Tuesday, April 25, 2017

MINH XOÀI HIMLAM - ĐẠI GIA BÍ ẨN (Người Buôn Gió)




Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Đại gia Dương Công Minh, còn gọi là Minh Xoài hay Minh Himlam đương là tâm điểm theo dõi của giới tài chính Việt Nam hiện nay.

Trong những khách hàng dự định mua Sacombank, Minh Himlam đang là vị khách được chú ý nhất, là chủ của tập đoàn Himlam và ngân hàng Lienviet Post Bank ( tiền thân là Liên Việt).

Con đường làm giàu của Dương Công Minh có nhiều bí ẩn đến kỳ lạ. Một trong những thương vụ để đời của Dương Công Minh cách đây vài năm là mua trọn CT tiết kiệm bưu điện ( tổng công ty bưu chính) bằng việc phát hành trái phiếu. Việc này đáng lý phải qua đấu giá, nhưng không hiểu vì sao Ngân Hàng Liên Việt của Dương Công Minh mua trực tiếp 1000 đơn vị giao dịch với giá 200 tỷ VND.

Không biết thế lực nào đứng đằng sau vụ mua bán này, tạo điều kiện cho Liên Việt mua được tài sản nhà nước với giá quá rẻ mạt như vậy.Tại thời điểm ấy, các chuyên gia tài chính đánh giá giá trị thực của công ty tiết kiệm bưu điện thấp nhất phải là 1000 tỷ đồng. Công ty tiết kiệm bưu điện có mang lưới hạ tầng cơ sở ở cả nước , những điểm giao dịch của tổng công ty này là ước mơ của bao nhiêu ngân hàng. Gần một nghìn tỷ của nhà nước chui vào túi Liên Việt ngon ơ , không mấy ai dám thắc mắc.

Một thương vụ nữa của Minh Himlam gây nhức nhối và thách đố dư luận là khi chiếm 157 héc ta đất ở sân bay Tân Sơn Nhất làm sân golf từ năm 2007 dưới sự tiếp tay của các tướng lĩnh trong bộ quốc phòng là bộ trưởng Phạm Văn Trà, người cùng quê Quế Võ, Bắc Ninh với Dương Công Minh. Nhờ người đồng hương Quế Võ, Bắc Ninh là bộ trưởng quốc phòng này, Dương Văn Minh mới có được những phần đất béo bở từ quốc phòng và những mối quan hệ che chở của quân đội trong con đường tiến thân của mình từ đó đến nay. Tất cả những gì thiên hạ tưởng là kỳ bí vây quanh sự thành công của Dương Công Minh chỉ từ mối quan hệ mật thiết với quân đội mà ra. Gần đây khi dư luận lên tiếng về hàng trăm héc ta đất phí phạm ở sân bay Tân Sơn Nhất, năm 2015 Dương Công Minh cấp tốc cho xây la liệt biệt thự, nhà cửa để chiếm đất không hoàn trả. Mục đích của Dương Công Minh và nhóm lợi ích trong quân đội là đẩy sân bay Tân Sơn Nhất vào tình trạng tồi tệ khiến sân bay này không sử dụng được, phải xây sân bay khác như Long Thành. Chỗ đất mà Minh chiếm được ở sân bay Tân Sơn Nhất sẽ thành khu đất vàng để xây lên những toà nhà cao tầng, khu đô thị , biệt thự phân lô hốt bạc.

SỐC: Dương Công Minh cấu kết tướng tá quân đội “cướp” toàn bộ 800 hecta đất sân bay Tân Sơn Nhất
http://bluevn.info/soc-duong-cong-minh-cau-ket-tuong-ta-quan-doi-xoa-san-bay-tan-son-nhat.html

Chỉ cần nêu qua hai thương vụ mua tổng công ty bưu chính và khu đất ở sân bay Tân Sơn Nhất, đã thấy Dương Công Minh bàn tay che cả bầu trời, hốt và hàng ngàn tỷ dễ dàng như trở bàn tay.

Kể từ khi gây ra vụ gian dối mua công ty tiết kiệm bưu điện, ngân hàng của Minh hầu như nằm ngoài sự kiểm tra của bộ tài chính, ngân hàng nhà nước. Suốt cả thời gian dài gần một thập kỷ, ngân hàng của Dương Công Minh không hề bị thanh tra, kiểm tra. Mới đây năm 2016 báo cáo về các ngân hàng gửi đến thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng không hề đề cập đến ngân hàng của Minh Himlam.


Ngân hàng Lienviet Post Bank do Minh làm chủ, trong ba năm Minh thay đến 5 tổng giám đốc ngân hàng. Tất cả những chồng chéo, vi phạm tài chính do Minh chỉ đạo mà tổng giám đốc nào sợ hãi trách nhiệm pháp luật đều bị Minh đuổi thằng thừng. Minh tuyên bố với họ Bộ tài chính, ngân hàng nhà nước, bộ chính trị, thủ tướng , quân đội đều nằm trong tay Minh cả nên không việc gì phải sợ ai. Những kẻ nào sợ thì không xứng đáng làm tổng giám đốc Lienviet Post Bank.

 Đệ tử thân tính của Dương Công Minh ở Liên Việt là Nguyễn Đức Hưởng phó chủ tịch, một người mang quốc tịch Úc. Hiện nay do Sacombank của Trầm Bê bỏ lại do nhà nước định giá thấp những tài sản mà Bê thế chấp, đây đang là miếng mồi béo bở trong tầm ngắm của Đặng Văn Thành, kèo ruột của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Nhưng vì Thành có những phát ngôn gây xôn xao dư luận khi định mua sacombank khiến Phúc ngại ngần không dám để Thành đứng mua.  Đặng Văn Thành đang tính liên kết với Dương Công Minh , cho Nguyễn Đức Hưởng đứng ra mua Sacombank rồi chia chác với nhau.

Dương Công Minh, Nguyễn Đức Hưởng là những kẻ đi đầu trong chiêu trò tuyển một đội ngũ gái đẹp vào ngân hàng làm tiếp khách, dùng số gái này phục vụ cho các quan chức trong đảng. Từ mối quan hệ đồng hương với cựu bộ trưởng Phạm Văn Trà đến tiền và gái mua chuộc các lãnh đạo đảng. Các ông trùm như Dương Công Minh, Nguyễn Đức Hưởng khống chế được tất cả những vị trí lãnh đạo, cơ quan quyền lực thành những kẻ phục vụ cho lợi ích của mình.

 Chính vì thế lực mạnh như vậy, Minh luôn có những nguồn tiền lãi suất ưu đãi và những hợp đồng mua bán rẻ mạt tài nguyên của quốc gia. Minh thành con cá mập sẵn sàng nuốt tất cả các đối thủ, khiến ai cũng phải e dè nể sợ. Đại gia Dương Công Minh là hiện thân cho sự thành công của một doanh nhân, nhưng sự thành công đó cũng hiện thân tiêu biểu cho sự thối nát trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng CNXH. Nơi chỉ những ông trùm maphia bằng tiền, gái để mua quyền lực, từ quyền lực lại đẻ ra lợi nhuận, không phải theo nguyên tắc nào của pháp luật.

Giờ đây Dương Công Minh cùng với Đặng Văn Thành đã tìm được thêm một thế lực mới là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cùng với những mối quan hệ đã có với quân đội. Việc ngăn cản Dương Công Minh chiếm đoạt tài sản của nhà nước với giá rẻ mạt càng là điều không thể.

Được đăng bởi Thanhhieu Hieubui vào lúc 21:41 




VIỆC CHÍNH PHỦ DƯƠNG VĂN MINH ĐẦU HÀNG (Tạ Văn Tài)




April 19, 2017 12:16 AM

Thưa Đại tá Giao Chỉ Vũ Văn Lộc,
Viet Museum, San Jose, California

Vì Đại tá bcc: cho tôi các lời bàn về bài viết “Gửi vòng hoa tang cho Đại tướng Dương Văn Minh”, tôi xin góp chuyện ngắn ngủi với vài chi tiết xác thực về những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà cuối tháng 4, 1975 kết thúc bằng việc chính phủ Dương Văn Minh đầu hàng – vì cũng gần đến ngày giỗ kỵ 41 của ngày 30 tháng 4, 1975 nó kết thúc quãng đời đáng ghi nhớ trong nước trứơc 1975 của nhiều người Việt Nam, mà Đại Tá đã có nhiều công gây dựng đài kỷ niệm vật chất (museum) và tinh thần (các tác phẩm) mà chúng tôi có nhiều thiện cảm và ngưỡng mộ. Tôi nghiệm thấy các bài của Đại tá đầy sự bao dung trong sự vun sới tình đồng bào và tình huynh đệ chi binh, muốn tặng vòng hoa cho vị quân nhân đàn anh, vì thế tôi cũng muốn góp vài chi tiết cho việc hiểu thêm những nỗ lực vì chiến sĩ và đồng bào Việt Nam của Đại Tướng Minh và chính phủ của ông, trả lại công lý cho họ mà không oán trách họ, đi đến thông cảm và đoàn kết hơn trong sự chiêm nghiệm lịch sử (Ở đây, tôi không bàn đến những chuyện khác trong đời binh nghiệp và chính trị trước đó của ông, thì dụ có phải Đại tướng đã kín đáo để hai ngón tay trên thắt lưng khi đứng trên bao lan trong Tổng Tham Mưu—như một tin đồn nói, không biết đúng hay sai—là để ra lệnh, có thể là lệnh của cả mấy tướng kia nữa, là đòan công tác đi rước Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Nhu tại Chợ Lớn về Tổng Tham Mưu trong vụ đảo chánh 1963 cứ việc thanh tóan cả hai người, cho tránh bị lật ngược thế cờ như đảo chánh 1960. Đây là lời Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, ổng nói với tôi—nhân lúc tâm sự khi làm việc chung phòng ở Harvard–là các cuộc đảo chánh ở Việt Nam đều có mặt các sĩ quan Đảng Đại Việt của ông, kể cả trong Đảo Chánh 1963 thì có các đại tá Nhan Minh Trang và Huỳnh văn Tồn).

Trước sự tiến quân vũ bão của quân đội Bắc Việt lấn chiếm mỗi ngày một tỉnh Miền Nam Việt Nam vào tháng 4, 1975, trên xe bọc thép chạy nối đuôi nhau (bumper-to-bumper, theo không ảnh của Mỹ chụp và có người trong Tòa Đại Sữ Mỹ tả với tôi lúc đó), kèm với xe tăng và trọng pháo do Liên Sô và Trung Quốc giúp, trong khi người Mỹ đã quyết định không viện trợ quân sự cho Việt Nam nữa (Tổng Thống Thiệu lên TV chửi Mỹ kỳ kèo 700 triệu xuống 300 triệu gì đó, rồi đập bàn tuyên bố từ chức, làm quân và dân hoang mang), thì Đại tướng Minh và các người trong chính phủ ông đã được Mỹ và Pháp (qua hai đại sứ Martin và Merillon) bày kế cho Tổng Thống Trần Văn Hương (mà Hà nội không ưa vì cho là chống họ quyết liệt), là mời Đại Tướng Minh làm Tổng Thống với sự uỷ nhiệm của quốc hội, thì mới có thể thương lượng lập chính phủ ba thành phần mà có giải pháp hoà bình. Đại Tuớng Minh và các người cộng sự trong chính phủ của ông, và cả các Đại sứ Mỹ và Pháp, cũng đã ước tính là Miền Nam không còn có đủ sức mạnh quân sự để chống cự, và nếu chống cự thì Saigon sẽ tan tành, một cảnh mà chính Tổng thống Hương cũng nói với đại tướng Minh là phải tránh, cho nên phải tìm giải pháp thương luợng. Đại sứ Merillon lúc đó nghĩ rằng có thể tin vào lời nói của Lê Đức Thọ về chính phủ 3 thành phần là một lối thóat, cho nên hỏi Giáo sư Vũ Văn Mầu là “ông đã sẵn sàng cầm quyền (assumer le pouvoir) chưa?” (nghị sĩ Bùi Tường Huân kể lại cho tôi vào hôm đó), tức là làm thủ tướng cho chính phủ D V Minh, để tiến hành kế họach hòa bình như Pháp đà bàn với Lê Đức Thọ. Mỹ cũng chỉ mong rút nốt quân đội còn trong nhóm tuỳ viên quân sự Defense Attaché Office/DAO, và đúng thế, ngay sau khi cầm quyền Thủ Tướng V. V. Mẫu yêu cầu Mỹ rút phái bộ DAO.

Thiết nghĩ Mỹ lúc đó đã rút hết mọi ý định can dự vào Việt Nam và chỉ cần có lời mời của Việt Nam rút nốt sự hiện diện, là có cớ rút hết sự hiện diện của Mỹ và tổ chức di tản người Mỹ khỏi Việt Nam, mà không xấu hổ vì đơn phương bỏ chạy, thì do đó Mỹ cũng chỉ mong nhờ cậy vào Pháp thương lượng gìùm một giai dọan hòa bình cho Việt Nam. Còn Pháp thì muốn tái lập lại vai trò quan trọng hơn cho mình tại Việt Nam trong một giai đọan hòa bình, sau khi Mỹ rút, cho nên ông Merillon mới hăng hái như vậy.

Còn đại tướng D. V. Minh và các cộng sự trong chính phủ của ông, theo lời một thành viên trong nội các của tướng Minh nói vói tôi lúc đó, thì cũng chỉ mong tạo được một giai đọan chuyển tiếp hòa bình, trong đó đồng bào Việt Nam nào không thấy mình sống nổi trong chế độ cộng sản sắp tới, thì có một thời gian thu xếp ra đi khỏi nước mà được đón tiếp tại các nước từng là thân thiện với Việt Nam Cộng Hòa—y như thời gian 100 ngày cho đồng bào Bắc Việt có được, nhờ Hiệp Định Geneva 1954, để di tản trong hòa bình trật tự, từ Bắc vô Nam Việt Nam–như vậy là cưú đồng bào hay chiến sĩ nào tại Miền Nam nghĩ mình, sau khi Cộng sản chiếm ưu thế, sẽ bị tù đầy, thủ tiêu, nếu ở lại, có con đường sống còn ở bên ngòai Việt Nam. Họ nghĩ muốn giúp đồng bào và chiến sĩ nhiều hơn là chỉ có một điểm cứu Saigon mà thôi, mà cụ Trần Văn Hương nghĩ tới, vì cụ Hương chỉ nói, cũng như các lãnh đạo Phật giáo và Công giáo đã khuyên thêm, là mong sao cho Đại Tướng tránh cho Saigon không thành biển máu. Việc Cộng Sản Bắc Việt thắng quân sự là điều không tránh nổi, vì quân đội VN Cộng Hoà đã tan hàng như ai cũng biết và như lời Trưởng Phòng 5/Hành Quân của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH là Đại Tá Nguyễn Mộng Hùng nói với tôi, giọng thều thào nản chí, vào cuối tháng 4 là: “Tài ơi! Lính nó không đánh nữa, mà về nhà bồng bế vợ con chạy, sau khi thấy cấp trên bỏ chạy!”. Cho nên không ai nên nghĩ là gỉai pháp tìm một nền hòa bình tạm thời trong một thời gian sau, là gỉai pháp mà chỉ có các lực lượng phản chiến Phật giáo nghĩ tới, và lực lưọng Phật giáo xúi Tướng Minh đầu hàng, vì như trên trình bày, đó lá cả một diễn tiến suy tư và kế họach, từ đồng minh Mỹ, nước bạn Pháp, đến các lực lương tôn gíáo lớn có quần chúng và lo cho dân, họ đều tìm cách cứu dân khỏi chết vô ích, bằng một nền hòa bình trong sự nhẫn nhục không tránh nổi—nên nhớ là có nhiều đại diện Công gíáo, thí dụ đại diện liên danh nghị sĩ thân Công giáo là cụ Nguyễn Văn Huyền, trong chính phủ Dương Văn Minh, trong một cái mà ta có thể gọi là chính phủ đại đoàn kết quốc gia (government of national union), rất đẹp lòng người trong thời điểm nguy khốn của Miền Nam.

Chính phủ này cũng không dùng chữ đầu hàng quân đội Bắc Việt mà muốn bàn giao trong nghi thức tối thiểu. Sự kiêu căng bắt đầu hàng là do phiá Việt Cộng, khi họ thấy họ có thể lấn lướt đè bẹp luôn VN Cộng Hòa, sự kiêu căng này—khác hẳn nét lịch sự trong cuộc gặp gỡ của hai Tướng Grant và Lee kết thúc cuộc Nội Chiến Mỹ—sự kiêu căng đã lộ rõ trong ngôn ngữ kém ngọai giao, mà hung bạo, của Lê Đức Thọ dùng khi nói với đại sứ Pháp Merillon, mà ông Thọ đã lừa dối khi bàn gỉải pháp có thể chấp nhận là chính phủ 3 thành phần rồi nuốt lời, và cũng rõ ra trong lời và thái độ viên sĩ quan đầu tiên đi lên lầu hai dinh Độc Lập gặp Tướng Minh, ông Minh nói “tôi đang đợi để bàn giao” thì viên sĩ quan này bất lịch sự nói: “đầu hàng chứ không có gì mà bàn giao”, và Đại tướng không sợ và không mất tư cách mà dằn giọng, nói đại khái “Tôi là đại tướng đứng đầu chính phủ, yêu cầu giữ ngôn ngữ…” và có viên đại tá phải ra lệnh cho tên sĩ quan cấp dưới đi ra chỗ khác. (Đại tá Bùi Thế Dung, thứ trưởng quốc phòng trong chính phủ Dương Văn Minh, hiện ở Massachusetts, kể với tôi như vậy—Đại tá Dung trước đó, trước khi những bộ đội Bắc Việt đi lên lầu 2, đã phải gỡ quả lựu đạn trong tay một chiến sĩ VNCH, người này tức quá, dọa là sẽ ném cho nổ tan xác các Việt Công đi tới, dụ dỗ người chiến sĩ là “ném lựu đạn thì tất cả mọi ngươi trong chính phủ sẽ bị tấn công chết hết”).

Đại tướng Minh đã cứu Saigon khỏi tan tác, và dân Saigon khỏi tắm máu, nhưng sau cái công đức hiển nhiên đó –mà có người ví với Thống Chế Pétain đã cứu Paris muôn thuở và văn minh Pháp lâu dài khỏi bị thiêu rụì vì hành quân chớp nhóang blitzkrieg của Hitler– thì còn có cái lòng nhân từ thương chiến sĩ và dân chúng Việt Nam nói chung, muốn tìm đường sống cho họ, của Đaị tướng và của các cộng sự viên đủ thành phần và tôn gíao trong nội các của ông.

Ai trách sao Đại Tướng D.V. Minh không đánh nhau đến cùng mà lại đầu hàng vào 30 tháng 4, 1975, mà không tìm hiểu cặn kẽ lẽ hơn thiệt và hòan cảnh lúc đó, thì nên tự trách mình sao can đảm thì lại không ở lại Việt Nam mà đánh nhau đến sinh mạng cuối cùng của người Miền Nam và của chính người đó luôn, mà lại hành xử hơi giống Nguyễn Cao Kỳ, hôm trước tuyên bố ở lại Việt Nam chiến đấu cùng các chiến sĩ đến cùng, hôm sau lén lên máy bay chạy ra hạm đội Mỹ và tại đó, bị bảo hãy bỏ khí giới và lột lon, vì hạm đội không là lãnh thổ Việt Nam (tôi không trách ông Kỳ di tản, mà trách tư cách ăn tục nói phét của ông, nói trước quên sau, như giáo sư Trần Như Tráng, trưởng phòng báo chí phủ thủ tướng của ông Kỳ đã phải nhiều lần biên mảnh giấy nói “Hôm qua ông chủ tịch nói cái này rồi nhé…” để hôm nay ông không nói ngược lại).

Tôi viết bài này với lòng thương mến dân tộc Việt Nam, mong sự đòan kết của mọi thành phần lành mạnh, đòan kết của các tôn giáo khác nhau (tôi thân thiện với cả Phật giáo—như ai cũng biết– lẫn Công giáo, là học trò cưng tại Trường Trần Lục, Phát Diệm, của cha hiệu trưởng Trần Văn Kiệm mà cha có nói tới “trò Tài” trong hồi ký của cha, cha là bạn TT Ngô Đình Diệm, tại Hoa Kỳ và tại Nhà Chung Phát Diệm, Saigon, trước 1975) và đòan kết của các anh em trong hàng ngũ chiến sĩ VNCH (trong đó tôi có các anh em ruột và bạn bè tôi).

Tôi gửi tặng Đại Tá Vũ V. Lộc và các bạn một bài nhạc của Đại tá Nguyễn Văn Đông, ca tụng chiến sĩ VNCH, do chị vợ tôi là Hà Thanh hát, giọng hát rất đưọc ưa chuộng bởi Đại Tá Vũ Quang của Trường Cao Đẳng Quốc phòng (nơi đó, tôi làm quen ông khi đến diễn giảng). Trong câu này, binh nhì khóa giáo chức Tạ Văn Tài của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung muốn nói là “thấy sang nên bắc quàng làm họ” với nhiều đại tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà—trong tinh thần huynh đệ chi binh mà Đại Tá Lộc thường nêu cao. Đại Tá Nguyễn Mộng Hùng, khóa Nam Định, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu- mà tôi nói ở trên–là cousin-in-law của tôi.

Tạ Văn Tài

Chiều Mưa Biên Giới – Nguyễn Văn Đông – Hà Thanh – NBC

Thân gửi giáo sư Tạ Văn Tài
1) Rất cảm ơn về sự quan tâm và đóng góp ý kiến rất đầy đủ.
2) Quyết định giết ông Diệm có thể các vị cầm đầu đã có bàn nhau, thực sự không ai biết rõ chuyện bên trong. Tuy nhiên chuyện ông Minh giơ hai ngón tay, tôi nghĩ là chuyện bịa đặt.
3) Hà Nội thực sự có dự trù sẽ nói chuyện với chính quyền Dương Văn Minh nếu VNCH vẫn còn giữ vững được các quân khu. Phật giáo hay Pháp đều có mối liên hệ để điều đình thành lập chính phủ hòa giải.
Ngay cả Hoa Kỳ và Uỷ hội quốc tế cũng vẫn còn khả năng thu xếp giải pháp chính trị sau khi ông Thiệu ra đi. Nhưng với điều kiện là VNCH không rút quân. Vẫn cố giữ được Huế và Pleku. Nhưng sau khi thấy VNCH rút 2 quân đòan và tự động tan hàng thì Hà Nội họp hội nghị trung ương đảng quyết định dứt điểm trên mọi mặt trận, không đề cập đến giải pháp chính trị nữa.
4) Tôi đã nghe lại mấy bản nhạc.
Tiếng ca của bà chị Hà Thanh rất xuất sắc
Xin cảm ơn đã chuyển đến.
VVLỘC





QUỐC HẬN 30-4-75 (Vi Anh)




April 8, 2017 10:44 PM

Đã vào tháng Tư, không còn bao lâu nữa là tới Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư, 1975. Quốc Hận là Quốc Hận. Quốc Hận là sự kiện lịch sử Ông Trời cũng không đổi được. Lịch sử sẽ vô ích nếu Con Người không vận dụng, nếu Con Người không nhớ để rút kinh nghiệm, để ôn cố tri tân. Để chống lại kẻ ác, để kẻ ác không thể tái diễn sai lầm tai họa cho quốc gia dân tộc nữa và cho Loài Người nữa. Nhớ và tưởng niệm vì thế là bổn phận của cá nhân và nghĩa vụ của xã hội trong dòng lịch sử, trên phương diện nhân sinh quan và vũ trụ quan.

Nên mạnh dạn dẹp qua một bên những lời khuyên giả đạo đức, thực dụng và lợi dụng, bảo “để quá khứ ra phía sau, hướng về tương lai phía trước”, của những đám tàn dư phản chiến, thiên tả Mỹ, những chánh trị gia thân Cộng thập thò đi đêm với CSVN. Những người CSVN mà Thượng nghị sĩ McCain có lần đi Hà nội đã nói đó là “bọn ác đã thắng” và đang thống trị Việt Nam. Những người CSVN đã từng tuyên truyền dối gạt, dụ dỗ nữ tài tử Jane Fonda ngồi lên và khen cây súng và các “chiến sĩ” của CS Bắc Việt đã bắn phi cơ Mỹ ở Hà nội để chụp hình tuyên truyền chống Mỹ, nhưng sau này hối hận, khóc trước những cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại VN.

Và nhớ Ba Mươi Tháng Tư là Ngày Quốc Hận của quốc gia dân tộc VN, là cơ hội tưởng niệm, là bổn phận của người đi sau nhứt là thế hệ trẻ sanh sau Chiến tranh VN nhớ những người đi trước, nhớ và tìm hiểu những biến cố đã qua để rút kinh nghiệm. Ở Âu Châu, nhơn cơ hội kỷ niệm 60 năm ngày được giải thoát ra khỏi gông cùm Hitler và Đức Quốc Xã, lớp trẻ nhớ 6 triệu người Do Thái đã bị Đức Quốc Xã diệt chủng bằng lò thiêu và bằng nhiều hình thức khủng bố đen, trắng, xám trong Đệ Nhị Thế Chiến. Thảm kịch trần gian ấy được các nước Âu Châu kể cả Đức Quốc chánh thức ghi và đem vào chương trình môn lịch sử bó buộc học ở các trường trung tiểu học – gọi là Holocaust hay Shoah.

Ở Mỹ cũng thế, người Mỹ đem vào chương trình học sử của trung tiểu học để thường xuyên nhắc nhở cuộc Nội Chiến vì lý do nô lệ Da Đen thời Hoa kỳ còn non trẻ, Con Đường Nước Mắt chánh quyền Mỹ cưỡng bức dời cư người Da Đỏ thời Viễn Tây, lập khu tập trung cấm cố người Nhựt thời Thế Chiến 2. Để tuổi trẻ đừng quên – lớp trẻ có bổn phận nhớ vì đó là môn thi ở trường lớp.

Chẳng những giáo dục ở trường lớp mà còn tổ chức du khảo, cho sinh viên học sinh thăm Trại Tập Trung Auschwitz ở Ba Lan, để tận mắt thấy những lò thiêu, thấy những hành động dã man, tàn ác và dối trá mà con người Đức Quốc Xã đối với người Do Thái. Nhiều học sinh, sinh viên nam nữ, đứng chết trân hoặc hét lên kêu Thượng Đế khi thấy hình ảnh hàng ngàn người mẹ Do Thái mình không quần áo, tay bồng con, đứng chờ đi vào chỗ chết mà tưởng đi tắm vì nghe “quản giáo” bảo xếp hàng để đi tắm.

Làm như thế người Âu Châu lẫn người Mỹ chánh yếu muốn thảm cảnh trần gian diệt chủng đừng tái diễn trong hiện tại và tương lai nữa. Làm thế là để giúp cho đàn hậu tiến có những thông tin, những dữ kiện đầy đủ để biết rõ một lãnh tụ độc tài bịnh hoạn như Hitler, một ý thức hệ phi nhân như Đức Quốc xã đã giết người hàng loạt, giết hàng triệu lương dân chết oan uổng. Để từ đó đàn hậu tiến thấy có nhiệm vụ ngăn chận thảm cảnh trần gian, tránh sai lầm của chế độ.

Thì thế hệ trẻ Việt trong ngoài nước, nhất là ở Mỹ có bổn phận phải nhớ. Nhớ phụ huynh mình, gần 300.000 quân dân cán chánh VN Cộng Hòa, do Ủy Ban Quân Quản của CS Hà Nội gọi trình diện “học tập cải tạo” trong vòng một tháng để bị đày đi tù biệt xứ và lao động khổ sai hàng chục năm mà không có xét xử.

Rất cần nhớ một lãnh tụ như Ô. Hồ Chí Minh và một đảng như Đảng CSVN đã gây vô vàn đau thương, tang tóc, máu đổ thịt rơi, mồ hôi nước mắt cho hàng triệu đồng bào Việt suốt nửa thế kỷ. Theo cuốn “Hắc Thư về Cộng sản” của nhà sử học Stephane Courtois, tội ác giết người của Cộng sản Đệ Tam tính ra hàng trăm triệu. Và Ô. Hồ chí Minh trong thành tích diệt chủng Việt, tính ra còn cao hơn Paul Pot, Mao Trạch Đông và Staline cộng lại nữa. 1 triệu người Việt Miền Bắc phải di cư tỵ nạn CS vào Nam năm 1954. Gần 4 triệu tỵ nạn CS ra khỏi nước, trong đó 1 triệu dùng thuyền nan vượt đại dương đến bến bờ và nửa triệu làm mồi cho cá. Cả thế giới bàng hoàng, lương tâm Loài Người chấn động, rụng rời tay chân. Toàn dân Việt rúng động. Thảm kịch này chưa xảy ra lần nào trong lịch sử 4.000 năm của nước nhà VN. Chưa xảy ra suốt ba lần Bắc Thuộc, một lần Pháp Thuộc… Và cũng chưa thấy lần nào trong lịch sử thế giới với qui mô lớn như vậy. CS Nga, Tàu, Đông Âu, Cuba, không có nước nào làm cho dân phải vượt biên tỵ nạn CS đông như vậy.

Lớp trẻ có bổn phận nhớ nếu không có những thân nhân là quân dân cán chính VNCH dẫn theo trên đường tỵ nạn CS và định cư ở Mỹ, thì dù đậu tiến sĩ đôi ba bằng nếu không có gia đình là quân dân cán chính VN, không phải là con cháu HO, con cháu thuyền nhân cũng không thể được định cư ở Mỹ, được hưởng nhiều cơ hội tiến thân trăm lần hơn những bạn đồng trang lứa còn kẹt sống trong chế độ CSVN.

Thế mà gần đây CS Hà Nội và một số nhà chánh trị thiên tả, thực dụng và lợi dụng và một số tài phiệt siêu quốc gia ở Mỹ, lớn tiếng kêu gọi bỏ quá khứ ra phía sau và nhìn tương lai phía trước.

Những người đó vì quyền lợi riêng tư, phe đảng đã giả đạo đức, đã tung hỏa mù. Một mặt để thế hệ trẻ Mỹ Việt xem thảm cảnh diệt chủng của CS ở VN suốt nửa thế kỷ như không có. Mặt khác để chụp mũ “nặng quá khứ nên quá khích” cho những người nhớ bài học lịch sử đau thương nhứt của người Việt.

Lịch sử Âu châu dài hơn lịch sử Mỹ. Người Âu Châu vì thế có nhiều kinh nghiệm đau thương với độc tài dưới mọi hình thức và với ý thức hệ phi nhân hơn người Mỹ. Giáo quyền độc tôn trên thế quyền thời Trung Cổ Đen Tối; Đức Quốc Xã; Cộng sản chủ nghĩa thời cách mạng kỹ nghệ đều xuất phát từ Âu Châu. Nên người Âu Châu chú trọng bài học lịch sử hơn. Người đi trước cảm thấy có nhiệm vụ truyền đạt kinh nghiệm đau thương cho lớp trẻ. Còn lớp trẻ cũng nhận thấy có “bổn phận phải nhớ” (devoir de mémoire) để ngăn chận lịch sử đen tối đừng tái diễn.

Người Việt Nam ở sát nước Tàu một người khổng lồ coi mình là Con Trời, coi các nước xung quanh là nhược tiểu, là man di, hễ có dịp là xâm lăng, thôn tính. Người Việt có kinh nghiệm lịch sử đau khổ còn hơn người Âu Châu nữa. Nên người Việt coi ôn cố tri tân là bổn phận. Kinh nghiệm đau thương nhứt và gần đây nhứt là kinh nghiệm CS.

Do vậy nhiều người lớn tuổi cảm thấy rất ấm lòng khi dầm mưa dãi nắng, chịu nóng, chịu lạnh, tham dự các cuộc biểu tình chống CS.

Ngày Quốc Hận người Việt không tiếc thì giờ và tiền bạc, chuẩn bị cả tháng trước trong việc tổ chức cả một chuỗi sinh hoạt công đồng, đoàn thể, tôn giáo tưởng nhớ Quốc Hận 30 tháng Tư. Không phải mới làm đây, mà làm suốt 42 năm rồi, làm liên tục và còn làm nữa vì đó là tình liên đới của các thế hệ, bài học ôn cố tri tân của con người trong dòng lịch sử.

Vi Anh

----------------------

XEM THÊM

April 10, 2017