Monday, June 26, 2017

TỔNG BÍ THƯ PHẢI CẨN THẬN VỚI ĐÀN BÀ (Thuận Văn - Tiền Vệ)




20.06.2017

“Mọi sự đổ bể trên đời đều là do đàn bà mà ra”, có lẽ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nên ghi tâm cái nhận định tưởng chỉ để bông đùa của đám dân chơi vẫn thường tùng tam tụ ngũ gầy sòng xì phé ở mấy quán cóc, lê la tán gẫu ở vỉa hè hay gân cổ hò hét theo từng ngón kim kê cước trong mấy tụ điểm đá gà bất hợp pháp.

Nhận định nhuốm màu cay đắng của ẩn ức thất bại đường đời này, nếu không phải là sự đùa chơi thì, chắc hẳn, là cốt cách kẻ cả của đám đực rựa chẳng có chỗ nào để trút bỏ sân hận trừ những bà vợ cam phận của mình, cứ hư sự, cứ thua thiệt là trút đổ trách nhiệm lên đầu họ. Nhưng không phải là đám đàn ông chỉ giỏi lên giọng tài khôn trong xó bếp này không có sở cứ. Từ Hải bị chết đứng giữa trận tiền là do ai nếu không phải là do Thúy Kiều, cô ả hoàn toàn ngốc nghếch về chính trị nhưng lại xía mồm vào việc quân cơ? Nếu Thúy Kiều chỉ là một nhân vật hư cấu thì lịch sử đã cho chúng ta thấy biết bao nhiêu ả đàn bà tương tự khi triều đại này tiếp nối triều đại kia sụp đổ theo những chu kỳ hưng phế ở đó sự suy vong nào cũng thấp thoáng bóng dáng của mấy ả. Mà không chỉ sự thay đổi một triều đại đơn thuần. Có ả, như Bao Tự, đã làm xoay chuyển cả dòng chảy lịch sử bởi không chỉ làm tan nát cơ đồ nhà Chu mà còn khiến Trung Quốc chuyển hướng, tiến đến kết thúc hình thái phong kiến và thay thế bằng phương thức quân chủ tập quyền khi Tần Thủy Hoàng gom hết các chư hầu về một mối. Xem ra, trong khía cạnh này, ái thiếp của U Vương đã góp phần thúc đẩy Trung Quốc đi trước Âu châu đến hơn 20 thế kỷ.

Nếu Trung Quốc có những ả đàn bà như Bao Tự, Tây Thi, Điêu Thuyền hay Dương Quý Phi thì Việt Nam có Cù Thái Hậu, Đặng Thị Huệ và cả… Trần Thị Lệ Xuân nữa. Tai hoạ ập xuống đầu dòng họ Ngô Đình cái ào trong một sớm một chiều là do ai nếu không phải là do cái miệng của cô con dâu bất kham này? Mà đâu chỉ là tai hoạ của chỉ một dòng họ khi sự sụp đổ ấy kéo theo sự bất ổn với hàng loạt cuộc đảo chính nối tiếp nhau như cơm bữa, góp phần thúc đẩy cho sự chuyển hướng của lịch sử 12 năm sau đó. Và, thậm chí, cả đàn bà cũng còn sa vào cảnh trớ trêu, hư bột hư đường vì… đàn bà với nhau, như bà Hillary Clinton trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua. Trong những ngày gay cấn trước khi cử tri bước đến phòng bỏ phiếu thì, bên nhiều chuyện để lao đao, bà ta còn lao đao không ít vì vụ email liên lạc với chồng của cô phụ tá tín cẩn Huma Abedin, rồi còn cả đám cưới của Chelsea Clinton, khi cô con gái rượu này bị cáo buộc dùng quỹ từ thiện chi cho cái ngày trọng đại nhất của đời mình.

“Kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”, xưa Hưng Đạo Vương đã nhắc nhở như thế trong “Hịch tướng sĩ”. Là người cẩn tắc, áy náy cái nguy cơ “vỡ lọ” dù không ngừng hô hào ném “chuột tham nhũng”, Tổng bí thư càng phải “kiềng”, phải cẩn trọng hơn nữa,
Cụ thể và mới nhất là hai ả đàn bà với những phát ngôn xanh rờn trong các phiên họp quốc hội mới đây. Một ả, Nguyễn Thị Thủy - Tiến sĩ Luật, Uỷ viên Thường trực Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội - diễn tả những kẻ ngang nhiên xâm phạm đến “an ninh quốc gia” như là thứ hạng “bất trung, đại nghịch”, phải trừng phạt với biện pháp mạnh nhất, nói hơi quá là tống lên “đoạn đầu đài”.[1] Một ả, Nguyễn Thị Xuân, đại biểu tỉnh Dak Lak, công an nhà nòi, cũng thuật lại với ngôn ngữ hơi quá, thì đòi “chém” những kẻ dám bôi nhọ lãnh tụ và đẩy xã hội rơi vào trạng thái dao động, “hoang mang”.[2] Nghe qua thì tưởng là hai ả đang sốt sắng lập công, đang sốt sắng đóng vai công thần đắc lực, đang ra sức bảo vệ đảng, bảo vệ sổ hưu của hàng triệu đảng viên, nhưng thực tế thì chưa chắc có thể đạt tới những mục tiêu như vậy mà còn gây ra tác dụng ngược. Như là một “tiến sĩ xây dựng đảng”, có thời đã là “Chủ tịch hội đồng lý luận trung ương”, Tổng bí thư phải thể hiện tầm nhìn xa hơn, ít ra là xa hơn chóp mũi của hai ả đàn bà kia, bằng không thì cái ngày “vỡ lọ” hằng lo lắng ấy sẽ đến.

Nhất định ngày ấy sẽ đến nếu Tổng bí thư khoanh tay để hai ả tác oai tác quái. Để hai ả múa mép mãi với cái giọng điệu này thì tất sẽ đến lúc xã hội bừng tỉnh khi khai triển và mổ xẻ hai khái niệm “xâm phạm an ninh quốc gia” và “bôi nhọ” kia đến mức tận cùng.

Tổng bí thư hãy cố động não, cố vượt qua cái khuôn mẫu của “tư duy tổng kết” hay “đánh giá tình hình chung” ngàn lần như một thử xem! Hạng “nhân dân” tầm thường thì làm gì có khả năng làm chuyện chọc trời khuấy nước? Chúng ta dễ dàng miệt thị ai đó là “quân bán nước” nhưng đâu phải dễ, đâu phải bạ ai cũng có thể mang nước ra mà… bán? Hãy gặp những người dân bình thường – tỷ như một ông cụ hom hem bán vé số dạo, một chủ tiệm thịt, một cô ca ve mặt mày nhợt nhạt son phấn trong một vũ trường ế khách, một giáo viên trung học hay một ngư dân đang biểu tình đòi quyền lợi sau vụ biển nhiễm độc v.v... – để thách họ “bán nước” thử xem? Nhất định họ sẽ lắc đầu chào thua. Nhất định họ sẽ quầy quậy vái chào vì hành vi đó không thuộc về cái “tầm” của họ. Cả chuyện “bôi nhọ” cũng vậy. Vạn nhất, có bất mãn hay phẫn uất thì, bất quá, đám dân đen ấy chỉ chửi đổng là cùng, chửi bằng vài câu trong bàn nhậu hay chửi bằng những dòng nhắn trên facebook, xa lắm thì căng cái khẩu hiệu đòi lại những quyền lợi hoàn toàn chính đáng của mình. Toán học, hay khoa học nói chung, đã không thể phát triển đến trình độ ngày hôm nay nếu các nhà toán học mải bận tâm, không chịu bỏ qua những sai số lắt nhắt. Nhà cầm quyền cũng vậy, họ không thể nào đưa đất nước tiến lên nở mày nở mặt với năm châu nếu chăm chăm bắt bẻ những lối phê bình chỉ trích kiểu ấy của nhân dân. Tội “bôi nhọ”, như thế, hiểu như một đại tội, phải là tội của quan to, những kẻ mà cơ chế chính trị giúp họ tạo ra một tầm ảnh hưởng rộng lớn. Và tội bán nước, như đã bàn, cũng phải là tội của quan to, những kẻ mà cơ chế chính trị đã đặt họ ở một vị trí trọng yếu.

Vị trí đó, tầm ảnh hưởng đó đang thuộc về ai nếu không phải là tổng bí thư, là chủ tịch, là thủ tướng, là những đại tướng và thượng tướng, những bộ trưởng, cục trưởng, và ít nhất cũng là những ông tỉnh trưởng trong chức danh “bí thư tỉnh ủy”. Tóm lại là những đảng viên với phẩm hàm cao cấp được chọn lọc trong một tổ chức gọi là Trung ương Đảng.

Ả Thủy lo lắng về “an ninh quốc gia” nhưng trên thực tế những giềng mối an ninh của tổ quốc đã bị xâm phạm nghiêm trọng, phải nói là cực kỳ, cực kỳ nghiêm trọng. Các cánh rừng, các vị thế chiến lược từ Bắc đến Nam lọt hết vào tay Trung Quốc, còn cả ngàn cả vạn nhân công Trung Quốc tràn ngập. Trung Quốc, thậm chí, còn thò chân vào đến tận Tây Nguyên, địa bàn chiến lược dược xem là “nóc nhà Đông Dương”, nơi mà kẻ nào làm chủ sẽ làm chủ toàn cõi Đông Dương chứ đừng nói chỉ một nước Việt Nam. Trung Quốc đã thò chân vào vùng đất với dự án khai thác Bauxit đang gây ô nhiễm và lỗ lã không cùng và thủ phạm là ai nếu không phải một bọn “bất trung”, “đại nghịch” theo ngôn ngữ của chính ả ta?

Nói cho gọn thì đó là tội “phản quốc”, cái tội mà chỉ những đảng viên với phẩm hàm cao cấp mới có đủ “tầm” để vi phạm.

Đầu sổ, tính vào việc xâm hại an ninh quốc gia tại đây đã thấy ngay bóng dáng của Nông Đức Mạnh, nguyên là Tổng bí thư, và Nguyễn Tấn Dũng, nguyên là Thủ tướng. Mà rõ ràng, cả hai, Mạnh và Dũng, cũng biết rõ là mình đang phản quốc nên mới thậm thò, thậm thụt y như hai tên ăn trộm.

Dự án ấy được công khai hoá một cách chính thức vào tháng Hai năm 2009 với một cuộc “hội thảo khoa học” mang tên “Vai trò của công nghiệp khai thác bauxite - sản xuất alumina - nhôm đối với phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên và những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, văn hoá khu vực” do Bộ Công Thương tổ chức. Và đúng ngay lúc ấy, Bộ Ngoại Giao mới rón rén công bố trên trang web của mình “Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc” do Nông Đức Mạnh và Hồ Cẩm Đào đã ký vào ngày 2 tháng Sáu năm 2008, nghĩa là trước đó gần một năm. Thông báo chung của hai lãnh tụ hai nước mà bị bỏ quên, xếp trong tàng thư của chính phủ suốt gần một năm, hẳn là Mạnh, dẫu kém thông minh, cũng biết chắc là mình đã làm trò bán nước!

Không chỉ một mình Mạnh, cả Dũng cũng đã đích thân thú nhận vai trò tập thể trong cái trò bán nước thậm thụt này. Ngày 4 tháng Hai năm 2009, trước cuộc “hội thảo khoa học” trên, đích thân Dũng đã chặn họng một phóng viên khi “cả vú lấp miệng em” rằng đó là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”, rằng nó đã được “nêu trong nghị quyết đại hội X của Đảng”, rằng “Bộ Chính trị đã ba lần nghe, kết luận về phát triển bôxit Tây Nguyên.”

Như thế, có nghĩa là cả đám, cả cái “Bộ Chính trị” lúc ấy, gọi là “Bộ chính trị khoá 10”, trong đó có cả Tổng bí thư hiện tại, lúc ấy còn là Chủ tịch Quốc hội. Bộ Chính trị hiện tại có nhiều khuôn mặt mới tuy nhiên cả những khuôn mặt mới ấy cũng là những tội đồ phản quốc không hơn, không kém!

Thí dụ như Hải, tên đầy đủ là Hoàng Trung Hải. Phải đến năm 2016 Hải mới lọt vào cơ cấu quyền lực này nhưng trong cuộc họp ngày 9 tháng Tư năm 2009, khi Bộ Công Thương công bố bản “thông cáo báo chí” về cuộc “hội thảo khoa học” nói trên, đích thân Hải – trong vai trò Phó Thủ tướng – đã ra mặt “chỉ đạo” với sự tham gia của đại diện Trung Quốc và nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng.

Hoàng thì bây giờ đang lơ láo trong thân phận của một “đồng chí đã bị lộ” nhưng, dẫu sao, y chỉ mới “bị lộ” tội “lạm dụng chức vụ” và “buông lỏng quản lý”. Nhưng Hoàng, rồi Tổng bí thư, và cựu Tổng bí thư, cựu Thủ tướng Dũng, rồi cả Hải, hiện là Bí thư Thành ủy Hà Nội v.v... lại đang đối mặt với tội danh còn đáng tởm hơn nhiêu, cái tội “bất trung” và “đại nghịch” mà ả Thủy đang xoen xoét trên diễn đàn quốc hội.

Theo ả, Hiến pháp đã quy định rằng “phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất” thì người luật sư phải có trách nhiệm tố giác khi phát hiện thân chủ của mình phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia. Không tố giác có nghĩa là ém nhẹm và, với những thông tin đã thấy ở trên thì, từ Mạnh đến Dũng, Hải, cả Bộ Chính trị, Cả Bộ Ngoại giao, cả bộ máy tuyên giáo v.v... đã cố tình ém nhẹm cái thoả thuận xâm phạm an ninh quốc gia mà Mạnh đã ký với Đào trong suốt gần một năm trời.

Nhưng Thủy chỉ là một, còn Xuân, Đại tá Phó giám đốc Công an tỉnh Daklak, kẻ đòi “bổ sung quy định để ngăn chặn có hiệu quả” những hành vi “gây mất uy tín của lãnh đạo cấp cao” và “gây hoang mang trong xã hội”. Tổng bí thư càng phải “kiềng”, phải cẩn trọng hơn với cô ả công an nhà nòi này.

Đại tá công an mà hô hào “ngăn chặn có hiệu quả” thì phải biết cái sự “hiệu quả” này sắt máu đến nhường nào. Nhưng trong thời đại hôm nay, sau các sự kiện như Mùa Xuân Ả Rập, Tổng bí thư càng phải cẩn trọng với những trò sắt máu. Nếu đề nghị này trở thành một “hiện thực pháp chế” thì hậu quả nhãn tiền là hệ thống chính trị Tổng bí thư sẽ lơ láo thân phận của một thứ con nợ, nghĩa đen và nghĩa bóng.

Nếu nợ nghĩa đen ngụ ý chuyện tài chính thì vượt qua khía cạnh kim tiền này, hệ thống cai trị của Tổng bí thư, như một con nợ của dân tộc, còn mắc những món nợ chính trị không thể nào trả nổi.

Trước hết hãy nói đến nợ tài chính. Hiện tại, công nợ đã đầm đìa đến mức “thiếu an toàn” và năm ngoái, theo thú nhận của nhà nước, đi vay 20 tỷ đô la nhưng phải xuất hết 12 tỷ đô la để trả lãi từ món nợ cũ.[3] Nợ nần thì như thế mà còn phải vun vén hết tỷ đồng này đến tỷ đồng kia để bồi thường cho những công dân bị kết án oan, nào là Hàn Đức Long, nào là Huỳnh Văn Nén, Trần Văn Thêm, Nguyễn Thanh Chấn v.v... Họ là những công dân bị kết tội oan và nay họ đã được giải oan. Nhưng, như đã thấy ở trên, những đảng viên với phẩm hàm cao cấp nhất chỉ là một tập hợp dị thường của những đồng chí “chưa bị lộ”, sau khi đào thải hạng đồng chí “đã bị lộ”. “Bị lộ” như Trịnh Xuân Thanh, đang trốn như chuột hay bị lộ như Vũ Huy Hoàng, bị tước hết đặc quyền. Kết án rồi trừng phạt một công dân thật nặng vì tội “bôi nhọ lãnh đạo” thì cũng được thôi nhưng ngộ nhỡ, mai này, những nhà lãnh đạo bị “bôi nhọ” ấy lộ nguyên hình với khuôn mặt nhem nhuốc như Đinh La Thăng hay Vũ Huy Hoàng thì sao?

Thì phải bồi thường cho những công dân đã bị kết tội ấy. Thì phải vun vén hết tỷ này đến tỷ kia và hậu quả là hệ thống chính trị sẽ bị lún sâu trong cái hố nợ nần.

Nhưng quan trọng hơn là nợ chính trị. Về lý, thì những kẻ “gây mất uy tín lãnh đạo cấp cao” và “gây hoang mang trong xã hội” đều đáng trừng trị thật. Nhưng về lý và về cả tình, thì cái hệ thống cầm quyền và những thế hệ lãnh đạo đã nối tiếp nhau “bôi nhọ” uy tín của dân tộc, “bôi nhọ” thanh danh của đất nước và làm xã hội hoang mang suốt từ thập niên này đến thập niên khác thì sao?

Đó là hệ thống cai trị điều hành đất như dự một canh bạc, từ việc áp đặt mô hình kinh tế Stalinist, từ việc áp đặt công cuộc đấu tranh giai cấp kiểu Maoist cho đến việc mở cửa – toàn cầu hoá theo lối chợ Trời chụp giựt. Từ Bauxite Tây Nguyên đến Formosa ở Hà Tỉnh, họ hành động đơn giản, ngây ngô và liều lĩnh y như những con bạc say máu trên các tụ điểm đá gà hay các sòng xì phé tự phát ở quán cóc. Và nếu hạn dân chơi quán cóc chẳng có ai để trút bỏ sân hận trừ những người vợ cam phận trong xó bếp của mình thì cái hệ thống cầm quyền khôn nhà dại chợ này cũng chẳng khá hơn. Nó nhũn nhặn và lịch sự với “thế lực thù địch” hằng ức hiếp mình như “bạn bè hữu nghị” nhưng ngạo mạn và tàn độc đối mấy chục triệu người dân cam chịu. Và khi người dân thể hiệu những dấu hiệu sẽ không còn cam chịu nữa thì nó, như đã thấy sau vụ hư sự Formosa, lại sẵn sàng đồng hoá nhân dân, đẩy người dân về cùng một phía với con ngáo ộp “thế lực thù địch”.

Đất nước đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và dân tộc đã từng cam chịu những ông vua bất tài và thối nát, nhưng có lẽ chưa bao giờ người dân nước Việt Nam hoang mang như đang hoang mang với cái chính quyền này. Hoang mang vì một tương lai bấp bênh. Hoang mang với một môi trường sống và môi trường giáo dục đầy độc hại. Hoang mang vì một xã hội mât phương hướng ở đó những giá trị đạo lý đã bị đảo lộn. Chưa ai thử tiến hành một cuộc điều tra xã hội học nhưng có lẽ mơ ước lớn nhất của người Việt Nam lúc này là… thôi làm người Việt, là xoay xở bằng cách này hay cách kia để rời bỏ đất nước của mình và trở thành công dân một nước khác.

Đẩy đất nước đến tình trạng tệ hại này thì đảng của Tổng bí thư là gì nếu không phải là một thứ con nợ của tổ quốc, của dân tộc? Gây nợ thì phải trả nợ, và đó là lý do mà Tổng bí thư cần phải cẩn trọng.

Bôi nhọ giới lãnh đạo thì phải trị, xâm phạm an ninh quốc gia thì phải trị. Nhưng đám phản quốc đang làm nhục đất nước, làm nhục dân tộc và đang biến đất nước thành con nợ thì sao?

Hai ả đại biểu sắt máu trên tưởng là mình bồi đắp cái thành đồng bảo vệ cho đảng mà thực chất lại đào bới cái nền móng làm chỗ dựa của đảng. Cứ đẩy đến mức tận cùng những gì hai ả nêu ra, đảng của Tổng bí thư sẽ lộ nguyên hình là một đảng bất trung, một đảng đại nghịch, đã làm rệu rã và bôi nhọ đất nước mà các vua Hùng đã có công dựng lên, các đấng anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung đã đổ máu ra gìn giữ.

Những kẻ không ưa Tổng bí thư, đừng sỉ vả hai nữ đại biểu ấy nữa, hãy cám ơn hai ả là đằng khác. Như là Bao Tự, như là Lệ Xuân, không chừng cái miệng của hai ả sẽ góp phần thay đổi hẳn dòng chảy của lịch sử bởi người dân đã chán cái chế độ này lắm rồi, chỉ cần ai đó phát động, khơi mào.

Nhưng còn Tổng bí thư? Ai cũng biết Tổng bí thư là người cẩn tắc, nhưng nếu muốn chứng tỏ mình là người thông minh, thông minh trong sự cẩn tắc, Tổng bí thư phải ra lệnh khoá cái mồm vô hậu của hai ả kia lại chứ?

---------------
Tham khảo:

[1] “Luật sư tố giác thân chủ: "Tôi phát biểu vì lợi ích của quốc gia””

[2] “Đề xuất xử lý hình sự tội bôi nhọ lãnh đạo cấp cao”

[3] “Trả nợ 12 tỷ USD, Chính phủ tính vay thêm 20 tỷ”







CUỘC HỌP VIỆT - TRUNG BỊ HỦY BỎ LÀM NỔI BẬT ẢO TƯỞNG VỀ SỰ BÌNH YÊN Ở BIỂN ĐÔNG (Prashanth Parameswaran - The Diplomat)




Prashanth Parameswaran  -  The Diplomat  
Phạm Nguyên Trường dịch
26-6-2017

Sự cố là lời cảnh báo rằng, mặc dù có những nỗ lực nhằm giảm nhiệt, căng thẳng có thể leo thang một cách nhanh chóng.

Hôm thứ Năm, xuất hiện thông tin nói rằng cuộc họp giữa Bộ quốc phòng Trung Quốc và Việt Nam đã bất ngờ bị hủy bỏ - người ta nói là do những bất đồng về Biển Đông chứ không phải những vấn đề hậu cần như Bộ quốc phòng Trung Quốc tuyên bố. Nếu đúng, thì đây cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì trước đó đã từng có những vụ xung đột quân sự giữa Bắc Kinh và Hà Nội. Nhưng rộng hơn, nó là lời cảnh báo đối với cộng đồng quốc tế rằng, mặc dù Trung Quốc tìm cách hạ thấp ý nghĩa của những vấn đề ở Biển Đông, hành động của Bắc Kinh có thể làm cho căng thẳng leo thang một cách nhanh chóng, vì bất kỳ lý do nào đó.

Sự cố xảy ra khi Trung Quốc và Việt Nam tổ chức chương trình gặp gỡ hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ tư, dự kiến
được tổ chức ở cả hai nước trong các ngày 20-22 tháng 6. Mặc dù công việc chuẩn bị đã được tiến hành theo đúng kế hoạch, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Phạm Trường Long (Fan Changlong), đã gặp các quan chức cao cấp của Việt Nam và hai bên đã nói về những tiến bộ trong thời gian gần đây, như thỏa thuận về đào tạo đã được kí kết; ngày 21 tháng 6, Bộ Quốc phòng Trung Quốc tuyên bố với các phương tiện truyền thông nhà nước rằng Phạm cắt ngắn chuyến thăm và Bắc Kinh quyết định hủy bỏ cuộc họp do “lịch làm việc”. Các hãng tin khác nhanh chóng suy đoán rằng, đây có thể là do những bất đồng về Biển Đông.

Nếu đúng như thế thì đây cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên. Xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Biển Đông không phải là mới. Trong số bốn nước ở Đông Nam Á đòi chủ quyền ở Biển Đông - Brunei, Malaysia, Philippines - Việt Nam là nước tranh cãi lâu nhất và cũng là nước bị Trung Quốc áp lực mạnh nhất, quân đội Trung Quốc mới giành được quyền kiểm soát Hoàng Sa từ tay Hà Nội vào năm 1974. Đối với Việt Nam, những tranh chấp này chỉ là một phần của vấn đề quan hệ với lân bang khổng lồ phương Bắc đã kéo dài suốt nhiều thế kỷ. Trung Quốc đã chiếm đóng Việt Nam trong suốt gần 1.000 năm, từ thế kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ X sau Công nguyên.

Trong suốt nhiều năm, Việt Nam đã trở thành nước có tiềm lực quân sự mạnh nhất trong bốn nước đòi chủ quyền ở Biển Đông, có chân trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và cùng với Philippines (cho đến gần đây), có xu hướng là những nước trong khu vực lên tiếng mạnh mẽ nhất về vấn đề này. Mặc dù người ta cảm nhận được quyết tâm của Trung Quốc, ví dụ gần đây: Bắc Kinh quyết định đặt giàn khoan dầu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) vào mùa hè năm 2014 đã gây ra cuộc khủng hoảng trong quan hệ giữa hai nước. Tuy nhiên, hai bên vẫn tiếp tục tiến hành một số biện pháp nhằm xây dựng lòng tin, trong đó có lĩnh vực quốc phòng thủ, cuộc gặp gỡ quốc phòng hàng năm trên khu vực biên giới.

Cuộc xung đột này có thể là kết quả của những căng thẳng đã được kiềm chế, nhưng cuối cùng cũng đã bùng nổ. Quan điểm về Biển Đông của Philippines dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte không còn vững mạnh như trước, thực chất, Việt Nam đã trở thành nước duy nhất ở Đông Nam Á tham gia vào những vụ tranh chấp này. Điều này, đương nhiên làm cho Hà Nội cảm nhận đựôc tầm quan trọng của việc tăng cường quan hệ với những nước như Mỹ và Nhật Bản, và đấy là những việc mà nước này đang làm, mặc dù các quan chức của Việt Nam đã tiếp tục điều chỉnh một cách cẩn thận với những cam kết với Trung Quốc.

Nhưng đối với Trung Quốc - đang tìm cách tận dụng sự suy giảm động lực của ASEAN đối với vấn đề Biển Đông, cũng như cảm nhận của họ về nước Mỹ đang bị phân tâm - đây là thời điểm thuận lợi cho việc gây sức ép lên từng nước riêng lẻ - dù đấy có là Việt Nam, một trong những nước đòi chủ quyền hay Singapore, quốc gia đang đóng vai trò điều phối viên trong quan hệ ASEAN - Trung Quốc - về những họat động cụ thể và những liên kết đang có dưới chiêu bài giảm căng thẳng. Các quan chức ASEAN nói rằng đó chính là những việc mà một số quan chức Trung Quốc đang làm, thậm chí các quan chức Trung Quốc còn cảnh báo họ về cái gọi là “những hành động không có tính xây dựng”. Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam, nói với đài Á Châu Tự do rằng, Trung Quốc cũng áp lực Việt Nam, đòi Việt Nam ngưng hoạt động thăm dò dầu khi trong Bãi Tư Chính (Vanguard Bank).

Những quan điểm trái ngược nhau giữa Bắc Kinh và Hà Nội chắc chắn sẽ dẫn tới xung đột. Thayer nhận xét rằng, nếu không được xử lý một cách đúng đắn, căng thẳng có thể bùng phát, việc Trung Quốc đang triển khai tàu chiến và máy bay tới khu vực làm gia tăng khả năng xảy ra đụng độ quân sự. Nhưng rộng hơn nữa, đối với phần còn lại của cộng đồng quốc tế, sự kiện này là lời cảnh báo khác rằng, mặc cho những nỗ lực của Trung Quốc nhằm làm giảm nhẹ vấn đề Biển Đông, chính những hành động mà Bắc Kinh đang làm nhằm đưa tình trạng xuống thang lại làm cho nó leo thang sớm hơn là người ta nghĩ.

Điều này cũng phù hợp với cách hành xử thô bạo hơn ở Biển Đông của Trung Quốc, mà tôi từng gọi là “sự quyết đoán ngày càng gia tăng”, với những hành động quyến rũ hay tín hiệu về gió yên biển lặng được Bắc Kinh phát ra, rồi sau đó là một đợt áp lực mới. Trong bối cảnh quan hệ Trung-Việt như thế, cần nhớ rằng chỉ bảy tháng sau khi tung ra chiến lược mới đối với quan hệ ASEAN-Trung Quốc, như là một phần của cuộc tấn công vào lòng người ở Đông Nam Á, được nhiều người hoan nghênh, thì mùa hè năm 2014, Bắc Kinh đã đưa giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Mặc dù sự cố này chưa đến mức nghiêm trọng lắm, những người đang tìm kiếm hòa bình ở Biển Đông – nền hòa bình chưa bao giờ kéo dài được lâu – nên dừng lại và suy nghĩ một cách thật nghiêm túc.

--------------------------

Prashanth Parameswaran là phó tổng biên tập của trang Diplomat, làm việc ở Washington, D.C.. Ông thường viết về Đông Nam Á, vấn đề an ninh châu Á và chính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Ông là phó tiến sĩ ở Fletcher School of Law and Diplomacy at Tufts University.