Ai
là người đã đặt tên “Việt Nam” cho nước ta?
Thái Hạo
11/01/2026
https://baotiengdan.com/2026/01/11/ai-la-nguoi-da-dat-ten-viet-nam-cho-nuoc-ta/#google_vignette
Nước
ta, trải hàng ngàn năm, có nhiều tên, như (Văn Lang, Âu Lạc) Vạn Xuân, Đại Cồ
Việt, Đại Việt…, nhưng những tên này đều là “nội địa”, nghĩa là tự đặt để gọi
trong nước; trong khi những cái tên như Giao Chỉ, An Nam mới là tên do Trung Quốc
đặt, phong cho, và phải dùng trong “ngoại giao chính thức”. Và các vua Việt Nam
đều phải chấp nhận. Vậy còn tên “Việt Nam”?
1. Sau khi lên ngôi năm 1802, Nguyễn Ánh – Gia
Long đã dâng biểu lên vua Gia Khánh nhà Thanh, xin đặt tên nước là Nam Việt.
Tuy nhiên, Gia Khánh xem xong thì từ chối, ra chỉ dụ:
“Dụ
các Quân cơ Đại Thần: Hôm qua Tôn Ngọc Đình tấu dâng biểu văn thỉnh phong của
Nguyễn Phúc Ánh, Trẫm đã duyệt đọc kỹ, việc xin phong tên nước hai chữ “Nam Việt”
không thể chấp nhận được. Địa danh “Nam Việt” bao hàm rất lớn, khảo sử xưa hai
tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đều nằm ở trong đó. Nguyễn Phúc Ánh là tiểu Di nơi
biên giới, tuy hiện nay có được toàn đất An Nam, bất quá lãnh thổ bằng đất Giao
Chỉ xưa là cùng, làm sao lại được xưng là “Nam Việt”. Biết đâu đây không phải
là ý muốn khoe khoang tự thị của ngoại Di, xin thay đổi quốc hiệu, để thử bụng
[Thiên triều] trước, đương nhiên đáng bác đi”. (Nhân Tông Thực lục
quyển 106, trang 428; Chỉ dụ ngày 20 tháng Chạp năm Gia Khánh thứ 7
[13/1/1803])
Sau
khi nhận chỉ dụ của hoàng đế nhà Thanh, vì Gia Long không bỏ cuộc, nên, trong
chỉ dụ tiếp theo, Gia Khánh nói:
“Nguyễn
Phúc Ánh cho rằng lời dụ lần trước là ý kiến riêng của Tôn Ngọc Đình, biểu văn
của y chưa tấu lên trên để được nghe quyết định [của Hoàng đế], nên lần này vẫn
thỉnh phong quốc hiệu Nam Việt và khẩn xin tấu thay”. (Nhân Tông Thực lục
quyển 111, trang 480 – 481; Chỉ dụ ngày 6 tháng 4 năm Gia Khánh thứ 8
[26/5/1803])
Cũng
trong chỉ dụ ngày 20 tháng Chạp năm Gia Khánh thứ 7, ông ta nói: “Đến việc
xin đặt tên nước là Nam Việt, thì nước này trước đây có đất cũ Việt Thường, sau
lại được toàn lãnh thổ An Nam; vậy Thiên triều phong quốc hiệu cho dùng hai chữ
“Việt Nam”; lấy chữ “Việt” để đằng trước tượng trưng cương vực thời xưa; dùng
chữ “Nam” để đằng sau, biểu tượng đất mới được phong. Lại còn có nghĩa là phía
nam của Bách Việt; không lẫn lộn với tên nước cũ “Nam Việt”.
Nghĩa
là Gia Khánh đã nhượng bộ: Không chấp nhận tên “Nam Việt” do Gia Long đòi nhưng
cũng không ấn định tên “An Nam” như cũ, mà chọn một giải pháp “có đi có lại”,
là “Việt Nam”.
Nhưng
đấy là nhìn từ sử nhà Thanh mà biết vậy. Còn sử ta thì nói gì?
2. Tình hình có vẻ phức tạp hơn nhiều. Trao qua
đổi lại rất nhiều lần, phải 1 năm sau mới “chốt hạ” được. Ngôn ngữ bây giờ gọi
đó là “đấu tranh ngoại giao”.
Theo
Trịnh Hoài Đức (Thượng thư bộ Hộ, được sắc phong làm chánh sứ sang nhà Thanh tiến
cống) đã ghi lại trong sách Cấn trai thi tập như sau:
“Tuần
phủ Quảng Tây là Tôn Ngọc Đình bắt trả lại nguyên biểu, khiến đổi lại quốc hiệu
cũ là An Nam. Nước ta không chịu theo mệnh vì An Nam từng là hiệu cũ. Nên Tuần
phủ Tôn Ngọc Đình, Bố chính Công Nga, Án sát Thanh An Thái, ân cần mời sứ bộ,
nhiều lần biện giải khúc mắc, khuyên sứ ta nên nhanh chóng sửa biểu văn gửi về
tâu. Chúng tôi bày tỏ việc này chẳng phải là việc của người xuất sứ mà do Hoàng
thượng quyết định. Việc xin quốc hiệu, bên kia thì muốn theo yêu cầu của họ, nước
ta thì không chịu nghe theo. Thư từ qua lại, bàn luận chưa xong“. (Dẫn theo
Đinh Văn Tuấn, Tạp chí Sông Hương, 2017).
Cuộc
giằng co rất căn thẳng. Nhà Thanh yêu cầu nước ta phải giữ nguyên tên An Nam,
còn ta thì không chịu, “không phong thì thôi chứ không chấp nhận tên “An Nam”!
Trong
chỉ dụ của Gia Khánh nhà Thanh đã dẫn ở trên gửi quân cơ đại thần, có câu: “Ngoài
ra Nguyễn Phúc Ánh cầu phong quốc hiệu “Nam Việt”, rõ ràng tự thị võ công muốn
đòi xin thêm đất. Sợ bọn chúng âm mưu bất trắc, nên lệnh truyền các quan địa
phương tại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây lưu tâm phòng bị vùng biển cùng biên
giới, quan ải; không được trể nải lơ là. Nay truyền dụ các nơi để hay biết.”
Đây
là sử nhà Thanh, không phải sử ta để nói là nhà Nguyễn “huếnh”. Rõ ràng, cùng với
việc Gia Long đề nghị tên nước (Nam Việt) và cuộc giằng co căng thẳng này khiến
Gia Khánh phải “ngại”, và ra lệnh “lưu tâm phòng bị vùng biển cùng biên giới,
quan ải; không được trể nải lơ là”.
Trong
khi “thương thảo” căng thẳng kéo dài, phái đoàn của Việt Nam đã “linh hoạt” đề
xuất một cái tên để vừa giữ được ý nghĩa, vừa “hài hòa lợi ích”: Việt Nam. Tất
nhiên, sự linh hoạt này đã được vua Gia Long đồng ý.
Tóm
lại, cái tên “Việt Nam”, cuối cùng, là do phái đoàn của triều Nguyễn đề xuất và
được cả hai bên chấp nhận, chứ không phải do nhà Thanh nghĩ ra và ấn cho. Đó là
kết quả của một cuộc đấu tranh, cả hai cùng nhượng bộ để đi đến một giải pháp
“chấp nhận được”.
3.
Bàn:
Gia
Long ban đầu muốn đặt tên nước là Nam Việt, cái tên này thì khỏi bàn, làm nhớ
ngay đến Triệu Đà, vua nước Nam Việt (Từ Triệu, Đinh, Lý Trần bao đời dựng nền
độc lập; cùng Hán, Đường Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương – Nguyễn
Trãi). Mà nước Nam Việt thì bao gồm lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây). Đây
chính là lý do mà Gia Khánh nhà Thanh không chấp nhận và lập tức lệnh cho quần
thần phòng thủ, vì lo rằng Nguyễn Phúc Ánh có “dã tâm” chiếm lại lưỡng Quảng.
Tất
nhiên khi muốn đặt tên nước là Nam Việt thì Gia Long không thể không biết lưỡng
Quảng là đất của nước Nam Việt xưa! Việc ông có ý định gì hay không thì ta
không biết, nhưng qua cách đặt tên này thấy rõ phần nào sự sâu sắc về ý thức
lãnh thổ của vị vua mới triều Nguyễn.
Tên nước “Việt Nam” là tên nước lần đầu do người
nước ta (nhà Nguyễn) giành được/ đấu tranh mà có được, còn trước đó đều là tên do Trung Quốc
ấn định (với tư cách là tên chính thức). Lần đầu tiên trong lịch sử ta thoát khỏi
cái tên “An Nam” do Trung Quốc áp đặt.
Nhìn
một cách rộng ra, từ việc thống nhất lãnh thổ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau,
xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường sa, thiết lập một nền hành chính
hoàn chỉnh, v.v., thì thấy rằng việc vua Gia Long theo đuổi tên mới cho nước là
một hành động có tính hệ thống, hoàn toàn ý thức và ý thức sâu sắc về lãnh thổ
và chủ quyền cũng như tinh thần độc lập, tự cường. Có thể nói, đến vua Gia
Long, ý thức về “dân tộc” đã nảy nở ở mức cao nhất của lịch sử phong kiến/ quân
chủ Việt Nam?
No comments:
Post a Comment