Monday, April 22, 2019

KHỦNG BỐ NGÀY LỄ PHỤC SINH : THỦ PHẠM LÀ MỘT TỔ CHỨC HỒI GIÁO CỰC ĐOAN SRI LANKA (Thanh Phương - RFI)




Đăng ngày 22-04-2019

Hôm nay, 22/04/2019, phát ngôn chính phủ Sri Lanka thông báo một tổ chức Hồi Giáo của Sri Lanka, mang tên National Thowheeth Jama'ath (NTJ), chính là thủ phạm loạt khủng bố tự sát vào ngày Chủ nhật Phục Sinh, khiến tổng cộng 290 người chết và 500 người bị thương, tính đến hôm nay.

Trong khi đó văn phòng phủ tổng thống Sri Lanka thông báo là tổng thống Maithripala Sirisena sẽ nhờ các nước trợ giúp truy tìm các mối liên hệ quốc tế của tổ chức đã gây ra các vụ khủng bố. Tổng thống Sri Lanka cũng sẽ ban hành tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc, có hiệu lực kể từ nửa đêm nay.

Sáng hôm qua, sáu vụ nổ gần như cùng một lúc đã xảy ra tại 3 khách sạn hạng sang và 3 nhà thờ Công giáo. Nhiều tiếng đồng hồ sau đó đã xảy ra hai vụ nổ khác, trong đó có một vụ nhắm vào một khách sạn và vụ thứ hai là vụ nổ do một tay khủng bố tự sát gây ra khi cảnh sát đến bắt giữ người này. Hiện không thể xác định chính xác là có bao nhiêu người ngoại quốc thiệt mạng trong các vụ nổ, vì rất khó xác định nhân dạng của các nạn nhân. Trong số khoảng gần 40 người ngoại quốc bị chết, được biết có công dân của Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh Quốc và Hoa Kỳ.

Từ Vatican, Ấn Độ, cho đến Hoa Kỳ, cả thế giới hôm qua đã đồng thanh lên án các hành động bạo lực đẫm máu nhất ở Sri Lanka kể từ khi kết thúc nội chiến cách đây 10 năm.

Tổng thống Maithripala Sirisena, đang công du nước ngoài vào lúc xảy ra khủng bố, đã vội trở về nước để chủ trì một cuộc họp của hội đồng an ninh. Hôm nay, chính phủ Sri Lanka lại ban hành lệnh giới nghiêm mới, từ 8 giờ tối đến 4 giờ sáng, sau khi đã ban hành lệnh giới nghiêm đầu tiên vào đêm qua.

Cho tới nay, nhà chức trách Sri Lanka đã bắt giữ tổng cộng 24 người, nhưng vẫn chưa cung cấp thông tin về các nghi can này. Giám đốc cảnh sát quốc gia Sri Lanka Pujuth Jayasundara cách đây 10 ngày đã báo động là một tổ chức Hồi Giáo cực đoan dự định tiến hành các vụ tấn công tự sát nhắm vào các nhà thờ và đại sứ quán Ấn Độ ở Colombo.

Từ Colombo, thông tín viên Antoine Guinard gởi về bài tường trình :

« Cuộc điều tra bắt đầu từ chiều Chủ Nhật vẫn tiếp diễn. Tổng cộng đã có 24 nghi can, toàn bộ là người Sri Lanka, bị bắt giữ, theo thông báo của cảnh sát.

Một quả bom tự tạo đã được tìm thấy tối qua tại một nơi gần sân bay Colombo. Các vụ tấn công bằng bom, có vẻ được phối hợp chặt chẽ, với sự tham gia của những tay khủng bố tự sát, xảy ra tại nhiều nơi khác nhau, là các vụ tấn công khủng bố đẩm máu nhất từ 10 năm qua ở Sri Lanka.

Bộ trưởng Quốc Phòng Sri Lanka đã tuyên bố là toàn bộ các nghi can là thành viên của một tổ chức tôn giáo cực đoan, nhưng không cho biết thêm chi tiết, để tránh gây căng thẳng tại quốc gia này. Tuy nhiên, cảnh sát đã nêu lên giả thuyết khủng bố Hồi Giáo cực đoan, tuy rằng người cũng nói đến khả năng đây là những vụ tấn công của các thành phần Phật Giáo cực đoan nhắm vào cộng đồng Công Giáo.

Thủ tướng Sri Lanka đã cho biết là cách đây 10 ngày, nhà chức trách đã biết được âm mưu khủng bố nhắm vào các nhà thờ, nhưng đã không thể ngăn chận được, do thiếu sự trao đổi thông tin.

Trong các cơ quan tình báo Sri Lanka thường xảy ra đấu đá nội bộ. Những vụ đấu đá này càng thêm gay gắt do khủng hoảng chính trị ở Sri Lanka. Đó là lý do vì sao an ninh đã không được bảo đảm. »

Phát hiện 87 ngòi nổ tại một bến xe buýt ở thủ đô.
Cảnh sát khu vực Pettah hôm nay cho biết đang tiến hành điều tra vè vụ này và chưa có một nghi phạm nào bị bắt. Cùng ngày hôm nay, một vụ nổ đã xảy ra tại thủ đô Colombo khi cảnh sát đang tiến hành tháo gỡ ngòi nổ một quả bom trong một chiếc xe tải nhẹ bị bắt giữ không xa một nhà thờ bị tấn công ngày hôm qua. Hiện chưa biết rõ số thương vong.

-------------------------

LIÊN QUAN

Minh Anh – RFI
Đăng ngày 22-04-2019
.
22/04/2019
.
VOA    22/04/2019
-----------------------------
VOA Tiếng Việt
23/04/2019

Cảnh sát Sri Lanka cho biết thủ đô Colombo của nước này chứng kiến thêm một vụ nổ nữa vào ngày 22/04.

Cơ quan chức năng cho hay một nhóm phiến quân địa phương, với sự trợ giúp của một “mạng lưới ở nước ngoài”, đã tiến hành một loạt vụ tấn công đúng vào ngày Lễ Phục sinh, nhắm vào các nhà thờ và khách sạn, cướp đi sinh mạng của ít nhất 290 người, và làm 500 người bị thương.


---------------------------

Người Việt    April 22, 2019







TRUẤT PHẾ DONALD TRUMP : ĐẢNG DÂN CHỦ TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN (Trọng Nghĩa - RFI)




Đăng ngày 22-04-2019

Vào hôm qua, 21/04/2019, dân biểu Jerry Nadler chủ tịch Ủy Ban Tư Pháp Hạ Viện Mỹ, cơ chế có thẩm quyền khởi động thủ tục truất phế tổng thống, đã lại gợi đến khả năng tiến hành thủ tục truất phế tổng thống Mỹ Donald Trump.

Tuy nhiên giới phân tích đều cho rằng đảng Dân Chủ đang bị lâm vào một tình thế khó xử: Có nên tìm cách truất phế tổng thống Donald Trump bằng mọi giá hay không ?

Trong chương trình "Gặp gỡ báo chí" trên đài truyền hình Mỹ NBC, ông Nadler khẳng định rằng đảng Dân Chủ, hiện nắm đa số ở Hạ Viện, sẽ thúc đẩy các cuộc điều tra về tổng thống Trump tại Quốc Hội để « tìm hiểu sự thật », và hành vi « cản trở tư pháp, nếu được chứng minh » sẽ là tội có thể kích động một thủ tục truất phế.

Đối với giới phân tích, báo cáo của công tố viên đặc biệt Mueller khi không kết luận dứt khoát về hành vi cản trở tư pháp của ông Trump đã để ngỏ khả năng truất phế tổng thống, nhưng đó lại là một món quà tẩm thuốc độc vì tiến trình khó có thể thành công, trong lúc lại gây chia rẽ giữa cử tri và các đại biểu dân cử.

Trong bối cảnh đó, đảng Dân Chủ đang phải cố tìm được một thế đứng chung nếu không muốn chính tổng thống Trump chiếm lợi thế.

Thông tín viên RFIGrégoire Pourtier, phân tích từ New York :

Vào hôm qua, Chủ Nhật, 3 gương mặt nổi bật đảng Dân Chủ ở Quốc Hội đã nối tiếp nhau phát biểu nhưng không làm sáng tỏ được quan điểm của đảng.

Quả đúng là ông Donald Trump đáng bị truất phế, nhưng việc lao vào trận đấu truất phế quả là không đơn giản, và cũng không chắc là có lợi.

Trước tiên hết, về mặt số lượng toán học đơn giản. Nếu đảng Cộng Hòa tiếp tục chống lại và đoàn kết sau lưng tổng thống thì tiến trình sẽ không khả thi. Bên cạnh đó, tranh luận về phế truất sẽ bóp nghẹt các cuộc tranh luận chính trị nhân các cuộc vận động tranh cử.

Cuối cùng, Donald Trump chắc chắn sẽ tranh thủ thất bại trong việc truất phế ông để hô hào những người ủng hộ ông thừa thắng xông lên.

Như vậy thì tại sao đảng Dân Chủ vẫn đặt ra vấn đề truất phế ? Một số người nêu lên vấn đề đạo đức : Dù cái giá phải trả về mặt chính trị có như thế nào chăng nữa, thì không thể để một tổng thống ung dung vi phạm luật pháp. Bên cạnh đó còn có vấn đề dư luận: Đa số cử tri Dân Chủ vẫn đòi truất phế tổng thống.

Một lý do khác là có một số người muốn gọi lên việc truất phế để tiếng nói của họ được nghe thấy. Ví dụ như hai ứng viên trong cuộc bầu cử sơ bộ, bị tụt hậu trong các cuộc thăm dò dư luận, nhưng cuối tuần qua đã gây được tiếng vang.

Rốt cuộc thì đảng Dân Chủ có tiến hành thủ tục truất phế hay không?

Để quyết định, đảng này hy vọng là sắp tới đây sẽ có được toàn bộ bản báo cáo Mueller, và cũng được nghe công tố viên đặc biệt điều trần.






NHỮNG NGƯỜI YÊU NƯỚC HỢP HIẾN (Nguyễn Đạt Thịnh)




Nguyễn Đạt Thịnh
Monday, 22/04/2019

Hôm thứ Bảy 20 tháng Tư, 2019, cảnh sát liên bang FBI bắt giam ông Larry Mitchell Hopkins, chỉ huy trưởng toán nghĩa binh võ trang, tự xưng là Liên Hiệp Những Người Yêu Nước Hợp Hiến (NYNHH) - United Constitutional Patriots. Họ võ trang, tuần tiễu và bắt giữ người di dân Nam Mỹ, rồi đem giao cho lực lượng biên phòng.

Tự xưng là “hợp hiến”, có lẽ họ đã ý thức được tính chất bất hợp pháp việc họ làm. Chỉ huy trưởng lực lượng nghĩa binh này là ông Larry Mitchell Hopkins; đầu đội beret có gắn cấp hiệu 5 sao, 1 sao nhiều hơn vị tướng Mỹ cao cấp nhất trong quân đội.

Larry Mitchell Hopkins mang 5 ngôi sao trên mũ, mang huy hiệu phi hành trước ngực. (KTSM.com)

Ông Hector Balderas, giám đốc tư pháp tiểu bang New Mexico (NM), có thể cũng nghe phong phanh hoạt động “yêu nước” của nhóm NYNHH, cũng như ông còn có thể nghe tổng thống bảo ông Kevin McAleenan -người thay thế bà Kirstjen Nielsen, là cứ mạnh tay giải quyết nạn di dân, nếu chẳng may, bị pháp luật truy tố đã có tổng thống ân xá.

Bà Nielsen -cựu bộ trưởng Nội An, không hề bị sa thải, bà được tổng thống cho từ chức. Ông Balderas là viên chức trong nội các tiểu bang NM, không nằm trong quyền liên bang trực tiếp tuyển dụng, hoặc sa thải, nhưng ông cũng không thích nằm trong đường nhắm của tổng thống. Do đó, ông chọn thái độ 3 không: không nghe, không thấy, không biết ông Hopkins là ai, làm gì, việc ông làm có hợp pháp hay không.

Sản phẩm NYNHH không nằm trong hệ thống quân đội, cũng không phải là một nhánh của lực lượng biên phòng; trọng trách đối phó với sản phẩm phi pháp này có thể là trách nhiệm của ông Balderas; nhưng ông không dại đến mức “mó dế ngựa” để bị ngựa đá.

Ông còn có lối giải thích nếu có ai hỏi ông, "Sao ông không bắt Hopkins?" Ông có thể bảo người thắc mắc là lực lượng NYNHH gọi lực lượng biên phòng để giao lại cho họ những người di dân bất hợp pháp đã qua lọt lưới biên phòng và vào tới lãnh thổ tiểu bang NM, thì đó là chỉ dấu khiến ông nghĩ là NYNHH là một lực lượng “nhân dân” cộng tác với lực lượng biên phòng của liên bang.

Hôm thứ Bảy 13 tháng Tư cuộc chuyển giao những người di dân Nam Mỹ bị tổ chức NYNHH bắt giữ đã được thực hiện; binh sĩ trong lực lượng NYNHH không chỉ mặc đồng phục và võ trang, mà họ còn sử dụng quân khuyển, xục xạo tìm kiếm trong các lùm bụi dưới chân núi.

Sau khi chỉ huy trưởng lực lượng NYNHH bị FBI bắt, ông Hector Balderas, giám đốc tư pháp tiểu bang NM, ca tụng việc làm của cảnh sát liên bang là cần thiết.

Ông nói, "Không thể để những người võ trang nguy hiểm đó sống trà trộn với lương dân, giữa nhóm đàn bà, trẻ con đang yên vui trên một lãnh thổ an, bình."

Binh sĩ trong lực lượng NYNHH không chỉ mặc đồng phục và võ trang, mà họ còn sử dụng quân khuyển, xục xạo tìm kiếm trong các lùm bụi dưới chân núi. (Getty Images)

Tội “những người võ trang nguy hiểm” chỉ là tội nhỏ, vì người Mỹ võ trang không phải là một tình trạng bất hợp pháp; tuy nhiên ngôn ngữ buộc tội của ông thêm minh bạch với câu "việc FBI bắt giam ông Hopkins cho thấy là trọng trách bảo vệ lãnh thổ chống người di dân là trọng trách của những viên chức quân sự và dân sự được huấn luyện kỹ lưỡng về vũ khí và về triết lý biên phòng."

Lực lượng “dân phòng” chống người di dân không phải là một hiện tượng mới, và nhóm người da trắng “yêu nước hợp hiến” tập họp dưới quyền chỉ huy của ông Hopkins cũng không phải là một sáng kiến mới, mà họ chỉ là một nhóm Ku Klux Klan mới. Phong trào KKK đã bị đào thải từ thập niên 1970, thời điểm những người tị nạn VN đầu tiên được Hải Quân Mỹ cứu sống trên Biển Đông, đưa vào tị nạn trên khắp mọi tiểu bang trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Việc định cư 2 triệu người tị nạn VN trên đất Mỹ gặp ít trở ngại hơn tình trạng tị nạn hôm nay của người Nam và Trung Mỹ, vì người Mỹ hiểu trách nhiệm của họ trong việc Nam Việt thất thủ; và vài triệu quân nhân Mỹ chứng kiến những hy sinh lớn lao của người Nam Việt trong vai trò khó khăn và bạc bẽo của một tiền đồn chống cộng trên bờ biển Thái Bình.

Một lý do khác khiến ông chỉ huy trưởng Hopkins bị FBI bắt là cuộn video ông quảng cáo thành tích của tổ chức NYNHH, với những cảnh ông phục kích để bắt giữ vài chục người di dân Nam Mỹ -gồm nhiều đàn bà và trẻ em- giữa một vùng sa mạc. Ông không ngờ sản phẩm điện ảnh tự gắn huy chương cho mình lại trở thành cáo trạng tự khai những thành tích độc ác và phạm pháp của chính ông.

Tuy nhiên, chính quyền tiểu bang NM lại gồm nhiều viên chức Dân Chủ; phản ứng của bà Thống Đốc Michelle Lujan Grisham làm người di dân “mát ruột” với câu bà tuyên bố “thái độ ngược đãi người di dân là điều không thể chấp nhận."

Hai nghị sĩ Dân Chủ Tom Udall và Martin Heinrich ra tuyên cáo lên án tổ chức NYNHH là kỳ thị, bắt cóc, và phạm pháp

Thống Đốc Michelle Lujan Grisham (Michelle Lujan Grisham/DailyLobo.com)

Qua một bản tuyên cáo FBI cho biết sở cảnh sát tại Sunland Park, N.M., đã tiếp tay với họ trong việc bắt giam ông Larry Mitchell Hopkins, 69 tuổi. Ông Hopkins bị giải ra tòa liên bang tại Las Cruces, N.M.

Là cư dân Flora Vista -vùng Tây Bắc tiểu bang NM, ông có tiền án năm 2006 về tội mạo xưng là một sĩ quan, và tội võ trang bất hợp pháp.

Ông khoe là đã từng gặp Tổng Thống Trump tại sòng bạc Las Vegas.

Việc ông có gặp tổng thống hay không chỉ là một yếu tố không giúp gì ông cả, vì không ai tin là tổng thống ra lệnh cho ông thành lập cái tổ chức NYNHH quái gở đó.







THÁNG TƯ, NGHĨ VỀ HÒA GIẢI! (Phạm Phú Khải)




21/04/2019

Chiến tranh để làm gì? Tái lập hòa bình và tái thiết quốc gia, hay để phục vụ mục tiêu của một ý thức hệ không tưởng! Và sau chiến tranh, chính sách “hòa giải hòa hợp” cho quốc gia là gì để xây dựng lại những đổ nát và hàn gắn những vết thương?

Đó là những câu hỏi quan yếu cho mọi lãnh đạo chính trị quốc gia, trước và sau mọi cuộc chiến tranh.

Nhưng những gì xảy ra sau 30 tháng 4 năm 1975 là những biến cố gây sợ hãi tột cùng lên phần lớn người dân miền Nam. Cho đến nay nó thật sự vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt.

Hàng chục vạn sinh linh đã chết trong tù cải tạo, hay trên đường tìm tự do, hay tiếp tục kháng chiến, v.v… kể từ tháng Tư đó. Những người còn sống sốt, trong lẫn ngoài Việt Nam, hẳn muốn tìm mọi cách để quên đi những nỗi đau, những chấn thương quá lớn lao này. Nhưng rốt cuộc khó một ai có thể quên! Cách đối phó của đa số những người khi gặp chấn thương quá lớn là tìm cách tách rời, là không muốn dính líu hay quan hệ đến những ký ức đau thương, để hy vọng từ từ quen và quên đi. Có những người sẵn sàng tha thứ, nhưng quên thì chắc là không, dù muốn. Bộ óc con người được thiết kế như thế để nhớ mối đe dọa, nhất là các đe dọa sống còn, đã từng gây kinh hoàng và ác mộng lên họ.

Không quên là nỗi khổ tâm có khi suốt đời, dù đó cũng là khả năng sống còn. Nó là hai khía cạnh đối nhau của tâm lý con người. Nhiều khi chúng ta ước gì có thể quên được những ký ức đau buồn. Những cựu chiến binh Mỹ, Úc từng tham chiến Việt Nam chỉ hai ba năm, lúc về nước vẫn có những người bị rối loạn căng thẳng (tâm lý) hậu chấn thương, PTSD. Huống chi những người đã từng vào sinh ra tử, may mắn sống sốt giữa lằn đạn, mười đến hai chục năm, chứng kiến những tình huống bi thương, tàn khốc và kinh khiếp nhất của chiến tranh. Nhưng điều đáng nói là sau chiến tranh, hòa bình vẫn không đến với họ và gia đình họ. Có người bị tù đầy, trù dập qua chính sách tồi tệ nhất mà con người có thể tưởng tượng ra đến thêm năm, mười đến mười lăm năm nữa. Những chính sách đầy hận thù và phân biệt làm cho họ không những mất những người thân thương nhất trong đời, mà còn mất tất cả tài sản, mất nhân phẩm, mất nhân cách. Họ còn bị coi là phản bội tổ quốc, bị tước hết mọi quyền công dân, nếu quả thật công dân có chút quyền gì trong xã hội đó. Nhiều người đi tìm tự do, và khi có được tự do, thì cái giá họ trả quá đắc. Cuộc sống của họ bị đảo ngược hoàn toàn. Họ không còn gì cả. Họ bị liệt kê là nguỵ quân nguỵ quyền, bị toàn bộ máy chính quyền và truyền thông lên án kết tội mấy chục năm qua, rồi bị bứng ra khỏi quê hương để mãi mãi lưu vong.

Những chấn thương quá lớn như thế, dù có được các chuyên gia hàng đầu chữa trị bởi các phương pháp khoa học và thích hợp nhất, và được hỗ trợ bởi một chính quyền với những chính sách hòa giải thật sự, thì cũng mất nhiều thời gian và cũng khó thể nào vượt qua những hệ lụy còn lại, huống chi ngược lại.

Sự đối xử hung bạo và tàn ác của bên thắng cuộc trong cuộc chiến Việt Nam đối với bên thua cuộc tưởng chừng như chưa chừng xảy ra trước đó trong lịch sử Việt Nam. Nhưng nó đã thật sự xảy ra, với mức độ và hình thức khác. Chẳng hạn, sự trả thù tàn khốc của Nguyễn Ánh đối với nhà Tây Sơn, và ngược lại, đã nói lên được rất nhiều về các ý niệm tha thứ hay hận thù, khoan dung hay cực đoan, tư thù hay quốc hận, quyền lợi gia tộc hay dân tộc, vân vân, của giới lãnh đạo quốc gia trong lịch sử Việt Nam. Những tư tưởng và hành động như thế này hiển nhiên để lại những hệ quả khốc liệt, gieo những mầm móng ung nhọt, cho bao nhiêu thế hệ sau đó. Đó là một văn hóa bạo động và hận thù không lối thoát. Và nó là vòng luẩn quẩn không thể vượt qua nếu tiếp tục được bao che và bào chữa.

Vì thế cho nên tôi đồng ý rằng con đường để dân tộc Việt Nam vượt qua được sự chia rẽ hận thù chồng chất bao nhiêu thập niên qua, hay đúng hơn, gần bốn trăm năm qua, từ thời Trịnh Nguyễn Phân Tranh, nếu không phải là trước đó nữa, là chính sách hòa giải đích thực. Nhưng một chính sách như thế muốn thật sự có giá trị và hiệu quả, theo tôi, đòi hỏi một số yếu tố và điều kiện căn bản sau đây.

Một, tính chính danh của chính sách đó. Nghĩa là nếu đây chỉ là mong ước của một số người, dù thành thật đến mấy, cũng không thể nào thành công vì nó không có chính danh. Ngay cả khi chủ trương này do nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay khởi xướng, điều mà họ đã từng làm trước đây với chủ trương tuyên truyền và lừa gạt là chính, thì nó cũng không mang tính chính danh. Bởi họ chưa bao giờ thật sự đại diện tiếng nói của người dân. Theo tôi thì chỉ khi nào thể chế chính trị Việt Nam thật sự dân chủ trong đó lãnh đạo chính trị quốc gia trong cả ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp được chính người dân bầu chọn, thì lúc đó nhà nước Việt Nam mới thật sự có chính danh và chính nghĩa để thực hiện chủ trương này.

Hai, tính công lý và nhân bản. Khi đã có chính danh và chính nghĩa, lãnh đạo chính trị quốc gia mới thật sự là đại diện tiếng nói và quan điểm của các xu hướng chính trị khác nhau. Đây là tiền điều kiện cần thiết và quan trọng để thảo luận rốt ráo và tranh luận sâu sắc với nhau một chính sách hòa giải và hòa hợp phức tạp, mang một phạm trù bao hàm thay vì loại trừ, để đưa đến các giải pháp mang lại công lý thật sự cho người Việt. Và các giải pháp này phải thật sự nhân bản, hàn gắn vết thương và xoa dịu nỗi đau, để tâm hồn của đại đa số người dân Việt Nam được thật khỏa lắp bởi tình thương và cảm thông. Chúng ta không thể thực hiện thành công mục tiêu hòa giải nếu chỉ đến từ thiện chí hay lương tri đến từ một thiểu số chưa thể xác định và chuẩn mực được những giá trị công lý và nhân bản.

Ba, tính tôn trọng sự thật lịch sử và hướng đi tương lai. Một chính sách hòa giải và hòa hợp mang tính tượng trưng, biểu kiến, thay vì mục đích hàn gắn vết thương và vượt qua nỗi đau quá khứ, sẽ không tồn tại. Muốn có giá trị lâu dài, chính sách này phải ghi nhận những lỗi lầm lịch sử, những bài học cần thiết, và những lời xin lỗi chân thành. Chính sách này cũng cần nêu ra những giá trị nền tảng lâu dài cho đất nước để tái thiết cũng như để tránh lập lại những lỗi lầm của quá khứ. Nhưng chỉ có lãnh đạo chính trị quốc gia thật sự đại diện cho toàn thể người dân và được ủy nhiệm (empowered) mới có thể hoàn thành sứ mạng khó khăn này.

Bốn, ghi nhận và nâng đỡ những nạn nhân bằng những việc làm cụ thể. Trong tương lai, lãnh đạo chính trị dân cử tại Việt Nam cần quyết định một số việc cụ thể để khắc ghi những chính sách sai lầm của quá khứ, từ cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm tại miền Bắc, đến trại tù cải tạo, kinh tế mới, đổi tiền, thuyền nhân Việt Nam v.v... Một số nơi cần được đạo luật đặc biệt do quốc hội thông qua để trở thành di tích lịch sử chính thức, và các viện bảo tàng sẽ trưng bày những câu chuyện và những chứng vật, những thảm họa chiến tranh từ mọi phía, cho đến các câu chuyện thuyền nhân Việt Nam. Điều quan trọng khác là cần phải có chính sách cụ thể để nâng đỡ bao nhiêu nạn nhân bị đối xử tàn tệ, kể cả những người đi tù mục xương, chết trong tù, và những hệ lụy đến gia đình họ. Lịch sử phải ghi nhận những sự thật này, đó là điều căn bản và bước đầu. Và sau đó là chính sách bồi thường cần thiết. Nhưng chúng ta không thể làm bất cứ điều gì trong các nhu cầu trên trong thời điểm hiện nay, khi chưa thể có tính chính danh và sự ủy nhiệm chính thức của người dân từ mọi xu hướng chính trị trên mọi miền đất nước. Sự phân biệt đối xử và sự đàn áp tồi tệ đối với các sắc tộc thiểu số tại Việt Nam cũng cần phải được lịch sử ghi nhận một cách chính thức và các chủ trương hòa giải, và các bộ luật tôn trọng các quyền căn bản của họ, kể cả ngôn ngữ và văn hóa, đối với các dân tộc thiểu số.

Năm, biết được các giới hạn của hòa giải hòa hợp. Cho dầu lãnh đạo chính trị quốc gia có thể đưa ra một chính sách hòa giải hòa hợp toàn hảo đi nữa, với các chuẩn mực nói trên, chúng ta chỉ có thể mong đợi một cách thực tế là một phần nào đó người dân sẽ hàn gắn, sẽ tha thứ cho nhau, qua thời gian vết thương sẽ được lành lặn, và hy vọng sẽ xây dựng được sự thông cảm cho nhau. Điều này tuy hơi lý tưởng nhưng không phải là bất khả. Tuy nhiên chúng ta cũng phải thực tế nhìn nhận rằng sẽ có một thành phần dân tộc khác sẽ không thể thực hiện được, dù cố gắng đến mấy và dù được hỗ trợ đến mấy. Có thể là vì sự hận thù của họ là quá lớn mà họ không thể vượt qua được. Nhưng cũng có thể chính họ là những người bị những chấn thương quá lớn, bị PTSD, đầu óc của họ đã bị hư hại ít nhiều. Những người này đáng thương hơn đáng trách. Mọi giác quan của họ, từ nghe, thấy, ngửi, ném, cảm nhận hoặc linh cảm, tuy chủ quan và không dựa trên cơ sở bằng chứng cụ thể nào, nhưng đều dễ dàng đưa họ trở về quá khứ của đe dọa, đau thương, hãi hùng.

Những người ở trong trường hợp như thế không còn khả năng điều chỉnh hay chủ động phần não lý trí PRC (pre-frontal cortex), trong khi phần não Amygdala dễ dàng cưỡng chiếm mọi cảm xúc của họ. Rất nhiều người trong chúng ta được cha mẹ thương yêu, nhưng vẫn không quên được lúc năm, sáu tuổi từng bị cha mẹ dọa đem bỏ chợ, hoặc ví rằng mình là con rơi lượm ngoài chợ hay thùng rác. Cũng có những lúc bị đánh đập, chửi mắng hay dọa nạt làm chúng ta tổn thương tột cùng mà đeo đuổi chúng ta suốt đời. Nhưng những hình phạt thể xác nhiều khi không gây tổn thương và để lại chấn thương bằng những lời nói, cử chỉ khắc ghi vào bộ óc của mình. Chỉ từng đó thôi mà cả đời mình còn không quên, huống gì những chấn thương chiến tranh tâm lý làm tan nát cuộc đời. Khi những chính sách phân biệt đối xử nặng nề kéo dài nhiều thế hệ như thế, hệ quả để lại sẽ ăn sâu vào tâm khảm của nạn nhân. Cũng vì như thế cho nên chính sách hòa giải bằng các biện pháp tích cực và thích đáng nhất đối với chính sách nô lệ và đối xử tàn tệ với người da đen tại Mỹ hàng trăm năm, chính sách đối xử tàn tệ đối với người thổ dân Úc, kể cả Thế hệ Bị Đánh cắp (Stolen Generation), hay hệ thống phân biệt chủng tộc được thể chế hóa tại Nam Phi, vân vân… sẽ mất rất nhiều thời gian để phần nào đạt được kết quả hàn gắn, đoàn kết và cảm thông.

Tóm lại, hòa giải là một mục tiêu chính đáng, cần thiết và cấp bách đối với Việt Nam. Không thể xây dựng sức mạnh và phát huy tiềm năng của dân tộc để đối phó với những thử thách lớn lao bằng tinh thần rã rời và mục nát như hiện nay. Tôi hiểu được chủ trương và mục tiêu của hòa giải hòa hợp là xây dựng sức mạnh và đoàn kết. 30 tháng Tư 1975 là một cơ hội quý hiếm bị bỏ lỡ. Nhưng để thực hiện hòa giải thành công thì không thể chỉ bằng thiện chí, công lý, sự thật, tha thứ, hàn gắn hay tình thương là đủ. Khi không có thực quyền, không được ủy nhiệm, không mang tính đại diện cho mọi khuynh hướng chính trị của dân tộc và cho các nạn nhân của thời cuộc, thì chính sách hòa giải sẽ không đi đến đâu cả. Có lẽ cần phải có ủy ban hòa giải độc lập quy tụ những người uy tín được nhà nước Việt Nam do dân bầu lên trong tương lai ủy quyền, đặt mục tiêu và chuẩn mực hoạt động để thực hiện nhiệm vụ cao cả này.

Tuy thế, tôi mong mỏi rằng một ngày nào đó người Việt có thể vượt qua được sự hận thù và chia rẽ chồng chất hiện nay, ước mong tôi đã trình bày nhiều lần trên trang này, để từng bước đi đến tinh thần hòa giải đích thực cho tương lai của đất nước và thế hệ mai sau. Tinh thần hòa giải khi chưa thể thực hiện tầm lớn thì, không cần phải chờ đợi, vì chúng ta vẫn có thể ở tầm cá nhân, qua tư duy và hành động chân thật của mình với người khác.

(Úc Châu, 18/04/2019)





TIN 'TRỌNG BỆNH' TRÊN MẠNG XÃ HỘI CÓ KHẢ TÍN? (Phạm Chí Dũng)




23/04/2019

Bất chấp các ‘trang mạng đứng tên lãnh đạo’ như nguyephutrong.org, tolam.org, nguyenxuanphuc.org… tố cáo ‘các thế lực phản động và thù địch xuyên tạc tình hình sức khỏe lãnh tụ kính yêu Nguyễn Phú Trọng’, trong khi toàn bộ hệ thống tuyên giáo, báo đảng và hơn 800 tờ báo nhà nước vẫn im thin thít về vụ việc nổi đình nổi đám và đượm tính bi hài này, những tin tức nóng rẫy về ‘Trọng bệnh’ xuất hiện trên mạng xã hội kể từ ngày 14/4/2019 - khi ‘Tổng tịch’ đi công du Kiên Giang - cho tới nay, thật trớ trêu, lại có cơ sở.

Kịch bản Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang

Cơ sở đáng thuyết phục đầu tiên chính là thái độ im hơi lặng tiếng của báo chí nhà nước về vụ ‘Trọng bệnh’ - hiện tượng mà ngay lập tức khiến cho người ta liên tưởng về kịch bản tương tự trong các vụ việc Nguyễn Bá Thanh vào năm 2014, Phùng Quang Thanh vào năm 2015, Trần Đại Quang vào hai năm 2017 và 2018. Khi đó, những tin tức ‘lạ’ đã bất thần hiện ra trên mạng xã hội về số phận được báo trước của những quan chức này. Nếu loại trừ một số tin tức cường điệu thái quá như ‘Nguyễn Bá Thanh đã chết ở bệnh viện Mỹ’, ‘Phùng Quang Thanh bị ám sát ở Paris’, ‘Trần Đại Quang đã chết ở Nhật Bản’, không ít thông tin của mạng xã hội về tình hình bệnh tật, quá trình điều trị và quá trình di chuyển về Việt Nam của những quan chức này đã được xác nhận sau đó.

Trong vụ Trưởng ban nội chính trung ương Nguyễn Bá Thanh, trang mạng Chân Dung Quyền Lực đã làm nên ‘kỳ tích’ khi cuốn hút sự tò mò và quan tâm của cả một đám đông xã hội Việt Nam trong suốt vài tháng trời. Vào cuối năm 2014, trong lúc Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe trung ương cùng các cơ quan đảng lẫn chính phủ Việt Nam vẫn hoặc im thít hoặc cố vớt vát bằng lý lẽ ‘tau khỏe mà, có chi mô’ chẳng cách nào kiểm chứng được, Chân Dung Quyền Lực đã đưa tin rất cụ thể về lịch trình, số chuyến bay, giờ bay và giờ đáp của chuyến máy bay đưa Nguyễn Bá Thanh về Đà Nẵng. Thậm chí còn dự báo cả thời điểm mà ông Thanh sẽ… chết.

Tương tự, một số trang mạng xã hội đã đưa tin về ‘con bệnh’ Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh sau khi ông ta gặp một sự cố ở Paris và giữa năm 2015, về lịch trình, chuyến bay, giờ bay của Thanh về Việt Nam…, đồng thời dự báo về việc Phùng Quang Thanh sẽ chẳng còn tương lai nào ở đại hội 12. Quả thực, trước và sau đại hội 12, viên cựu bộ trưởng quốc phòng bị quá nhiều dư luận nghi ngờ về thành tích tham nhũng này đã biến mất, không chỉ biến khỏi Bộ Chính trị và Ban chấp hành trung ương mà ngay trong sinh hoạt thường ngày cũng chẳng thấy bóng dáng y đâu.

Còn với hai lần ‘biến mất’ của Trần Đại Quang - chủ tịch nước - vào hai thời điểm tháng 7 - 8 năm 2017 và tháng 3 - 4 năm 2018, một số trang mạng xã hội cũng đã đưa tin khá chi tiết về tình trạng bệnh tật và việc Quang ‘tái xuất’ ở Việt Nam, đặc biệt là việc Trần Đại Quang bay từ Nhật Bản về Việt Nam để dự hội nghị trung ương 7 vào tháng 5 năm 2018 và ngồi bàn chủ tọa sát bên ‘đối thủ’ là Tổng bí thư Trọng.

Vì sao những tin tức trên mạng xã hội về một số quan chức cao cấp, dù chẳng được bất kỳ một cơ quan ‘có trách nhiệm’ nào của đảng hay chính phủ ra mặt xác nhận, lại được thực tế chứng minh là khá chính xác?

‘Tay trong nội bộ’

Cho tới nay, có quá ít bằng chứng về việc giới blogger và Facebooker độc lập có được và đã đăng tải những tin tức nội bộ thuộc loại ‘bí mật nhà nước’. Do vậy, chỉ có thể hiểu là những tin tức này xuất phát từ một số Facebooker ‘không độc lập’.

Mà không độc lập lại có thể hiểu là ‘phe phái’ hay ‘phe cánh chính trị’ - những khái niệm đã tồn tại lâu đời trong chính trường đầy những màn đấu đá và xung đột ở Việt Nam, đặc biệt từ năm 2012 khi bùng nổ của chiến quyền lực giữa hai cánh Trọng - Sang và Nguyễn Tấn Dũng. Càng về sau này, càng hình thành một nghề mới: ngày càng nhiều cây viết, chủ yếu xuất xứ từ khối báo chí nhà nước - hoạt động một cách ‘độc lập’ bằng cách đưa tin bài ẩn chứa nhiều thông tin nội bộ và thông tin mật để phục vụ cho các thế lực chính trị và các nhóm lợi ích, tập đoàn tài phiệt. Vũ khí của những người này là các trang blog và facebook. Một số trong giới viết lách này đã khoác tấm áo ngụy trang mang màu sắc dân chủ nhân quyền.

Hầu như không phải bàn cãi, chính những tin tức được xem là có nguồn gốc từ ‘tay trong nội bộ’ như trên mới chi tiết nhất và mang tính tin cậy cao nhất. Động cơ của sự xuất hiện những tin tức này được cho là chủ yếu xuất phát từ mục đích đấu đá và triệt hạ lẫn nhau của những phe phái chính trị trong nội bộ đảng, tương tự việc trang Chân Dung Quyền Lực đã dùng đòn ‘minh bạch hóa’ về tài sản, sân sau và các thủ đoạn chơi nhau để ‘ám sát’ một số quan chức trong Bộ Chính trị.

Thông tin về ‘Trọng bệnh’ cũng khá tương đồng về kịch bản với những tin tức từng ứng với số mạng của Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Phú Trọng đã từ lâu trở thành tâm điểm công kích của những đối thủ chính trị và đặc biệt là giới quan tham khi Trọng vận hành tung tóe chiến dịch ‘đốt lò’. Do vậy, bất kỳ tình trạng suy yếu hay nguy biến nào về sức khỏe của Trọng cũng là cơ hội để các nhóm đối thủ tung hê và còn có thể cường điệu tình trạng bệnh tật tồi tệ của ông ta, như một cách khủng bố tâm lý những quan chức thuộc phe Trọng và những người còn ‘tin yêu Minh quân’, làm suy giảm sức mạnh của ‘phe Trọng’ trong cuộc đua tới đại hội 13 và cả mục đích dội nước vào cái lò vẫn còn âm ỉ của Trọng.

Từ phản công chiến thuật đến phản công chiến lược

Chính trường Việt Nam đang hiện ra một đặc trưng như thời năm 2015 trước đại hội 12 của đảng cầm quyền: nếu vào năm 2015 đã hiện hình cuộc chiến công khai trên mạng xã hội bằng các đơn thư tố cáo và các bài viết của hai phe cánh chính trị chính là ‘phe Trọng’ và ‘phe Dũng’, năm 2019 cũng đang trở lại cái không khí xốc nổi, quyết thắng và công khai thách thức lẫn nhau ấy.

2019 lại được xem là ‘năm bản lề’ về cơ cấu ‘cán bộ cấp chiến lược’ cho đại hội 13 - sẽ diễn ra vào năm 2021. Vậy là cùng với biến cố ‘Trọng bệnh’, đã nảy nòi một cuộc sát phạt không tuyên bố giữa các quan chức cấp cao - những người đang nhìn thấy thế độc tôn độc tài của ‘bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo’ chẳng còn tồn tại được bao lâu nữa và muốn qua mặt những kẻ khác để giành giật ngay lấy vị trí do khoảng trống quyền lực để lại.

Chẳng có gì khó khăn để dự đoán là Nguyễn Phú Trọng sẽ vấp phải một thách thức khủng khiếp về sức khỏe tự thân của ông ta, đặc biệt là vấn đề tổn thương não bộ, điều có thể kiến ông ta nếu không cẩn trọng sẽ phải sớm từ giã chính trường. Trong bối cảnh đó, ông ta còn phải chịu mũi dùi công kích của các thế lực đối thủ chính trị, ngoài mặt là ‘lo lắng cho sức khỏe của lãnh tụ kính yêu’, nhưng bên trong chỉ muốn Trọng ‘xuôi tay an nghỉ’ càng sớm càng tốt.

Có thể một cách chính thức, phe đối thủ của Nguyễn Phú Trọng đang chuyển sang một giai đoạn mới: phản công chiến thuật để dẫn tới phản công chiến lược.







MẤY NÉT GHI VỘI Ở SÀI GÒN ĐẦU THÁNG NĂM 1975 (Vương Trí Nhàn)




22 thg 4, 2019

Những ghi chép dưới đây của tôi  được thực hiện ngay khi sự kiện đang xảy ra; bởi vậy  xin các  bạn tha thứ cho những  non nớt và cái nhìn phiến diện của người viết trước những biến động to lớn của thời cuộc. Nhưng cái cảm hứng chính đã đến với tôi hồi ba mươi tuổi thì đến nay tôi vẫn giữ.

3/5
 Sân bay Gia Lâm, cỏ dại, những phi công thũng thĩnh, phảng phất cảm giác hoang vắng. Nhưng Tân Sơn Nhất thì đang bẩn như một bãi chợ. Rộng quá, gấp bao nhiêu lần Gia Lâm, không tính được.
Lính phá như hồi Quảng Trị - chỗ nào cũng có dấu tích của bàn tay người lính đã sờ tới, nhưng chỗ nào cũng là sự bất cần bừa bãi ăn không được thì đạp đổ.
Cái sức sống ở đây đang thật là hạ cấp. Người ta không có khái niệm về sống chung mà chỉ có khái niệm về những thứ lặt vặt chất cho đầy dạ dày, cho đầy một cái ba lô.

Giấy trắng vứt như chuồng chồ, những thức ăn để lẫn với những thứ tạp nham khác. Một quân đội đi phá, không thể là một quân đội để xây, ngay cả khi đội quân đó chiến thắng.
 Bên chiếc máy bay mấy chục chỗ kia, mấy người lính trong đơn vị đang tập xe đạp tò mò đứng lại xem. Nhiều cậu chân đi đất, quần sắn cao. Có cậu ngồi sau, chân thõng sang hai bên, chứ không phải đã biết ngồi một bên, như Hà Nội.
      Một số thạo hơn tập hon đa. Tiếng xe máy phóng đi, như những cơn rồ dại thức dậy trong mỗi người.

Thấy một người lạ vào, lính hỏi đại loại.
- Anh quê đâu -- có anh nào quê  Hà Nội không?
- Năm 72, nó đánh B52 ghê lắm phải không?
- Đồng hồ Poljot bây giờ bao nhiêu?
- Cái khách sạn này, nó mà chống đỡ thì mình chịu. Tường rất dày, bom bỏ trúng từng trên, từng dưới cũng không việc gì.
Đó là một người lính da vàng vì sốt rét, người lính chiến thắng. Khi tôi hỏi, anh ta bảo anh đã vào đây từ 1971. Anh đã vào đây, đi đường mất ít ra là 3 đến 6 tháng trong khi tôi chỉ đi mất có 3 giờ máy bay.

Sức sống, sức sống - lại nhớ ý nghĩ của mình - cái chết biểu lộ sự sống, sự hoang tàn thối nát cũng biểu thị sự sống đặc thù của nó. Trong lúc tôi viết những dòng này bên tôi nghe ve vẩy những con ruồi. Ở một cống ngầm trước mặt, nước cống chảy đều đều như cứa vào thời gian, trong khi đó, không biết từ đâu, nhưng trong phi trường lúc nào cũng thấy bật lên những đốm pháo sáng đỏ loè do lính bắn tập.

Tối ngủ trên khách sạn sân bay, nằm trên cái bàn đẩy, dùng một tấm kính rất đẹp lót lưng. Nghe nói rất nhiều chuột,  khu trại Đa Vít chuộc cắn cả một đôi dép mới của ông Mỹ. Chắc chắn có nhiều muỗi lắm. Và phải ngủ sớm. Thôi, đêm đầu tiên ở Sài thành hoa lệ!

4/5
Không ngờ trong đời tôi, tôi lại phải chứng kiến khung cảnh như thế này, ở Mỹ, ở Tây Âu ra sao, nhưng ở đây, cái đuôi của xã hội tiêu thụ, tất cả hiện ra đầy đủ, thuận tiện, sang trọng không chê vào đâu được. Con người được tôn trọng, được thoả mãn đến tận cùng. Nhiều thứ quá, thứ gì cũng như mời chào mình, sẵn sàng phục vụ mình, nó tự hứa rằng không ai phục vụ tốt hơn nó cả.

Nhưng kinh khủng nhất là tình trạng hiện đại ấy đang bị đập vỡ. Cũng như các xóm ngoại thị Quảng Trị 6-1072, ở đây, hôm nay, tất cả ở trong tàn phá, ở trong thế xáo trộn. Trong lúc đi lang thang, tại những khu nhà tung tóe, những tiếng đập phá  lục lọi rộn lên ở bốn chung quanh, tôi luôn luôn nhớ lại lời Nguyễn Minh Châu: "Lúc này giá kể có thể trốn đi đâu yên tĩnh mà ngủ một trận là thích nhất". Tôi cũng thế, tôi sợ sự hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi. Tôi không thích lục lọi, không thích dẫm lên mọi thứ vụn nát, không thích nghe tiếng súng nổ. Những ngày vừa qua, ở Hà Nội, tôi đã rất sợ cái cảnh bàn tán xuôi ngược, đợi chờ vơ vẩn. Nay vào đây, tôi càng cảm thấy bồn chồn hơn. Tiếng nhạc chưa bao giờ chọc vào thân kinh khó chịu như lúc này. Toàn là những chuyện khứa vào đầu óc con người. Lại nhớ những đoạn trong Bác sĩ Zhivago: chúng ta sống dưới một cái nhà không có nóc, ai muốn làm gì thì làm.

Thật là kỳ lạ, một người trong tôi, mấy hôm trước rất nôn nao chờ đón mọi sự đổi thay, hôm nay khi đổi thay tới không biết tìm đâu một chỗ để nghỉ ngơi và làm việc cho thoải mái. Tôi hiểu thế giới này là hỗn loạn, tôi có lúc muốn lao vào giữa cơn dông bão, nhưng thường lúc đã vào cuộc như lúc này, lại ngần ngại, không thấy thú vị gì hết, không hiểu sẽ xoay sở thế nào. Hình ảnh cái chiến thắng này ư? Một người luôn đánh vật với chiếc xe hon đa trong đêm, đập phá, giãy giụa, tìm mọi cách để sai khiến nó, mà không sao sai khiến nổi. Rồi anh ta sẽ phá bỏ nó đi không biết chừng, dù đã chiếm được nó trong tay, anh ta không biết điều khiển nó.

Một ngành hoạt động loại hiện đại nhất: phi trường. Và những người lính thuộc loại rừng rú nhất. Vậy mà những người lính bộ binh ấy đang làm chủ phi trường với sự hoang dã muốn làm gì thì làm. Mọi chỗ đều bị xới lật, tất cả gợi ra một  cảm giác khó chịu đến không thể tưởng tượng nổi, cái cảm giác khó chịu ấy nó hành hạ tôi, khiến tôi cảm thấy hết sức đau khổ, có thể nói là cảm thấy nhục nhã nữa.

Nhục nhã vì thực ra, tôi đang là đồng bọn của những người này, tôi có liên quan tới tất cả những chuyện này. Tôi cũng đang là một kẻ chiến thắng - cái chiến thắng mà tôi không hiểu.

Cứ thế này mà suy, vậy thì cuộc đời còn gì là ý nghĩa gì nữa. Kẻ thắng lợi là kẻ vô văn hoá. Như một sự làm nhục văn hoá nói chung cái văn hoá mà tôi thường hết sức thành kính, tôi coi cuộc đời con người ta phải là đi về hướng đó. Vậy thì không phải chỉ có hôm nay thôi đâu, mà còn là những ngày sắp tới, cuộc sống sắp tới nữa. Cứ nghĩ cái xã hội mà 50 năm nữa miền Bắc chưa chắc đã tiến kịp, từ nay lại chịu sự quản lý của chúng tôi, do những người còn dốt hơn tôi chỉ huy - thì tôi không còn biết nói năng ra làm sao. Người ta sẽ viện dẫn đủ mọi thứ lý luận. Người ta sẽ bảo tôi phải bỏ qua hiện tượng, phải chú ý bản chất... Nhưng như thế tức là có cái gì đó phản lịch sử. Đúng thế, bạo lực vẫn thống trị tất cả.

Ngày hôm nay, tôi đinh ninh thế, là một ngày báo trước tất cả những gì sẽ tới của cuộc đời những ngày tới. Không hiểu sao, cuộc đời lại xoay chuyển theo cái hướng thế này. Kỳ lạ, cuộc đời vẫn luôn luôn mở ra những cái hướng mà không ai ngờ trước.

6/5
Người ta như thản nhiên quá chăng, thản nhiên trước tai hoạ sẽ tới? Con người như không biết nhiều gì những chuyện chính trị, con người chỉ có lo sống ham sống, và lo sống hàng ngày, những con người ấy sẽ thay đổi ra sao, tôi không hình dung nổi. Cái cảm giác chính, cảm giác về thân phận, cảm giác về chính mình, đang thức dậy trong tôi, khi tôi tiếp xúc với họ. Còn chính họ nghĩ ra sao, thì có giời mà biết.

- Xưa kia tôi cũng như anh
Mai đây anh cũng như tôi

Tôi giống như một người chết từ lâu, nay được tiếp xúc với những người sống - cái ao ước sống trong tôi - ao ước một cuộc sống được bảo đảm, tự do, cá nhân được tôn trọng, một cuộc sống lao động theo một nhịp điệu sôi nổi hơn, và nghỉ ngơi sinh hoạt thoải mái hơn, những ao ước ấy được cụ thể hoá thành xương thành thịt.

Nhưng rồi chúng tôi sẽ thống trị cuộc sống vốn có ở đây, cuộc sống hôm nay sẽ tan biến theo cái dòng sống vừa hỗn loạn vừa tẻ nhạt mà chúng tôi vẫn có... Đó là ấn tượng lớn nhất, mà tôi có được hôm nay.

Sự cuồng nhiệt của Sài Gòn
Tốc độ sống của Sài Gòn
Sự thản nhiên của Sài Gòn.

8/5
 Sự gặp gỡ giữa hai xã hội khác nhau, với cái tình thế trớ trêu thắng thua như hiện nay tạo ra một cái gì giống như là cảm giác khó chịu. Tôi sống mệt mỏi, căng thẳng. Rồi tôi sẽ làm được việc gì bây giờ? Chịu không sao biết được.

 Khi người ta sinh ra trong một xã hội khắc khổ, người ta có thể luôn luôn cảm thấy khổ, tới mức như một thói quen. Đến một xã hội chiều người, nịnh người, một xã hội tiêu thụ như xã hội này, người ta như một tu sĩ bước ra ngoài đời, không sao mà nhập vào ngay được.
Nhịp điệu sống ở đây cuồng nhiệt.
Sự thay đổi ở đây bất thường.
Và con người ở đây, thì lại quá quen thuộc với nếp sống đó, đến mức thản nhiên. Chúng tôi vừa bỡ ngỡ vừa xấu hổ với những bỡ ngỡ của mình, thật khổ. Như tôi chẳng hạn, tôi cảm thấy bị  sốc quá đáng tới mức không sao trở lại tự tin cho được.
---

Nỗi đau khổ về chính mình, những người cùng đi với mình - nỗi đau khổ của quá khứ mấy chục năm nay giờ đang hành hạ tôi. Ở Hà Nội là những người rất già, rất chậm... ở  đây, họ trẻ lại hóa thành những người rất khôn ngoan, lắm điều lắm nhời. Lắm lúc tôi như bất lực, không biết cách sao để nói chuyện với những người tôi từng yêu quý. Tôi rất muốn lấy lòng họ, sống hoà hợp với họ, để họ có thể yêu thương mình như ở ngoài kia. Nhưng chịu, tôi không làm nổi.

- Trên tất cả, tôi cảm thấy phải sống trong một thời đại mà cấu trúc tâm lý của mình hoàn toàn xa lạ.

Chiều nay, Sài Gòn mưa, cơn mưa rất lớn, trắng đất trắng trời. Người đi đường chúi cả vào một mái hiên nào đó chờ đợi. Mưa càng làm cho căn phòng của chúng tôi bức bối thêm, sau khi đã bức bối vì nước cứ dềnh cả lên, khắp nơi, cầu thang nhớp nháp, đồ đạc lộn tùng bậy - chúng tôi đang ở trong một cư xá Mỹ, mấy ngày đầu bị người vào hôi của, đến mức bây giờ lộn xộn quá đáng. Tôi nghĩ tới một hiện tình: mọi thứ tanh bành và chỉ đang được sắp xếp lại. Bao giờ sắp xếp? Chưa hiểu. Một cuộc cách mạng kéo dài 30 năm  và bây giờ đang tiếp tục - dài quá, dài quá.

9/5
Ông Trần Bạch Đằng nói về tình hình văn nghệ Sài Gòn
- Ta bàng hoàng vì chiến thắng lẹ quá
- Có một số bàng hoàng vì chế độ cũ tàn nhanh quá.
- Tiếp xúc với lực lượng thứ 3: nên nói thẳng, không lầm rầm
- Những hình thức hôm qua không thích hợp
-----
- Bọn phản động nhất: lính kín, tổng nha
- Có những kẻ bảo chửi ông nội hắn, hắn cũng chửi
80% trí thức = lưu manh
Chữ văn nghệ sĩ chưa nói gì cả.
Thần tượng: Lê Xuyên, Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng
Nói chung, không sạch
Chúng ta không cần Viên Linh nói về cách mạng
Phải có một sự trừng phạt. Con cái chúng ta đã bị đầu độc. Không được lướng vướng tài năng
- Chúng ta phải có lương tâm - nhân dân hy sinh, bộ đội chiến đấu, không phải để chúng ta bị cuốn theo một chút tình cảm dễ dãi, tha thứ cho họ.
- Cách mạng chưa làm điều gì quá lố. Coi chừng hữu khuynh. Hàng ngàn thằng phản động.
Vòng tay học trò in lại, làm hại bao nhiêu người.
Không nên băn khoăn về đời sống họ.
Không có danh nghĩa gì. Gọi là cháu nội Văn Nghệ Giải Phóng không được. Cục cứt Văn Nghệ Giải Phóng cũng không được.
Đây không phải là lúc trầm tư về những hi sinh dân tộc.
- Chúng ta không chia quyền cho ai
Không việc gì phải tranh luận về tự do.
- Nhưng không phải mọi thứ đã hết
Bây giờ vẫn phải lo truy kích địch
- Khí thế 1975, so với 1945 kém xa.
Những người tốt: Nguyễn Hiến Lê - Nguyễn Văn Xuân - Giản Chi - Hoàng Trọng Miên - Bình Nguyên Lộc - Vũ Hạnh
- Lúc này, không có tác phẩm là có tội. Tác phong khẩn trương, không lề rề, bỏ  mọi nghi lễ.
Bắc hay Nam tất cả đều là lực lượng VNGP
- Sự nghiệp là sự nghiệp chung
Tôi nghĩ  trong ông Trần Bạch Đằng này
Nội dung: Tố Hữu
Bộ mặt: Lưu Quý Kỳ
Cách nói: Hoàng Minh Thi
Nát đá
Một sự gần gũi của xa lạ
Một nền văn hoá của vô học
Bàn tay sắt bọc nhung
Sự rơi tõm vào quên lãng
Hệ thống, Guồng máy từ trên xuống dưới
Con trội: mặt lạc hậu, mặt dở. Cỏ dại. Cỏ gianh: sắc nhọn, thẳng đuột
Bất cứ nơi nào, bất cứ thời điểm nào cũng chỉ mơ tranh đấu
Chiến thắng= Bóng tối
Vô vọng
Theo những con đường cũ: không có cách nào khác.
- Sự nản lòng thực sự
-  Phản tự nhiên
- Số đông và số ít
Không kỳ vọng một điều gì
Chớ bao giờ ảo tưởng
"Cầm bằng chẳng đậu những ngày còn xanh"
Đất nước chẳng phải của chúng tôi.

10/5
 Kém thích nghi biết bao là con người tôi. Tôi lao vào một hoàn cảnh mà tôi cứ đờ đẫn cả người, không sao quen thuộc nổi.
Nhưng trong tôi cũng mâu thuẫn biết bao. Tôi hết sức ham thích cuộc sống tôi mới tiếp xúc, nhưng trong lý trí, tôi cứ muốn phủ nhận nó. Mà cái lý trí này vào tôi đã thành tiềm thức, nó phản ứng một cách hết sức tự nhiên, biết làm thế nào? Tôi giãy giụa trong một môi trường nhiều thành phần đối kháng, ở đó chính mình chống lại mình. Sao mà khó bình yên như vậy.
Những trí thức bạt tử, những kẻ vừa hành lạc, vừa kiêu hãnh với sự hành lạc ở phía bên kia – cả những nhà văn nhà báo ấy bây giờ cũng bó cẳng chịu đầu hàng, và nói những điều thất bại?
Và bao nhiêu người dân vừa hồn nhiên vừa tội lỗi, vừa lao động, vừa hưởng thụ, vừa rồ lên cuồng loạn, vừa hết sức thản nhiên sống cho qua ngày. Thế là thế nào, ai biết được.

12/5
Tại buổi gặp mặt các sinh viên. Những câu hỏi của những sinh viên có suy nghĩ.
- Nếu chính phủ Dương Văn Minh thực hiện đúng như lời họ tuyên bố, các anh có chấp nhận không?
- Trong những năm tới ảnh hưởng của ngoại bang sẽ ra sao?
- Tại sao chính phủ cách mạng lâm thời ra mắt chậm như vậy?
...
- Chúng tôi hiểu xã hội này có nhiều cái dơ dáy. Người Mỹ ở đây càng dơ dáy. Nhưng chúng ta sẽ có một xã hội thế nào? Quyền tự do cá nhân có được bảo đảm không?
- Chúng tôi chấp nhận hy sinh, nhưng liệu hy sinh đó có thoả đáng.... Miền Bắc liệu có thể có một xã hội trong đó, khi một người để xe đạp ở đường, không bị ai dắt mất, và không có một em bé nào phải đi ăn mày.
Tôi thường trả lời họ:
- Cái căn bản là Mỹ đã đi, và miền Nam miền Bắc thành một Tổ quốc thống nhất. Còn như tương lai thế nào, sau này sẽ liệu. Tương lai nằm trong tay mỗi người thanh niên chúng ta.
- Trong thời gian tới, đúng là có nhiều vấn đề đáng suy nghĩ. Một dân tộc như dân tộc Việt Nam xứng đáng với những kết luận có tính triết học ghê gớm (một thượng toạ nói: Mỗi người Việt Nam trở thành một triết gia, sau khi Việt Nam này chiến thắng!)
Nhưng tôi cho, cái chính lại là hành động, dân tộc đau thương đang cần chúng ta hành động, để đóng góp vào những việc rất cụ thể, dù biết rằng không biết hành động thế nào (và thực ra, nếu không suy nghĩ cho đúng càng hành động, càng lầm lẫn, càng gây ra những rắc rối hơn.)
- Về mặt nào đó, chúng ta hình dung ra xã hội phía trước còn rất nhiều chuyện. Những ảnh hưởng ngoại bang ư? Sẽ là rất lớn đấy, nhưng không có gì đáng sợ. Bởi cái chính là mỗi chúng ta, là những người trong cuộc chúng ta.
Sài Gòn - Với tốc độ của hon da, cuồng loạn, hon da leo lên cả vỉa hè, hon da len vào cả những bàn ngồi uống nước bên vỉa hè.
Với sự thay đổi của màu sắc trên đường, của mốt ăn mặc.
Với một vẻ ngoài tràn ngập vật dụng, rất nhiều hàng hoá, con người luôn luôn được phỉnh nịnh, được thoả mãn...
Với tất cả những cái đó, tôi hiểu người viết trong này bị thách thức rất nhiều. Cái đặc điểm lớn nhất của văn nghệ ở đây là thương mại hoá - Cái xã hội thương mại mà nhà xã hội học xô-viết I. Kôn nói rằng rất cần thiết cho trí thức, theo tôi, lại đã đến mức quá đáng, không thể chịu được. Vậy biết giải quyết ra sao?

13/5
 Tôi ghê sợ sự trì trệ. Nhưng tôi cũng không thích thú gì sự hỗn loạn. Nhất là một tính cách như tôi, tôi không phải là người giàu sức sống cho lắm.
- Lịch sử biến động càng lớn, mỗi con người càng hết sức bơ vơ.
- Sự giải phóng miền Nam đồng thời là sự giải phóng miền Bắc.
- Cả một xã hội chờ đợi

 16/5
 Sau 2 tuần giải phóng, Sài Gòn bắt đầu nhao nhác. Hàng vặt bày cả ra vỉa hè. Nhà nọ bán cho nhà kia. Nhưng lấy đâu ra tiền mà tiêu. Nhưng có ai làm ra cái gì đâu?
Xã hội đây là một xã hội tiêu thụ, nhưng về mặt nào đó, nó là xã hội đã hình thành, nó cần đến pháp luật, chính sách, tổ chức. Nó không phải là một xã hội tự cung tự cấp.
Nhưng người quản lý nó hiện nay không biết điều đó. Tiền nong, tài chính... lắm chuyện quá.
Cách mạng chỉ mới mang lại những khẩu hiệu, những chữ nghĩa. Nhưng người ta sống bằng những cái cụ thể khác.
Vả lại, những chữ nghĩa ấy vốn được dành cho một xã hội khác kia. Còn đây là một xã hội náo nhiệt quay cuồng về mốt, một xã hội sống tạm bợ, nương dựa, và bao lâu nay, như cái cây đang nở hoa, mà rễ đã bị ăn luỗng. Giữa "phương thuốc" và "căn bệnh" chẳng có gì là liên quan đến nhau hết. Làm sao mà giải quyết cho được?
Tôi cảm thấy bản thân mình không thích ứng được với hoàn cảnh. Tôi cũng bắt đầu chán cái Sài Gòn hỗn loạn này.
... Nhưng tôi biết đi về đâu? Trở lại với cái miền Bắc trì trệ, già cỗi kia ư? Cũng nản lắm. Mấy cụ già thì thào, bất lực. Những kẻ xấu hoành hành. Và bao trùm là những điều kiện sinh hoạt cơ cực, khiến cho con người không còn  nghĩ  được gì khác, con người như mất hết nhân phẩm.
Sự bơ vơ là ở tất cả mọi nơi. Cảm giác bơ vơ đến với tôi bất cứ lúc nào. Sự bơ vơ là khôn cùng.
Tôi nên làm gì? Tôi không rõ. Văn nghệ ư? Tác dụng trong đời sống vớ vẩn lắm. Và tôi cảm thấy mọi chuyện chả còn chi ý nghĩa. Tôi khổ sở vì tự do. Tự do chẳng biết làm gì cả.

Trong những ngày này, thắc mắc quá nhiều về công việc là một điều ngu ngốc đấy. Công việc bây giờ là sống như mọi người, bị cuốn đi, đến đâu hay đến đấy.
Trong những ngày này, mỗi cá nhân bé nhỏ đến thê thảm. Một người như Nguyễn Đình Thi, cũng không biết ở đâu (ông ta vào từ trước chiến dịch, nay không có tin tức gì hết). Sau khi giải phóng Côn Đảo, nghe nói những trí thức như Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư vẫn còn sống, nhưng chỉ sống cuộc sống hắt ra, không có ý nghĩa gì hết. Khi anh thành một con người lịch sử, thì về phương diện cá nhân, anh cũng chết luôn thế.

Vậy thì nói chi đến thân phận chúng tôi, những kẻ vơ vẩn, những cuộc sống tôi đòi. Khi tôi nghĩ đến những vớ vẩn, dại dột của mình, tôi chỉ còn an ủi: Bao nhiêu người hôm nay mất nghiệp, phá tán nhà cửa. Bao nhiêu người thay đổi địa vị, thất nghiệp, thơ ra thẩn vào. Không biết làm chi. Tôi chỉ là một cá nhân bé nhỏ như tất cả những người ấy, tôi làm sao hoàn toàn an toàn, vô can cho được. Tôi xin cam chịu. Có lẽ phải nghĩ rằng dẫu sao mình cũng còn khá hơn nhiều người khác.

Những nhận xét sơ bộ
- ở đây, người ta sống theo mốt, nhưng lại không biết thực chất mốt là thế nào. Không tự ý thức. Không năng động theo nghĩa làm sao để suy ngẫm về mình.
- Một vẻ gì như thản nhiên, như vô tâm,
- Mốt, như một hình thức méo mó của mặc cảm
- Mốt, như một cái gì chỉ huy, hướng dẫn (khác với lối hướng dẫn của CNCS)
- Sự phổ biến của mốt ra đại chúng đồng nghĩa với sự thương mại hoá? Tất cả đều trở thành sử dụng cho đông đảo mọi người, đồng tiền chỉ huy mọi chuyện.
Sách vở bán xô, bán đại hạ giá.
Sự sụp đổ của một chế độ, như chế độ Sài Gòn, làm cho tôi hiểu thêm cái phía này: văn chương, nghệ thuật không là gì cả.  Cả một thể chế được xây dựng chắc chắn như thế này còn bị sụp đổ, thì một bài văn, bài báo, có thấm thía gì? Tôi hiểu rằng chỉ có Bạo Lực thống trị tất cả. Và sau bạo lực là đêm tối, mọi chuyện tan biến đi như đêm tối.
Đứng trước một thành phố như Sài Gòn mọi người đều bị lột mặt ra chăng. Có tránh được chính mình chăng?
Chỉ trước sách vở, mới cảm thấy yên tâm một chút. Còn thì lúc nào tôi cũng bồn chồn. Tiện nghi hàng hoá, những cái đó lôi cuốn, không khỏi suy nghĩ về nó, đến nao cả lòng. Nhưng một mặt khác, thấy rõ những gì gọi là tương lai mới quan trọng. Mà dần dần, bước đầu, trong xã hội này, công việc cũng đã trở thành một thứ hàng hoá. Vấn đề có lẽ không phải là việc người ta sướng hay khổ, vấn đề là làm sao để cảm thấy lương thiện. Và ở phía CS, nơi người ta hằng xuyên như là tự xấu hổ về mình, như là một mặc cảm tội lỗi về cái tối của mình, thì sự lương thiện không được đặt ra.

Về Mỹ (ý kiến nghe được ở nhà bà Cúc)
1. Mỹ rất khôn ngoan: Nó cho mình gạo mỳ, dầu hôi trước, rồi mới bán sau. Khi đã dùng quen, thì bắt buộc phải mua của nó.
2. Các PX cố tình để lính Mỹ ăn cắp hàng bán ra thị trưòng. Mỹ muốn làm hỗn loạn thị trường của mình. Mỹ muốn tạo ra một xã hội giống Mỹ, do đó, cần ở Mỹ.
3. Người Mỹ rất ít tình cảm. Hôm qua, anh làm cho nó, thì nó quý hoá, trả lương rất hậu, muốn gì cũng được. Nhưng chỉ cần anh có việc gì găng go với nó, nó không nhận anh làm với nó nữa, thì thôi đấy, nó yêu cầu anh đừng để cho nó thấy mặt anh nữa. Không còn tình cảm gì hết.
4. Chính ra người Mỹ rất ke, dóc, khó lòng mà móc một xu ở nó - Chỉ trừ có gái, gái thì móc thế nào cũng được, đổi cả nhà nó cũng đổi.
5. Nhưng người Mỹ được cái không nói dối, và nó không thích mình nói dối.
Chính người Mỹ có một cái gì đó rất phong kiến.