Sunday, September 16, 2018

BÀI HỌC CHO NHỮNG NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA MỚI (Lê Mạnh Hùng)




Lê Mạnh Hùng
September 12, 2018

Lúc này giới trẻ, nhất là tại Anh, Mỹ bắt đầu ham mê trở lại “xã hội chủ nghĩa.” Tại Anh, chính những người trẻ đã giúp ông Jeremy Corbyn lật đổ ban lãnh đạo trung tả của đảng Lao Động, trong lúc tại Mỹ chính những người trẻ này đang làm thay đổi đảng Dân Chủ sang phía tả nhiều hơn là các giới chức lãnh đạo muốn.

Ông Jeremy Corbyn, người lật đổ ban lãnh đạo trung tả của đảng Lao Động ở Anh. (Hình: ips-dc.org)

May mắn là đa số họ khi nói đến “xã hội chủ nghĩa” đều không nói đến loại “xã hội chủ nghĩa” nhốt người ta trong trại cải tạo như tại Liên Xô, Trung Quốc hay Việt Nam mà hầu như đều muốn chỉ một chế độ dân chủ xã hội như tại các nước Bắc Âu, đặc biệt là tại bán đảo Scandinavia.

Nhưng điều mà những người “xã hội chủ nghĩa” mới cần lưu ý là những chế độ này có những ràng buộc của nó.

Thuần túy mà nói, trên phương diện kinh tế gọi các nền kinh tế Bắc Âu là “xã hội chủ nghĩa” là không đúng. Một danh từ đúng hơn là là kinh tế hỗn hợp (mixed economy) hay dùng theo một từ ngữ người Đức dùng ta có thể gọi là “kinh tế xã hội thị truờng” (social market economy). Và trên nhiều khía cạnh các nền kinh tế này đi ngược lại với những điều mà các người xã hội chủ nghĩa mới tại Anh, Mỹ tin vào.

Thứ nhất, các nền kinh tế hỗn hợp Bắc Âu ủng hộ tiến trình toàn cầu hóa.

Thứ hai, điều làm cho các nước Bắc Âu có ít bất công kinh tế hơn các nước khác không phải là chính sách chính phủ tái phân phối lợi tức xã hội, mà qua cơ cấu tổ chức lao động giúp cho lương bổng và thu nhập bình đẳng hơn ngay cả trước khi thuế và phúc lợi xã hội được tính vào.

Và thứ ba, điều này không thuần túy tùy thuộc chính sách chính phủ mà chủ yếu là qua cơ cấu tổ chức xã hội, nghiệp đoàn và hiệp hội chủ nhân đều là những yếu tố then chốt cho sự thành công của các nước Bắc Âu trong việc phối hợp công bằng kinh tế với năng suất lao động.

Mức độ cởi mở với kinh tế toàn cầu hóa được thể hiện qua chỉ số cởi mở (openness index): tỷ lệ ngoại thương (tổng số xuất và nhập cảng kể cả hàng hóa và dịch vụ) so với tổng sản lượng quốc nội. Trên phương diện này các nước Bắc Âu cởi mở hơn nhiều so với Anh và nhất là Hoa Kỳ, thành ra họ dễ bị ảnh hưởng hơn nhiều do những biến động trong kinh tế toàn cầu. Thế nhưng người dân tại các nước này phải chịu ít rủi ro vì những biến động này hơn là tại Anh và Mỹ; điều này cho thấy với những chính sách kinh tế vĩ mô thích hợp, người ta có thể quản lý tốt việc toàn cầu hóa này.

Việc cắt giảm bất công kinh tế không phải chỉ trông cậy vào các biện pháp tái phân phối thu nhập. Một thước đo bất công trong thu nhập là chỉ số Gini vốn thay đổi từ 0 đến 1 với không là khi tất cả mọi người có cùng một thu nhập và một khi mọi lợi tức trong nước rơi vào tay một người.

Trong một tài liệu nghiên cứu dựa trên các dữ liệu lấy của Liên Hiệp Châu Âu, Janet Gornick và Branko Milanovic đã phân tích chỉ số Gini của các nước Châu Âu trước và sau khi có các biện pháp tái phân phối (thuế và phúc lợi).

Phúc trình cho thấy tuy rằng tại các nước Bắc Âu, chính sách tái phân phối thu nhập của các chính phủ thì không cắt giảm chỉ số Gini nguyên thủy (lợi tức trước khi chịu thuế và nhận phúc lợi) từ 0.46-0.48 xuống chỉ còn 0.24-0.26 cho chỉ số Gini sau khi chịu thuế và nhận phúc lợi.

Thế nhưng việc tái phân phối lợi tức này – tương đương với 0.22 chỉ số Gini – thì không cao gì hơn so với Đức (0.23), Pháp (0.22) và Anh (0.22). Điều làm cho các nước Bắc Âu có bình đẳng hơn về kinh tế nằm trong thu nhập nguyên thủy với một chỉ số Gini thấp hơn từ 0.02 đến 0.10 so với Đức, Pháp và Anh.

Thành ra tuy rằng các chính sách tái phân phối thu nhập của các nước Bắc Âu không khác gì các nước Tây Âu khác nhưng nó có hiệu quả hơn, bởi vì nó khởi đầu với một mức độ bất bình đẳng thấp hơn.

Thế nhưng vì sao lại có tình trạng tương đối bình đẳng hơn này? Tại các nước Bắc Âu điều này đạt được qua việc các tổ chức chủ và công nhân điều đình tập thể (collective bargaining) giữa từng khu vực kinh tế trong thị trường lao động.

Chính phủ không ấn định mức lương tối thiểu mà do đại diện của giới chủ nhân và công nhân quyết định mức lương ở mỗi bậc. Hậu quả là một thang lương không có qua nhiều khác biệt, mức lương thập nhất cao hơn trong khi mức lương cao nhất thấp hơn.

Và điều này cũng có một hệ quả khác là nó tạo ra một khuyến khích cho các công ty đầu tư vào các thiết bị có năng suất cao vì chi phí tuyển nhân công điều hành các thiết bị này tương đối rẻ. Nhưng để làm việc này người ta cần phải có một sự hợp tác chứ không phải đối kháng giữa giới chủ và thợ và một tinh thần theo lời của Karl Ove Moene, một giáo sư kinh tế người Na Uy “(các tổ chức này, chủ và thợ) phải có một quan tâm không những đối với khu vực kinh tế hoặc kỹ nghệ riêng của mình mà đối với toàn thể nền kinh tế… họ giải quyết các vấn đề phối hợp tập thể cho nền kinh tế nói chung.”

Nói một cách khác hệ thống kinh tế Bắc Âu không phải chỉ là một hệ thống kinh tế hỗn hợp tư bản với các yếu tố xã hội mà thôi. Nó lớn hơn thế. Nó là một khế ước xã hội, nó là một khế ước bao gồm cả công nhân lẫn chủ nhân và những người cung cấp tư bản. Liệu xã hội Mỹ có chấp nhận một khế ước xã hội đó hay không? (Lê Mạnh Hùng)







No comments: