Tuesday, August 25, 2026

35 NĂM ĐỘC LẬP UKRAINA : GÓC NHÌN CỦA ĐẠI SỨ PHÁP ĐẦU TIÊN (Phan Minh / RFI)

 



35 năm độc lập Ukraina : Góc nhìn của đại sứ Pháp đầu tiên

Phan Minh  -  RFI

Đăng ngày: 24/08/2026 - 11:53  -  Sửa đổi ngày: 24/08/2026 - 13:5

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20260824-35-n%C4%83m-%C4%91%E1%BB%99c-l%E1%BA%ADp-ukraina-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BA%A1i-s%E1%BB%A9-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BA%A7u-ti%C3%AAn

 

Hôm nay 24/08/2026, nhân kỷ niệm 35 năm ngày Ukraina tuyên bố độc lập, RFI có cuộc phỏng vấn đại sứ Pháp đầu tiên tại Ukraina, Hugues Pernet. Có mặt tại Kiev từ năm 1990, ông chia sẻ về những hồi ức, những ngày đầu của nền độc lập Ukraina, đồng thời nhìn lại các vấn đề về biên giới, vũ khí hạt nhân và những bảo đảm an ninh mà theo ông, phương Tây đã chưa xử lý thỏa đáng ngay từ năm 1991.

 

https://s.rfi.fr/media/display/4246a9f6-9f1c-11f1-a2c2-005056bfb2b6/w:1024/p:16x9/P1140057-00-00-15-16-Still002.webp

Ảnh minh họa : Lá cờ Ukraina dài 35 mét trên cầu thang Potemkin ở Odessa, Ukraina, ngày 23/08/2026. © Одеська МВА

 

Khi ông đến Kiev vào năm 1990, Ukraina vẫn còn là một nước cộng hòa thuộc Liên Xô. Trong cuốn sách của mình, ông kể rằng quyết định mở lãnh sự quán Pháp tại Kiev được đưa ra khá nhanh chóng, trở thành cơ quan đại diện nước ngoài thứ hai tại Ukraina sau lãnh sự quán Đức. Ông có thể kể đôi chút về những ngày đầu của lãnh sự quán và cả về Kiev mà ông đã chứng kiến vào thời điểm đó ?

 

Hugues Pernet : Vâng, đó là một sự kiện rất quan trọng, nhất là nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày Ukraina tuyên bố độc lập. Đúng là tôi được bổ nhiệm làm tổng lãnh sự tại Ukraina một cách vội vàng vào cuối năm 1989 và đến Kiev vào năm 1990. Khi đó Ukraina vẫn thuộc Liên Xô, một Liên Xô chưa thực sự thay đổi nhiều dưới thời Mikhail Gorbachev, nhưng bắt đầu có dấu hiệu mở cửa. Tôi được bổ nhiệm đến Kiev vì lý do chính trị : Pháp không muốn để Đức là nước duy nhất có đại diện ngoại giao tại một quốc gia quan trọng như Ukraina. Vì vậy, tôi được cử đến Kiev, khi đó là một thành phố rất ít người nước ngoài lui tới. Thành phố khá khép kín, không có tòa nhà nào để đặt lãnh sự quán, nên tôi phải ở khách sạn.

 

 

Nhà nước Ukraina non trẻ phải đối mặt với rất nhiều thách thức như tiền tệ, quân đội hay việc phân chia tài sản đi kèm với các khoản nợ của Liên Xô. Nhưng theo ông, hai vấn đề đã sớm trở thành những điểm then chốt : biên giới giữa Nga với Ukraina và vũ khí hạt nhân ?

 

Hugues Pernet : Đầu tiên tôi sẽ nói về ngày 24/08 bởi đó là sự kiện mà chúng ta đang quan tâm. Ngày 24/08/1991, Ukraina tuyên bố độc lập. Quốc Hội Ukraina, khi ấy với đa số dân biểu Cộng Sản, đã ra tuyên bố độc lập cho Ukraina. Điều này xảy ra ngay sau cuộc đảo chính bất thành chống lại Mikhail Gorbachev. Và ngay hôm 26/08/1991, tức chỉ hai ngày sau, nước Nga, dưới sự lãnh đạo của Boris Yeltsin, đã ra một tuyên bố hết sức quan trọng : nếu Ukraina độc lập, Nga sẽ đưa ra các yêu sách lãnh thổ và yêu cầu điều chỉnh biên giới liên quan đến Donbass và Crimée.

 

Khi Ukraina tuyên bố độc lập, người dân không hẳn đón nhận sự kiện ấy trong niềm vui sướng, mà với bầu không khí lo lắng. Tại sao ? Bởi tuyên bố độc lập khi ấy thực chất bao hàm hai vấn đề. Một mặt, là sự tách rời khỏi Liên Xô, mặt khác, là việc xác lập nền độc lập của Ukraina. Nhưng cần nhớ rằng vào thời điểm đó, trên lãnh thổ Ukraina vẫn có khoảng 700.000 binh sĩ Xô viết. Vì thế, câu hỏi khiến Kiev đặc biệt lo ngại là nếu Ukraina tiếp tục tiến tới độc lập thì 700.000 binh sĩ Xô viết ấy sẽ làm gì ?

 

Đây là một sự ly khai. Ông Gorbachev được cho là có trách nhiệm duy trì sự toàn vẹn của Liên bang Xô viết và khi ấy không thể loại trừ khả năng ông sẽ điều quân can thiệp. Ông Gorbachev đã không làm vậy. Nhưng chính ông Yeltsin mới là người ra quyết định nếu tình hình tiếp tục biến chuyển theo chiều hướng đó, Nga sẽ yêu cầu điều chỉnh đường biên giới. Đó là vấn đề lãnh thổ.

 

Thứ hai là vấn đề vũ khí hạt nhân. Trong tuyên bố về chủ quyền mà tôi vừa nêu, vào năm 1990, những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraina rất khôn khéo đã hiểu rằng nếu muốn thuyết phục phương Tây ủng hộ lập luận của mình, Kiev phải tuyên bố ngay từ năm 1990 rằng Ukraina muốn phi hạt nhân hóa, một cách để làm vừa lòng phương Tây.

 

Nhưng đến thời điểm độc lập, trên lãnh thổ Ukraina Xô viết lại có khoảng hơn 3.600 đầu đạn hạt nhân, là một con số khổng lồ. Để hình dung quy mô, vào thời điểm ấy Pháp chỉ có khoảng 300 đầu đạn. Vì thế, cả phương Tây lẫn Matxcơva đều không chấp nhận những vũ khí hạt nhân này nằm dưới quyền kiểm soát của Ukraina.

 

Cuối cùng, phương án được lựa chọn là chuyển giao số vũ khí này cho Nga. Và điều đáng nói là những hệ quả của quyết định đó vẫn hiện hữu cho đến bây giờ : việc chuyển giao này đã không đi kèm với những bảo đảm an ninh dành cho một Ukraina tự nguyện phi hạt nhân hóa.

 

 

Vậy ông nói rằng ngay từ đầu Ukraina đã chấp nhận phi hạt nhân hóa và điều đó rất được các nước phương Tây hưởng ứng. Nhưng theo ông, vào thời điểm đó Ukraina có khả năng giữ lại số vũ khí ấy ?

 

Hugues Pernet : Không. Tất cả các quan chức Ukraina đều ý thức rằng đó là một yếu tố căn bản : phương Tây sẽ không bao giờ công nhận nền độc lập của Ukraina nếu nước này không đồng ý từ bỏ số vũ khí đó. Sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 01/12/1991, nền độc lập của Ukraina chính thức được xác nhận. Liên Hiệp Châu Âu, khi đó do Hà Lan giữ chức chủ tịch luân phiên, đã ra một tuyên bố rằng “chỉ công nhận nền độc lập của Ukraina với hai điều kiện”.

 

Điều kiện thứ nhất là Ukraina phải phi hạt nhân hóa, đúng như mong muốn của nước này. Điều kiện thứ hai có thể gây ngạc nhiên : Ukraina phải tôn trọng các thỏa thuận với Nga. Đó là hai điều kiện mà Liên Âu đưa ra vào năm 1991.

 

Sau khi độc lập, Quốc Hội Ukraina cũng có nhiều cuộc tranh luận với quá trình chuyển giao vũ khí kéo dài khá lâu, nhưng đó thực chất chỉ là những phát biểu mang tính nghị trường. Điều đó chưa bao giờ được xem xét một cách nghiêm túc trên thực tế. Theo quan điểm của tôi, dù thế nào đi nữa, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp và Nga sẽ không bao giờ chấp nhận khả năng đó.

 

 

Ông cho biết một quan chức Ukraina từng hỏi Pháp sẽ phản ứng thế nào nếu xảy ra một cuộc đối đầu trực tiếp với Nga về Crimée trong khi vấn đề này đã được đề cập từ rất lâu. Có thể nói phương Tây đã không quá coi trọng những tín hiệu đáng báo động đó ?

 

Hugues Pernet : Đó là lý do tại sao tôi có cái nhìn phê phán đối với phương Tây. Cụ thể là vào năm 1991, chúng tôi hoàn toàn biết rằng đã có một sự tranh chấp lãnh thổ. Việc có tranh chấp lãnh thổ không đồng nghĩa với việc tranh chấp đó chính đáng, cũng không biện minh cho chiến tranh. Nhưng điều đó cho thấy vẫn tồn tại một vấn đề.

 

Và Ukraina đã có một hành động khá phi thường, tất nhiên họ cũng bị buộc phải làm vậy, nhưng đồng thời họ cũng mong muốn điều đó, là từ bỏ vũ khí hạt nhân. Thế nhưng vào thời điểm đó, đổi lại, Kiev đã không nhận được những bảo đảm cần thiết khẳng định rằng sẽ không có một cuộc can thiệp quân sự nào của Nga trong tương lai.

 

Nếu cuối cùng hai bên đạt được một hiệp định hòa bình, thỏa thuận đó sẽ phải giải quyết hai vấn đề cốt lõi : thứ nhất là vấn đề lãnh thổ và đường biên giới giữa Nga và Ukraina, thứ hai là những bảo đảm an ninh mà phương Tây phải dành cho Ukraina để nước này có thể tự vệ trước nguy cơ Nga tiếp tục tiến hành một cuộc xâm lược trong tương lai.

 

 

Nhưng cũng cần nhắc lại rằng vào thời điểm ấy châu Âu còn phải đối mặt với một vấn đề nan giải khác : Nam Tư và cuộc chiến giữa các nước cộng hòa cũ của liên bang này. Nếu so sánh sự sụp đổ của Liên Xô với sự tan rã của Nam Tư, có thể nói rằng các nước cộng hòa Xô viết khi ấy đã tránh được kịch bản tồi tệ nhất ?

 

Hugues Pernet : Đúng vậy, điều đó khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Năm 1991, chúng ta chứng kiến một cuộc cách mạng địa chính trị mang tính căn bản : sự biến đổi của một đế chế Xô viết, một “liên bang không thể chia cắt, không thể phá vỡ” đang tan rã.

 

Ngoại trừ những sự kiện xảy ra tại các nước Baltic, nơi có vài chục người thiệt mạng, thì xét về mặt con số, đó không phải là một cuộc xung đột lớn. Quá trình này diễn ra mà hầu như không có người chết hoặc có rất ít người thiệt mạng. Không có xung đột vũ trang, mà mọi thứ đều được giải quyết thông qua đàm phán.

 

Ngay cả khi Nga tuyên bố vào ngày 26/08/1991 rằng muốn điều chỉnh biên giới, Matxcơva đã nhận thấy căng thẳng với Kiev nhanh chóng leo thang và đã cử một phái đoàn tới Ukraina để tìm kiếm một thỏa hiệp. Vì vậy, trong nhiều năm, cho đến năm 2014, mọi chuyện diễn ra tương đối suôn sẻ, hoàn toàn khác với những gì xảy ra ở Nam Tư, nơi sự tan rã diễn ra trong một cuộc đổ máu hết sức đáng tiếc.

 

 

35 năm sau khi tuyên bố độc lập vào ngày 24/08/1991, theo ông, thành tựu lớn nhất của Ukraina trong ba thập niên, thậm chí gần bốn thập niên qua là gì ? Và ngược lại, điều gì vẫn còn dang dở ?

 

Hugues Pernet : Ukraina đã có khoảng 20 năm để tận dụng thời cơ, tiến hành những cải cách dân chủ và kinh tế sâu rộng. Nhưng trên thực tế, nước này đã không tận dụng được những năm tháng đó. Ukraina đã không tiến hành được những cải cách dân chủ sâu sắc.

 

Tất nhiên đã có phong trào Maidan vào năm 2004. Theo tôi, phong trào đó đã cho thấy giới trẻ và bộ phận ủng hộ dân chủ của Ukraina lần đầu tiên đứng lên chống lại sự kiểm soát của những cựu cán bộ Xô viết cai trị Ukraina. Cá nhân tôi rất ấn tượng trước những phong trào biểu tình ở Kiev, mỗi khi người dân yêu cầu cải cách chống tham nhũng hoặc yêu cầu phục hồi chức vụ cho bộ trưởng Quốc Phòng (Mykhailo Fedorov). Có một phong trào dân chủ, nhưng chưa có một quá trình dân chủ hóa sâu rộng ở Ukraina.

 

Kể từ năm 2014 và đặc biệt là từ năm 2022, Ukraina đã làm được những điều phi thường. Bất chấp những hạn chế về nhân khẩu học, nguồn lực tài chính hay giới hạn trong viện trợ của phương Tây, Ukraina vẫn có thể chống lại một trong những đội quân lớn nhất thế giới. Chúng ta đang chứng kiến một tình thế cân bằng đáng chú ý giữa một quốc gia không có vũ khí hạt nhân và một cường quốc nguyên tử.

 

 

Ông đã sống và làm việc nhiều năm ở Ukraina và Nga. Ông hình dung như thế nào về tương lai của hai nước sau cuộc chiến ?

 

Hugues Pernet : Năm 1945, Pháp và Đức từng đối đầu với nhau. Pháp bị xâm lược và trải qua một thời kỳ bị chiếm đóng vô cùng đau đớn. Không ai có thể tưởng tượng vào năm 1945, chỉ vài năm sau, hai nước lại có thể hòa giải.

 

Vì vậy, chúng ta vẫn có thể nuôi hy vọng. Nhưng để đạt được điều đó, trước hết phương Tây phải tái vũ trang để có khả năng chống trả và cho thấy có ý chí chống trả. Thứ hai, và đây là điều cốt yếu, ngoại giao phải phát huy vai trò của mình. Các bên cần thảo luận và xây dựng một thế cân bằng an ninh mới, tuy điều đó không dễ dàng.

 

Mỗi bên đều có những lợi ích riêng cần được bảo vệ. Điều quan trọng là phải tìm được một điểm cân bằng giữa các bên. Muốn làm được điều đó, bên cạnh việc củng cố năng lực quân sự, vẫn phải duy trì đối thoại. Chỉ khi kết hợp cả hai, các bên mới có thể hy vọng xây dựng được một thế cân bằng an ninh phù hợp nhất có thể.

 

----------------------------

Các nội dung liên quan

Ngày Độc lập của Ukraina được tổ chức long trọng tại Ba Lan

CHIẾN TRANH UKRAINA

Kiev và các đồng minh tổ chức kỷ niệm 35 năm Ukraina độc lập

 CHIẾN TRANH UKRAINA

 





No comments: