Wednesday, July 1, 2009

NƯỚC XA - LỬA GẦN

Nước xa – lửa gần
Hay là một vài sự kiện được thống kê thuần túy theo thứ tự thời gian
Hồng Trần

01/07/2009
http://bauxitevn.info/2384/nuoc-xa-lua-gan/

1. Nếu gõ từ khóa “thuyền viên Việt Nam”, sau 0,14 giây Google cho 4.470.000 kết quả. Khá đầy đủ, nào
vietnamnet.vn, nào www.thanhnien.com.vn, vtv.vn, laodong.com.vn, vietbao.vn, vnexpress.net, thongtinthuongmai.vn, phapluattp.vn, vovnews.vn
Đến website của Sở Ngoại Vụ Hà Giang (
ngoaivuhagiang.gov.vn), 1 tỉnh không có mét bờ biển nào cũng có tin về vụ việc này.
Tóm tắt vụ việc như sau:
- Ngày 04/5/2009, do bị bắt làm việc quá sức (trung bình 15-16, có ngày 20 tiếng) 10 /16 thuyền viên Việt Nam trên tàu đánh cá Balena (quốc tịch Đài Loan) đã bắt trói đốc công và đòi thuyền trưởng đưa họ về Cape Town để có thể về nước.
- Sáng 05/5/2009, cảnh sát đặc nhiệm Nam Phi lên tàu bắt 10 thuyền viên.
- Ngày 07/5, Tòa án thành phố Cape Town mở phiên tòa xử thuyền viên VN tội “bắt cóc” và “cướp biển”.
- Ngày 13/5, người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố với báo chí: “Bộ Ngoại giao Việt Nam đã chỉ đạo Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi đề nghị các cơ quan chức năng của Nam Phi điều tra, xét xử vụ việc một cách công bằng, theo đúng quy định của luật pháp quốc tế và bảo đảm quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người lao động Việt Nam”
http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns090513180920
- Trong vòng 1 tháng rưỡi sau đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi đã chủ động đến thăm các thuyền viên Việt Nam và làm việc với cảnh sát điều tra, luật sư và cơ quan tố tụng Nam Phi. Đại diện sứ quán VN khẳng định : không thể truy tố 10 thuyền viên VN với tội “bắt cóc” và “cướp biển”. Họ chỉ tự vệ khi bị bắt làm việc quá sức và bị đánh đập dã man. Họ không đòi tiền chuộc, cũng không có hành động chống đối nhà cầm quyền Nam Phi mà chỉ đòi chấm dứt hợp đồng lao động và về nước. Cục trưởng Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao tại Hà Nội cũng đã gặp Đại sứ Nam Phi yêu cầu Nam Phi có những biện pháp tích cực để giúp đỡ các thuyền viên Việt Nam.
- Ngày 19/6, Tòa án thành phố Cape Town mở phiên tòa lần 2 và xử trắng án và trả tự do cho các thuyền viên Việt Nam. Đại diện chủ tàu Đài Loan bị buộc mua vé để họ có thể về Việt Nam từ lúc 18h55phút ngày 20/6.
- Ngày 22/6, các thuyền viên Việt Nam về Hà Nội, trên chuyến bay 0830 của Hàng Không Việt Nam.

2. Nếu gõ từ khóa “bảo vệ ngư dân”, phải sau 0,24 giây Google mới cho 1.020.000 kết quả. Cũng đủ cả các website, trong và ngòai nước, cả ta lẫn Tàu…
Tóm tắt sự việc liên quan như sau:
- Ngày 13/05/2009, Bộ môn Bảo vệ nghề cá Bộ Nông nghiệp Trung Quốc lấy lý do bảo vệ nguồn cá đã ra lệnh cấm đánh, bắt cá tại một số vùng thuộc biển Đông từ ngày 16/05 đến ngày 01/08/2009.
- Ngày 16/5/2009, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc tại một số vùng biển trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông có hiệu lực từ ngày 16/5 đến ngày 1/8/2009, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng nói: “Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Mọi hành động của nước ngoài đối với hai quần đảo này cũng như trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà không có sự đồng ý của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các khu vực này. Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho các tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam cho rằng các bên liên quan cần tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 và “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông” (DOC), không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực.”
http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns090516113430
- Ngày 19/5/2009 báo chí trong và ngoài nước đồng loạt đưa tin tàu câu mực của ngư dân Việt Nam bị “tàu lạ” đâm.
- Theo báo cáo tháng 5 của Sở Ngoại vụ Quảng Ngãi tính từ 2005 đến quý I/2009, tổng số tàu thuyền và ngư dân Quảng Ngãi bị nước ngoài bắt là 74 chiếc, 714 ngư dân, trong đó 33 chiếc với 373 ngư dân là bị Trung Quốc bắt. Khi bị Trung Quốc bắt, người thân ngư dân phải nộp tiền chuộc từ 5-7 vạn nhân dân tệ (150-180 triệu đồng) mới đưa được ngư dân về nhà. Ngoài bị bắt ra, Quảng Ngãi cũng có 6 ngư dân bị nước ngoài bắn chết và bị thương (năm 2007).
http://vietnamnet.vn/xahoi/2009/06/851529/
- Ngày 23/5/2009, Đại biểu Dương Trung Quốc nêu vấn đề “sóng to gió lớn” ngoài biển Đông ra Quốc hội (cùng vấn đề khai thác bauxite)
- Ngày 25/05/2009 Mạng Trung Quân, một diễn đàn tiếng Trung viết: “Trung Quốc cứng rắn ra lệnh ngừng đánh cá đã 12 ngày mà không có ai dám trái ý Trung Quốc.”, “Chỉ cần Trung Quốc đằng hắng một cái là các nước nhỏ Đông Nam Á sợ quýnh.”
- Đầu tháng 6/2009, nhiều báo Việt Nam đưa tin hàng trăm tàu cá miền Trung đã phải nằm bờ vì ngoài khơi đang bị… phong tỏa. Ngư dân nhiều địa phương đã phải bán tháo, bán đổ phương tiện làm ăn của mình, hoặc tập trung cào quét đến cạn kiệt nguồn thủy – hải sản gần bờ…
http://www.laodong.com.vn/Home/Ngu-dan-nam-bo-ngay-trong-vu-ca/20096/140975.laodong
- Ngày 05/6/2009, Cục trưởng Chu Tiến Vĩnh cho biết Cục Khai thác Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản (Bộ NN&PTNT) đang phối hợp với các địa phương tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền cho ngư dân về các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các nước về vùng được phép khai thác, đặc biệt tại các tỉnh miền Trung.
http://vietnamnet.vn/kinhte/2009/06/851495/
- Ngày 7/6/2009, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng cho biết: “Ngày 04/6 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã giao thiệp với Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, lưu ý việc phía Trung Quốc gần đây thực hiện lệnh cấm đánh cá tại một số vùng biển trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và tăng cường tàu tuần tra, bắt, phạt tàu cá tại những vùng biển này. Thứ trưởng cho rằng điều đó đã và đang ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam tại ngư trường truyền thống của Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận, không có lợi cho quan hệ hai nước, đề nghị phía Trung Quốc không có các hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đại sứ Trung Quốc đã hứa sẽ báo cáo về nước đề nghị nêu trên của phía Việt Nam.”
http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns090607151159
- Ngày 8/06/2009, Cục trưởng Cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản của Việt Nam, ông Chu Tiến Vĩnh nói: “Cục có đưa ra khuyến cáo với bà con ngư dân, thứ nhất là việc Trung Quốc tuyên bố như vậy là vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Thứ hai là vùng biển Việt Nam quản lý bà con ngư dân vẫn khai thác bình thường, không vấn đề gì”. Tuy nhiên ông này lại cảnh báo ngư dân ‘lưu ý ở vùng giáp ranh’, những nơi mà tàu thuyền có thể vì sóng, gió trôi dạt sang bên ”mà bạn quản lý”.
- Ngày 9/6/2009, người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương tuyên bố: “Cấm đánh bắt trong mùa hè ở Nam Hải là biện pháp hành chính thông thường và đúng đắn của Trung Quốc, có mục đích bảo tồn nguồn lợi hải dương trong vùng”.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/06/090609_fishingban_chinareax.shtml
China Daily sau khi đăng bài trích lời người phát ngôn Tần Cương nói lệnh cấm đánh bắt cá này là “không thể tranh cãi”
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/06/090611_hkpaper_biendong.shtml
- Ngày 09/6/2009 Trung ương Hội Nghề cá Việt Nam có công văn gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đề nghị có biện pháp cụ thể để ngư dân yên tâm đánh bắt cá trong vùng biển của Việt Nam, đảm bảo đời sống và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/06/852110/
- Ngày 10/06/2009, Đông phương Nhật báo, một tờ báo thân Bắc Kinh xuất bản tại Hồng Kông có bài bình luận: “Lệnh cấm đánh bắt ở Nam Hải của Trung Quốc dò đáy [ý chí] của Việt Nam”. Bài báo nói trên khẳng định việc điều chỉnh thời hạn cấm đánh bắt là lời cảnh báo Việt Nam “không nên đi quá xa”. “Thực tế, việc điều chỉnh này là để cho Việt Nam có hành động trước, sau đó Trung Quốc mới ra tay mà không mang tiếng là bắt nạt kẻ yếu.”
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/06/090611_hkpaper_biendong.shtml
- Ngày 11/6/2009, ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội Nghề cá VN khẳng định: Ngư dân hãy yên tâm đánh bắt. Trong quá trình khai thác, ngư dân cần thông tin, liên lạc thường xuyên với các chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, các đồn biên phòng, hải quân, cảnh sát biển để được hỗ trợ kịp thời.
Ông Chu Tiến Vĩnh, Cục trưởng Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thì bảo: “Có đủ lực lượng bảo vệ ngư dân ra khơi. Không ai có quyền ngăn cản ngư dân VN khai thác tại vùng biển thuộc chủ quyền của VN. Quyền của ngư dân VN được đánh bắt cá xa bờ ở ngư trường thuộc chủ quyền quốc gia và cần thực hiện quyền lợi này để bảo đảm sản xuất. Ngư dân không có gì phải lo ngại khi ra khơi đánh bắt ở ngư trường phía Bắc vì có đủ lực lượng từ hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư sẵn sàng ứng cứu và bảo vệ bà con.
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/06/852493/
- Ngày 11/06/2009, Trung Quốc phản đối Indonesia bắt giữ 75 ngư dân nước họ đang đánh bắt cá tại “ vùng truyền thống Nam Hải”.
- Ngày 12/6/2009, Đại tướng Lê Văn Dũng (Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) khẳng định đủ sức bảo vệ ngư dân, nhưng: “động viên bà con mình phải đánh bắt trong ngư trường nơi vùng biển đã được xác định chủ quyền là tốt nhất. Không nên sang vùng biển còn đang tranh chấp tương đối căng thẳng. Nhưng khi ra đánh cá xa bờ thì ta cũng phải khuyên bà con ngư dân là cố gắng liên kết với nhau thành những đội đánh cá mạnh để chống các hoạt động của tàu nước ngoài, kể cả Philippines, Malaysia chứ không riêng Trung Quốc. Khuyến cáo này là để đảm bảo an toàn cho bà con. Khi có tín hiệu cấp cứu, ta có đội tàu cứu hộ quốc gia, tàu hải quân, tàu biên phòng kết hợp để cứu hộ cho những tai nạn của ngư dân trên biển. Lực lượng chủ công của ngành cũng là lực lượng này. Hiện giờ, nếu phát hiện tàu lạ thì ngư dân cũng phải báo cho quân đội. Rồi thông qua các hệ thống radar, hệ thống tàu định tiễu trên Trường Sa. Ngoài ra, ta thường xuyên có một đội dân tàu ở đó để khi Trường Sa có chuyện xấu thì cứu hộ cứu nạn, đồng thời cũng là tuần tra bảo vệ Tổ quốc”.
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/06/852578/
- Chiều ngày 12/06/2009 Tổng bí thư ĐCS VN Nông Đức Mạnh tiếp ông Lý Nguyên Triều (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức TW ĐCS Trung Quốc) trong chuyến thăm Việt Nam và nhấn mạnh: chuyến thăm Việt Nam lần này của Ðoàn thể hiện sự quan tâm và coi trọng của lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đối với việc thúc đẩy quan hệ giữa hai Ðảng, hai nước, là biểu hiện sinh động của việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam -Trung Quốc; đánh giá cao việc hai nước hợp tác có hiệu quả ở các cấp, các ngành, các tổ chức nhân dân, đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc lên một tầm cao mới.
http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?article=149821&sub=130&top=37
- 10 giờ ngày 16/6/2009, tàu QNg – 6364 TS (do ông Bùi Văn Thuế làm thuyền trưởng) và tàu QNg – 6597 TS (do ông Dương Văn Hưởng làm thuyền trưởng), mỗi tàu đều có 12 ngư dân người xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), cùng bị tàu tuần tra Trung Quốc bắt tại tọa độ 16040 vĩ Bắc – 112058’ kinh Đông.http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200926/20090627003042.aspx
- 13 giờ ngày 17/06/2009, tàu QNg – 6517 TS do anh Nguyễn Chí Thạnh làm thuyền trưởng, trên tàu có 13 ngư dân ngư dân đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) đang trên đường chạy tránh bão số 2, khi đến tọa độ 16040 vĩ Bắc – 112045 kinh Đông, cách đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa khoảng 12 hải lý về phía đông nam đã bị tàu Trung Quốc số hiệu 309 đến bắt giữ.http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/06/855111/
25 người sau đó đã được cho về nhà trên một chiếc tàu, mang theo lệnh phạt với số tiền gần nửa tỷ đồng Việt Nam.
Theo thống kê của UBND huyện Lý Sơn, 6 tháng đầu năm, có 6 tàu đánh bắt xa bờ của huyện Lý Sơn bị lực lượng tuần tra phía Trung Quốc bắt giữ trong khi hành nghề trên vùng biển Hoàng Sa. Lần thứ nhất vào tháng Hai, Trung Quốc bắt ba tàu đưa ra mức phạt tổng số tiền là 190.000 nhân dân tệ (487 triệu đồng). Lần thứ hai là vào tháng Sáu, Trung Quốc bắt giữ ba tàu cùng 37 ngư dân và đưa ra mức phạt 210.000 nhân dân tệ (540 triệu đồng). Hiện 25 người với một tàu được thả tự do, hai tàu còn lại với 12 ngư dân trong đó có 2 thuyền trưởng vẫn còn bị giữ. Trung Quốc ra thời hạn trong vòng 10 ngày, ngư dân Việt Nam phải nộp tiền phạt mới được thả tàu.
- Ngày 24/6/2009 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu nhấn mạnh tại Hội nghị quân chính toàn quân sáu tháng đầu năm 2009 do đảng ủy quân sự trung ương và Bộ Quốc phòng tổ chức:” Không có sự bảo đảm độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì không thể xây dựng và phát triển đất nước. Việc phát triển kinh tế – xã hội ngày càng hiệu quả là điều kiện cơ bản để đảm bảo quốc phòng an ninh, trật tự xã hội. Hai lĩnh vực này phải luôn song hành và không thể xem nhẹ lĩnh vực nào”.
- Sáng 24/6/2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định với các cử tri quận 3 TPHCM rằng: “Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng việc gìn giữ độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước. Cử tri hãy vững tin vào điều đó”.
Chủ tịch nước đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị để phát triển đất nước vững mạnh về mọi mặt, đề nghị cử tri nỗ lực chung tay góp sức xây dựng chính quyền, đề cao việc sống và làm việc theo pháp luật, giữ vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=323287&ChannelID=3
- Ngày 26/6/2009, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Trung Quốc bắt giữ một số tàu cá và ngư dân Việt Nam khi đang đánh bắt cá ở khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng nói: “Hành động này của phía Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Ngay sau khi nhận được thông tin, ngày 22/6/2009, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay các ngư dân và các tàu cá nói trên. Ngày 25/6, hai tàu cá gồm 25 ngư dân đã về đến Việt Nam an toàn. Hiện các cơ quan chức năng của Việt Nam đang tiếp tục yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay các ngư dân và tàu cá còn lại, không có hành động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.” http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns090626183557
- Sáng 26/6, trong buổi tiếp xã giao Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh, tình hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt – Trung là tài sản quý báu, cần được giữ gìn và không ngừng phát huy mạnh mẽ. Đại sứ Tôn Quốc Tường khẳng định sẽ nỗ lực hết sức nhằm thúc đẩy và làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt, theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt đã được lãnh đạo hai nước nhất trí.
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/06/855058/
- Chiều 26/6, – ông Nguyễn Dự – Chủ tịch UBND xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cho biết, gia đình 12 ngư dân và 2 tàu cá đang bị Trung Quốc bắt giữ tại đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) của VN đang hết sức lo lắng vì trong 3 ngày qua không thể liên lạc được với người thân. Phía Trung Quốc không cho gặp và buộc phải nhanh chóng nộp đủ số tiền phạt mới trao trả, nếu quá thời hạn 10 ngày, kể từ ngày 21.6, thì sẽ bị dẫn độ về đảo Hải Nam giao cho công an xử lý.
- Chiều 29/6, UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức cuộc họp khẩn để bàn giải pháp cứu các tàu cá và ngư dân Lý Sơn đang bị Trung Quốc giam giữ. Trong khi đó, các gia đình ngư dân đang lo lắng về mức tiền phạt hết sức vô lý của Trung Quốc lên tới hàng trăm triệu đồng.
- Ngày 29/6/2009, ông Nguyễn Việt Thắng (Chủ tịch Hội Nghề cá VN) : “một lần nữa đề nghị bà con ngư dân cứ mạnh dạn tiếp tục ra khơi, yên tâm đánh bắt trên vùng biển của chúng ta.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=323927&ChannelID=3

3. VÀI SỰ KIỆN CŨ HƠN:

- Ngày 25/12/2000, sau một thời gian dài thương lượng, Việt Nam và Trung Quốc ký hiệp định Phân định vịnh Bắc bộ. Theo đó, Việt Nam sở hữu 53,23%, còn Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích vịnh.
- Ngày 30/9/2003, người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam trả lời phóng viên phóng viên AFP về việc xử lý các tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biển Việt Nam: “Các cơ quan chức năng của Việt Nam xử lý các vụ tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản trái phép phù hợp với luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế và quan hệ giữa Việt Nam với các nước hữu quan. Cũng như tất cả các nước ven biển khác, đây là một việc làm bình thường của Việt Nam để bảo vệ chủ quyền của mình. Các tàu cá của Trung Quốc vi phạm vùng biển của Việt Nam cũng được xử lý theo tinh thần trên.”
http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns040818152532257
- Ngày 15/6/2004, ngay sau khi Kỳ họp thứ 5 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI thông qua Nghị quyết phê chuẩn “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa trong Vịnh Bắc Bộ”, – người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố: “Lần đầu tiên trong Vịnh Bắc Bộ có một đường biên giới biển có giá trị pháp lý quốc tế rõ ràng, phân định rõ phạm vi và chế độ pháp lý lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mỗi nước trong Vịnh, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Đây là một sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam cũng như đối với quan hệ hai nước Việt – Trung, mở ra một giai đoạn mới trong việc quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng Vịnh Bắc Bộ vì lợi ích của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.” http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns04081815251637
- Phải đến ngày 20/06/2004, hiệp định này mới chính thức trao đổi thư phê chuẩn, cho dù hiệp định Hợp tác Nghề cá vịnh Bắc bộ giữa hai nước đã hoàn tất 2 tháng trước đó. Theo hiệp định này, hai bên đồng ý thiết lập một vùng đánh cá chung nằm dưới vĩ tuyến 20 độ Bắc và có bề rộng khoảng 30 hải lý (tính từ đường phân định ra hai bên). Ngoài ra, hai bên cũng đồng ý có một vùng cho tàu thuyền đánh cá loại nhỏ ở cửa sông Bắc Luân với bề rộng 3 hải lý và chiều dài 10 hải lý (cũng tính từ đường phân định ra). Hiệp định này có hiệu lực 12 năm và 3 năm mặc nhiên gia hạn.
- Ngày 08/01/2005 (tức chỉ 08 tháng sau), Trung Quốc đã bắn chết 8 ngư dân Thanh Hóa tại vịnh Bắc bộ vì tàu cá Việt Nam “định cướp tàu thuyền Trung Quốc”. Đếm trên thân tàu đánh cá chạy thoát của ông Nguyễn Văn Hoàn (ngư dân xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) có tới 430 vết đạn bắn.
- Ngày 13/1/2005, người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố: “Chúng tôi coi việc tàu Trung Quốc bắn chết 9 ngư dân Việt Nam và làm bị thương nhiều người khác, gây thiệt hại đến tài sản và ngư cụ của ngư dân Việt Nam là nghiêm trọng. Việt Nam đã yêu cầu phía Trung Quốc có các biện pháp tích cực nhằm ngăn chặn và chấm dứt ngay những hành động sai trái trên, cho điều tra và xử lý nghiêm những kẻ bắn chết người.”
http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns050117164814
- Ngày 20/1/2005 người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam lại tuyên bố: “Những ngư dân Việt Nam bị cảnh sát biển Trung Quốc tấn công, bắn chết, làm bị thương và bắt giữ vừa qua là những người lao động lương thiện, đang đánh cá bình thường ở phía Tây đường phân định Vịnh Bắc Bộ trong vùng đánh cá chung.
Việc cảnh sát biển Trung Quốc sử dụng vũ khí giết hại những người dân vô tội là sự vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, Hiệp định Hợp tác nghề cá Việt Nam-Trung Quốc cũng như các thỏa thuận của Lãnh đạo cấp cao hai nước, làm tổn hại tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Ngay sau khi xảy ra sự việc, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã yêu cầu phía Trung Quốc có các biện pháp nhằm ngăn chặn và chấm dứt ngay những hành động sai trái tương tự, cho điều tra và xử lý nghiêm những kẻ đã bắn chết người, trả lại những người bị bắt và thi hài những người đã chết cũng như tàu thuyền, tài sản của họ; bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam; nhanh chóng thu xếp để các cơ quan đại diện Việt Nam thăm lãnh sự những người bị thương và bị Trung Quốc giữ, sớm họp Ủy ban liên hiệp về hợp tác nghề cá trên Vịnh Bắc bộ để bàn luận các biện pháp ổn định tình hình.”
http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns050120183718
- Ngày 15/1/2008, tàu hải quân Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam và đâm chìm một tàu đánh cá của ngư dân Phú Yên làm 9 ngư dân thiệt mạng. Dù trước khi bị đâm chìm các ngư dân xấu số trên đã gọi điện cấu cứu bộ đội biên phòng và các tàu lân cận trong đó nói rõ họ đang bị tàu hải quân Trung Quốc săn đuổi và tin này được Trạm Tìm kiếm cứu nạn trên biển (Trường Sa MRSC) phát lại để các tàu khác đến giúp đỡ. Vị trí tàu ngư dân bị đâm chìm: 12 độ 50′ vĩ độ Bắc và 109 độ 40′ kinh độ Đông. Nhìn trên bản đồ, vị trí đó ở ngay cửa vịnh Văn Phong, cách thành phố Nha Trang không xa.
http://my.opera.com/toannamtrungyen/blog/v

Xin nhường quyền bình luận cho độc giả.

HT

HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập


NHỮNG LẮT KÉO TRONG LUẬT QUỐC TỊCH CỦA VIỆT NAM

Những lắt léo trong luật quốc tịch của VN với người Việt ở nước ngoài
Gs. Hà Ngọc Cư – Viết riêng cho Người Việt
Wednesday, July 01, 2009
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=97313&z=1
Lời tòa soạn: Theo thông báo của Bộ Tư Pháp Việt Nam, “Luật Quốc Tịch Việt Nam” kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009 sẽ có hiệu lực thi hành. Theo luật này, người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài “chưa mất quốc tịch Việt Nam phải “đăng ký” với cơ quan đại diện Việt Nam ở nơi định cư để giữ quốc tịch gốc. Thời hạn đăng ký sẽ kéo dài 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực.” Vẫn theo Bộ Tư pháp Việt Nam, “việc phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là giải pháp cụ thể để Nhà nước có thể xác định được những ai trong số hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn muốn giữ quốc tịch Việt Nam, qua đó xác định rõ tình trạng quốc tịch của họ, tạo điều kiện để làm tốt công tác quản lý về quốc tịch, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân định cư ở nước ngoài.”
Tuy nhiên, để hiểu rõ điều luật này không phải là việc dễ dàng, vì trong đó có nhiều lắt léo, đặc biệt là với người Việt Nam có quốc tịch Hoa Kỳ. Bài viết dưới đây của Giáo sư Hà Ngọc Cư, hiện là Giám đốc điều hành cơ quan CISS chuyên lo về di dân và tị nạn tại Houston, Texas, sẽ cho thấy điều đó.
Người Việt

***

Luật Quốc Tịch mới của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009.
Có hai điều khoản quan trọng có ảnh hưởng lớn đến người Việt định cư ở nước ngoài.
- Người Việt đã có quốc tịch mới muốn giữ quốc tịch Việt Nam (VN) thì phải đăng ký trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày 1 tháng 7, 2009.
- Người nước ngoài khi nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.

Bây giờ xin bàn về những lắt léo của hai điều khoản này.

1. Nếu xin giữ quốc tịch Việt Nam thì hậu quả đối với quốc tịch mới của mình sẽ ra sao?

Vấn đề song tịch thay đổi theo luật lệ của từng quốc gia. Một số quốc gia như Pháp, Mexico, Ba Lan, Nga, Thụy Sĩ, Canada, Anh quốc,… cho phép công dân giữ quốc tịch của họ khi nhập quốc tịch mới. Một số quốc gia khác quy định rằng nếu công dân nhập quốc tịch một quốc gia khác thì đương nhiên mất quốc tịch của họ như Áo, Úc, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hòa Lan, Phi Luật Tân, Trung Hoa…
Riêng trường hợp Hoa Kỳ thì Hiến Pháp Hoa Kỳ không công nhận song tịch mà cũng không cấm song tịch. Trong thực tế nếu khi nhập quốc tịch nước ngoài mà luật pháp nước đó không đòi hỏi mình phải từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ thì bạn vẫn còn quốc tịch Mỹ.
Vấn đề của người Việt đã có quốc tịch Mỹ đối với luật quốc tịch mới của VN là làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam có “nguy hiểm” về quốc tịch Mỹ của mình hay không?

Như đã nói ở trên, nếu trong đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam mà chính phủ Việt Nam không đòi hỏi mình phải bỏ quốc tịch Mỹ thì không đáng ngại. Nhưng ngoài việc xin giữ quốc tịch Việt Nam có mất quốc tịch Mỹ hay không còn có vấn đề đạo đức.
Khi tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ ta đã tuyên thệ xin bỏ quốc tịch cũ, bây giờ lại xin giữ quốc tịch cũ tức là đã bội thề, phạm vào chữ “TÍN”.

Luật quốc tịch mới của Việt Nam có luật “cứng” và luật “mềm”.
- Luật quốc tịch “cứng” quy định nguyên tắc một quốc tịch, tức là công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, nếu đã nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.
- Luật quốc tịch “mềm” lại cho phép những trường hợp ngoại lệ có thể có đồng thời quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài. Những trường hợp này được Chủ tịch nhà nước Việt Nam cho phép khi nhập quốc tịch.

Nếu “Việt Kiều” xin giữ quốc tịch Việt Nam thì họ được hưởng luật quốc tịch “cứng” hay luật quốc tịch “mềm”?
Nếu theo luật “cứng” thì khi xin giữ quốc tịch Việt Nam họ có bị nhà nước Việt Nam coi là mất quốc tịch nước ngoài không? Còn nếu theo luật quốc tịch “mềm” thì họ phải nộp đơn lên Chủ tịch nhà nước để giữ quốc tịch nước ngoài không?

Theo lời Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường trong buổi họp báo tại Văn phòng Chủ tịch nước ngày 4 tháng 12, 2008, thì: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho đến khi luật mới có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7, 2009 vẫn được coi là còn quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời hạn 5 năm, Việt kiều nào có nhu cầu thì làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Quá thời hạn đó sẽ mất quốc tịch Việt Nam song vẫn có thể xin trở lại quốc tịch Việt Nam, thậm chí họ vẫn giữ được quốc tịch nước ngoài khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam nếu có vợ, chồng, cha, mẹ con đã là công dân Việt Nam.”
Không ai hiểu nổi lời giải thích của ông Bộ Trưởng Tư Pháp.


Nếu tôi có cha mẹ, vợ hoặc chồng, con đã là công dân Việt Nam thì khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam sẽ không mất quốc tịch nước ngoài nghĩa là được quyền song tịch (đối với Việt Nam). Nhưng nếu không có cha mẹ, hoặc vợ chồng, hoặc con đã là công dân Việt Nam thì khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam có mất quốc tịch nước ngoài không?

Vấn đề chủ yếu mà nhiều người Việt định cư ở nước ngoài quan tâm nhất sau ngày 1 tháng 7, 2009, khi Luật quốc tịch mới có hiệu lực thì chính phủ Việt Nam có còn coi họ là công dân Việt Nam để bắt họ phải thi hành những nghĩa vụ của công dân Việt Nam không? Một người muốn bỏ quốc tịch Việt Nam có cần phải làm đơn “Xin Thôi Quốc Tịch Việt Nam” như trước nữa không? Làm thế nào để chứng minh là mình đã “được” mất quốc tịch Việt Nam. Chính quyền Việt Nam có cấp “giấy chứng nhận” không?

Nếu Việt Nam tôn trọng nguyên tắc về lãnh thổ thì con cái “Việt kiều” sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có đương nhiên có quốc tịch Việt Nam không? Đối với luật quốc tịch của Hoa Kỳ thì con của một công dân Hoa Kỳ (bố hoặc mẹ) thì dù có sinh ra ở đâu vẫn có quốc tịch Mỹ (nguyên tắc về huyết thống). Như vậy con của người Mỹ gốc Việt sinh tại Việt Nam là song tịch một cách “hiển nhiên” kể từ lúc ra đời. Những đứa trẻ này vừa c ó khai sinh Việt Nam vừa có khai sinh Mỹ, như vậy sau này có phải làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam không?

Nếu luật quốc tịch của Việt Nam chấp nhận nguyên tắc huyết thống thì con cháu của Việt Kiều sinh ở nước ngoài có được coi là công dân Việt Nam hay không (vì mang huyết thống Việt Nam)? Nếu có thì họ có quyền xin “quyền tự động có quốc tịch Việt Nam” như trường hợp công dân Mỹ sinh con ở nước ngoài không?

2- Người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam
Luật quốc tịch mới của Việt Nam đòi hỏi khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải xin thôi quốc tịch nước ngoài thì cũng không khác gì luật quốc tịch của nhiều quốc gia khác. Vấn đề là Việt Nam chấp nhận song tịch như thế nào mà thôi.
Đối với chính phủ Việt Nam thì công dân Việt Nam chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam nhưng đối với nhiều quốc gia khác thì mặc dầu bạn đã nhập tịch Việt Nam bạn vẫn không mất quốc tịch của nước họ mà không cần phải “đăng ký xin giữ quốc tịch cũ”, trừ trường hợp bạn không chính thức xin từ bỏ quốc tịch của họ.

Nhà nước Việt Nam nói công dân Việt Nam chỉ có quyền có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Điều đó không có nghĩa là luật này có thể áp đặt lên quyền công dân của các nước khác. Vì quyền có quốc tịch là chủ quyền của mỗi quốc gia. Khi xin nhập quốc tịch Mỹ bạn phải tuyên thệ từ bỏ các quốc tịch cũ, có nghĩa là đối với chính phủ Hoa Kỳ, bạn chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Hoa Kỳ.
Nhưng chính phủ các quốc gia mà bạn có quốc tịch cũ vẫn có quyền coi bạn còn là công dân của họ vì đó là thẩm quyền của họ nên chính phủ Hoa Kỳ không thể can thiệp vào việc này được.
Vì vậy, khi một công dân Hoa Kỳ xin nhập quốc tịch Việt Nam, mặc dầu chính phủ Việt Nam đã bắt họ từ bỏ quốc tịch cũ, nhưng chính phủ Hoa Kỳ vẫn có quyền coi người đó là công dân Hoa Kỳ.
Nếu công nhận song tịch thì Việt Nam nên thẳng thắn và minh bạch.


Vietnamnet
Từ 1/7: kiều bào phải đăng ký giữ quốc tịch gốc
19:23' 29/06/2009 (GMT+7)
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/06/855427/
Với Luật Quốc tịch Việt Nam có hiệu lực thi hành từ 1/7 tới, kiều bào sinh sống tại nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nơi định cư để giữ quốc tịch gốc. Thời hạn đăng ký sẽ kéo dài 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực.

Ai còn, ai mất?
Theo điều 2, khoản 13, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam, trước ngày Luật nói trên có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.
Trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật có hiệu lực, kiều bào phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam.
Theo Bộ Tư pháp, việc phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là giải pháp cụ thể để Nhà nước có thể xác định được những ai trong số hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn muốn giữ quốc tịch Việt Nam, qua đó xác định rõ tình trạng quốc tịch của họ, tạo điều kiện để làm tốt công tác quản lý về quốc tịch, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân định cư ở nước ngoài.
Ước tính khoảng 70% số kiều bào đang định cư ở nước ngoài còn giữ quốc tịch Việt Nam. Cùng với quy định về đăng ký giữ quốc tịch, Luật cũng có những quy định về không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

Có ngoại lệ 2 quốc tịch
Theo Luật Quốc tịch Việt Nam, Nhà nước quy định nguyên tắc một quốc tịch, tức công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, nếu đã nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.
Tuy nhiên, luật cũng quy định "mềm dẻo", cho phép những trường hợp "ngoại lệ" có thể có đồng thời quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài và những trường hợp này được Chủ tịch nước cho phép khi xin nhập quốc tịch.
Những trường hợp ngoại lệ bao gồm những người là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam, người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, và người có lợi cho Nhà nước Việt Nam.
So với Luật quốc tịch cũ, Luật mới sắp có hiệu lực có nhiều quy định mới, thông thoáng hơn đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật có hiệu lực, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam cũng sẽ được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định.
X.Linh

CHẾ ĐỘ BÊ-TÔNG CỐT TRE

Chế độ bê tông cốt tre
Lê Sáng
VietCatholic News (01 Jul 2009 17:14)
http://vietcatholic.net/News/Html/68745.htm
Bê tông, là vật liệu xây dựng được con người phát minh đầu thế kỷ 20. Do điều kiện kinh tế lạc hậu, ở Việt Nam bê tông chỉ được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng khoảng từ thập kỷ 1990 trở đi. Do đặc tính dễ định hình, dễ chế tạo, dễ thi công, chịu lực, chịu tác động thời tiết tốt nên bê tông là vật liệu chủ lực trong xây dựng hiện nay. Đặc tính yếu điểm của bê tông là cứng nhưng dòn, nên nó phải có cốt sắt bên trong mới có thể chịu được lực nén, lực uốn cũng như chịu được tác động của thời tiết, thời gian… Về mặt giá thành, cốt thép luôn chiếm hơn nửa trị giá của bê tông (Tuỳ từng trường hợp mà cốt thép chiếm trị giá từ 55 đến 80% khối bê tông thành phẩm). Người ta ví cốt thép như bộ xương, còn vữa bê tông như lớp da thịt phủ ngoài…
Kể từ khi loại vật liệu này du nhập vào Việt Nam thời phong kiến triều Nguyễn cho đến ngày nay, trên thế giới người ta chỉ hoàn chỉnh thêm về công nghệ chứ không thay đổi về nguyên tắc: Bê Tông Cốt Thép – Nói đến bê tông là người ta hiểu ngay: Bê Tông Cốt Thép. Bất kể là quốc gia nào, theo thể chế chính trị nào, công nghệ bê tông cốt thép không hề thay đổi bởi nó là vấn đề kỹ thuật không thể bàn cãi, giữ qui tắc kỹ thuật để giữ an toàn cho tính mạng con người từ thi công đến sử dụng…

Trên thế giới chỉ có duy nhất nước Việt Nam trong giai đoạn cộng sản thống trị mới nảy sinh ra loại bê tông cốt tre: Vữa bê tông đúc bên ngoài cốt lấy từ thân cây tre. Chưa bàn đến mác vữa bê tông, chỉ cần thay đổi từ cốt thép sang cốt tre sẽ giảm được giá thành chỉ còn 1/4, rất lý tưởng cho những phi vụ đục khoét vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Nhưng làm bê tông bị thay đổi hoàn toàn về chất. Hình dạng nhìn bên ngoài bằng mắt thường không thể phát hiện. Chính thế làm tăng thêm tính nguy hiểm của loại vật liệu “lởm” này. Báo chí bồi bút cộng sản đã phanh phui rất nhiều vụ việc bê tông cốt tre trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay, xin quí vị tìm đọc trên internet.

Tại sao lại chỉ có chế độ nhà nước cộng sản Việt Nam sinh ra loại vật liệu quoái gở này? Trong khi các quốc gia nghèo đói khác ở Phi Châu, thậm chí đang trong tình trạng chết đói họ vẫn không “nghĩ ra được” thứ vật liệu dã man này? Để phân tích thật cặn kẽ vấn nạn này, có lẽ phải viết thành sách dài nhiều tập. Nên bài viết chỉ phân tích các ý rất phổ quát…

Trước hết, hãy xem chế độ nhà nước cộng sản Việt Nam được sinh ra từ cái gì? Về mặt học thuyết chế độ nhà nước cộng sản VN được ra đời từ học thuyết cộng sản của Mác, được Lênin hoán cải rồi đưa ra các hình mẫu hành động sặc mùi thù oán giết chóc. Cái gọi là chuyên chính vô sản được Lênin cho ra đời và đã giết hại hàng chục triệu sinh mạng thường dân vô tội. Tội ác vấy máu dân lành của nhà nước cộng sản được biện minh bằng mục đích tốt đẹp ảo, không bao giờ thành hiện thực. Nền móng xây trên cát của chủ thuyết cộng sản chính là nó đã lấy mục đích tốt đẹp ảo để biện minh cho những hành động giết người vô tội vạ. Và để tín đồ của nó giết người không run tay, nó phải đưa ra đủ thứ giả dối để loè bịp, lên dây cót tinh thần cho những cỗ máy này... Nền móng của chế độ cộng sản là đủ thứ giả dối. Nó giả dối thô thiển ấu trĩ đến mức khi toàn thể chế độ cộng sản kề sát miệng vực diệt vong đầu những năm 1980 mà trùm cộng sản Liên Xô Brêgiơnhép (Leonid Brezhnev) còn ngạo mạn tuyên bố công khai trước thế giới là đã xây dựng xong CNXH tại Liên Xô. Chỉ vài năm sau tuyên bố này, Liên Xô sụp đổ không tiếng súng, không kèn không trống không nước mắt của chính người cộng sản.

Đến hôm nay chủ thuyết cộng sản đã sụp đổ nhãn tiền. Những chính trị gia trong chế độ cộng sản đã có những đúc kết chính xác và sống động về người cộng sản: "Kẻ nào tin vào lời nói của người cộng sản, kẻ đó sẽ phải trả giá cho sự ngây thơ của mình" (Tổng thống Putin); "Chủ nghĩa cộng sản đẻ ra những kẻ dối trá" (Thủ tướng Merkel.v.

Khởi đầu người cộng sản dùng chủ thuyết cộng sản để xây dựng những chuẩn mực gian dối. Lấy các chuẩn mực này làm thước đo để đào tạo con người. Trong xã hội cộng sản có những kẻ tình nguyện đặt mình vào các chuẩn mực gian trá này để thủ lợi. Lại có những kẻ là nạn nhân của một xã hội lộng giả thành chân, sống lâu trong xã hội cộng sản rồi ít nhiều bị biến thành những kẻ lưu manh một cách vô thức… Bất cứ ai sinh ra và trưởng thành hoàn toàn trong cái xã hội quái gở này đều bị ảnh hưởng những cái xấu của nó…

Sau khi hệ thống nhà nước cộng trên thế giới sản sụp đổ. Học thuyết cộng sản phơi bày tính chất không tưởng. Nhà nước cộng sản phơi bày tội ác diệt chủng chống nhân loại… Cộng sản Việt Nam cũng rơi vào tình cảnh bế tắc về lý luận. Nếu thừa nhận sự sụp đổ về lý luận cộng sản, người cộng sản không thể biện minh cho hậu quả đẩy lùi dân tộc Việt hàng trăm năm lịch sử, cộng với núi xương sông máu họ đã gây ra. Csvn đang chắp vá lý luận, với kế kim thiền thoát xác hòng bám giữ quyền lực để tránh bị phán xét trước toà án nhân quyền của nhân loại. Các chuẩn mực gian dối tiếp tục được người cộng sản sử dụng lúc thì tinh vi, nhưng có lúc thì thô bỉ như bọn lục lâm thảo khấu vậy. Rút kinh nghiệm từ sự sụp đổ của hệ thống nhà nước cộng sản Đông Âu, CsVn đổi mới kinh tế dứt khoát không đổi mới chính trị. Và thứ kinh tế bị cưỡng hiếp bởi chính trị đó đẻ ra rất nhiều thứ quái thai – Bê tông cốt tre là một trong số cái quái thai đó.

Một xã hội gian trá từ học đường, gian trá vào trong hôn nhân vợ chồng – Có những cô gái lấy anh thương binh cụt hết cả tay chân, mù cả hai mắt chỉ vì theo sự áp đặt của hội phụ nữ chứ đến tận ngày cưới vẫn chưa giáp mặt vị hôn phu… Gian trá ăn bớt cả xuất ăn của trẻ mần non. Gian trá len lỏi vào cả nhà tu – Bởi đi tu phải xin giấy phép của chính quyền cộng sản, nên không thiếu những kẻ dùng tiền, thậm chí bán rẻ lương tâm cho cộng sản để có cái giấy này…

Các chuẩn mực gian trá cũng có lúc bị nhận diện. Nhưng người ngay lành muốn sống tử tế cũng không được vì sẽ bị xã hội giả dối hại chết tức khắc. Cả xã hội loay hoay trong bế tắc mắc mà không sao gỡ ra được… Và người ta chỉ còn biết vơ vét tiền của như là lối thoát duy nhất mà cái xã hội này còn để chừa ra với khẩu hiệu của nhà nước cộng sản: Đổi mới kinh tế, vươn lên thoát nghèo, cả nước làm kinh tế… Tuyệt nhiên không thấy ai kêu gọi vươn lên làm người, đòi lấy nhân quyền, đổi mới chuẩn mực xã hội cả… Có nhà giáo già cám cảnh mà thốt lên rằng xã hội hôm nay là xã hội làm kinh tế. Thầy giáo thì làm kinh tế học sinh; Bác sĩ thì làm kinh tế bệnh nhân; Quan toà thì làm kinh tế phạm nhân…

Nguy hiểm nhất là các chuẩn mực gian trá này được công nhiên thừa nhận. Con người trở nên thờ ơ với sự lộng hành của giả dối. Kẻ thi hành công vụ thì sử dụng các trò xảo thuật gian trá một cách ngang nhiên không cần che dấu cũng chẳng xấu hổ khi bị bại lộ. Ngay cả người dân là nạn nhân sống trong chế độ cộng sản, họ truyền tay nhau những kinh nghiệm đối phó… Cũng không sao kiểm soát hết được các rủi ro của những trò gian lận này. Trong vụ việc thu giữ máy Laptop của Linh mục Lê Quang Uy để trích xuất tài liệu gửi đi giám định, đã có người cảnh báo về những trò gian lận mà cán bộ cơ quan công quyền cộng sản sẽ áp dụng (... ). Vị linh mục này chắc cũng đã đọc được cảnh báo đăng công khai trên mạng… Vậy mà vẫn vướng phải cái bẫy cộng sản đã giăng… Giới chuyên môn về luật pháp và chính trị tại Việt Nam thì cho rằng, kể cả vị linh mục này áp dụng đủ biện pháp tự bảo vệ, cũng không thể thoát khỏi những cái bẫy đã găng cộng với việc cán bộ công quyền chơi trò đuổi bắt, lùa người dẫm vào bẫy… Cho nên việc cảnh báo nơi này đặt cạm, nơi kia có bẫy… chỉ là giải pháp tình thế. Giải pháp tổng thể và tận gốc là phải gỡ những cạm cái bẫy đó đi.

Khi gian trá ăn vào từng tế bào của xã hội, xã hội này chẳng khác căn nhà lầu được xây bằng bê tông cốt tre. Nhìn bằng mắt thường, và dùng trong ngắn hạn, không có biến động gì lớn… Nó chẳng khác nhà bê tông cốt thép… Nhưng bê tông cốt thép, người ta có thể gia cố để tăng thêm tầng sử dụng. Tận dụng mà không cần phải đập bỏ xây mới… Bê tông cốt tre như như cốc nước đã tới hạn, chỉ cần thêm 1 giọt cũng làm tràn ly… Muốn cho nó chịu được lực và an toàn, số tiền gia cố nó còn đắt hơn là đập đi xây mới…

Những kẻ “lão thành cách mạng cộng sản” cuối đời chợt nhận ra sự vô lý của lý luận cộng sản chủ nghĩa. Nhận ra sự vô luân của xã hội cộng sản. Họ thừa nhận xã hội cộng sản là căn nhà xây bằng cốt tre, đã hỏng hẳn không thể sửa chữa. nhưng không đủ nhân cách để phản tỉnh, vì não trạng của họ là những chuẩn mực gian dối… Dù có phản tỉnh thì vẫn còn % nào đó giả dối. Trong khi chân lý thì không được phép có 1 phần tỉ tỉ giả dối… Không nhận ra chân lý đích thực, phản tỉnh sẽ không có hành động, hoặc phản tỉnh bằng hành động giả dối – Xã hội chẳng được lợi gì, thậm chí thiệt hại thêm… bởi những kẻ “chuyên chính vô sản” có thêm duyên cớ ra tay giết chóc dân lành…

Những quốc gia dân tộc văn minh tiến bộ của nhân loại cũng trăn trở với tình trạng độc tài tham nhũng của cộng sản Việt Nam nganh nhiên chà đạp nhân quyền… Nhưng có lẽ họ cũng lo ngại cho một khoảng trống quyền lực sẽ làm nảy sinh đạo tặc… Người dân càng thống khổ… Và người ta tìm cách gia cố lại căn nhà bê tông cốt tre với lập luận: Nếu phá sập nó, tiền bạc đâu mà xây dựng mới? Không có nhà mới, nhà cũ đã phá sập thì người dân tạm trú tại đâu? Chẳng thà sửa lại nó để tá túc qua đêm hơn là sống màn trời chiếu đất. Thế là căn nhà bê tông cốt tre được gia cố lại, được chồng thêm tầng để thoả mãn nhu cầu đang gia tăng từng ngày…

Khi nền móng của chế độ nhà nước đã là gian trá - Nếu một vài gian trá có bị bại lộ, người ta chỉ thay sự gian trá này bằng sự gian trá khác mà thôi.
Không có khả năng phục thiện bởi nếu phục thiện, người ta phải làm mới từ nền móng. Nghĩa là phải vứt bỏ cái chủ thuyết vô luân lưu manh cộng sản kia đi. Nói cụ thể là phải bỏ điều 4 hiến pháp CHXHCNVN cho phép cộng sản độc tài lãnh đạo xã hội đi. Bỏ điều 4 hiến pháp thì người cộng sản gọi là tự sát rồi. Như thế ngay người chủ nhà, người ở trong nhà cũng đã không cho gia cố lại căn nhà bê tông cốt tre… Làm sao tận dụng cái căn nhà ma quỉ này cho dân bớt khổ được ???

Thế mới thấy lời nói của ông Bôrít-Ensin (Boris Yeltsin) cựu bí thư thành uỷ Matxcơva, cựu uỷ viên bộ chính trị cộng sản Liên Bang Xô Viết, cựu tổng thống Nga: Cộng sản không thể thay đổi mà phải thay thế - Là chí lý, phát xuất từ cả lý luận và thực tiễn của một người từng là cộng sản gộc này. Nhưng phải hiểu thế nào đây khi chính ông Bôrít-Ensin cũng từng là đảng viên cộng sản mà lại đương nhiệm tổng thống Nga khi phát biểu câu này? Có lẽ ông muốn nói đến tính chất bảo thủ khi cộng sản là một tập đoàn dưới dạng đảng phái cưỡng chiếm quyền lực nhà nước – Tập đoàn này như thứ bê tông cốt tre vậy. Nó biết rằng nếu để lộ ra bản chất là bê tông cốt tre, nó sẽ bị thay thế chứ chẳng ai bỏ tiền bạc công sức đi gia cố khối bê tông cốt tre để tận dụng cả. Chắc chắn nó sẽ bị thay thế khi sự thật được minh bạch. Sự thật thì có tính chất tự thân. Nhưng minh bạch nó lại là trách nhiệm của con người. Vậy hãy làm cho sự thật được sáng tỏ để khối bê tông cốt tre kia sớm bị thay thế hầu cho dân tộc Việt được Phục Sinh.

Lê Sáng


LỜI "NHẬN TỘI và XIN KHOAN HỒNG" KHÔNG PHẢI LÀ CHỨNG CỨ BUỘC TỘI

Lời “nhận tội và xin khoan hồng” không phải là chứng cứ buộc tội
Ls Lê Trần Luật
01/07/2009
http://dcctvn.net/news.php?id=4180
Thời gian vừa qua, các phương tiện truyền thông Việt Nam hay đưa tin: bị can, bị cáo đã “nhận tội và xin khoan hồng”… Thông tin như vậy làm cho dư luận thấy rằng, các cơ quan chức năng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, cũng có trường hợp dư luận tỏ ra hoang mang và đặt nhiều nghi ngờ.
Trong bài viết này, tôi xin phân tích một số thuộc tính của chứng cứ và ý nghĩa pháp lý của việc nhận tội và xin khoan hồng.
Chứng cứ là những gì có thật có liên quan đến vụ án, được thu thập theo trình tự nhất định, dùng để xác định có hay không hành vi phạm tội (điều 64 bộ luật tố tụng hình sự). Như vậy, dễ dàng nhận thấy chứng cứ có 3 thuộc tính sau đây:
- Tính có thật (hay còn gọi là tính khách quan)
- Tính hợp pháp (thu thập theo trình tự luật định)
- Tính liên quan

Về tính khách quan
Tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ được dùng để chứng minh cho một nhận định, một kết luận phải là những sự kiện, tài liệu, đồ vật được phản ánh trung thực. Những sự kiện, tài liệu, đồ vật này tồn tại độc lập với ý thức con người. Chúng không thể là sự suy diễn, phỏng đoán và tưởng tượng theo ý chí chủ quan. Đây là thuộc tính quan trọng nhất của chứng cứ. Thực tế cho thấy, trong phần lớn những vụ án oan sai, sai sót xuất phát từ việc chứng cứ không bảo đảm sự khách quan; theo đó, các cơ quan chức năng dựa trên việc nhận tội của bị cáo để đi đến kết luận bị cáo có tội.

Dư luận có lẽ còn nhớ vụ án vườn cao su:
Tại vườn cao su của tỉnh H, cơ quan chức năng phát hiện được một xác chết của một người phụ nữ bị giết chết. Tại hiện trường, các cơ quan chức năng tìm được chiếc đồng hồ và vết chân trượt của anh T. Tại cơ quan điều tra cũng như tòa án, anh T đều thừa nhận đã giết người phụ nữ đó. Tòa đã tuyên xử anh tử hình. Trong thời gian chờ thi hành án, thì ở một vụ án của tỉnh khác, đối tượng M đã khai nhận chính mình đã giết người phụ nữ ở vườn cao su tại tỉnh H chứ không phải anh T. Cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra lại và xác định anh T không giết người. Tuy nhiên sau khi được tha bổng thì anh T đã chết vì bệnh tật do thời gian bị giam cầm quá lâu. Sự thật là anh T có đi ngang qua hiện trường nơi người phụ nữ bị giết, do trời tối và lại có mưa nên trượt chân và văng chiếc đồng hồ.
Đây là vụ án có thật. Ví dụ này nhằm khẳng định: lời nhận tội không bao giờ được phép xem là chứng cứ, vì lời nhận tội không bảo đảm tính khách quan của chứng cứ. Lời nhận tội là một thái độ chủ quan.
Ngoài ra, thực tế có nhiều vụ án về tai nạn giao thông mà người có bằng lái xe thường hay nhận tội cho người không có bằng lái xe (mục đích để tránh tình tiết tăng nặng hình phạt). Chỉ đến khi tòa án tuyên một hình phạt khá cao thì người nhận tội thay mới khai ra toàn bộ sự thật.
Xuất phát từ thuộc tính khách quan này của chứng cứ mà bộ luật tố tụng hình sự qui định không được lấy lời người bị bắt, người bị tạm giam làm chứng cứ định tội.

Về tính hợp pháp
Chứng cứ phải được thu nhập theo một trình tự hợp pháp. Thuộc tính này buộc các cơ quan chức năng phải tôn trọng pháp luật khi thu thập chứng cứ. Những tài liệu, thông tin, đồ vật được thu thập bất hợp pháp sẽ không được xem là chứng cứ.
Tôi xin kể về vụ án vườn tiêu:
Theo trình báo của chủ vườn tiêu – người bị mất cắp, tại hiện trường công an thu thập được một chiếc dép bị bỏ lại (do đối tượng trộm cắp leo qua tường rào nên bị đánh rơi). Cơ quan công an xác định đó là đối tượng K; tại nhà của K, cơ quan công an đã thu giữ một chiếc dép còn lại. Màu sắc và kích cỡ của chiếc dép giống như chiếc đã được thu thập ở hiện trường. Bản thân K cũng thừa nhận mình bị mất một chiếc dép. Nhưng do cơ quan công an quên lập biên bản tạm giữ chứng cứ cho chiếc dép thu được tại hiện trường, nên tại phiên tòa, luật sư của K cho rằng “chiếc dép đó không phải là chứng cứ”. Kết quả là, tòa án đã tuyên K không phạm tội.
Khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng có khi bộc lộ nhiều thiếu sót, gây nghi ngờ về tính xác thực của chứng cứ được thu thập. Cũng có khi, điều tra viên lấy lời khai của bị can bằng cách quay video nhưng không cho người đó xem lại, không lập biên bản, mớm cung cho các bị can khác bằng cách cho họ xem lại đoạn video trước khi trả lời.
Còn nhớ trong vụ án xét xử 8 giáo dân của giáo xứ Thái Hà, một trong những chứng cứ mà các cơ quan chức năng buộc tội các giáo dân là đoạn video ghi lại những cảnh giáo dân cầu nguyện. Tại tòa, tôi đã cho rằng chứng cứ này là thiếu khách quan và được thu thập không hợp pháp, vì người quay đoạn video đó là lực lượng công an quận Đống Đa, hay đúng hơn, cơ quan công an đã tự tạo ra chứng cứ để buộc tội các giáo dân.
Vụ dân oan ở Quận 9 cũng là một ví dụ điển hình. Ngày mở phiên tòa, tôi xin hoãn và đề nghị các cơ quan chức năng làm rõ nguồn gốc của đoạn video quay cảnh dân oan “Gây rối trật tự công cộng”. Tuy nhiên đề nghị này của tôi không được chấp nhận và tòa án đã xử 9 dân oan mỗi người vài năm tù.

Về tính liên quan, tôi xin phép viết trong bài khác.
Như vậy, chúng ta thấy rằng: “lời nhận tội và xin khoan hồng” không phải là chứng cứ buộc tội. Việc công bố tài liệu là lời khai, video âm thanh và hình ảnh người nhận tội chưa chắc bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ.

Ý nghĩa của việc “nhận tội và xin khoan hồng”

Chúng ta biết rằng “không ai bị xem là có tội khi chưa có phán quyết có hiệu lực của tòa án”. Việc nhận tội và xin khoan hồng là thái độ của người bị tạm giữ, tạm giam đối với hành vi của người đó. Tòa án có thể không chấp nhận lời nhận tội của người đó và tuyên người đó vô tội. Cho nên “việc nhận tội và xin khoan hồng” chỉ có ý nghĩa khi tòa án phán quyết rằng người đó có tội. Việc nhận tội dẫn đến người đó phải thành khẩn khai báo về hành vi của mình cũng như những người có liên quan.
Không phải lời nhận tội nào cũng phản ánh đúng ý thức cá nhân của người đó. Chúng ta cũng phải đánh giá tổng thể hoàn cảnh và điều kiện nhận tội. Có thể người đó bị bức cung, nhục hình, bị dụ dỗ hoặc mong muốn sớm tự do, v.v.
Thậm chí việc nhận tội cũng có thể là một bước đi có tính toán của bị cáo khi những căn cứ khởi tố và quy kết phạm tội quá sơ sài, quá thiếu sót và bị phụ thuộc quá nhiều vào tính chủ quan, thành kiến của cơ quan điều tra. Thực tế cho thấy không ít trường hợp bị cáo đã phản cung ngay tại phiên tòa và tự tìm lý lẽ biện hộ cho mình. Trong các trường hợp này thì hành động nhận tội trước đó không còn ý nghĩa nữa, kể cả khi người đó bị tòa án phán quyết rằng người đó có tội.

Xin lưu ý, các tội của chương “An ninh quốc gia” trong Bộ luật hình sự luôn luôn bắt buộc rằng “phải có mục đích nhằm chống chính quyền”. Không có mục đích này thì không bao giờ có tội. Nếu chúng ta thực hiện quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ chứng kiến đối lập để xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ thì không ai được phép kết luận chúng ta có tội.

Sài Gòn 1/7/2009

Ls Lê Trần Luật

CÔNG AN VIỆT NAM HÃY HỌC GẤP TIẾNG TÀU

Hãy học tiếng Tàu
Nguyễn-Hồ Trực Ngôn
Đăng ngày 01/07/2009 lúc 00:10:00 EDT
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3905
Hãy khoan nổi giận, bà con người Việt của tôi. Giữa lúc bauxite, Biển Đông và nhiều nữa đang xảy ra mà kêu gọi học tiếng Tàu thì khác nào cho dầu vào lửa phải không? Tôi chỉ muốn khuyên công an Việt Nam cộng sản nên đi học thêm tiếng Tàu đó thôi. Chuyện đâu còn có đó.

Tin xem được ở web Bauxite info ngày 24.6.09 tựa là ‘Nhộn nhạo làng Trung Quốc ở Hải Phòng’ có nói là ông Lại Thế Minh, trưởng công An xã Tam Hưng nói như phân trần: ‘Từ trước đến nay ban công an xã chưa đi kiểm tra giấy tạm trú của lao động Trung Quốc do bất đồng ngôn ngữ!’ Lao động Trung Quốc nhập cảnh cũng quậy phá dữ quá, từ Thanh Hóa vào đến Nhơn Trạch, nhưng công an Việt Nam không làm gì được cũng vì “bất đồng ngôn ngữ” mà ra. Vậy thì công an và cán bộ Đảng “ta” nên đi học thêm tiếng Tàu để giao thiệp và bắt khẩn cấp hết mấy người Tàu nhập cảnh lậu giùm. Bắt xong rồi thì chớ có thả, mà hãy dùng để trao đổi với Tàu chuộc ngư phủ Việt Nam bị bắt ngoài biển.

Lao động Trung Quốc vào nước ta ào ạt ngày càng nhiều mà bà bộ trưởng quản lý Lao động Nguyễn Thị Kim Ngân lại không kiểm soát nổi. Lao động Trung Quốc lại không đọc được tiếng Việt, vậy thì Đảng viên và nhà nước sau khi nói được tiếng Tàu cũng nên viết công văn và ra lệnh bằng chữ Nho để bạn Trung Quốc hiểu và đồng tính tương thông.

Để tiện việc hành chánh, Đảng “ta” cứ nên xài chữ Nho và nói tiếng Tàu cho có tính nhất quán và đồng thuận cao. Khi ra lệnh cho dân Việt thì có thể nhờ các cô gái vẫn hay phục vụ nghệ thuật, thư giãn với Lao động Trung Quốc thông ngôn lại cho đồng bào mình hiểu. Mấy cô này vẫn không bị trở ngại ngôn ngữ như công an đảng viên.

Những người như anh Lê Công Định và chị Lê Thị Công Nhân từ giờ cứ xổ tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Hàn Quốc là sẽ được để yên vì bất đồng ngôn ngữ. Như vậy là thượng sách.

Nguyễn-Hồ Trực Ngôn
© Thông Luận 2009


-----------------------------------------

Thông tin liên quan:
• Lê Minh,
“ Khôn nhà dại chợ”. Thông Luận, ngày 23/06/2009

GIẤC MƠ ĐƯA VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM RA THẾ GIỚI

Giấc mơ đưa văn chương Việt Nam ra thế giới
talawas blog
01/07/2009 3:43 sáng
http://www.talawas.org/?p=7005

Trong bài “
Nói nhiều ngôn ngữ khác nhau” trên Thể thao & Văn hoá Cuối tuần, dịch giả Cao Việt Dũng nhận định thẳng thừng: “Có lẽ đã đến lúc cần thẳng thắn mà nhìn nhận một sự thật: văn học Việt Nam không mấy hấp dẫn thế giới. Cho dù số lượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài ngày ngày càng tăng và Việt Nam trở thành “thiên đường mua sắm” cho du khách Nhật Bản, thì cũng thật là viển vông khi đặt niềm tin vào một cuộc xuất khẩu ồ ạt văn chương nước nhà hay mơ mộng đến ngày một nhà văn Việt Nam có tên trong danh sách nhận giải Nobel Văn chương.”

Trong tháng Sáu vừa qua, sự kiện văn học được quan tâm nhất tại Việt Nam cũng liên quan đến đường ra thế giới của văn chương Việt Nam. Đó là
vụ phát giác bà Đào Kim Hoa đem bản dịch tiếng Anh 2 bài thơ của ông Hữu Thỉnh và 2 bài thơ của ông Lò Ngân Sủn đi dự Liên hoan Thơ Đài Bắc năm 2001 và đứng tên tác giả trong bản dịch tiếng Trung của 4 bài thơ này. Bà Đào Kim Hoa lên tiếng thanh minh, cho rằng lỗi có thể từ phía Ban Tổ chức Liên hoan Thơ Đài Bắc. Trong “Hành trình tìm sự thật về vụ đạo thơ” trên VietNamNet, tác giả Trang Hạ tìm hiểu thông tin từ phía Ban Tổ chức Liên hoan Thơ Đài Bắc, còn Hội Nhà văn Việt Nam hiện chưa có kết luận vì còn chờ tài liệu gốc.

LS CÙ HUY HÀ VŨ KHIẾU NẠI về "THÔNG BÁO" của ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

Đúng như Bauxite Việt Nam đã từng nói, Thông báo của ĐLSHN về trường hợp LS CHHV xem ra với cảm nhận của nhiều người thì không "có... duyên" cho lắm. Đây xin mời bạn đọc hãy xem Đơn khiếu nại của LS Vũ kèm bản scan Thông báo có dấu đỏ (nhưng lại không đánh số công văn) của ĐLSHN
Bauxite Việt Nam
http://bauxitevn.info/2418/don-khieu-nai-ve-thong-bao-cua-doan-luat-su-ha-noi-ve-cu-huy-ha-vu/

Đơn khiếu nại về thông báo của Đoàn luật sư Hà Nội về Cù Huy Hà Vũ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội ngày 1/7/2009

ĐƠN KHIẾU NẠI
V/V THÔNG BÁO KHÔNG SỐ NGÀY “10/6/2009” CỦA BAN CHỦ NHIỆM ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI XÂM PHẠM NGHIÊM TRỌNG DANH DỰ, UY TÍN CỦA CÔNG DÂN CÙ HUY HÀ VŨ


Kính gửi: Ban thường vụ Liên Đoàn luật sư Việt Nam

Tôi là Cù Huy Hà Vũ, 24 Điện Biên Phủ, Hà Nội, xin gửi tới Ban thường vụ lời chào trân trọng và bằng Đơn này khiếu nại về việc Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội xâm phạm danh dự, uy tín của cá nhân tôi.
Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội đã ban hành Thông báo Không số ngày “10/6/2009” v/v Anh Cù Huy Hà Vũ không phải là luật sư (kèm theo) với nội dung:
“Gần đây có một số người gọi điện về Đoàn luật sư thành phố Hà Nội hỏi anh Cù Huy Hà Vũ có phải là luật sư không?
Đoàn luật sư thành phố Hà Nội trả lời: anh Cù Huy Hà Vũ không phải là luật sư vì có một Văn phòng lấy tên là “Văn phòng luật sư Cù Huy Hà Vũ” nên một số người nhầm tưởng anh là luật sư.
Đoàn luật sư thành phố Hà Nội thông báo để mọi người biết”.


Thông báo này được đăng trên Website của Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội:
http://luatsuhanoi.vn/index.php?page=productView&viewParent=178&id=1154

Tôi thấy Thông báo này của Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội đã xâm phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín của cá nhân tôi, Cù Huy Hà Vũ, với căn cứ sau đây:
Đoàn luật sư thành phố Hà Nội hoạt động theo Luật luật sư (Pháp lệnh Luật sư trước đây) và Điều lệ của Đoàn luật sư thành phố Hà Nội ban hành trên cơ sở Luật này. Điều 2 Điều lệ quy định Nhiệm vụ của Đoàn luật sư thành phố Hà Nội như sau:
Đại diện, bảo vệ cho các quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư, luật sư tập sự trong khi hành nghề.
Bồi dưỡng các luật sư về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn.
Giám sát các luật sư và chấp hành pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư.
Giải quyết các tranh chấp và khiếu nại có liên quan thanh danh, đạo đức nghề nghiệp của luật sư, luật sư tập sự.
Như vậy, mọi văn bản (quyết định, thông báo…) do Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội ban hành không thể đi ra ngoài việc phục vụ nhiệm vụ nói trên của Đoàn luật sư. Do đó, việc Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội ra Thông báo về nhân thân của tôi, Cù Huy Hà Vũ, trong khi tôi không hề dính dáng tới Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, là hành vi xâm phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín của cá nhân tôi. Hơn nữa đây là hành vi cố ý bởi Thông báo hoàn toàn bất bình thường cả về tính chất, hình thức lẫn thời điểm được ban hành:
Không một tổ chức, đoàn thể nào được Nhà nước cấp phép hoạt động lại thiếu hiểu biết đến mức ra Thông báo để đáp ứng yêu cầu của “một số người gọi điện về hỏi”!
Cần khẳng định rằng ngay cả trong trường hợp có ai đó hỏi bằng văn bản về những vấn đề liên quan đến tổ chức, đoàn thể thì tổ chức, đoàn thể có liên quan cũng chỉ có thể trả lời riêng cho người đó chứ không thể “thông báo để mọi người biết”. Chỉ riêng với hành vi bất bình thường có một không hai này, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội cũng đã đủ để đi vào lịch sử!
Thông báo này Không có số và cũng không ghi Nơi nhận (chí ít Lưu VP ĐLS Hà Nội) trong khi một Thông báo khác của Chủ nhiệm Đoàn luật sư được ban hành cùng ngày 10/6/2009 thì lại có số 304/TB-BCN và có ghi Nơi nhận;
Thông báo này không phải được ban hành vào ngày 10/6/2009 mà là sau ngày 11/6/2009, ngày tôi gửi Toà án nhân dân thành phố Hà Nội Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ do đã đã ban hành trái pháp luật Quyết định số 167/2007/QĐ – TTg Phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007 -2015, có xét đến năm 2025, vì Thông báo này được đăng trên Website của Đoàn luật sư sau cả Thông báo số 307/VPĐLS ngày 11/6/2009 trong khi Thông báo số 304/TB-BCN của Chủ nhiệm Đoàn luật sư được ban hành cùng ngày 10/6/2009 thì được đăng bình thường, trước Thông báo số 307/VPĐLS ngày 11/6/2009.

Do đó,
Căn cứ Điều 37 Bộ Luật dân sự – Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ);
Căn cứ Khoản 1 Điều 87 Luật Luật sư – Khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư, các cơ quan của tổ chức luật sư toàn quốc (Cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Ban thường vụ tổ chức luật sư toàn quốc có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư).
Căn cứ Thông báo yêu cầu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 29/6/2009 đối với Liên đoàn luật sư Việt Nam (Có các biện pháp cần thiết để phòng và chống việc lợi dụng danh nghĩa tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư gây tác động xấu đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”).

Tôi, Cù Huy Hà Vũ, đề nghị Ban thường vụ Liên đoàn luật sư Việt Nam buộc Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội:
Huỷ bỏ Thông báo Không số ngày 10/6/2009 của Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội;
Xin lỗi tôi, Cù Huy Hà Vũ, bằng văn bản và đăng văn bản xin lỗi này trên Website, Bản tin Luật sư ngày nay của Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội và trên các phương tiện thông tin của Liên đoàn luật sư Việt Nam.

Tôi chân thành cảm ơn Ban thường vụ Liên đoàn luật sư Việt Nam và đề nghị sớm giải quyết Đơn khiếu nại này nhằm tránh cho danh dự và uy tín của cá nhân tôi khỏi bị thiệt hại hơn nữa.

ĐT: 04.37342679, 0904350187
Email:
havolaw@yahoo.com CÙ HUY HÀ VŨ

---------------------------------------

THÔNG BÁO của Đoàn Luật Sư Hà Nội
http://bauxitevn.info/uploads/2009/07/Thông-báo.jpg

ĐƠN KHIẾU NẠI của LS CÙ HUY HÀ VŨ
http://bauxitevn.info/uploads/2009/07/Tr1.jpg
http://bauxitevn.info/uploads/2009/07/Tr2.jpg
http://bauxitevn.info/uploads/2009/07/Tr3.jpg