Tại
sao Ấn Độ vẫn sẽ phụ thuộc vào Mỹ trong thời gian này?
C. Raja Mohan - Foreign
Affairs
Viên Đăng Huy, biên dịch - Nghiên Cứu Quốc Tế
https://nghiencuuquocte.org/2026/09/03/tai-sao-an-do-van-se-phu-thuoc-vao-my-trong-thoi-gian-nay/
Trong nhiệm
kỳ thứ hai, Tổng thống Donald Trump đã đặt quan hệ Mỹ – Ấn trước một phép thử
nghiêm trọng. Ông áp thuế lên hàng hóa Ấn Độ, đe dọa áp dụng các biện pháp trừng
phạt thứ cấp, xích lại gần Pakistan một cách đáng kể, đồng thời nhiệt tình thúc
đẩy quan hệ với Trung Quốc — quốc gia mà Ấn Độ coi là mối đe dọa quân sự lâu
dài lớn nhất. Tuy nhiên, những căng thẳng này không dẫn tới sự đổ vỡ quan hệ
như một số nhà quan sát từng dự đoán, cũng không buộc Ấn Độ phải định hướng lại
nền tảng chính sách đối ngoại của mình. Thay vào đó, New Delhi đã áp dụng một
chiến lược có thể gọi là “Mỹ cộng”: tìm cách duy trì quan hệ đối tác với Mỹ, đồng
thời mở rộng quan hệ với các cường quốc khác, đặc biệt là các đồng minh của
Washington.
Thủ tướng
Narendra Modi đã phản ứng trước những động thái khiêu khích của Trump bằng một
sự kiềm chế khác thường, đồng thời chống lại những sức ép trong nước đòi xa rời
Washington. Với Mỹ, Ấn Độ tiếp tục đàm phán thương mại, tăng cường hợp tác quốc
phòng và mở rộng quan hệ về công nghệ cũng như thương mại. New Delhi vẫn duy
trì Nhóm Bộ Tứ (Quad) — cơ chế an ninh khu vực gồm Ấn Độ, Australia, Nhật Bản
và Mỹ — đồng thời xích lại gần hơn với các đồng minh của Washington, duy trì
quan hệ với Nga và tìm cách hạ nhiệt căng thẳng với Trung Quốc. Những nỗ lực
này không phải là dấu hiệu cho thấy Ấn Độ đang tách khỏi Mỹ hay chuyển hẳn sang
một chiến lược đa liên kết. New Delhi đang cố gắng giảm mức độ dễ bị tổn thương
trước tính bất ổn trong chính sách của Mỹ, nhưng vẫn thừa nhận rằng Washington
là đối tác quan trọng nhất của mình. Xét cho cùng, nếu cần một cường quốc làm
chỗ dựa chiến lược, Ấn Độ hiện không có lựa chọn nào tốt hơn. Trung Quốc và Nga
sẽ không bao giờ mua hàng hóa và dịch vụ của Ấn Độ ở quy mô tương đương Mỹ, còn
Nga cũng không đủ khả năng giúp Ấn Độ cân bằng sức mạnh với Trung Quốc. Chính
những thực tế đó đã giúp bảo vệ quan hệ Mỹ – Ấn cho đến nay. Tuy nhiên, nếu
Trump tiếp tục gia tăng sức ép, dư luận trong nước có thể buộc Modi phải từ bỏ
cách tiếp cận kiềm chế hiện nay.
NGÀY
CÀNG XA CÁCH
Cho đến
năm 2024, Modi và Đảng Bharatiya Janata (BJP) cầm quyền tỏ ra rất hào hứng trước
viễn cảnh Trump trở lại Nhà Trắng. Modi từng thiết lập một mối quan hệ cá nhân
nồng ấm khác thường với Trump trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông. Trong các năm
2019 và 2020, hai nhà lãnh đạo cùng chủ trì những sự kiện quy mô lớn tại
Houston và Ahmedabad, mở rộng hợp tác quốc phòng và phát triển một cách tiếp cận
tương đối đồng thuận về an ninh châu Á. Những ngày đầu nhiệm kỳ thứ hai của
Trump dường như cho thấy mối quan hệ cá nhân thân thiện đó sẽ tiếp tục. Tại cuộc
gặp ở Nhà Trắng vào tháng 2/2025, hai bên công bố một chương trình nghị sự đầy
tham vọng về thương mại, quốc phòng, năng lượng và công nghệ. Để thể hiện thiện
chí, Modi nhượng bộ Trump bằng cách cắt giảm một số mức thuế của Ấn Độ đối với
hàng hóa Mỹ và tiếp nhận một máy bay chở những người nhập cư bị Mỹ trục xuất.
Tuy nhiên,
mối quan hệ nhanh chóng trở nên lạnh nhạt. Tháng 5/2025, Trump tự nhận công lao
trong việc chấm dứt một cuộc xung đột quân sự ngắn giữa Ấn Độ và Pakistan. Trong
khi Islamabad ca ngợi sự can thiệp của ông, New Delhi từ chối thừa nhận Trump
đã đóng bất kỳ vai trò trung gian nào, kiên định với lập trường lâu nay rằng
các tranh chấp với Pakistan là vấn đề song phương và không cần sự hòa giải từ
bên ngoài. Sau đó, Trump lại thể hiện sự thiện cảm đối với Tổng tư lệnh quân đội
Pakistan Syed Asim Munir, đồng thời nâng vị thế của Pakistan trong các ưu tiên
ngoại giao của Nhà Trắng bằng cách sử dụng Islamabad làm trung gian trong các
cuộc đàm phán với Iran và ủng hộ một thỏa thuận an ninh ba bên giữa Pakistan,
Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ.
Trump cũng
trở nên gần gũi hơn với Trung Quốc, một đối thủ chiến lược khác của Ấn Độ.
Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông từng tìm cách xây dựng các quan hệ đối tác mạnh
hơn với Australia, Ấn Độ, Indonesia và Nhật Bản nhằm hình thành một kiến trúc
khu vực mới ở châu Á để kiềm chế Trung Quốc. Nhưng sang nhiệm kỳ thứ hai, Trump
lại dành nhiều thời gian vun đắp quan hệ với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình,
thậm chí từng đề cập sơ bộ tới khả năng thiết lập một cơ chế “G-2”, theo đó Mỹ
và Trung Quốc sẽ thường xuyên gặp gỡ để giải quyết các vấn đề toàn cầu. Ông
cũng không tổ chức hội nghị thượng đỉnh thường niên của Quad, làm dấy lên hoài
nghi về việc liệu Mỹ còn cam kết với cơ chế an ninh này và với mục tiêu ngăn
Trung Quốc chi phối châu Á hay không. Căng thẳng thương mại càng làm quan hệ Mỹ
– Ấn xấu đi. Khi Trump áp mức thuế cao đối với Ấn Độ vì chính sách bảo hộ và vì
nước này mua dầu của Nga, nhiều người Ấn Độ cảm thấy đất nước họ bị nhắm tới một
cách bất công. Washington đã tự dành cho mình và một số quốc gia châu Âu các
ngoại lệ để tiếp tục mua dầu của Nga, trong khi chính quyền Biden trước đó thậm
chí còn khuyến khích Ấn Độ nhập dầu Nga theo cơ chế giá trần như một phần của nỗ
lực ổn định thị trường dầu mỏ toàn cầu. Đến cuối năm 2025, Ấn Độ phải đối mặt với
một số mức thuế cao nhất trong số các đối tác thương mại của Mỹ.
Chính vì vậy,
dư luận Ấn Độ bắt đầu quay lưng với Trump từ năm 2025. Lãnh đạo phe đối lập
Rahul Gandhi cáo buộc Modi đầu hàng trước sức ép của Mỹ. Những người vốn hoài
nghi Washington từ lâu cho rằng Mỹ một lần nữa chứng minh mình là một đối tác
không đáng tin cậy. Những người chỉ trích Modi vận động nông dân phản đối hiệp
định thương mại Mỹ – Ấn bằng cách mô tả việc mở cửa thận trọng thị trường nông
nghiệp Ấn Độ cho hàng hóa Mỹ là một sự nhượng bộ quá mức. Một số lực lượng
chính trị thậm chí cho rằng Ấn Độ sẽ có lợi hơn nếu xây dựng quan hệ chặt chẽ
hơn với Trung Quốc và Nga. Tuy nhiên, Modi phần lớn phớt lờ những lời kêu gọi
đó và tránh đối đầu trực diện với Trump. Năm ngoái, Ấn Độ hoàn tất một khuôn khổ
hợp tác quốc phòng mới kéo dài mười năm với Mỹ nhằm làm sâu sắc hơn hợp tác an
ninh song phương và khu vực. Khi hội nghị thượng đỉnh thường niên của lãnh đạo
Quad không thể diễn ra trong năm 2025 do Trump từ chối tham dự, New Delhi tìm
cách duy trì cơ chế này bằng việc tổ chức một cuộc họp cấp ngoại trưởng thay thế.
Modi cũng tiếp tục theo đuổi các cuộc đàm phán thương mại khó khăn và đầu tư
đáng kể vốn chính trị để vượt qua sự kháng cự của bộ máy thương mại vốn mang nặng
tư tưởng bảo hộ ở Ấn Độ. Về phần mình, Mỹ cũng có một số động thái khiêm tốn nhằm
hàn gắn quan hệ. Chẳng hạn, vào tháng 8, đại sứ Mỹ tại New Delhi gọi khu vực
Kashmir tranh chấp là “một phần quan trọng của Ấn Độ”, qua đó phát tín hiệu rằng
Washington vẫn nhạy cảm với lập trường của New Delhi về vấn đề này.
VẠN
SỰ KHỞI ĐẦU NAN
Sự kiềm chế
của Modi phần lớn bắt nguồn từ thực tế rằng Ấn Độ đã mất nhiều năm mới xây dựng
được một mối quan hệ vững chắc với Mỹ. Trong nhiều thập kỷ sau khi giành độc lập,
sự nghi kỵ đối với Washington đã ăn sâu trong giới chính trị, bộ máy quốc
phòng, giới quan liêu và cộng đồng khoa học Ấn Độ. Tâm lý đó càng được củng cố
bởi liên minh giữa Mỹ và Pakistan, việc Washington bắt tay với Trung Quốc trong
Chiến tranh Lạnh, khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của Ấn Độ trong những thập kỷ
sau năm 1947 và quan hệ gần gũi của New Delhi với Liên Xô. Sự kết thúc của Chiến
tranh Lạnh mở ra cơ hội hàn gắn quan hệ Mỹ – Ấn, nhưng tiến trình diễn ra chậm
chạp. Hiệp định hạt nhân dân sự năm 2005 giữa Thủ tướng Manmohan Singh và Tổng
thống George W. Bush là bước đột phá mang tính quyết định, chấm dứt tình trạng
cô lập hạt nhân của Ấn Độ và mở đường cho một quan hệ đối tác chiến lược rộng
hơn. Tuy nhiên, hiệp định cũng vấp phải sự phản đối quyết liệt từ BJP theo chủ
nghĩa dân tộc Hindu, phe tả cộng sản và những bộ phận quan trọng trong chính Đảng
Quốc đại của Singh.
Khi Modi
trở thành thủ tướng năm 2014, ông quyết tâm củng cố quan hệ với Washington. Ông
xây dựng quan hệ làm việc hiệu quả với ba đời tổng thống Mỹ liên tiếp: Barack
Obama, Donald Trump và Joe Biden. Modi thúc giục giới chức, lực lượng vũ trang
và cộng đồng khoa học Ấn Độ tăng cường hợp tác với các đối tác Mỹ. Chính phủ của
ông ký những thỏa thuận quốc phòng nền tảng bị trì hoãn từ lâu, mở rộng hợp tác
tình báo và quân sự, hồi sinh Quad và thúc đẩy quan hệ sâu sắc hơn với Mỹ trong
các lĩnh vực công nghệ trọng yếu và mới nổi. Vị thế chính trị áp đảo của Modi
trong nước cũng giúp ông kiềm chế những phản ứng tiêu cực trước quan hệ ngày
càng gần gũi với Washington. Đến thời điểm Trump trở lại Nhà Trắng, hợp tác Mỹ
– Ấn đã được củng cố bởi những mối liên hệ ngày càng sâu rộng giữa các doanh
nghiệp, trường đại học và cộng đồng người Ấn tại Mỹ. Trong bài phát biểu trước
Quốc hội Mỹ năm 2016, Modi tuyên bố rằng Ấn Độ đã vượt qua “sự do dự mang tính
lịch sử” trong quan hệ với Mỹ. Ngày nay, quan hệ Mỹ – Ấn đã đạt được mức độ bền
vững mà cả sự thất thường của Trump lẫn truyền thống bài Mỹ lâu đời ở Ấn Độ đều
khó có thể dễ dàng xóa bỏ. Tham vọng kinh tế, kế hoạch quân sự và khát vọng
công nghệ của Ấn Độ giờ đây đều gắn với Mỹ ở một mức độ đáng kể.
ĐA
DẠNG HÓA, NHƯNG KHÔNG RỜI XA MỸ
Dĩ nhiên,
kể từ khi lên nắm quyền, Modi cũng tăng cường quan hệ với nhiều cường quốc
khác. Năm 2023, Nga trở thành nhà cung cấp dầu lớn nhất của Ấn Độ. Và mặc dù tỷ
trọng của Nga trong nhập khẩu vũ khí của Ấn Độ đã giảm trong hai thập kỷ qua,
Moscow vẫn là một nhà cung cấp quan trọng cho quân đội nước này. Những nỗ lực
đa dạng hóa ngoại giao của Modi cũng mở rộng tới Trung Quốc. Khi mới nhậm chức,
ông từng hy vọng có thể cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, nhưng một loạt khủng hoảng
quân sự vào các năm 2014, 2017 và 2020 đã làm gián đoạn kế hoạch đó. Hiện nay,
New Delhi rất muốn hạ nhiệt căng thẳng với Bắc Kinh, nhằm giảm nguy cơ xung đột,
tìm kiếm một thỏa thuận biên giới và phòng ngừa khả năng quan hệ Mỹ – Trung cải
thiện đáng kể. Kể từ năm 2024, Ấn Độ đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chuyên
gia Trung Quốc xin thị thực, nối lại các chuyến bay thẳng giữa hai nước và dỡ bỏ
một số hạn chế đối với đầu tư Trung Quốc. Tháng 9 tới, Tập Cận Bình dự kiến có
chuyến thăm đầu tiên tới Ấn Độ kể từ năm 2019.
Nhiều nhà
phân tích gọi những động thái hướng tới Bắc Kinh và Moscow này là một chiến lược
“đa liên kết”, tức cân bằng quan hệ với nhiều đối tác mà không cam kết đi theo
bất kỳ một khối hay quốc gia nào. Tuy nhiên, cách mô tả đó chưa hoàn toàn chính
xác. Một khái niệm phù hợp hơn là “Mỹ cộng”. Ấn Độ vốn từ lâu đã có xu hướng
phòng ngừa rủi ro bằng cách duy trì nhiều quan hệ song song, nhưng hiện nước
này đã đặt khá nhiều kỳ vọng vào Mỹ. Khi đa dạng hóa các mối quan hệ, New Delhi
chủ yếu hướng tới các đồng minh và đối tác của Mỹ như Australia, Canada, Nhật Bản,
Anh và các nước châu Âu. Chiến lược tăng trưởng của Ấn Độ gắn với những đối tác
này sâu sắc hơn bao giờ hết.
Ấn Độ hiểu
rằng cả Trung Quốc lẫn Nga đều không thể thay thế Mỹ với tư cách đối tác kinh tế
có giá trị tương đương. Mỹ là thị trường lớn nhất của Ấn Độ đối với hàng hóa và
dịch vụ, đồng thời là nguồn cung vốn và công nghệ quan trọng. Tổng kim ngạch
thương mại hàng hóa và dịch vụ Mỹ – Ấn đạt khoảng 240 tỷ USD trong năm 2025, với
cán cân nghiêng về phía Ấn Độ. Trung Quốc cũng là một trong những đối tác
thương mại lớn nhất của Ấn Độ, nhưng quan hệ này mất cân đối nghiêm trọng: năm
2025, thâm hụt thương mại hàng hóa của Ấn Độ với Trung Quốc vượt 110 tỷ USD. Bắc
Kinh là nguồn cung quan trọng về hàng chế tạo, nhưng không thể đem lại cho Ấn Độ
một thị trường có quy mô tương đương Mỹ, cũng không thể cung cấp khả năng tiếp
cận một phổ công nghệ tiên tiến rộng như Washington. Tương tự, Nga nhập khẩu rất
ít hàng hóa Ấn Độ và hiện cũng không phải là nguồn cung đáng kể các công nghệ
tiên tiến như trí tuệ nhân tạo.
Ngoại giao
thương mại gần đây của Ấn Độ phản ánh rõ chiến lược “Mỹ cộng” này. Sau khi từ
chối tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) năm 2019 — một
khuôn khổ mà New Delhi lo ngại Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng áp đảo — Ấn Độ đã ký
các hiệp định thương mại tự do với New Zealand, Anh và Liên minh châu Âu, mở rộng
hợp tác kinh tế với Australia và nối lại đàm phán thương mại với Canada. Mỹ và Ấn
Độ cũng hoàn tất một thỏa thuận thương mại quan trọng vào tháng 2, thỏa thuận đầu
tiên thuộc loại này giữa hai nước, với mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song
phương lên 500 tỷ USD vào năm 2030. Tuy nhiên, Trump vẫn chưa chính thức phê
chuẩn thỏa thuận và tiếp tục tìm kiếm những biện pháp mới để áp thuế lên hàng
hóa Ấn Độ.
Ấn Độ cũng
dựa vào Mỹ và các đồng minh của Washington về an ninh. Căng thẳng dọc biên giới
tranh chấp Trung – Ấn đã giảm sau những cuộc đụng độ chết người năm 2020, nhưng
Trung Quốc vẫn là đối thủ chiến lược dài hạn lớn nhất của Ấn Độ. Cán cân quân sự
thông thường dọc biên giới ngày càng nghiêng về phía Bắc Kinh. Trung Quốc chi
tiêu quốc phòng gấp khoảng bốn lần Ấn Độ, đã xây dựng một hiện diện quân sự lớn
ở Tây Tạng phía bên kia dãy Himalaya, tiếp tục mở rộng hoạt động hải quân tại Ấn
Độ Dương và ngày càng tăng cường hợp tác quốc phòng với Pakistan. Washington
mang lại cho New Delhi khả năng tiếp cận tình báo, công nghệ quân sự tiên tiến,
các cuộc tập trận chung và một mạng lưới quan hệ đối tác an ninh rộng hơn. Quad
tiếp tục có tiềm năng trở thành một cơ chế hàng hải khu vực giúp hạn chế khả
năng Trung Quốc thống trị các vùng biển châu Á. Ấn Độ cũng mở rộng hợp tác với
các đồng minh của Mỹ về sản xuất quốc phòng, công nghệ, chuỗi cung ứng có khả
năng chống chịu và an ninh hàng hải.
Ngay cả nếu
muốn, Ấn Độ cũng không thể quay sang Trung Quốc hoặc Nga để đáp ứng những nhu cầu
đó. New Delhi vẫn phụ thuộc vào Moscow đối với một số loại vũ khí và linh kiện
thay thế, nhưng khả năng Nga giúp kiềm chế Trung Quốc đã suy giảm mạnh. Kể từ
khi phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine năm 2022, Nga trở nên quá phụ thuộc
vào Trung Quốc để có thể đóng vai trò cân bằng Bắc Kinh một cách thực chất.
BRICS và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải — hai cơ chế mà Trung Quốc có ảnh hưởng lớn
và Nga hậu thuẫn — cũng không thể cung cấp một đối trọng chiến lược tương tự. Ấn
Độ hiểu rằng Washington có những lý do kinh tế và chính trị riêng để ổn định
quan hệ với Bắc Kinh, nhưng New Delhi cũng tin rằng sự cạnh tranh mang tính cấu
trúc giữa Mỹ và Trung Quốc — về công nghệ, sức mạnh hàng hải, liên minh và trật
tự khu vực — sẽ không biến mất. Vì thế, ngay cả khi Trump tạm thời mềm mỏng hơn
với Bắc Kinh, nền tảng cấu trúc cho hợp tác Mỹ – Ấn nhiều khả năng vẫn tồn tại.
GIỚI
HẠN CUỐI CÙNG CỦA SỰ KIỀM CHẾ
Cho đến
nay, Modi đã cố gắng hạn chế thiệt hại mà chính sách của Trump gây ra cho quan
hệ song phương. Nhưng khả năng làm điều đó của ông cũng có giới hạn. Một bộ phận
ngày càng lớn trong giới chính trị Ấn Độ muốn thấy New Delhi cứng rắn hơn với
Washington, ngay cả khi điều đó có thể gây tổn hại cho chính Ấn Độ. Mối đe dọa
trực tiếp nhất đối với quan hệ Mỹ – Ấn hiện nay là một dự luật được đề xuất tại
Mỹ, cho phép áp thuế lên tới 100% đối với những quốc gia mua năng lượng của
Nga. Nếu dự luật trở thành luật và Trump không miễn trừ cho Ấn Độ, nó sẽ gây
thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế nước này và củng cố cảm giác trong xã hội Ấn
Độ rằng Mỹ không còn là một đối tác tự nhiên. Nếu Washington nhắm riêng vào Ấn
Độ trong khi vẫn dành ngoại lệ cho các nước khác, tâm lý bài Mỹ vốn lâu nay chỉ
âm ỉ có thể bùng phát trở lại.
Cho đến gần
đây, vị thế chính trị áp đảo trong nước của Modi đã giúp ông bảo vệ chính sách
đối với Mỹ khỏi những chỉ trích nội bộ. Tuy nhiên, các cuộc biểu tình gần đây của
giới trẻ, khởi phát từ vụ rò rỉ đề thi, đã làm suy giảm phần nào hình ảnh bất
khả xâm phạm của ông. Nếu quyền lực trong nước của Modi tiếp tục bị xói mòn,
ông có thể phải đối mặt với sức ép lớn hơn từ cả cánh hữu lẫn cánh tả trước điều
mà họ coi là thái độ quá nhún nhường với Trump, và cuối cùng có thể nhận thấy rằng
việc công khai thách thức Washington mang lại lợi ích chính trị.
Tâm lý bài
Mỹ gia tăng chưa chắc dẫn tới một sự đổ vỡ chính thức trong quan hệ song
phương, nhưng có thể làm chậm hợp tác quốc phòng và công nghệ, đồng thời thúc đẩy
New Delhi tăng cường chiến lược phòng ngừa bằng cách đa dạng hóa quan hệ. Trong
kịch bản xấu nhất, Modi có thể chịu sức ép phải nhượng bộ Trung Quốc để ổn định
biên giới và thu hút thêm đầu tư, công nghệ từ Bắc Kinh. New Delhi cũng có thể
giảm động lực mua vũ khí Mỹ. Đồng thời, Ấn Độ có thể không còn đóng vai trò kiềm
chế trong BRICS và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải — chẳng hạn bằng cách ngừng làm
loãng những nỗ lực nhằm thách thức vai trò thống trị toàn cầu của đồng USD.
Tuy nhiên,
Ấn Độ vẫn chưa đi đến điểm đó. Những người chỉ trích cách Modi quản lý thận trọng
quan hệ với Washington vẫn chưa đưa ra được một chiến lược thay thế thuyết phục
về cách New Delhi nên xử lý khoảng cách quyền lực ngày càng lớn với Trung Quốc.
Kêu gọi cải thiện quan hệ với Bắc Kinh là điều dễ dàng, nhưng những điều kiện
mà Trung Quốc có thể đặt ra cho một nền hòa bình lâu dài với Ấn Độ — bao gồm một
thỏa thuận lãnh thổ có lợi cho Bắc Kinh và việc New Delhi cắt giảm quan hệ an
ninh với Mỹ — sẽ là cái giá quá lớn. Trung Quốc cũng chưa từng cho thấy họ sẵn
sàng giúp một quốc gia khác vươn lên về kinh tế và công nghệ theo cách có thể
đe dọa vị thế của chính mình. Nói một cách đơn giản, con đường hướng tới tăng
trưởng kinh tế và hiện đại hóa công nghệ của Ấn Độ sẽ khó khăn hơn rất nhiều nếu
thiếu Mỹ. Vì vậy, tăng cường quan hệ với các đồng minh của Washington và tiếp tục
hợp tác với Trump, ít nhất trong thời điểm hiện tại, vẫn là lựa chọn chiến lược
tốt nhất của Ấn Độ.
----------------------------
C.
Raja Mohan là
Giáo sư Danh dự tại Viện Nghiên cứu Châu Mỹ Motwani-Jadeja thuộc Đại học Toàn cầu
Jindal.
Nguồn: C. Raja Mohan,
“India
Is Sticking With America—for Now”, Foreign Affairs, 27/08/2026
No comments:
Post a Comment