Thursday, October 7, 2010

CÔNG AN và ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG

Trung Điền
Cập nhật ngày: 7/10/2010

Trong các chế độ độc tài cộng sản, bộ máy công an không chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát đời sống người dân mà còn ngăn chận những nỗ lực đối kháng của người dân dưới mọi hình thức. Sự ngăn chận này đã và đang bị thay đổi theo thời gian.
Trong thời kỳ toàn trị, tức là lúc đảng Cộng sản khống chế toàn diện xã hội, bộ máy công an được sử dụng như bàn tay trấn áp thô bạo để bảo vệ uy quyền tuyệt đối của chế độ độc tài, bất chấp những phản đối từ thế giới bên ngoài. Tất cả những ai làm trái mệnh lệnh của đảng và nhà nước đều bị công an thủ tiêu hay bắt giữ không cần xét xử. Đất nước của chúng ta đã trải qua thời kỳ hung hiểm này rất dài từ năm 1945 ở một nửa miền Bắc và từ năm 1975 trên cả nước kéo dài đến giữa thập niên 2000, trước khi Cộng sản Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO.

Mặc dù Cộng sản Việt Nam đã chịu một số áp lực quốc tế khi mở cửa bang giao với Hoa Kỳ và buôn bán với phương Tây từ năm 1995 trở đi, nhưng bộ máy công an vẫn được coi là lực lượng đứng trên tất cả. Các thủ đoạn của bộ máy công an sử dụng trong thời kỳ nói trên vẫn là đàn áp tối đa những ai dám chống lại chế độ, kể cả việc răn đe và cô lập kinh tế những người thân trong gia đình của họ. Chủ trương của bộ máy công an không chỉ là tiêu diệt những người dám chống lại họ mà còn làm khiếp sợ cả những người chung quanh. Do đó mà những người đối kháng trong thời kỳ này hứng chịu rất nhiều nghiệt ngã, những lên tiếng can thiệp của quốc tế không có nhiều tác dụng.

Từ năm 2000 trở đi, Cộng sản Việt Nam đã phải thay đổi thái độ đối với thế giới khi ký thương ước với Hoa Kỳ và bắt đầu vận động để được gia nhập WTO. Một trong những thay đổi này là Cộng sản Việt Nam không thể nào tiếp tục khống chế xã hội như dưới thời toàn trị mà phải cải tổ một số luật lệ và sinh hoạt xã hội theo tiêu chuẩn của xã hội mở, đặc biệt là phải chấp nhận sự quan sát của quốc tế về mặt nhân quyền. Cộng sản Việt Nam không muốn thi hành những đòi hỏi nói trên và núp sau lý cớ rằng đó là những âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực bên ngoài để trì hoãn những cải tổ cần thiết hay nếu có thay đổi cũng chỉ là hình thức.

Từ năm 2005 cho đến nay, Cộng sản Việt Nam vẫn cố trì hoãn những cải tổ về hành chánh, tòa án, tư pháp; thậm chí họ còn gia tăng các kiểm soát mạng thông tin Internet, nhưng họ biết là không thể tiếp tục trì hoãn sự thay đổi và kiểm soát xã hội theo ý muốn riêng khi mà họ đang muốn đẩy mạnh sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới và thu hút đầu tư từ nước ngoài, với đích nhắm là đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp tiên tiến vào năm 2025. Người ta chưa biết là Cộng sản Việt Nam có đạt được đích nhắm này hay không, nhưng ít ra nó buộc họ phải thay đổi lề lối hành xử của bộ máy công an để có bộ mặt “văn minh” hơn trong việc giao tiếp với xã hội bên ngoài và để người ngoại quốc đủ tin tưởng mà bỏ tiền vào đầu tư tại Việt Nam.

Việc Cộng sản Việt Nam phải chấp nhận những “đối thoại nhân quyền” một cách định kỳ hàng năm với Na Uy, Thụy Điển, Hoa Kỳ hoặc phải tham gia trả lời các chất vấn về nhân quyền hàng năm của Ủy ban nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Genève, cho thấy là Cộng sản Việt Nam đang bị quốc tế theo dõi và rất ngại mỗi khi bị các cơ quan nhân quyền lên tiếng phản đối về một sự đàn áp nào đó xảy ra. Đương nhiên chúng ta biết sự giới hạn của các phản đối quốc tế; nhưng ít ra là đã ngăn chận không cho bộ máy công an có thể tự tung tự tác để trấn áp bất cứ ai như dưới thời toàn trị.

Tuy nhiên, một yếu tố góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu các hành động trấn áp thô bạo của công an hiện nay chính là phương pháp đấu tranh bất bạo động đã được bà con dân oan, công nhân, các phong trào đấu tranh tôn giáo, các lực lượng dân chủ áp dụng tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây.

Đặc tính cốt lõi của phương pháp đấu tranh bất bạo động là các hành động phản kháng công khai để quy tụ số đông, và chính số đông này làm tê liệt nhiều loại trấn áp của công an. Khi công khai những nỗ lực tranh đấu, nhiều người mới thấy đây là những hành động vừa tầm tay của những người dân bình thường trong xã hội như họ. Và cũng chính nhờ sự công khai mà nhiều người biết được hàng xóm của mình cũng có mơ ước và uất ức như mình, nghĩa là giúp người ta nhìn thấy họ có cùng mục tiêu. Khi mục tiêu giống nhau thì sự tham gia sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. Việc đấu tranh công khai trước mặt nhiều nhân chứng cũng ngăn chận trước các thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo, bức cung của chế độ độc tài, vốn kiểm soát toàn bộ hệ thống báo đài. Rõ ràng không thể có được số đông quần chúng nếu không đấu tranh công khai.

Ngược lại, khi số người tham gia đấu tranh ngày càng đông thì các hình thức đấu tranh càng phải là những việc công khai. Khó có thể kéo một số rất đông quần chúng đi làm một việc kín. Và nếu biết khai dụng, số đông quần chúng không cần bạo động vẫn có khả năng làm tê liệt hệ thống nhà tù, vô hiệu hóa hệ thống tuyên truyền, làm ruỗng nát hệ thống hành chánh, v.v. của chế độ. Mỗi người dân chỉ cần đóng góp một phần rất nhỏ trong tầm tay của mình và khi có nhiều người cùng làm như vậy sẽ lôi kéo được số đông đủ lớn, ngày một gia tăng nhanh hơn nữa do sự tin tưởng vào chính nghĩa chung. Biến cố hàng ngàn người dân đã tụ tập trước ủy ban nhân dân tỉnh để phản đối vụ công an đánh chết người ở Bắc Giang hôm cuối tháng 6 năm 2010 là một thí dụ điển hình.

Nói cách khác, một người đang đứng bên lề sẽ thấy mục tiêu chung của họ phải đúng và cao đẹp lắm thì mới có nhiều người tham gia như vậy và do đó tôi cũng phải tham gia. Sau hết, chính số đông quần chúng đẩy giới cầm quyền độc tài vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Tức là nếu nhà cầm quyền từ chối giải quyết, họ sẽ phải đối diện với một làn sóng chống đối đông đảo và càng gia tăng vì uất ức; ngược lại, nếu giới cầm quyền chịu giải quyết thì họ không thể chỉ làm một vài trường hợp riêng lẻ để lấy tiếng mà phải giải quyết cho toàn bộ số đông trước mặt; và khi đã đạt được kết quả trong lãnh vực đó, quần chúng đấu tranh sẽ đòi giải quyết tiếp các oan trái trong những lãnh vực khác. Và kết quả sau cùng vẫn là một chế độ độc tài bị số đông quần chúng làm tê liệt.

Trở lại vấn nạn công an hiện nay. Bản chất của công an trong một chế độ độc tài là dùng bạo lực trấn áp bất kể luật pháp, lý lẽ, hay luân thường trong xã hội. Nếu người dân dùng bạo lực chống lại bạo lực của công an chắc chắn người dân sẽ thua vì sự nghiêng lệch quá lớn về vũ khí, phương tiện, và mức độ tàn nhẫn. Ngược lại kinh nghiệm cho thấy, công an sẽ vô cùng bối rối khi đối diện với khối quần chúng tay không, công khai đấu tranh cho những quyền pháp định của họ và không coi công an là mục tiêu để tấn công. Loại hành động phản kháng cũng được chọn kỹ lưỡng để không chọc tức công an, không tạo những “cá nhân anh hùng” nhưng vừa đủ để giúp nhiều người vượt qua sợ hãi, ngang nhiên tranh đấu công khai trước mặt công an. Dĩ nhiên, các phương tiện thu hình, thu thanh, và mạng Internet được tận dụng để tung ngay những chứng cớ “ai tấn công ai” trước thế giới. Người dân Việt Nam đang từng bước thu thập kinh nghiệm theo hướng đấu tranh này:
Hàng trăm dân oan tập trung ở Sài Gòn hay Hà Nội đã không còn sợ hãi chạy trốn hay tức tối mắng chửi công an nhưng đã làm họ bối rối. Bà con dân oan không xin xỏ nhưng nhìn thẳng vào mặt công an cho biết lý do tại sao họ phải đòi giải quyết hoàn cảnh oan ức của mình. Bà con dân oan cam đoan giữ trật tự và kêu gọi công an làm đúng chức năng của mình. Những nỗ lực này đã giảm thiểu rất nhiều các cuộc đối đầu giữa công an và bà con trong vòng 2 năm qua.

Cũng vậy, hàng ngàn công nhân đã coi công an như lực lượng giúp giữ trật tự cho cuộc đình công và tuyệt nhiên không nặng lời công kích. Chính thái độ này tước đi lý cớ cho lực lượng công an được chủ công ty triệu đến để đàn áp công nhân đình công. Các quan chức chế độ đành phải dùng những thủ thuật khác chứ không còn dùng bàn tay bạo lực của công an một cách dễ dàng được nữa.

Bà con giáo dân tại Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm tuy biết rất rõ các thủ đoạn và bản chất “chỉ biết còn Đảng còn mình” của công an, nhưng vẫn được hướng dẫn chỉ coi công an như lực lượng giữ an ninh. Giáo dân không tấn công và không cung cấp lý cớ cho lực lượng công an xông vào các buổi cầu nguyện, bất kể cả những hành động cố tình gây hấn của những đầu gấu do công an thuê mướn.
Ở bình diện lớn hơn, lực lượng dân chủ đang cố gắng truyền đạt sự khác biệt lớn giữa những quan chức trùm công an và những cán bộ công an cấp thấp và trung. Đây là những sự thật mà chính từng người công an trong ngành còn thấy rõ hơn dân chúng bên ngoài. Rõ ràng kẻ hưởng lợi lớn nhất là các quan chức cao cấp, nhưng người bị dân oán trách nhất lại là những cán bộ công an cấp thấp. Và rút từ kinh nghiệm các chế độ độc tài đã sụp đổ, thành phần cao cấp luôn có phương tiện để cao bay xa chạy, để lại các công an cấp thấp đối diện với nhân dân. Vì vậy, đã đến lúc mọi người dân dùng các quan hệ thường ngày của mình, để vạch ra những sự thật đó với từng gia đình có con em trong ngành công an. Nếu họ biết tránh xa, làm ngơ, hoặc chỉ thi hành đại khái những chỉ thị gian ác từ trên đưa xuống, họ sẽ không có gì phải quá lo sợ về ngày thay đổi chế độ.

Trước áp lực quốc tế và các hình thái đấu tranh công khai, bất bạo động của quần chúng trong những năm qua, người ta có thể thấy một số thay đổi hình thức trấn áp từ phía công an CSVN:
1/ Theo dõi, đe dọa và tìm cách khuyến dụ để đối tượng không chống đối nữa.
2/ Bắt giữ và tìm cách khuyến dụ để đối tượng nhận tội, xin khoan hồng. Sau đó đối tượng được miễn tố hay chỉ bị án nhẹ mang tính hình thức. Đây là cách công an tước lột uy tín của các nhà đấu tranh.
3/ Bắt giữ và nếu các đối tượng không nhận tội thì đưa họ ra tòa kết án nặng nề để răn đe người khác.
Ngoài 3 trường hợp tổng quát nói trên, công an còn áp dụng một số biệt lệ tùy theo sự ảnh hưởng xã hội của từng nhóm quần chúng tranh đấu hay tư thế của từng nhà đối kháng, nhưng điểm chung là công an không muốn làm lớn chuyện khi bắt giữ ai vì rất ngại sự lên tiếng của công luận. Ngoài ra, dưới thời toàn trị, thành phần công an muốn chứng minh bàn tay bạo lực tuyệt đối của đảng nên không ngần ngại thẳng tay trấn áp; ngày nay, uy quyền của đảng bị soi mòn, thành phần công an phải lo thủ tương lai của chính họ và gia đình khi có thay đổi nên họ thường nghiêng về xu hướng số 1 (khuyến dụ) hay số 2 (nhận tội và xin khoan hồng) để mong vô hiệu hóa những phản kháng của người dân và các nhà đối kháng là đủ.

Để tiến hành những biện pháp nói trên, công an rất gian manh dùng những thủ đoạn bôi nhọ, và nhất là dùng yếu tố gia đình, thân nhân của chính người bị bắt để đe dọa, tạo áp lực. Có những người vượt qua những đe dọa này để không đầu hàng sự trấn áp, nhưng cũng có những người vì không muốn người thân bị hại nên đã bị rơi vào sự khuyến dụ của công an. Đây là thủ đoạn ép cung của Cộng sản Việt Nam trong quá trình điều tra, nhằm biến nạn nhân thành kẻ đầu hàng đối với chế độ. Chúng ta nên nhớ rằng sự tuyên bố đầu hàng của một nạn nhân nằm trong vòng tay khống chế của công an không có giá trị pháp lý kể cả khi họ ra khỏi nhà tù trở về sống với gia đình.

Do đó để có số đông quần chúng tham gia, chúng ta không chỉ khuyến khích nhau vượt qua sự sợ hãi mà còn phải cảm thông, không chờ đợi những người đấu tranh phải là những “anh hùng” trong vòng kiềm tỏa của công an. Với suy nghĩ thực tiễn như vậy, chúng ta mới dấy lên được phong trào dân chủ rộng rãi trong quần chúng và nhất là biến những thủ đoạn khuyến dụ của công an trong nhà tù thành những động cơ thúc đẩy các nạn nhân đấu tranh mạnh mẽ hơn nữa khi ra khỏi tù.

Tóm lại, tập thể công an là bộ máy bảo vệ chế độ nhưng không phải cá nhân công an nào cũng phục vụ hết lòng cho guồng máy độc tài. Bên cạnh đó, quần chúng thường ngày vẫn sợ hãi bạo lực nhưng nếu áp dụng uyển chuyển phương thức đấu tranh bất bạo động, chính quần chúng đó sẽ vượt qua sợ hãi và làm tê liệt bàn tay bạo hành.
Trung Điền
Ngày 7/10/2010
.
.
.

No comments: