Sunday, February 7, 2016

THƯ CHÚC TẾT 2016: TẾT VÌ CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM (Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam)





February 7, 2016

Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,
Kính thưa các cựu tù nhân lương tâm,
Kính thưa gia đình các tù nhân lương tâm.

Người Việt chúng ta đang hướng về cái Tết cổ truyền của Dân tộc. Ai cũng mong muốn những ngày đầu xuân Bính Thân đầy niềm vui sum họp, trọn tình nghĩa gia đình, thắm màu sắc lễ lạc, thỏa hương vị tết nhất và nhất là chan chứa niềm hy vọng trong năm mới cho bản thân, gia đình và cho đất nước.

Thế nhưng trước cảnh suy thoái kinh tế, giảm giá đồng tiền, tràn lan thất nghiệp, nhiều người dân vẫn không chạy đủ miếng cơm thường nhật. Trước cảnh nhiễu nhương chính trị, bất ổn xã hội, bức bách dân tình, nhiều gia đình đang có thân thuộc lãnh phận tù nhân lương tâm. Trước cảnh dân tộc ly tán mọi phương trời vì biến động lịch sử quá khứ, vì tình hình chính trị hiện tại, nhiều con cái Mẹ Việt đang tiếp tục hướng lòng về quê cha và xót xa cho đất tổ.

Là những người từng ở trong lao tù cộng sản vì đấu tranh cho lẽ phải và sự thật, chúng tôi chia sẻ tất cả những tâm tư đó của bà con, cảm thông tất cả những hoàn cảnh đó của đồng bào. Và cũng như bà con đồng bào, chúng tôi hết sức ưu tư về những khủng hoảng và khó khăn mà nước Việt chúng ta đang phải gánh chịu, về những tệ nạn và thảm trạng mà dân Nam chúng ta đang phải lãnh lấy. Nổi bật trong đó là tệ nạn đàn áp những con người đứng lên đòi nhân quyền và công lý, là thảm trạng bao trùm những công dân bị tống ngục tù vì tự do và dân chủ. Hàng trăm tù nhân lương tâm, thân thuộc chúng ta, bạn bè của chúng ta, đang chịu mức tổng án dài cả mấy thế kỷ, đang mòn mỏi trong hàng trăm chốn đọa đày, vì chế độ cai trị vẫn mê muội  tin tưởng chính sách độc tài, vẫn mù quáng sử dụng chủ trương bạo lực.

Giờ đây, trong bầu khí thiêng liêng ngày Tết, bên cạnh việc tưởng nhớ người thân đã khuất, chúng ta cũng tưởng nhớ những người bạn xa vắng. Đặc biệt là những tù nhân lương tâm án dài như mục sư Nguyễn Công Chính, linh mục Nguyễn Văn Lý, đạo trưởng Phan Văn Thu và đạo hữu cùng vụ, doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, nhà báo tự do Ngô Hào, sinh viên Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, kỹ sư Đặng Xuân Diệu, doanh nhân Hồ Đức Hòa, công nhân Đoàn Huy Chương, ký giả Nguyễn Đặng Minh Mẫn, vv… và vv…  

Tình cảnh đau thương của họ và tình thế thương đau của đất nước khiến tất cả chúng ta không thể ngồi yên đứng lặng, nhẫn nhục gánh tai ách độc tài, phó mặc cho thời thế đẩy đưa mà phải cùng nhau giải thoát các chiến sĩ đang hy sinh vì đại cuộc đấu tranh thoát khỏi những nhà tù nhỏ và giải thoát toàn thể đồng bào đang thống khổ vì đại họa cộng sản thoát khỏi nhà tù lớn.

Cụ thể trước mắt, chúng tôi kêu mời tất cả các xã hội dân sự nói riêng và toàn thể đồng bào nói chung vui Tết trong tinh thần tưởng nhớ các các tù nhân lương tâm, thăm viếng các cựu tù nhân lương tâm, biến Tết Bính Thân này thành “TẾT VÌ CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM” để mùa xuân 2016 thêm phần ý nghĩa.

Xin trân trọng kính chào và chân thành cảm ơn tất cả Quý vị.

Việt Nam, ngày 29 tháng 12 ÂL, tức 7/2/2016.  
Đồng Chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm
Bs. Nguyễn Đan Quế,
Lm. Phan Văn Lợi.






SÁU VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÔM NAY (FB Nguyễn Văn Tuấn)






Sáng nay định viết một cái note về một vấn đề thời sự, nhưng thấy bài dưới đây (1) của anh Mạnh Kim hay quá nên cóp về đây để chia sẻ cùng các bạn. Trong bài này, tác giả, bằng một văn phong gãy gọn, nêu lên 5 vấn đề xã hội nóng bỏng nhất và "bức xúc" nhất: ác độc, thù hằn, tham lam, hoang tưởng, và khoe khoang. Trải nghiệm của tôi trong thời gian ở Việt Nam làm cho tôi thêm một vấn đề khác nữa: đó là giả dối.

Thói giả dối ở VN lên ngôi và nó hiện diện hầu như trong tất cả giai tầng. Học sinh nói dối. Người lớn nói dối. Giới khoa bảng cũng nói dối. Càng học cao càng nói dối nhiều. Người làm chính trị đạo đức giả và nói dối. Giới kinh doanh gian dối. Học hành giả dối. Khoa học giả dối. Có thể nói không ngoa rằng xã hội VN hiện nay là một xã hội giả dối.

Một trong những lí do của sự giả dối lên ngôi và ngự trị trong xã hội là sự ngự trị của chủ nghĩa Mác Lê Mao trong đời sống chính trị - xã hội. Cái chủ nghĩa này nó trình bày tương đối có hệ thống về bạo lực, đấu tranh giai cấp, cướp chính quyền, nó dạy cách thống trị cộng đồng. Nhưng cái chủ nghĩa đó không hề dạy về đạo lí xã hội, càng chẳng quan tâm đến đạo lí làm người. Trong khi đó, vai trò của tôn giáo bị cái chủ nghĩa đó vô hiệu hoá. Điều quái đản là người đang nói lời giả dối biết mình giả dối, nhưng họ vẫn nói như là một cái nghề. Từ đó, nó làm cho người ta sống hai mặt: một mặt ở cơ quan thì lên mặt giảng về đạo đức, một mặt ở đời thường thì lên án cái thói đạo đức giả. Hệ quả là một xã hội loạn chuẩn đạo đức, trong đó có giả dối. Trớ trêu thay, có người tự tin nói rằng đây là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc!

Ngày gần Tết mà đọc mấy cái note loại này thì quả là buồn nản. Tôi xin lỗi trước vậy.

===

(1)

5 VẤN ĐỀ XÃ HộI HÔM NAY

- ÁC ĐộC: Chưa bao giờ con người lại ác độc với nhau như vậy. Họ đánh thuốc độc vào thực phẩm. Họ sẵn sàng giết nhau chỉ vì món lợi nhỏ hoặc thậm chí chẳng vì cái gì khi “mâu thuẫn” chỉ xuất hiện sau cái va quẹt. Người lớn đánh nhau ngoài phố. Trẻ em đánh nhau trong học đường. Con cái thậm chí cũng có thể đối xử nghiệt ngã với cha mẹ. Cái ác bay lơ lửng và có thể rơi xuống bất kỳ đâu. Xã hội đã làm hỏng “bộ phanh” đạo đức để chặn lại tâm lý gây ác trước khi nó bước qua ngưỡng của hành vi tội ác.

- THÙ HằN: Tâm tính ác độc đi kèm với thù hằn. Người ta sẵn sàng hằn học nhau chẳng vì cái gì và chẳng vì cái gì thật sự liên quan mình. Tâm lý thù hằn và oán ghét như những hạt mầm gieo thêm cái ác. Sự thù hằn nghiêm trọng nhất là “thù hằn tư tưởng”. Trong một status về tử sĩ Ngụy Văn Thà của tôi, có người còm rằng “Xóm tao cũng chuẩn bị đặt tên Ngụy Văn Thà rồi. Đặt hướng dẫn đường đi vào khu đi ị đó”. Cách nói này cho thấy một sự chất chứa thù hằn và ác độc. Tâm lý thù hằn như vậy đầy dãy. Nó không thể được xóa đi bởi nó vẫn được tích tụ. Đó mới là điều thật sự đáng sợ.

- THAM LAM: Việc hành khách sân bay bị rọc vali là một trong những hiện tượng cho thấy lòng tham không giới hạn đang bùng lên như ngọn lửa thiêu rụi phần liêm sỉ và tự trọng còn rơi rớt lại trong ý thức cá nhân. Lòng tham hiện diện khắp nơi. Tham lam những cái rất nhỏ nhặt. Người ta sẵn sàng ngắt một cành hoa hay chen nhau giành một suất sushi miễn phí. Lòng tham còn đang được “xuất khẩu”. Hiện tượng ăn cắp tại nước ngoài đang trở thành phổ biến. Lòng tham không thể ngừng lại khi môi trường giáo dục đầy sự đố kỵ tham lam. Lòng tham không thể được chặn khi một số cha mẹ dạy con cách giành thức ăn trong bữa buffet. Không thể cản được lòng tham khi xã hội đầy dãy tham nhũng.

- HOANG TƯởNG: Ngày càng có nhiều người hoang tưởng. Hoang tưởng về sự nổi tiếng, về tài năng mình, về trí tuệ mình. Hoang tưởng là một bệnh lý. Tác nhân gây ra nó là thói sùng bái cá nhân. Không đâu dễ thấy hiện tượng này bằng không gian Facebook, nơi người ta có thể đọc những câu còm tâng bốc đại loại: “Đất nước này không thể thiếu anh!”; “Chị là Suu Kyi của Việt Nam”... Người khen không chọn vị trí nhìn để thấy rõ khả năng người mình khen; và người được khen không chọn được vị trí để soi lại bản thân mình. Một xã hội hoang tưởng, chỉ nhìn thấy cái bóng phóng đại, hơn là ảnh thật trong gương, là một xã hội rất không bình thường.

- KHOE KHOANG: Góc tủ giày, phòng quần áo, xe Rolls-Royce…, chúng ta đang thấy thói quen phô bày xênh xang vật chất lên đến tột cùng. Không chỉ vật chất. Người ta còn “selfie” cái gọi là “lao động trí não”. Sản phẩm lao động trí não là điều luôn dễ thấy. Để xã hội đánh giá có lẽ dễ được “cộng điểm” hơn là tự “báo cáo công trình”. Sự chừng mực và khiêm tốn thường nằm trong tư cách và bản chất người trí thức. Sự kính trọng ít khi có được nhờ “selfie”.





ĐÊM GIAO THỪA ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT MỸ (Trần Trung Đạo)






Tôi xuống máy bay ở phi trường Logan, Boston khoảng 10 giờ tối, một ngày cuối tháng 11, 1981 trong cái lạnh se người. Tôi và T., một người tỵ nạn cùng chuyến và nhỏ hơn tôi vài tuổi, nhìn quanh không thấy ai. Chờ khoảng mười phút, chúng tôi tự động lần mò theo lối đi có chữ Exit để ra ngoài.

Bác Tôn Thất Ân làm việc cho Viện Quốc Tế (International Institute of Boston) có nhiệm vụ đón chúng tôi ở phi trường. Ngày đó, người đi đón có thể vào tận cửa nhưng bác ngồi chờ ở trạm lấy hành lý vì nghĩ thế nào chúng tôi cũng ra đó trước.

Tôi không có hành lý gì cả ngoài một túi nhỏ cầm trên tay, trong đó chứa vài bộ áo quần và những giấy tờ cần thiết. T. cũng thế. Bác thấy chúng tôi nên rời khỏi ghế bước lại gần. Bác Ân không lạnh lùng nhưng cũng không quá miềm nở. Bác làm việc đón đưa mỗi ngày theo phận sự một nhân viên có lương chứ không phải đón mừng một thân nhân từ bên kia trái địa cầu vừa đến.

T. có bà con ở Boston còn tôi đến một mình. Lát nữa, bác Ân sẽ đưa T. đến nhà bà con của chú ấy, và sau đó sẽ mang tôi đến nơi tạm trú đầu tiên trong hành trình tỵ nạn còn mờ mịt và chông gai của mình. Sau này gần gũi bác nhiều hơn, tôi biết bác Ân rất bao dung, rộng lượng và đầy tình nhân ái nhưng tính tình hơi nghiêm nghị. Tôi gặp lại bác Ân nhiều lần khi bác còn ở Boston và luôn nghĩ đến bác như một người ơn lớn của mình.

Cuối tháng 11, trời Boston khá lạnh. Với một người đến từ vùng nhiệt đới và cô đơn như tôi càng cảm thấy lạnh hơn nhiều.

Nhớ lại vài giờ trước đó, người đón chúng tôi ở phi trường Chicago là một cô gái Việt làm cho cơ quan thiện nguyện. Người con gái Huế có đôi mắt đẹp và giọng nói ngọt ngào, phát cho mỗi người trong đoàn chúng tôi một chiếc áo ấm. Tôi nhỏ con nên muốn một chiếc áo cỡ nhỏ. Người đẹp nhìn tôi như thương hại cho thân hình ốm yếu nhưng lắc đầu và chỉ vào thùng áo cùng một cỡ như nhau.

Nếu ở trường Luật Sài Gòn, tôi đã cám ơn đôi mắt ấy một bài thơ tả tình đầy sáo ngữ nhưng ở Chicago hồn thơ cũng đã lạnh cóng như mặt hồ Michigan gần đó. Từ Chicago, đoàn tỵ nạn từ Philippine chia tay nhau lên máy bay nội địa đi về nhiều ngã. Bầy chim xa mẹ vốn lẻ loi lại càng lẻ loi hơn.

Bác Ân lái xe đưa chúng tôi ra khỏi phi trường nhưng không đến thẳng khu nhà chúng tôi ở. Bác bảo phải ghé lại Viện Quốc Tế trên đường Commonwealth trước cho biết chỗ vì kể từ ngày mai chúng tôi sẽ phải đến đó nhận tiền ăn cho đến khi được cấp welfare (một loại tiền trợ cấp của chính phủ dành cho người nghèo khó), và cũng luôn tiện lấy thêm đồ dùng. Bác lấy một chiếc nệm mỏng và bảo đó sẽ là của tôi.

Bác đưa T. về với bà con của chú ấy trước sau đó đưa tôi đến khu nhà số 15 đường Park Vale ở Allston, cách Boston chừng 10 dặm. Khi đó căn nhà đã có nhiều người ở trước. Tôi nhập chung với một số người ở tầng hai. Tầng ba cũng có vài gia đình người Việt trong đó có gia đình anh chị Liêm mà tôi vừa gặp lại ở Atlanta đầu năm nay sau hơn ba mươi năm xa cách. Tôi rất mừng khi gặp lai anh chị. Ngày xưa chúng tôi ở chung một khu nhà nhưng ít có dịp chuyện trò vì đời sống quá tất bật khó khăn. Bây giờ khi bước qua rồi và nhìn lại chúng tôi mới thấy quý khoảng không gian và thời gian chung sống.

Tôi đến sau và được xếp nằm gần cửa sổ nhưng chắc không phải là một ưu tiên. Nằm gần cửa kính thường lạnh hơn và gió lọt vào. Sau này mới có giường nhưng mấy tháng đầu ai cũng nằm dưới sàn gỗ. Cảm giác bất an tràn ngập kín trong lòng. Tất cả đều xa lạ. Từ những người chung quanh đến cảnh vật mùa đông, không ai và không có một ngoại cảnh nào có thể gọi là cảm thông, chia sẻ với mình.

Đúng như lời cô gái Việt ở Chicago cảnh cáo, Boston chào đón tôi bằng những cơn bão tuyết triền miên suốt mùa đông đầu rét buốt. Đêm giao thừa của ngày Tết Việt Nam đầu tiên trên nước Mỹ không có bánh chưng xanh, không có rượu nồng pháo nổ, không một lời chúc tụng ngoại trừ âm hưởng của những bông tuyết trắng bị gió đùa vào cửa sổ.

Tôi đã băng qua nhiều ngọn núi trong đời mình nhưng những năm đầu trên đất Mỹ là ngọn núi cao nhất. Tôi phải vượt qua, nếu không, tất cả các thành tựu trong quá khứ sẽ trở thành vô nghĩa.

Đúng giao thừa, người anh lớn tuổi nhất trong nhà đang cặm cụi sửa soạn một bàn thờ nhỏ trong phòng khách để cúng ông bà. Bàn thờ đơn giản, chỉ một lon hương, hai cây đèn, một nải chuối và một bình hoa.

Thấy anh chuẩn bị cúng, tôi và những người ở cùng nhà ra khỏi phòng, nghiêm trang đứng sau lưng anh. Anh khấn vái xong, chúng tôi, những kẻ không họ hàng, thân thuộc gì với nhau, cũng lần lượt mỗi người thắp một cây hương, cúi đầu vái ba vái. Không biết vái về đâu và cũng không biết từ phương Đông xa xôi, tổ tiên ông bà có nghe được lời cầu nguyện của những đứa con đang lạc loài trên đất khách. Không có tiếng khóc trong đêm giao thừa đầu tiên nhưng lòng ai cũng nặng trĩu ngậm ngùi.

Không nói ra, nhưng hình như người nào cũng sợ phải đối diện với nỗi cô đơn, lạc lõng trong đêm giao thừa. Chúng tôi, thay vì về lại phòng mình, ngồi quây quần nhau chung quanh chiếc bàn dài. Vài đĩa cánh gà chiên. Vài lon bia. Một bình trà. Những bầu tâm sự. Mẹ già. Người yêu. Bè bạn. Những câu chuyện vượt biên hồi hộp và gian khổ.

Có một điều không ai trong chúng tôi đã hối tiếc việc ra đi. Chúng tôi kể lại cho nhau nghe chặng đường nguy hiểm của mình một cách hảnh diện. Thành quả dù lớn hay nhỏ cũng đều có giá và tự do thường phải trả giá đắt nhất, đôi khi bằng chính mạng sống của con người.
Năm 2010, nhân ngày 30 tháng 4 đài VOA có phỏng vấn tôi lý do ra đi và tôi trả lời, bởi vì “Quê hương Việt Nam sau 30-4-1975 là quê hương để nhớ để thương chứ không phải để sống”.

Và như thế, tôi đón cái Tết đầu tiên với những người xa lạ nhưng vô cùng cần thiết trong đời sống mới, những người đã gọi nhau là đồng hương và tôi cũng được hưởng thêm một tình cảm mới mà chúng tôi gọi là tình đồng hương. Giống như một gia đình, lắm khi vui và cũng có khi buồn nhưng từ những bước đầu khó khăn, nhỏ nhoi và vui buồn đó, cộng đồng Việt Nam đã được sinh ra và lớn lên vững mạnh đến hôm nay.

Trần Trung Đạo

(Ảnh chụp khi hạ cánh xuống phi trường Boston trong một chiều đầu đông)


-------------------------



Ai có về bên kia đất nước
Thở dùm tôi hơi ấm quê hương
Tôi, con én lạc mùa xuân trước
Vẫn khóc âm thầm nơi viễn phương.
……

Xuân Đất Khách, Thơ Trần Trung Đạo, nhạc Võ Tá Hân, ca sĩ Hoàng Quân