lấy được “Giấy chứng nhận sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới” do Bộ Y tế hướng dẫn gồm 40 trang giấy với 20 chữ ký. Không phải ở các nước phát triển người ta không coi trọng vấn đề an toàn giao thông như ta, mà ở đó, họ căn cứ những cơ sở dữ liệu được điều tra phân tích, để chỉ yêu cầu người dân làm những điều cần thiết, thay vì làm những gì được nghĩ ra từ các quan chức ngồi quá lâu trong các văn phòng.
Bảo vệ an toàn giao thông hay bảo vệ rừng đều nhằm bảo vệ cho con người một môi trường sống tốt. Không thể vì an toàn thuần túy để ra những quy định phi lý, cũng như, không thể vì rừng mà để đói cho dân. Luật hay chính sách không chỉ nhằm giải quyết “việc”, nó phải vươn tới một điều lớn hơn là phục vụ con người.
Huy Đức




GIẢI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM 2008

Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam năm 2008
Trà Mi, phóng viên RFA
2008-10-31
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/The-2008-vietnam-human-rights-award-10312008112911.html

Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam ra đời từ năm 2002, được tổ chức đều đặn mỗi năm một lần, nhằm vinh danh những cá nhân và tổ chức đóng góp tích cực cho công cuộc dân chủ hoá đất nước, đòi hỏi nhân quyền cho người dân Việt Nam.

Quyền làm người của dân Việt Nam
Ông Nguyễn Thanh Trang, đại diện Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, đơn vị lập ra giải thưởng này, cho biết thêm:
Giải nhân quyền Việt Nam còn có mục đích khác đó là Mạng lưới nhân quyền muốn bày tỏ sự liên đới, quyết tâm của cộng đồng người Việt khắp nơi trong nỗ lực đấu tranh dành lại quyền làm người của người dân Việt Nam hiện đang bị vi phạm nặng nề.

Hai cá nhân được chọn trao giải Nhân quyền Việt Nam năm nay là Thựơng toạ Thích Thiện Minh và blogger Điếu Cày. Còn giải thưởng dành cho tổ chức thì thuộc về tờ bán nguyệt san Tự do Ngôn luận do khối 8406 thành lập.
Những thành tích dấn thân tranh đấu vì nhân quyền được ghi nhận để xét trao giải năm nay đối với từng trường hợp ra sao?

Thựơng Toạ Thích Thiện Minh:
Ban tổ chức Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam nói về Thựơng Toạ Thích Thiện Minh:
Sau 30/4/1975, Thựơng toạ Thích Thiện Minh bị bắt giam và bị kết án chung thân kể từ năm 1976. Đến năm 1986, tại trại tù Xuân Phước, Thựơng toạ bị tra tấn dã man. Đặc biệt nhà nước đã mở một phiên toà ngay trong trại giam để kết tội và Thựơng toạ lại bị thêm một bản án chung thân nữa.
Năm 2004, Việt Nam phải để cho đại diện của Liên Hiệp Quốc đặc trách về Sự bất khoan dung tôn giáo, ông Abdelfattah Amor, đến trại tù thăm và phỏng vấn Thượng toạ. Đặc phái viên Liên Hiệp Quốc trong buổi họp báo quốc tế đã vinh danh Thựơng toạ là người tù lương tâm của Việt Nam.
Dưới áp lực của công luận quốc tế, Việt Nam đã phải trả tự do cho Ngài vào dịp Tết 2005 sau 26 năm cầm tù. Thựơng toạ đã luôn luôn nói lên tiếng nói của lương tâm, đòi hỏi tự do tôn giáo và nhân quyền cho toàn dân Việt Nam.

Nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải
Về blogger Điếu Cày, tức nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải:
Ông đã thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do quy tụ các nhà báo tình nguyện viết về thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay, phản ảnh tâm tư, nguyện vọng của người dân, lên tiếng tranh đấu cho họ. Ngoài ra, ông cũng thành lập trang mạng mang tên “Dân báo” ghi nhận tất cả những suy nghĩ về thực trạng xã hội, đặc biệt là tình trạng dân chúng bị đàn áp, bóc lột, và bị vi phạm nhân quyền. Ông cũng tham gia các cuộc tuần hành, biểu tình để lên án chính sách xâm lăng của Trung Quốc đối với Hoàng Sa-Trường Sa. Sau các cuộc biểu tình đó, công an đã liên tục quấy nhiễu, khủng bố ông. Ông là một tấm gương của tuổi trẻ, của một nhà báo dám nói lên sự thật.

Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận
Về lý do vì sao bán nguyệt san Tự do Ngôn luận đựơc bầu chọn nhận giải nhân quyền năm nay, Ban tổ chức giải thích:
Tất cả các cơ quan ngôn luận hiện nay tại Việt Nam đều do nhà nước kiểm soát, khống chế. Do đó, người dân không đựơc biết những sự thật. Sau khi khối 8406 ra đời, bán nguyệt san Tự do Ngôn luận được thành hình. Cho đến nay, tờ báo đã liên tục phát hành miễn phí mỗi tháng hai lần và xuất hiện trên mạng internet. Lần đầu tiên ở Việt Nam có một cơ quan ngôn luận không bị nhà nước khống chế. Đó là một bước tiến, một nỗ lực hết sức quan trọng mà chúng tôi đánh giá rất cao.

Sự hy sinh và lòng dũng cảm của họ phải được ghi nhận
Một trí thức tại Việt Nam thường xuyên tìm hiểu thông tin đa chiều qua mạng internet phát biểu cảm nghĩ về giải thưởng nhân quyền này:
Tôi đọc qua internet, tôi có biết về giải thưởng này. Tôi nghĩ nhân quyền là mục tiêu đấu tranh của rất nhiều đất nước, không riêng gì ở Việt Nam. Ở Việt Nam thì chưa bao giờ chính phủ có một giải thưởng như thế, cũng không có một tổ chức phi chính phủ nào ở trong nước vinh danh những người đấu tranh vì nhân quyền. Cho nên, có một tổ chức độc lập xét chọn như thế thì rất tốt, rất cần thiết, và nó có một ý nghĩa động viên rất lớn cho những người đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam. Những người đấu tranh cho nhân quyền tại đây đa số đều bị đe doạ, hay bị hiểu lầm và bị vu cáo thế này, thế kia. Hầu như họ đều bị tù đày, trấn áp, đàn áp, nhưng thật ra mục tiêu của họ đấu tranh là vì quyền làm người của dân Việt Nam, chứ họ không phải là “tội phạm” như cách tuyên truyền của nhà nước. Tôi nghĩ những người này rất dũng cảm, có lý tưởng rất mạnh mẽ, dám đương đầu với bạo lực, bạo quyền. Những người hoạt động như vậy phải được một sự ghi nhận nhất định.

Thế nhưng, trong điều kiện ở Việt Nam, không phải người dân nào cũng tiếp cận được những thông tin bên kia bức tường lửa ngăn chặn của nhà nước, chẳng hạn như thông tin về Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam này, như bộc bạch của một sinh viên từ miền Trung:
Những người khác thì tôi không biết nhưng giới trẻ như trong trường tôi học thì hầu như ít có ai hay biết về giải thưởng này.

Tuy không được thông tin về giải thưởng này, nhưng bạn trẻ này tỏ ra rất ủng hộ khi nói đến các giải thưởng vinh danh những người đấu tranh cho quyền con người:
Tôi thì tôi hoan nghênh giải thưởng này, hy vọng nó sẽ tác động mạnh hơn nữa đối với giới cầm quyền Việt Nam, làm sao để họ phải mở rộng nhiều quyền tự do cho người dân như tự do báo chí, tự do ngôn luận. Những người đấu tranh cho các quyền đó, tôi cũng hoan nghênh thôi.

Sự khiêm tốn của họ phải được tôn trọng
Còn cảm tưởng của người được trao giải ra sao? Từ Việt Nam, Thựơng Toạ Thích Thiện Minh chia sẻ với chúng tôi:
Đây là niềm vinh dự không những riêng cho cá nhân tôi mà là một động lực khuyến khích vô biên cho tất cả những nhà dân chủ đang dấn thân trong cuộc đấu tranh chung nhằm mang lại dân chủ-nhân quyền trên quê nhà, phù hợp với tiến trình vận động phát triển dân chủ hoá toàn cầu và nêu cao giá trị về quyền con người. Khi tôi được tin này, tôi rất hoan hỉ vui mừng để đón nhận giải thưởng, đặc biệt vào dịp quốc tế kỷ niệm 60 năm ngày Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, thừa nhận phẩm giá vốn có của con người, sự bình đẳng của con người, nền tảng cho tự do-công bằng-hoà bình trên thế giới.

Thực tế cho thấy những gương mặt đấu tranh bất bạo động vì lý tưởng nhân quyền được thế giới tự do vinh danh là những anh hùng dân chủ, những tiếng nói lương tâm, đều bị chính quyền Việt Nam coi là “tội phạm” “chống đối nhà nước.” Các giải thưởng khuyến khích, tuyên dương họ tất nhiên sẽ bị chính phủ Hà Nội xem như hành động cổ võ chống phá nhà nước Việt Nam. Cá nhân những người được vinh danh Giải thưởng Nhân quyền, họ sẽ nói gì?

Thựơng Toạ Thích Thiện Minh:
Ngày hôm qua Bộ Công An có mời tôi làm việc. Họ hỏi tôi có biết tin tôi sẽ nhận giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2008 không? Tôi cũng trình bày thẳng rằng đây là danh dự không chỉ cho cá nhân tôi mà cho mọi người khi mà họ nghĩ đến quê hương, đất nước. Vì một nền tự do, dân chủ cho đất nước trong đó là hạnh phúc của cả toàn dân, mặc dù nhà nước rất ái ngại. Qua cuộc nói chuyện thì ông trên Bộ Công An tên Thắng nói rằng: “Chúng tôi quan ngại không biết sau giải thưởng đó thì sẽ còn vấn đề gì nữa hay không?Thì sẽ có nhiều đài gọi về phỏng vấn thầy về giải thưởng này mà thầy trả lời nhiều khi không khéo thì cũng bất lợi cho chính quyền, cho nhà nước lắm. Thành ra chúng tôi cũng thông báo trước với thầy.”
Theo tôi nghĩ, giải thưởng Nhân quyền cũng đánh giá đựơc chuẩn mực của từng quốc gia. Những nước thực hiện nghiêm túc những công ước thì mới xứng đáng là một quốc gia thật sự có tự do, dân chủ. Còn ngược lại thì là vi phạm nhân quyền, chưa xứng đáng với những khẩu hiệu “công bằng- dân chủ- văn minh.”
Người dân trong nước lúc nào cũng mong muốn có sự thay đổi để cuộc sống đựơc thoải mái hơn. Đó là những niềm khao khát. Còn phong trào dân chủ trong nước cũng nhiều nơi gặp khó khăn. Tình hình tôn giáo và xã hội cũng còn nhiều phức tạp và nhiều vấn đề mà nhà nước chưa giải quyết được. Chúng tôi cũng mong cầu làm sao nhà nước có sự mạnh mẽ tiến bộ hơn nữa để đổi mới có tự do, dân chủ, đáp ứng được nguyện vọng của lòng dân.”

Buổi lễ trao Giải Nhân quyền Việt Nam 2008 sẽ được cử hành tại Toà Thị Chính thành phố Westminster của tiểu bang California, Hoa Kỳ, vào chiều ngày 14/12, đúng ngày kỷ niệm 60 năm Liên hiệp quốc công bố Bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền.
Giải Nhân quyền Việt Nam năm ngoái được trao cho giáo sư Hoàng Minh Chính, luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.

ĐẢNG NÓI BỪA, NGHĨ QUẨN

ĐẢNG NÓI BỪA, NGHĨ QUẨN
Phạm Trần
Đăng ngày 31/10/2008 lúc 15:51:51 EDT
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3227
Hoa Thịnh Đốn.- “Có thể nói, các Đề án trình Hội nghị Trung ương 7 đã chắt lọc và đúc kết, trí tuệ của nhiều cấp, nhiều ngành; thể hiện tinh thần làm việc trách nhiệm, nghiêm túc, khoa học và dân chủ của Ban Chấp hành Trung ương (tổng hợp cả 3 đề án, có 337 ý kiến phát biểu thảo luận ở tổ và tại Hội trường).

Đó là lời khoe của Phùng Hữu Phú, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Thường trực Ban tuyên giáo Trung ương nói tại Hội nghị Báo cáo viên trực tuyến ngày 22/7/2008 đang được đảng Cộng sản Việt Nam tuyên truyền trong nhân dân khắp làng trên, xóm dưới.

Hội nghị 7, từ 09 đến 17/7/2008, đã thảo luận và hòan tất 3 Nghị quyết về các vấn đề “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”; “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, và “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.

Phú nói : “ Hội nghị Trung ương 7 thể hiện một bước tiến mới trong quá trình chuẩn bị các đề án. Các Đề án trình Hội nghị Trung ương 7 lần này là những vấn đề rất lớn và khó, được chuẩn bị rất công phu và nghiêm túc, có sự kết hợp chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu khoa học lý luận.”
Mới nghe thôi cũng đã cảm thấy lạnh da người, bởi vì theo lời Phú thì các đề tài thảo luận tại kỳ 7 đặc biệt và quan trọng hơn các Kỳ Hội nghị trước.

Phú nói với cán bộ : “ Từ trước tới nay, các đề án, các vấn đề trình ra Trung ương đều được chuẩn bị công phu, nghiêm túc nhưng do yêu cầu khách quan của thực tiễn với những vấn đề ngày càng phức tạp hơn, mới hơn, khó hơn đòi hỏi Đảng phải tiếp tục nâng cao trình độ trí tuệ trong việc đề ra các quyết sách lớn. Chất lượng các đề án trình ra Trung ương tạo cơ sở để Trung ương cân nhắc, bàn thảo và quyết định chính xác nhất những vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là sau khi Hội nghị Trung ương 5 đã ra Nghị quyết về “Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”.

THANH NIÊN VÀ ĐẢNG

Vậy Đảng CSVN đã nói gì về 3 Đề tài dao to búa lớn này mà Phú phải giải trình, làm to chuyện đến thế ?

Về tình hình Thanh niện hiện nay, đảng phán : “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc. Học vấn của một bộ phận thanh niên nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số còn thấp; nhiều thanh niên thiếu kiến thức và kỹ năng trong hội nhập quốc tế. Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Tỉ lệ thanh niên nhiễm HIV/AIDS còn cao.
Một số cấp ủy đảng chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo công tác thanh niên… chưa làm tốt công tác phát triển đảng trong thanh niên. Nhà nước chậm thể chế hoá và triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên; thiếu những chính sách nhất quán, đồng bộ, lâu dài đối với thanh niên; chưa có chính sách cụ thể để bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng tài năng trẻ, việc thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên còn hạn chế. Nhiều bộ, ngành, địa phương chưa làm tốt trách nhiệm chăm lo, bồi dưỡng, phát huy thanh niên thuộc lĩnh vực được phân công. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam chưa theo kịp sự phát triển của tình hình thanh niên....”

Đại biểu Quốc Hội, Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, đơn vị Đắc Lắk là người đầu tiên có Bài viết đối đáp với Đảng về từng vấn đề đã nêu ra trong Nghị quyết 7. Bài của ông xuất hiện trên Tạp chí Tia Sáng do Bộ Khoa học và Công nghệ làm chủ qủan. Tia Sáng là diễn đàn quy tụ các bài đóng góp ý kiến thẳng thắn, gần như không bị “kiểm duyệt” của nhiều Nhà Trí thức trong nước, được phản ảnh theo quan điểm nêu trên trang diện tử của Tạp chí : “Một góc nhìn của Trí thức”.

Về vấn đề Thanh Niên, ông Dũng cho đảng biết tại sao Thanh niên, đội dự bị của đảng, lại thờ ơ với đất nước : “ Với Thanh niên. Chúng ta nói thanh niên chung đều thông minh, ham học, cầu tiến bộ nhưng phong trào thanh niên còn rất nhiều hạn chế, một số thanh niên mất phương hướng và đi vào con đường hư hỏng. Tệ nạn nghiện hút, tiêm chích đẫn đến HIV, tình trạng kiếm sống bằng buôn bán ma túy, mại dâm, trộm cướp chưa bị đẩy lùi. Nghị quyết Trung ương 7 đã đánh giá rất chính xác các tồn tại trong thanh niên.”

Nhưng ông cũng nhắc khéo Đảng : “ Nên tìm hiểu vì sao thanh niên giảm sút niềm tin, đó chính là do họ là lớp người rất nhạy cảm. Các bậc cha chú làm ăn bất chính mà trở nên giàu có thì họ tội gì không noi theo? Nông thôn sống quá cực khổ thì tội gì không lao ra thành phố, mặc dầu biết rằng ở đó có sẵn biết bao nhiêu cạm bẫy. Lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, coi nhẹ nền tảng gia đình đã khiến cho biết bao gia đình tan vỡ và đẩy biết bao thanh niên vào chỗ chán nản, mất phương hướng. Hoc đại học rất tốn kém mà tìm được việc làm đúng chuyên môn nghe đâu chỉ mới được tới được 20%? Xin việc làm ở bất kỳ đâu cũng phải đút lót(!). Chuyện rất phổ biến, ai cũng biết, vậy mà chả có bất kỳ ai bị xử lý? Chuyện rất phi văn hóa lại được gọi là văn hóa- Văn hóa phong bì (!)” (Tạp chí Tia Sáng ngày 20-10-2008)

Đại biểu Dũng nêu tỷ dụ : “ Khi Đại biểu Quốc hội Mạc Kim Tôn bị tuyên án tù 8 năm vì tham ô từ dự án ma 172 triệu đồng (!), giới trẻ cười thầm: Giám đốc một Sở lớn thế mà chỉ ăn hối lộ có ngần ấy thôi à? Thế thì các Giám đốc khác, ngay cả các Trưởng, Phó phòng xúc đâu ra tiền mà hầu hết đều có được nhà cửa khang trang tại Thủ đô, tại TP Hồ Chí Minh và các thành phố lớn khác. Trước là cho con về ôn thi, đợi sau khi về hưu sẽ chuyển cả nhà ung dung về đó. Tiền mua đất xây nhà phải nhiều tỷ chứ đâu có ít?
Chúng ta quyết tâm chống tham nhũng nhưng có lẽ đang giống như quyết tâm chống bọ rầy(!). Bỏ ra biết bao công sức, tiền bạc mà bọ rầy năm nào cũng phá lúa đến mức có tới hàng nghìn con trên một gốc lúa? Bọ rầy nhờn thuốc chẳng khác gì tham nhũng đã nhờn với pháp luật hiện hành (!).”

Đề cập đến các Phong trào thi đua của Đòan Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, ông Dũng tiết lộ những việc làm tồi tệ chưa bao giờ có ai dám nói : “ Thanh niên cũng đâu còn có hăng hái thi đua như trước đây, vì việc nhận danh hiệu thi đua nhiều khi phải chạy chọt, xin xỏ… Sinh hoạt Đoàn trở nên nhạt nhẽo, thiếu sinh khí, nhất là ở khu vực nông thôn. Thanh niên tham gia Công đoàn cũng chẳng hào hứng gì với các sinh hoạt thiếu nội dung thích đáng. Thanh niên trí thức tốt nghiệp ở nước ngoài về không muốn ở lại làm việc trong nước đang bị hiểu lầm là vì muốn làm ở nước ngoài cho có lương cao. Thực tế ở đơn vị tôi cho thấy, dù lương rất thấp nhưng các tiến sĩ ấy rất hào hứng ở lại tham gia, vì thấy có đầy đủ điều kiện để phát huy tài năng của mình. Muốn hiểu thanh niên cho đúng nên hỏi xem người lớn đã quan tâm đến thanh niên như thế nào. Họ cần được tự do phát biểu chính kiến của mình, miễn là những chính kiến mang tính xây dựng. Họ có quyền đòi hỏi điều kiện để phát huy những điều đã được học hỏi trong và ngoài nước. Sử dụng sai một trí thức là bóp chết ngay trí thức ấy ngay từ ngày sử dụng.”

ĐẢNG NHÌN TRÍ THỨC

Trong Nghị quyết về Trí thức, đảng không ngần ngại chê xả láng lớp người có học hàm hơn nhiều Lãnh đạo : “ Trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đội ngũ trí thức nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém.
Số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước. Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độ tuổi, giới tính... Trí thức tinh hoa và hiền tài còn ít, chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng, đội ngũ kế cận hẫng hụt; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có uy tín ở khu vực và quốc tế.
Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu khoa học chưa xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đời sống. Trong khoa học tự nhiên và công nghệ, số công trình được công bố ở các tạp chí có uy tín trên thế giới, số sáng chế được đăng ký quốc tế còn quá ít.
Trong khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu lý luận còn thiếu khả năng dự báo và định hướng, chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra, chưa có những công trình sáng tạo lớn, nhiều công trình còn sơ lược, sao chép….”
“Trình độ của trí thức ở nhiều cơ quan nghiên cứu, trường đại học tụt hậu so với yêu cầu phát triển đất nước và so với một số nước tiên tiến trong khu vực, nhất là về năng lực sáng tạo, khả năng thực hành và ứng dụng, khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin.
Một bộ phận trí thức, kể cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tự tin, e ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quan đến chính trị. Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực và tinh thần hợp tác. Một số trí thức không thường xuyên học hỏi, tìm tòi, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, thiếu chí khí và hoài bão. Nhiều trí thức trẻ có tâm trạng thiếu phấn khởi, chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn.”

Có ngôn từ nào nặng nề hơn mà Đảng chưa dùng để “lên lớp” Trí thức, nhất là khi đảng đã ‘vơ đũa cả nắm”, không cần phân biệt giữa các Trí thức có bằng thật với “bằng gỉa”, hay giữa các Tiến sỹ có học hàm đàng hòang và các “Tiến sỹ giấy” do các trường đảng nặn ra ?

Hãy nghe Đại biểu Nguyễn Lân Dũng trả lời đảng của ông : “ Anh chị em trí thức đặt câu hỏi: Những tồn tại trên phần nào thuộc về bản thân các trí thức? Chúng ta có hàng chục vạn trí thức đang hoạt động nhiệt tình và tự nguyện trong các Hội khoa học chuyên ngành, nhưng ai cho phép các Hội chuyên ngành này tham gia phản biện các vấn đề hệ trọng đến khoa học- công nghệ, đến kinh tế-xã hội?
Lấy ví dụ trong khi chương trình giáo dục phổ thông của ta vừa nặng lại vừa thấp, nhiều môn học chả giống nước nào trên thế giới. Chương trình lại được làm sau khi đã soạn sách giáo khoa và sách giáo khoa sửa mãi vẫn đầy thiếu xót.
Vậy tại sao Bộ GD&ĐT không giao cho các Hội chuyên ngành tham gia xây dựng Chương trình rồi sẽ hỏi ý kiến của đông đảo các thầy cô giáo. Sao không kiến nghị sửa Luật Giáo dục để chuyện viết và in sách không còn là chuyện độc quyền của một nhà xuất bản.
Chuyện bỏ kỳ thi vào đại học, việc định rút chương trình đại học xuống 3 năm, việc xây thêm một đại học chất lượng cao nữa khi đã có sẵn hai Đại học Quốc gia anh chị em trí thức và các Hội chuyên ngành đâu có được tham gia phản biện. Thậm chí những việc rất lớn như mở rộng Hà Nội thì nghe nói ngay Hội Kiến trúc sư và Hội Xây dựng cũng đâu có được tham gia ý kiến?
Gần đây trí thức trong và ngoài nước phản ứng mạnh mẽ khi Nhà nước dự kiến bỏ ra 80 triệu USD để xây dựng nhà máy cồn nhiên liệu từ bột sắn và rỉ đường ở Phú Thọ. Thật là khó hiểu, khi các nước người ta sản xuất cồn sinh học từ bã mía, rơm rạ và sinh khối thực vật biển , chứ bột sắn và rỉ đường thì là nguyên liệu cho các nhà máy công nghệ sinh học mà các nước phát triển đang làm ra các dược liệu có giá trị cao hơn gấp hàng trăm, hàng nghìn lần so với cồn nhiên liệu. Đã có 80 triệu USD thì nên đầu tư tập trung cho ngành Công nghệ Sinh học để có thể làm ra hàng loạt các sản phẩm có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu có hiệu quả cao hơn nhiều.
Sản xuất từ sắn (và rỉ đường) thì chỉ cần tháp cất lại từ “quốc lủi” chứ cần gì tới 80 triệu USD? Tôi chỉ có một nguyện vọng là mong các đồng chí lãnh đạo cấp cao rẽ qua thăm Viện Vi sinh vật học ở Bắc Kinh để hiểu rõ nếu tập trung đầu tư thì có thể đưa lại biết bao nhiêu sản phẩm có giá trị cho đất nước bằng con đường sản xuất các sản phẩm Công nghệ sinh học từ vi sinh vật mang gene tái tổ hợp.
Cá nhân tôi không tán thành việc đánh giá các nhà khoa học bằng số bài báo đăng trên một số tạp chí danh tiếng nước ngoài, Chúng ta hãy coi trọng việc đem khoa học phục vụ trực tiếp cho đất nước này hơn là việc làm các nghiên cứu lý thuyết để dễ được đăng trên báo chí nước ngoài. Tại sao chúng ta không có các thành tựu lớn trong khoa học trong khi hằng năm đầu tư không ít kinh phí cho khoa học.
Tôi cho rằng chúng ta đầu tư quá dàn trải, các đề tài nghiên cứu cũng quá dàn trải và chính sách đấu thầu đề tài thường không hợp lý và không chính xác. Nên thu gọn quyết liệt đầu mối các cơ quan nghiên cứu và cần đầu tư đủ tầm cho các Trung tâm khoa học để đủ sức giải quyết các nhiệm vụ do Chính phủ đặt hàng trong từng giai đoạn….”

NÔNG DÂN SỐNG NHỜ SÂN GOLF ?

Trong Nghị quyết về “ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, đảng CSVN thừa nhận: “Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.”

Đại biểu tỉnh Đắc Lắk, người có nhiều bài phát biểu gây ấn tượng tại Quốc hội và trong dư luận phản bác nhận xét của Nghị quyết : “ Người nông dân hỏi: Ai chịu trách nhiệm về những tồn tại yếu kém này? Nhẽ nào trách nhiệm đều thuộc về nông dân? Nông dân làm sao xóa bỏ được 75 triệu thửa ruộng manh mún, nhỏ bé? Nông dân làm sao trồng trọt, chăn nuôi theo quy mô lớn với những hợp đồng có người đảm nhận đầu tư và tiêu thụ nông sản phẩm. Nông dân làm sao tự nhập được các giống cây trồng chuyển gene với năng suất rất cao mà giá thành lại hạ vì chịu được thuốc trừ cỏ và giảm thiểu được thuốc trừ sâu mà 12 triệu nông dân thuộc 23 nước đang canh tác rộng lớn trên 114,3 triệu ha? Bộ cấm chăn nuôi nhỏ lẻ theo truyền thống thì nông dân lấy gì quả trứng bồi dưỡng cho con, lấy gì có con lợn bán đi để nộp tiền học cho con. Nông dân làm sao ngăn cản được các nhà đầu tư và chính quyền đang ngang nhiên chiếm đoạt toàn những bờ xôi , ruộng mật, toàn là những nhất đẳng điền, toàn là ven các quốc lộ, tỉnh lộ, những nơi đất có cấu tượng mà phải hàng nghìn năm nhờ tác dụng chuyển đổi của vi sinh vật mới có thể có được.”

Ông Dũng đã tỏ ra bất bình về cách đổ trách nhiệm lên đầu nông dân của đảng. Ông nói : “ Tôi thầm nghĩ lãnh đạo mà vẫn chưa hiểu thế nào là đất có cấu tượng thì đừng nên tham gia vào việc quy hoạch ruộng đất. Thật bất ngờ khi trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi tới 366,44 nghìn ha (!). Vậy mà ngay các Khu công nghiệp được cấp giấy phép từ lâu nhưng ruộng đất vẫn bị bỏ không một cách vô cùng lãng phí.
Nhẽ nào đất nước mình mà cần tới 141 sân golf ở 39 tỉnh, sử dụng tới 49.268 ha đất đai- trong đó có 2 625 ha đất trồng lúa.
Nếu như trong suốt 16 năm Thủ tướng chỉ cấp phép cho 34 dự án sân golf thì chỉ chưa đầy 2 năm (7/2006-5/2008) các địa phương sau khi được phân cấp đã cấp phép cho 104 dự án- nghĩa là cứ bình quân sau mỗi tuần lại xuất hiện thêm 1 sân golf (!).
Đấy là chưa kể việc sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ cỏ sẽ dẫn đến ô nhiễm không ít các mạch nước ngầm.
Xin lưu ý Quốc hội là ở Trung Quốc các bạn nói với tôi là muốn chuyển đổi mục đích sử dụng 5 mẫu Trung Quốc (tương đương với 1/3 ha) thì phải cần có quyết định của Quốc vụ viện (tức là của Chính phủ Trung ương). Bao giờ Chính phủ ta làm được như vậy?”

Nhà lâp pháp này cũng hỏi thẳng đảng : “ Nông dân làm gì để có mức sống không quá chênh lệch so với thành thị? Hiện nay giá lương thực, thực phẩm so với năm 2005 đã tăng được 20-30% , nhưng giá vật tư nông nghiệp , giá nhân công đã tăng trên 60%, chưa kể nạn phân bón giả đang làm nông dân khốn đốn. Thu nhập thực tế của nông dân đã giảm đi 50% sau khi trừ đi các chi phí sản xuất.
Trong khi Công nghiệp được bảo hộ mạnh mẽ từ phía Nhà nước thì thử hỏi Nông nghiệp, Nông thôn và Nông dân được gì? Nhiều nước đầu tư vào nông nghiệp tới 7-8% GDP (Trị gía của mức Sản phẩm nội địa) trong khi Việt Nam là một nước nông nghiệp nhưng chỉ đầu tư có 4% cho lĩnh vực hết sức quan trọng này. Ai chịu trách nhiệm dừng xuất khẩu khi giá gạo trên thế giới lên tới 1200 USD khiến nông dân Tây Nam Bộ không bán được thóc tươi và phải phơi lúa lên khắp đường nhựa mặc cho xe ô tô nghiền nát ?”

Như vậy có phải Đại biểu Dũng đã tạt gáo “nước lạnh” vào mặt đảng, hay cả 3 Nghị quyết của Hội nghị 7 đã phản ảnh tính nói bừa, nghĩ quẩn của Ban Chấp hành Trung ương trước những khó khăn trong đời sống của Nông dân, Thanh niên và đội ngũ Trí thức ?

Mặt trái của Hội nghị 7 cũng lộ ra sự thiếu ngay thẳng, không lương thiện và cố ý trốn trách nhiệm của Lãnh đạo đảng trước tình trạng mất định hướng của Thanh niên, thiếu tin tưởng, hoang mang của Trí thức và mất đất, thất nghiệp của nông dân.

Phạm Trần
(10-29-2008)