Wednesday, March 31, 2010

THỰC HƯ CHUYỆN NGƯỜI VIỆT NHẢY MÚA TRONG LỄ TẾ MÃ VIỆN

THỰC HƯ CHUYỆN NGƯỜI VIỆT NHẢY MÚA TRONG LỄ TẾ MÃ VIỆN

Nhà văn Phạm Viết Đào

Đăng ngày: 06:45 31-03-2010

http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv/article?mid=4461

( Về bài viết của tác giả Thái An trên Vietnamnet ) *

Sau khi Blog Phamvietdaonv cho hiển thị bài: Quảng Ninh có tham gia " Miếu hội Phục ba tướng quân Mã Viện" ở Đông Hưng Trung Quốc không ? Bài viết dựa trên các hình ảnh quan sát được trên mạng Trung Quốc đưa.

Sau khi bài ra mắt độc giả, chủ Blog đã nhận được một số thông tin qua điện thoại cho biết: Trong những năm vừa qua, có sự tham gia của một số người Việt Nam từ Quảng Ninh sang tham gia lễ hội này. Thậm chí còn cho biết chức danh của những người tham gia. Vì là thông tin không được kiểm chứng, hơn nữa lại là thông tin nhạy cảm, với chức năng của một Blog cá nhân, chúng tôi đã không thông tin thêm mà để ngỏ cho các cơ quan chức năng Quảng Ninh xem xét, giải quyết !

Nhân Vietnamnet vừa hiển thị bài của tác giả Thái An đưa tin lại sự việc này, Blog Phamvietdaonv xin đưa lại toàn văn bài của Thái An và chỉ xin nêu một ý kiến với tác giả Thái An và Ban biên tạp Vietnamnet về ý kiến:" Chuyện gây xôn xao thực ra rất bình thường, nó không khác nào việc hai người ở hai làng khác nhau nhưng có quan hệ họ hàng, vào dịp tế lễ sóc vọng làng này, người dân làng khác có thể tham dự..."

Nếu quả thật bà con người Kinh bên Đông Hưng đến múa hát, thậm chí mang bánh tét, cơm gà sang góp cho " Miếu hội..." là chuyện bình thường, góp vui để tăng tình hữu hảo thì: hành động của các diễn viên ăn mặc theo kiểu Hai Bà Trưng, Lê Chân, Thi Sách quỳ lạy trước miếu thờ Mã Viện là tham gia góp vui theo kiểu gì vậy?

Trong khi trước miếu treo bức hoàng phi lớn: Vệ quốc anh hùng Vạn dân kính ngưỡng...Nếu là người Kinh sinh sống ở Đông Hưng không nhẽ không biết ý nghĩa của bức hoành phi này?

Chủ Blog Phamvietdaonv xin có 2 câu hỏi muốn nhờ tác giả Thái An và Ban Biên tập Vietnamnet giải thích hộ nếu coi như thế là bình thường:

-Người Việt ở đâu vẫn là người Việt? Liệu chúng ta có cho là bình thường nếu thấy hình ảnh một số kiều bào ta ở Mỹ, ví thử tập trung múa hát trước ngôi nhà lưu niệm của viên Trung uý Mỹ, kẻ đã từng gây ra vụ thảm sát ở Mỹ Lai, nhân một dịp nào đó và coi là chuyện bình thường không ?
-Chúng ta có cho là bình thường khi thấy ai đó là người Việt, mang bánh tét, quỳ lạy trước bức tường ghi danh những người lính Mỹ chết trận ở Việt Nam, làm lễ cầu hồn họ lên để xin họ tha thứ thì? Mặc dù họ đang là Việt kiều sống ở Mỹ giống như người Kinh ở Đông Hưng?!

Báo chí Đông Hưng-Trung Quốc đưa là chuyện của người ta, còn Vietnamnet cũng hùa vào coi là bình thường thì có bình thường không ?!

.

XEM TIẾP : http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv/article?mid=4461

.

.

.

CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG

Chủ trương của Đảng

Blogger Thiên Sầu (Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do)
Wednesday, March 17, 2010

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=109976&z=244

Đã từ lâu lắm rồi, những từ ngữ như: 'Thiên Triều,' 'anh hai Cộng Sản,' đã quen dần trong lòng những người cộng sản Việt Nam, như thứ thuật ngữ thiêng liêng và cao quý. Người cộng sản nói, và tin, rằng những thuật ngữ ấy 'thể hiện cho sự quyết tâm, mong ngóng được một ngày quay trở về 'đất mẹ,' được sáp nhập với 'mẫu quốc,' cùng nhau hướng về một Xã Hội Chủ Nghĩa, đại đồng tốt tươi và đẹp đẽ.'

Họ lý luận, rằng trong quá trình tiến tới một thế giới đại đồng, vô sản thế giới cần đoàn kết lại. Nhưng đoàn kết về tinh thần, qua lời nói thì chưa đủ, mà còn phải qua hành động. Trong bộ máy chuyên chính của Cộng Sản nói chung và Cộng Sản Việt Nam nói riêng, Công An và Tuyên Truyền là hai lĩnh vực được chú trọng bậc nhất. Một bộ phận chuyên đàn áp, bắt bớ những người chống lại chủ nghĩa Cộng Sản, chống lại “đỉnh cao trí tuệ” đưa con người tiến đến một xã hội tân tiến mà chỉ... nằm mơ mới thấy được. Bộ phận còn lại thì nhằm tuyên truyền các chính sách, thông tin một chiều nhằm làm cho đầu óc người dân trở nên mụ mị, thấm nhuần những 'chủ trương đúng đắn' của đảng mà bớt đi sự xuyên tạc có thể dẫn đến bạo loạn mất đi sự cai trị độc đoán của đảng.

Ta còn nhớ vào những ngày cuối Tháng Mười Hai, 2007, sinh viên, học sinh và nhân dân hai thành phố lớn Sài Gòn, Hà Nội biểu tình chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh trong việc tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa bao trọn cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Để không làm mất lòng người anh cộng sản, và để làm đúng với lời '16 chữ vàng' cùng 'tinh thần 4 tốt,' Đảng 'ta' đã dùng lưỡi kiếm của mình, là Công An, ra tay đàn áp, bắt bớ, sách nhiễu, cản trở những người biểu tình để làm vui lòng 'bên kia biên giới là nhà' (*). Và, một trong những nạn nhân làm vật hiến sinh dâng lên Thiên Triều nhằm mong hiểu được tấm lòng thành của Cộng Sản Việt Nam, là Điếu Cày.

Có thể là thiên triều không được thỏa mãn cho lắm nên liên tiếp sau đó là những vụ bắt bớ các blogger, rút thẻ hành nghề vài nhà báo, cách chức vài ông tổng biên tập, phó tổng biên tập của một số tờ báo lớn ở Việt Nam, chỉ mong sao 'anh hai' vui lòng. Tại sao có hình thức kỷ luật này? Lý do là vì các báo, cùng một số blogger, dám đăng tải những bài viết có vài từ ngữ 'nhạy cảm,' đụng đến chỗ 'tế nhị,' làm phương hại tình hữu nghị keo sơn giữa băng bọn đồng đảng, là Việt Cộng và Trung Cộng.

Nhưng, nguy hiểm hơn chính là đám bloggers, nhà báo đang từng ngày tuyên truyền cái sự chủ quyền lãnh thổ quốc gia, kêu gọi bảo vệ lãnh hải, lãnh thổ chống lại sự xâm lược của phương Bắc mà đi ngược lại chủ trương sớm ngày được hợp nhất cùng mẫu quốc.

Giới thạo tin thì kháo, rằng Việt Nam mạnh tay với người chống đối vì Việt-Trung đang trong quá trình hàn gắn lại vết thương lòng giữa hai băng đảng, vốn bị sứt mẻ do 'hiểu lầm' mà gây nên cuộc chiến 1979, khiến 'Thiên Triều' phải ra lệnh 'dạy cho Việt Nam một bài học.' Để xoa dịu lòng dân, 'Đảng ta' cho xuất bản cuốn Ma Chiến Hữu của một văn nhân thiên triều có tên là Mạc Ngôn, viết để ca ngợi những người 'anh hùng Trung Hoa' hy sinh anh dũng vì công cuộc giải phóng An Nam, đưa người dân trở về với đất mẹ, với 'lý tưởng Mao Chủ Tịch sáng ngời như mặt trời Phương Đông.'

Không những thế, đảng ta còn sử dụng một số đặc tình có khả năng viết lách, như Trương Thái Du, mượn cốt truyện Ma Chiến Hữu để tố cáo tội ác của quân dân Việt Nam trong cuộc chiến biên giới, và, ông ta còn mong muốn được gọi lại tên cuộc chiến làm sao cho chính xác hơn so với cái tên hiện nay vẫn đang được sử dụng (**).

Trong những tội ác mà họ Trương nêu ra, một chi tiết làm độc giả rùng mình là việc quân dân Việt Nam đếm xác quân lính thiên triều như đếm xác súc vật. Những ai đã từng đọc cuốn Ma Chiến Hữu thì dù có tìm mỏi con mắt cũng không thấy được tình tiết này trong truyện. Họ Trương thêm mắm thêm muối vào để cho thấy sự phi nhân của quân dân Việt Nam đối với quân của thiên triều. Và, trong những ngày kỷ niệm 30 năm quân của Thiên Triều tràn xuống phương Nam 'dạy cho đám phiên bang một bài học,' tất cả các báo đều im bặt thông tin. Cuộc chiến chỉ mới xảy ra cách đây có 30 năm!

Chủ trương của đảng trong việc này là cấm các báo nhắc về cuộc chiến. Những người đã chết, bị thương trong những lần giao tranh với phương Bắc đều vô nghĩa, bọn họ đáng phải chết vì sự ngu dốt, khinh suất coi thường quân đội của Thiên triều.

Mới đây, lại có việc cư dân mạng nổi xung thiên xung quanh một bài viết 'tai nạn nghề nghiệp” của ông phó giáo sư - tiến sĩ, tổng biên tập Tạp Chí Cộng Sản, Đào Duy Quát, về việc Đảng Cộng Sản Việt Nam thừa nhận quyền sở hữu của Trung Cộng đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Việc người dân nổi giận là đúng; tấc đất, tấc vàng mà cha ông đã bỏ biết bao xương máu mới có và gìn giữ được cho tới ngày nay. Nhưng, với những người cộng sản, thì tổ quốc, tổ tiên có là gì. Họ chỉ sống cho ngày hiện tại, chỉ mong sớm ngày được sáp nhập về với thiên triều. Công việc sáp nhập này đòi hỏi phải theo đúng chu trình từng bước và thật bí mật để làm sao không gây phẫn uất trong lòng dân.

Chuyện bắt đầu từ lâu rồi, cách đây nửa thế kỷ, ông Thủ Tướng Phạm Văn Đồng với công hàm ngày 14 Tháng Chín, 1958 gởi Đổng Lý Chu Ân Lai của nhà nước Trung Cộng đã thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Quốc. Trong một thời gian dài, đảng ta cấm tiệt việc nhắc lại chuyện cũ, chuyện biển cũng như chuyện đất liền. Tiếp sau đó là hiệp ước biên giới mà nguyên Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã hữu hảo ký với Trung Cộng vào năm 1999-2000. Và, mới đây nhất là PGS-TS Đào Duy Quát hợp thức hóa hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Cộng với một bài đăng trên tờ Tạp Chí Cộng Sản.

Trong công cuộc sớm trở về với 'đất mẹ,' để chống lại những thế lực 'phản động,' không chịu tuân phục chủ trương chính sách 'đúng đắn' của đảng, nhà nước, 'chúng' phải dùng đến bày tay sắt mà chỉ có Hồng Vệ Binh của 'thiên triều' mới có khả năng làm được. Và thế là, miền cao nguyên Trung phần Việt Nam được khoán thầu cho phương Bắc, nhằm khai thác Bauxite, mà thực chất là xây dựng căn cứ quân sự trên đó.

Vào thời Bát Quốc, vì nhà Thanh nhu nhược mà thiên triều phải gả Hong Kong cho Anh Quốc trong vòng 100 năm. Nhưng, để đẩy nhanh quá trình về với đất mẹ, Đảng ta thì khác: khoán thầu hẳn cho thiên triều vùng Tây Nguyên trong vòng... 115 năm. Đấy chính là một trong những chủ trương 'đúng đắn' nhất từ trước đến giờ: Phải dùng lực lượng quân đội của Thiên triều mới mong trấn giữ được yết hầu của vùng đất Việt Nam, với dân Việt Nam.

'Đảng ta' đã bắt bớ hàng loạt blogger, từ Người Buôn Gió, mẹ Nấm, đến Đoan Trang... chỉ vì họ dám khẳng khái phản đối chủ trương khai thác Bauxite, dám gồng mình chống Thiên triều, coi thường '16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt.'


Nói tóm lại, cái nhìn của giới blogger trong nước là thế này: chính sách, chủ trương của 'Đảng ta' bao giờ cũng đúng với... Thiên Triều. Tại sao? Vì: chính sách ấy dựa trên lý tưởng của họ Hồ, mà lý tưởng này thì phù hợp hoàn toàn với tinh thần của họ... Mao.


(*) Lời của một bài thơ: Bên kia biên giới là nhà - Bên này biên giới cũng là anh em.
(**)
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2009/02/090211_truongthaidu_vnchinawar.shtml
.

.

.

GIẢI MÃ NGUYÊN NHÂN MỘT CÁI CHẾT

Giải mã nguyên nhân một cái chết

Tạ Phong Tần

Tuesday, March 30, 2010

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=110680&z=157

Giải mã nguyên nhân một cái chết,trường hợp Nguyễn Quốc Bảo

LTS: Báo chí trong nước cho hay thân nhân của những nạn nhân bị công an CSVN đánh chết đều đã kêu cứu, đòi hỏi điều tra về cái chết của những người đó khi bị công an tra tấn, nhục hình bất chấp pháp luật. Thế nhưng công an CSVN thường xuyên đưa ra những lời giải thích vu vơ để chối tội và vụ việc đều bị cho chìm xuồng. Giảo nghiệm pháp y, nhiều khi không được thi hành để xác định nguyên nhân cái chết. Nếu có, nhiều khi “tình tiết” cũng bị bóp méo, làm nhẹ đi để khỏa lấp theo kiểu “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện”.

Xã hội Việt Nam là một xã hội “Công An trị” nên hệ thống công an được dung dưỡng, thả lỏng nên lộng hành là chuyện dễ hiểu.

Blogger Tạ Phong Tần, trước khi tham gia viết báo mạng cá nhân để trình bày quan điểm riêng về các vấn đề thời sự của đất nước, từng là một đại úy ngành điều tra của công an tỉnh Bạc Liêu. Bài viết dưới đây của bà nêu ý kiến sau khi đọc một số tin tức liên quan đến cái chết của ông Nguyễn Quốc Bảo khi bị công an CSVN bắt giữ.

Nguyễn Quốc Bảo, 33 tuổi, chết đêm 21 tháng 1 năm 2010 khi bị công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội bắt giữ với rất nhiều vết thương trên thân thể. Ông Nguyễn Quang Phục, bố của ông Bảo, đã đi gõ cửa nhiều cơ quan yêu cầu điều tra làm rõ cái chết của con trai ông suốt 2 tháng nhưng chỉ nhận được lời hứa hẹn suông.

Báo VNExpress ngày 29 tháng 3 năm 2010 thuật lại lời ông Phục: “Tôi hỏi lý do vì sao con chết thì người này cho biết không thể trả lời vì vụ việc đang được điều tra... Cố gắng lắm, tôi mới biết thông tin rằng khoảng 17 giờ 30 ngày 21 tháng 1, công an quận mời Bảo đến trụ sở để làm rõ một số việc liên quan”, ông Phục nói trong nước mắt.

VNExpress viết tiếp: “Chứng kiến việc khám nghiệm tử thi, ông Phục bàng hoàng khi trông thấy xác con. ‘Trên người Bảo có nhiều vết tím bầm. Hai cổ chân và cổ tay thâm tím với chiều dài khoảng 8 cm, có những vết xây sát dài. Hai bên khóe miệng Bảo còn có những vết tím song song’, người cha trầm giọng kể về những giây phút khi nhìn xác con.”

... Ngày 25 tháng 3, nguyên nhân cái chết của anh Bảo do Viện Pháp Y Quân Ðội kết luận đã được cơ quan điều tra thông báo với gia đình ông Phục. Biên bản giám định pháp y thể hiện nguyên nhân trực tiếp gây tử vong cho anh Bảo là “chấn thương sọ não mức độ nặng do tác động của vật tày có giới hạn gây vỡ nền sọ... và gây chấn động não...”

“Dấu vết thương tích do tác động của vật tày có giới hạn ở vùng cổ tay phải và trái, cổ chân phải và trái cho thấy vật tày là vật cứng”, cơ quan giám định của quân đội xác định.

Kết quả giám định của Viện Pháp Y Quân Ðội cho thấy: “Nguyên nhân trực tiếp gây tử vong cho anh Nguyễn Quốc Bảo là chấn thương sọ não mức độ nặng, do tác động của vật tày có giới hạn gây vỡ nền sọ ở hố sọ sau phải và chấn động não”.

Như vậy, nguyên nhân chính gây ra cái chết cho nạn nhân đã rõ, nhưng từ lúc bị “mời” (theo lời đội trưởng đội điều tra công an quận Hai Bà Trưng) hay “giữ” (khẳng định của PC14 công an Hà Nội) cho đến lúc chết thì điều gì đã xảy ra cho anh Nguyễn Quốc Bảo.

Theo lời ông Phục, thân sinh anh Bảo, “toàn thân con ông có nhiều vết bầm tím, nhất là 2 cổ chân, 2 cổ tay tím ngắt, có những vết sây sát dài. Hai bên khóe miệng con ông có những vết bầm tím song song, mỗi bên dài khoảng 8cm”. “Giám định sơ bộ của pháp y quân đội, ngực Bảo tụ huyết hồng 8x8cm, tim to. Vùng đầu có một vết tím dài 1.5x8cm. Dưới da có một vết dài 4x5cm, một vết dài 1x3cm. Ðặc biệt ở xương sọ, vùng chẩm có một vết nứt có kích thước 3x2cm”.

Tôi là người đã từng công tác ở đơn vị cảnh sát điều tra, cảnh sát hình sự nên cũng có đôi chút hiểu biết về giám định thương tích và pháp y. Ðể “giải mã” những dấu vết ông Phục nêu ở trên, trước khi đi vào xác định cơ chế gây thương tích thì chúng ta cần hiểu rõ các thuật ngữ chuyên môn trong pháp y và cơ chế gây ra tổn thương ấy.

Vết sây sát là tổn thương ngoài da hay trong nội tạng dưới hình thức vết hoặc mảng sây sát, là tổn thương làm mất một phần biểu bì da, thanh mạc hoặc vỏ bao các phủ tạng. Cơ chế gây ra sây sát là sự cọ xát mạnh giữa tổ chức da với vật cứng và tày.

Vết bầm, còn gọi là bầm máu, tổn thương này làm vỡ các mạch máu nhỏ, thường gặp ở dưới da hay trong các tạng. Ðặc điểm của vết bầm máu là da vẫn phẳng nhưng có màu tím nhạt hay sẫm. Sự hiện diện của vết bầm chứng tỏ thương tích có khi nạn nhân còn sống. Dựa vào màu sắc của vết bầm, người ta có thể ước đoán được thời gian gây nên thương tích khi mảng bầm máu có diện tích từ 1cm2 trở lên. Bầm máu màu tím là thương tổn xảy ra khoảng một vài giờ, màu đen là thương tổn xảy ra khoảng từ 2 đến 3 ngày, màu xanh là thương tổn xảy ra trong khoảng 3 đến 6 ngày, màu xanh lá mạ là thương tổn xảy ra trong khoảng từ 7 đến 12 ngày, màu vàng là thương tổn xảy ra trong khoảng từ 12 đến 25 ngày. Sau 25 ngày thương tổn mất dấu vết. Cơ chế gây ra vết bầm là lực tác động mạnh của vật tày lên phần mềm diện tích thân thể có vết bầm.

Cơ chết gây ra vết nứt xương (rạn xương) là vật cứng và tày tác động mạnh vào phần cứng của thân thể.

Tụ máu (tụ huyết) là thương tổn do dập vỡ các mạch máu cỡ nhỏ hoặc to do áp lực của vật cứng trên phần mềm làm vỡ mạch máu tràn vào tổ chức, tạo ra cục máu đông tại chỗ đó. Cơ chế gây ra vết tụ máu cũng là lực tác động mạnh của vật tày lên phần mềm diện tích thân thể có vết tụ máu, nhưng lực tác động mạnh hơn, sâu hơn vào bên trong thân thể.

Tử vong do điện giật, khi mổ tử thi khám trong sẽ thấy các phủ tạng không có tổn thương đặc hiệu, chủ yếu thấy não phù, các tạng sung huyết, có các chấm tụ máu nhỏ ở giác mạc mắt, ở thành mạc ruột, trên mặt phổi. Cơ tim phù, sung huyết, có hồng cầu thoát quản.

Vết bầm và sây sát ở cổ tay, cổ chân nạn nhân, không cần phải có kiến thức về pháp y nhiều lắm cũng có thể biết được đó là dấu vết của việc nạn nhân bị còng tay, còng chân rất chặt và có nhiều người khác nắm ngay chỗ còng ấy khiêng đi một đoạn đường rất dài. Quá trình di chuyển ấy tạo nên vết sây sát và bầm tím. Khi nạn nhân bị còng tay còng chân rồi treo tay chân lên thì cũng tạo ra vết sây sát và bầm giống như vậy. Khả năng nạn nhân bị còng và treo tay chân lên xảy ra nhiều hơn bởi lẽ những người đang hành hạ nạn nhân không bao giờ bắt người, còng rồi khiêng từ ngoài đường vô đi lòng vòng bên trong trụ sở làm việc, hơn nữa công an quận Hai Bà Trưng cũng đã trả lời rằng họ “mời” nạn nhân làm việc, chớ không phải khiêng nạn nhân từ ngoài đường xa lắc xa lơ vào cơ quan của họ.

Theo giấy chứng nhận mai táng của phòng kỹ thuật hình sự - công an TP.Hà Nội, nạn nhân tử vong vào khoảng 5 giờ 30 phút ngày 22 tháng 3 năm 2010. Căn cứ vào màu sắc vết bầm, có thể nhận định nạn nhân đã bị người khác dùng vật tày đánh vào thân thể ít nhất 4 lần vào khoảng thời gian từ 2 đến 3 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2010. Vùng ngực nạn nhân tụ huyết hồng dàn đều trên diện tích 8x8cm chứng tỏ nạn nhân đã bị một vật tày có tiết diện tương đương 8x8cm thụt mạnh vào ngực. Ðây có thể là dấu vết đầu của một chiếc gậy gỗ lớn.

Hai bên khóe miệng nạn nhân có những vết bầm tím song song, mỗi bên dài khoảng 8cm cho thấy có nhiều khả năng nạn nhân đã bị chèn một chiếc gậy gỗ cứng lớn và dài ít nhất 50cm vào miệng theo chiều ngang rồi ấn hai đầu gậy xuống với một lực rất mạnh nhưng đều nhau, phần giữa của gậy ấn vào miệng nạn nhân gây ra vết bầm tím song song hai bên khóe miệng. Như vậy, có thể hình dung được hai cách tạo ra thương tổn này. Một là nạn nhân bị còng tay chân đứng sát vào tường, một người khác cầm cái gậy gỗ lớn để ngang vào miệng nạn nhân rồi hai tay người đó đè vào với một lực rất mạnh, đầu nạn nhân bị bức tường phía sau cản lại không thể né tránh được, từ đó gây ra vết bầm song song đều nhau hai bên khóe miệng. Hai là nạn nhân bị còng nằm ngửa trên mặt đất và người kia cũng dùng gậy tác động y như thế, nhưng lực tác động theo chiều từ trên xuống dưới.

Như vậy, ta có thể hình dung quá trình diễn biến sự việc như sau:

Nạn nhân Nguyễn Quốc bảo sau khi bị “mời” đến công an quận Hai Bà Trưng thì bị người khác dùng còng sắt còng hai tay, hai chân lại. Trong tư thế đứng lưng sát vào tường thì bị người khác dùng một cái gậy gỗ lớn tiết diện 8x8cm thụt mạnh vào ngực, nạn nhân không có chỗ lùi nên ngực hứng toàn bộ lực tác động của đầu chiếc gậy, gây nên vết tụ máu 8x8cm. Nạn nhân lại bị người khác dùng chính chiếc gậy đó ấn đè vào miệng thật mạnh theo chiều ngang, đầu không thể ngã ra sau được nên gây ra vết bầm tím song song nơi khóe miệng.

Nạn nhân bị người khác treo lơ lửng bằng chính cái còng tay, còng chân trong thời gian ít nhất cũng 15 phút, nạn nhân đã giãy giụa, gây ra vết sây sát da và bầm tím cổ tay cổ chân. Trong lúc bị treo, nạn nhân bị đánh nhiều lần vào đầu. Vì đầu người cứng và có hình tròn chớ không phẳng như phần thân thể, để có thể gây ra vết bầm rộng và dài đến 1,5x8cm hay 4x5cm thì hung khí gây ra tổn thương này khả năng rất lớn là gậy cao su có lõi thép đàn hồi, có thể uốn theo mặt cong của đầu người.

Kết quả mổ tử thi cho thấy tim nạn nhân to hơn bình thường (phù), so sánh với dấu hiệu lâm sàng của tử vong do điện giật cho thấy có dấu hiệu nạn nhân đã bị điện giật.

Sau đó nạn nhân được thả xuống ngồi trên ghế, ở tư thế này rất vừa ngang tầm tay với cú đánh bằng gậy cứng của một người đứng từ phía sau lưng, đúng ngay vị trí gây vỡ nền sọ ở hố sọ sau phải và chấn động não.

Trong quá trình đánh đập nạn nhân tất xen kẽ việc quát tháo, chửi bới buộc nạn nhân “nhận tội”, tiếng nạn nhân kêu gào đau đớn nên người ta mới ấn cái gậy lớn vào mồm để khỏi bật ra tiếng kêu chăng?

Theo báo Lao Ðộng, PC14 thông tin cho ông Nguyễn Quang Phục rằng con trai ông đã mang theo con dao và cái kéo trong cốp xe và “một cáp ghi đề” (không biết cáp ghi đề là cái gì) nên bị tạm giữ vì đã có hành vi mang theo vũ khí thô sơ và tổ chức đánh bạc. Một cái cáp đương nhiên không đủ chứng cứ để khẳng định nạn nhân tổ chức đánh bạc, còn hai loại “vũ khí thô sơ” kia nếu địa phương nào cũng làm như công an quận Hai Bà Trưng thì cả nước không đủ chỗ để mà tạm giữ hành chính người.

Tạm chưa nói đến động cơ, mục đích của những người “máu lạnh” đã tra tấn nạn nhân đến chết. Cái chết oan khuất của anh Nguyễn Quốc Bảo là một hồi chuông báo động về tình trạng lạm dụng quyền lực nhà nước để hành xử kiểu “xã hội đen”, nếu không xử lý nghiêm minh thì tương lai sẽ còn nhiều Nguyễn Quốc Bảo khác là nạn nhân của những người mang danh “bảo vệ nhân dân”.

.

.

.

ĐỒNG MINH KHÁC, CHƯ HẦU KHÁC

Ðồng minh khác, chư hầu khác

Ngô Nhân Dụng

Tuesday, March 30, 2010

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=110717&z=7

Tình hữu nghị giữa Israel với Hoa Kỳ tuy không có “16 chữ vàng” thề ước như giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng chắc chắn còn thắm thiết hơn. Vậy mà, trong khi chế độ Cộng Sản ở Việt Nam lúc nào cũng sợ hãi, tránh né không dám nói một câu sợ có thể làm mất lòng Trung Cộng, thì mối bang giao giữa hai nước Mỹ và Israel vừa mới trải qua nhiều cuộc đụng độ công khai, có thể gọi là “lăng nhục” lẫn nhau. Bởi vì Israel là một đồng minh của nước Mỹ, nhưng quốc gia nhỏ bé hơn 7 triệu dân này nhất định không chịu đóng vai một chư hầu.

Giữa Tháng Ba 2010, đúng lúc Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden đến Jerusalem, chính phủ Israel công bố một chương trình xây thêm 1,600 đơn vị gia cư cho một nơi định cư mới của người Do Thái tại miền Ðông Jerusalem, xây giữa một khu sinh sống của người Á rập. Ông Biden phản đối ngay là khu định cư mới này gây trở ngại cho hòa bình. Bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố hành động của Israel có tính cách cố tình hạ nhục (insult) chính phủ Mỹ. Ít khi có một nhân viên chính phủ Mỹ nói những lời lẽ nặng nề như vậy với một chính phủ Israel.

Thủ tướng Israel, Benjamin Netanyahu lập tức ngỏ lời xin lỗi phó tổng thống Mỹ, đổ tội cho ông bộ trưởng nội vụ công bố không đúng lúc, và không hỏi ý chính phủ. Nhưng ông Netanyahu nói ông vẫn tiếp tục khu định cư mới chứ không chịu bỏ, Mỹ thích hay không cũng mặc.

Sau đó, Tổng Thống Barack Obama muốn làm giảm bớt căng thẳng, tuyên bố mối bang giao giữa hai nước vẫn bền chặt không thay đổi vì biến cố trên. Nhưng ông Netanyahu lại đổ thêm dầu vào lửa, một tuần sau, khi ông bay sang Washington theo lời mời của Hội AIPAC, một tổ chức lớn của người gốc Do Thái ở Mỹ, vẫn giúp vận động cho chính phủ Israel.

Tại sao chính phủ Mỹ lại tỏ ra giận dữ khi Israel xây khu định cư mới? Vì mới Tháng Sáu năm ngoái, Tổng Thống Obama đã tới Ai Cập nêu lên một chương trình tìm kiếm hòa bình ở vùng Trung Ðông, trong đó một mấu chốt là phải giải quyết những xung đột còn lại giữa nước Israel và người Palestine. Một trong những điều kiện để Israel và Palestine có thể ngồi xuống nói chuyện hòa bình lâu dài, ông Obama nói, là chính phủ Israel phải ngưng không lập thêm những khu định cư mới trên các vùng đất mà họ chiếm đóng từ năm 1967, đặc biệt là tại phía Ðông Jerusalem.

Từ khi nước Israel tự thành lập năm 1947, hàng triệu người Palestine thuộc giống dân Á rập đã phải di cư và cho tới nay vẫn chưa thành lập được một quốc gia của họ; trong khi chính phủ các nước Á rập chung quanh thì không công nhận quốc gia Israel. Iran, một nước Hồi Giáo không thuộc giống Á rập thì vẫn chủ trương phải xóa bỏ quốc gia Israel. Liên Hiệp Quốc và các nước lớn đều đồng ý miền đất này phải lập ra hai quốc gia riêng biệt, Israel cho người Do Thái và Palestine cho người Á rập.

Từ năm 1967, Israel đã chiếm đóng một phần lớn đất đai của các nước Á rập chung quanh, kể cả phía Ðông của thành phố Jerusalem trước thuộc nước Jordan. Các chính phủ Israel sau đó đã cho người Do Thái tới định cư ở các nơi trong vùng đất chiếm đóng, để đặt ra một tình trạng đã rồi trước khi có những thỏa hiệp phân chia địa giới tạo hòa bình lâu dài. Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã làm nghị quyết yêu cầu Israel ngưng hành động trái với luật pháp quốc tế này, nhưng các chính phủ Israel thường làm ngơ. Jerusalem là một trường hợp đặc biệt. Ðây là vùng thánh địa của ba tôn giáo lớn: Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Hồi Giáo. Chính phủ Israel đã thiết lập thủ đô tại Jerusalem nhưng nhiều nước không công nhận. Các chính phủ Mỹ và Liên Hiệp Quốc đều chủ trương quy chế của thành phố thánh địa này phải được một hội nghị quốc tế thảo luận.

Chính vì vậy, việc chính phủ Netanyahu công bố xây thêm 1,600 đơn vị nhà ở được coi là một hành động khiêu khích. Việc xây khu định cư này có tính cách thách đố đối với chính phủ Mỹ. Công bố chương trình đó đúng lúc ông phó tổng thống Mỹ sang Jerusalem để làm trung gian hòa bình, phải coi đó là một hành động chứng tỏ chính phủ Israel bất chấp ý kiến của chính phủ nước đồng minh thân thiết nhất của họ.

Nhiều tờ báo ở Israel giải thích hành động trên là do chính phủ Netanyahu bắt đầu coi thường chính quyền Obama, khi thấy ông Obama đang thất thế. Lúc đó, đảng Dân Chủ vừa mới mất một ghế nghị sĩ và mất ưu thế 60 phiếu ở Thượng Viện. Dự luật Cải tổ Y tế coi như sắp chết yểu. Uy tín của ông tổng thống Mỹ đang xuống, nhiều đại biểu Quốc Hội đảng Dân Chủ đang lo sẽ thất cử năm nay. Tại thủ đô Israel người ta đang chờ ông Obama sẽ trở thành một “Carter thứ hai,” một vị tổng thống Dân Chủ thất bại và chỉ nắm quyền một nhiệm kỳ.

Cho nên, ông Netanyahu đã tìm cơ hội, trong lúc chính phủ Mỹ đang yếu thì cứ “làm tới” để bảo vệ quyền lợi của dân Israel!

Từ khi lập quốc, Israel đã phải đối đầu với hơn 200 triệu người Á rập ở các nước chung quanh. Họ được Mỹ giúp, không có nước Mỹ thì họ chết. Hiện nay mỗi năm nước Mỹ viện trợ Israel trên 3 tỷ Mỹ kim, ngay trong lúc kinh tế Mỹ đang xuống cũng không bỏ được. Cho nên họ phải thỏa hiệp với các chính phủ Mỹ trong bất cứ hành động nào, khi chiến tranh cũng như khi tìm hòa bình. Nhưng các chính phủ Israel không bao giờ theo đúng các kế hoạch hòa bình của các chính phủ Mỹ. Họ không thể tin vào người Á rập như các chính phủ Mỹ có thể tin. Nếu chính phủ Mỹ tin, rồi bị lừa, thì sự thiệt hại cho nước Mỹ cũng chỉ thu nhỏ trong một khu vực trên thế giới mà thôi. Ngược lại, nếu Israel cũng tin, rồi bị lừa, thì có thể mất nước! Người Việt Nam đã có kinh nghiệm này, hồi trước năm 1975. Mỹ có thể tin lời hứa của những Lê Ðức Thọ, Nguyễn Thị Bình; sau đó có bị Việt Cộng lừa thì nước Mỹ cũng chỉ cần đợi mấy chục năm sẽ trở lại Việt Nam và được Việt Cộng hoan nghênh hơn cả Việt Nam Cộng Hòa thời trước. Nhưng những người Việt dân chủ tự do thì nếu bị lừa là mất tất cả! Nước Israel không muốn lâm vào tình trạng đó! Mặt khác, họ biết các chính phủ Mỹ, dù thuộc đảng nào, cũng vẫn phải là đồng minh của Israel.

Cho nên, bất cứ khi nào có thể làm được là chính phủ Israel lại đi chệch ngoài con đường của Mỹ, để tự lo lấy thân mình. Ðối với quốc gia Israel, gài được thêm một khu định cư mới nào vào vùng đất người Á rập sinh sống, là lấn được một bước mới. Vì khuynh hướng của Liên Hiệp Quốc là chia Jerusalem làm đôi, nửa phía Ðông sẽ cho người Á rập dùng làm thủ đô, phía Tây cho Israel, còn một vùng nhiều thánh tích sẽ được quốc tế hóa cho tín đồ các tôn giáo tự do tới. Israel thì chủ trương tất cả Jerusalem sẽ là thủ đô của nước họ. Cho nên càng nhiều người Israel sinh sống, định cư ở Ðông Jerusalem càng có lợi cho Israel. Lập thêm một khu định cư, cũng có thể dùng như một quân cờ để mặc cả với các nước Á rập (và với Mỹ) sau này trong các cuộc thương thuyết.

Cho nên, khi tới Washington D.C. tuần trước, Thủ Tướng Netanyahu đã nói trước hội AIPAC rằng: “Jerusalem không phải là một khu định cư. Ðó là thủ đô của chúng ta từ 3000 năm trước!”

Tuyên bố như trên, ở giữa thủ đô nước Mỹ! Ngay sau khi ngoại trưởng Mỹ đã lên tiếng cho là chính phủ Israel đã “hạ nhục” nước Mỹ trong hành động công bố việc lập thêm khu định cư! Ông Netanyahu quả thật đã đánh một nước bài táo bạo!

Hậu quả đầu tiên là ông Obama trả đũa. Tổng thống Mỹ đã tiếp thủ tướng Israel tại Tòa Bạch Ốc, nhưng không cho chụp hình. Cũng không có họp báo chung, không có thông cáo chung, không một bản tin nào được phát ra. Chưa một vị thủ tướng nước nào tới Tòa Bạch Ốc mà lại được ông tổng thống Mỹ tiếp đãi như vậy. Gặp nhau 90 phút, chắc không ai nhượng bộ ai, ông Obama đã rút khỏi phòng bầu dục, trở về nhà ăn cơm tối một mình! Ông Netanyahu được đưa vào một phòng khác, họp riêng với các cố vấn. Hơn 80 phút sau, ông Netanyahu xin được gặp lại, ông Obama tiếp, thêm 35 phút nữa; nhưng cũng không có kết quả nào!

Phe của Thủ Tướng Netanyahu ở Israel, và những người ủng hộ ông ở Mỹ, đã ào ào phản đối ông Barack Obama, coi là ông đã “cố tình hạ nhục” vị thủ tướng của một nước đồng minh của Mỹ. Phe đối lập với ông Netanyahu thì coi chính ông thủ tướng mình đã gây sự trước và chỉ làm hại quyền lợi cho quốc gia. Việc ngưng thiết lập các khu định cư mới đã được thỏa hiệp với chính phủ Mỹ tiền nhiệm của Tổng Thống George W. Bush, để tiến tới hòa bình. Chính phủ Netanyahu đã vi phạm thỏa thuận đó, vì tưởng có thể “bắt nạt” được một ông Obama đang yếu. Nhưng sau khi đã ký đạo luật Cải tổ Y tế, sau khi thỏa hiệp được với Nga về giảm vũ khí nguyên tử, thì các chính phủ ngoại quốc rất khó bắt nạt ông Obama!

Những người đối lập với ông Netanyahu coi hành động của tổng thống Mỹ là hợp lý. Nếu muốn đi tới một thỏa hiệp giữa IsraelPalestine thì không có nước Mỹ không được. Mỹ phải đóng vai trò trung gian, nhưng chính phủ Mỹ chỉ được tin cậy trong vai trò này nếu chứng tỏ là không thiên vị. Và phải đủ mạnh để không bị Israel lấn. Mai mốt, nếu chính phủ Mỹ cứng rắn hơn khi yêu cầu phe Palestine phải nhượng bộ, thì ông Obama sẽ lấy câu chuyện tiếp ông Netanyahu ở Tòa Bạch Ốc vừa qua làm một thí dụ cho thấy nước Mỹ không phải lúc nào cũng làm theo ý chính phủ Israel. Phe Palestine sẽ khó từ chối. Quyền lợi của nước Mỹ sẽ chỉ bị hại nếu vấn đề Palestine không được giải quyết. Cuộc xung đột này là một khích động giúp cho các nhóm khủng bố tuyển thêm các thanh niên chống Mỹ ở khắp thế giới Hồi Giáo và Á rập.

Phe đối lập với ông Netanyahu đang hy vọng sẽ thay thế ông trong mùa bầu cử tới. Nhưng chính phủ Mỹ cũng không thể nghĩ rằng người thay thế ông Netanyahu sẽ “dễ bảo” hơn. Israel là một quốc gia có hàng chục đảng chính trị chia ghế trong Quốc Hội, chính phủ bây giờ đang là một chính phủ liên hiệp rất phức tạp và mong manh, có thể tan rã bất cứ lúc nào. Nhưng khi phải đối phó với các nước ngoài, kể cả nước đồng minh số một của họ là Hoa Kỳ, các chính phủ Israel lúc nào cũng bảo vệ quyền lợi quốc gia trước hết. Và lúc nào lấn được chính phủ Mỹ là họ cứ tìm cách lấn, nếu lấn không được sẽ tính lại sau.

Dân chúng và các nhà chính trị Israel không bao giờ chấp nhận vai trò một chư hầu của Mỹ. Ðịa vị Trung Quốc đối với Việt Nam không quan trọng bằng Mỹ đối với Israel. Nhưng không hiểu sao các ông tổng bí thư, chủ tịch, thủ tướng Việt Nam đối với các chính phủ Trung Quốc lại quá ngoan ngoãn! Không biết bao giờ mới có người dám đứng lên như ông Netanyahu?

.

.

.

GIẢ MÃ NGUYÊN NHÂN MỘT CÁI CHẾT

TRUNG QUỐC và MỸ CÒN ĐỤNG ĐỘ NỮA VỀ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ

Trung Quốc và Mỹ còn đụng độ nữa về đồng nhân dân tệ

Lê Mạnh Hùng
Đăng ngày 30/03/2010 lúc 20:46:52 EDT
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4710

Tranh chấp giữa Washington và Bắc Kinh về vấn đề tỷ giá đồng nhân dân tệ có triển vọng sẽ trở nên tệ hai hơn trong những tháng tới. Ngày 15 tháng 04 này, Bộ Tài Chánh Mỹ sẽ công bố phúc trình đầu tiên của hai phúc trình bán niên về tiền tệ theo đạo luật được Quốc Hội Mỹ thông qua kể từ năm 1988. Người ta dự trù rằng phúc trình này sẽ nhận định “Trung Quốc có thể được coi là thao túng tỷ giá tiền tệ của mình với mục tiêu là ngăn chặn một sự điều chỉnh hữu hiệu cán cân thanh toán quốc tế hoặc là để có được một ưu thế cạnh tranh không công bằng trong mậu dịch quốc tế”. Kể từ 2003 đến nay, Bộ Tài Chánh Mỹ và Quốc Hội đã tranh luận liên tục mà không ra được quyết định nào về chính sách tỷ giá của Trung Quốc khi thặng dư mậu dịch của nước này mới chỉ bằng một phần sáu hiện nay. Và lần này thì kết quả có thể khác.

Nếu Trung Quốc vẫn cương quyết không nhương bộ trước áp lực của Mỹ thì hầu như chắc chắn Mỹ sẽ đưa vấn đề này ra trước Tổ Chức Mậu Dịch Thế giới. Quan trọng hơn nữa, hầu như chắc chắn đây sẽ là vấn đề nổi bật nhất trong một loạt những tranh chấp song phương, qua đó Mỹ đe dọa sẽ áp đặt một khoản thuế quan trừng phạt lên toàn bộ hàng hóa nhập cảng từ Trung Quốc và Bắc Kinh đe dọa sẽ đổ các công trái phiếu của chính phủ Mỹ ra bán ngoài thị trường. Một cuộc chiến tranh kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ thì sẽ không lợi cho ai cả, nhất là cho Trung Quốc, nhưng có vẻ như là không thể tránh được vì ba lý do.

Thứ nhất, cuộc khủng hoảng tài chánh lần này đã kích “shock” Hoa Kỳ và Tây Âu vào một thay đổi lớn trong cung cách sống và cho thấy mô hình phát triển kinh tế của Trung Quốc nay mâu thuẫn với hệ thống kinh tế thế giới. Hoa Kỳ, nước con nợ lớn nhất thế giới, nay sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn và đi vay ít hơn. Những thay đổi này đã bắt đầu ở khu vực tư và khu vực công chẳng bao lâu nữa cũng sẽ phải đi theo. Nhưng chính sách này chỉ có thể có kết quả nếu Trung Quốc, nước chủ nợ lớn nhất, tiết kiệm ít hơn. Nếu tất cả chúng ta ai cũng lo tiết kiệm thì kinh tế thế giới sẽ càng ngày càng rơi vào suy thoái dẫn đến bảo hộ mậu dịch. Hoa Kỳ chắc chắn không thể ngồi yên nhìn kinh tế mình suy thoái thành ra không thể không đòi Trung Quốc có hành động.

Thứ hai, vấn đề căn bản không phải tỷ giá đồng nhân dân tệ mà là sự cứng rắn của chế độ tỷ giá tại Trung Quốc. Trên thực tế, có thể rằng mặc dầu những lời tuyên bố của các giới chức Trung Quốc, Quốc Vụ Viện Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận điều chỉnh tỷ giá đồng Nhân Dân tệ để làm nhẹ bớt áp lực của Mỹ. Nhưng một đồng Nhân Dân tệ yếu chính là tâm điểm của một mô hình phát triển dựa trên xuất cảng và đầu tư. Chính sách tỷ giá hiện nay của Trung Quốc chính là một khoản thuế đánh trên tiêu thụ, mà hiện nay chỉ chiếm có 36% tổng sản lượng quốc nội (GDP) của Trung Quốc trong khi là một trợ giá lớn cho xuất cảng. Thặng dư trong tiết kiệm vốn giúp cho mô hình này tồn tại sẽ không giảm sút nếu không có những thay đổi vượt ra ngoài giới hạn chính sách tỷ giá.

Ta có thể thấy thực tế tiết kiệm thặng dư vì sao đã xảy ra trong một nền kinh tế mà đã khiến cho 800 triệu người dân ở thôn quê sống trong tình trạng tụt hậu trong thu nhập và không ổn định trong cuộc sống kinh tế; trong hệ thống “hộ khẩu” ưu đãi những người dân thành thị nhưng buộc hàng triệu những người dân thôn quê lên thị thành làm việc bắt buộc phải tìm cách tiết kiệm một phần quan trọng thu nhập của mình để phòng ngừa những bất trắc; trong tình trạng thiếu thốn một mạng lưới an sinh xã hội; trong mức lời khổng lồ của công ty quốc doanh mà không thể được phân phối cho dân chúng dưới dạng những cổ tức và trong chính sách dân số một con, buộc người ta phải tiết kiệm để dành cho tuổi già. Thay đổi tỷ giá không có ảnh hưởng gì đến những trở ngại cơ cấu này cả.

Thứ ba, chính sách bảo vệ ổn định xã hội bằng mọi giá của các giới lãnh đạo đã dẫn Trung Quốc đi theo một chính sách tiền tệ và ngân sách nguy hiểm. Tuy rằng một số những lời cảnh báo gần đây về một hiện tượng bong bóng kinh tế tại Trung Quốc có thể hơi quá, Trung Quốc không phải chỉ gồm có một số những thành thị và tỉnh ven biển nơi mà hầu hết những chuyện người ta dẫn ra làm bằng chứng xảy ra. Và một nước chuyên chế như Trung Quốc có nhiều khả năng hơn trong việc kiềm chế và giải quyết những vấn đề trong hệ thống ngân hàng (mà hầu hết là quốc doanh) hơn những nước mà kinh tế tự do hơn. Mặc dầu vậy chính sách tiền tệ của Trung Quốc vẫn bị làm phức tạp hơn bởi chính sách tỷ giá vốn không tính đúng giá và chi phí của những dự án đầu tư và thúc đẩy một cách không cưỡng lại được một chính sách tiền tệ lỏng lẻo trong đó lãi suất thật (lãi suất mệnh danh trừ tỷ lệ lạm phát) là âm. Chính sách tiền tệ hiện nay của Trung Quốc có nhiều điểm tương tự như chính sách của Mỹ trong những năm 1920 và của Nhật trong những năm 1980. Và người ta đã biết những hậu quả xảy ra của những chính sách này.

Với một dân số 1.3 tỷ người, đông nhất thế giới, và một tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 8% một năm từ hai thập niên nay, Trung Quốc là cường quốc kinh tế thứ nhì trên thế giới. Nhưng nếu Trung Quốc không, bằng cách này hay cách khác, tìm thấy được một khả năng bên trong chính chính thể của mình để thay đổi thì những tiến bộ mà người Trung Quốc kỳ vọng không chắc gì được bảo đảm và nếu có tiến bộ được thêm nữa thì cũng không lâu dài.

Lê Mạnh Hùng

© Thông Luận 2010

.

.

.

TRUNG TÁ VŨ MINH TRÍ THẬT DŨNG CẢM

Trung tá Vũ Minh Trí thật dũng cảm

Người Yêu Nước

http://www.x-cafevn.org/node/76

Hồi tháng 10 năm ngoái, 2009, dư luận trong và ngoài nước ta bắt đầu biết đến cái tên Trung tá Vũ Minh Trí, cán bộ Tổng cục Tình báo quân đội (Tổng cục 2), khi lá đơn tố cáo của anh nhan đề “Tổng cục 2, vì đâu nên nỗi?”, tố cáo Trung tướng Tổng cục trưởng Nguyễn Chí Vịnh, và đồng bọn được đưa công khai lên mạng internet. Thật ra, lá đơn dày của anh viết ngày 16 tháng 12 năm 2008, gửi lên các cấp Trung ương, Bộ chính trị... Thế nhưng có lẽ vì không có hồi âm gì cả, và như lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã từng phê phán, là “sự im lặng đáng sợ”, nên đơn của Trung tá Trí được đưa lên mạng cho dư luận trong ngoài nước được biết rõ.

Ở trong nước, thật ra đơn của Trung tá Trí đã được photo coppi truyền tay nhau khá rộng rãi, nhất là trong các tổ hưu, các chi bộ Đảng. Các cụ lão thành cách mạng 40, 50, 60... năm tuổi Đảng rất tích cực đi photocopy lá đơn của Trung tá Trí, truyền tay nhau đọc, bình luận, lắc đầu ngao ngán. Cho đến khi có lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nêu ý kiến ủng hộ lá đơn của Trung tá Trí, đề nghị Trung ương cho xác minh làm rõ các vấn đề nêu trong đơn, thì dư luận trong nước càng sôi nổi bàn tán. Nhưng người am hiểu vi tính, biết cách vượt tường lửa, thì cũng in ra được đơn tố cáo của Trung tá Trí, và cả thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Thế rồi đến tháng 12 năm ngoái, 2009, người ta thấy Trung tướng Vịnh được đưa lên làm Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, bất chấp ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bất chấp các tố cáo của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, bất chấp sự lo ngại của cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, bất chấp sự phẫn nộ của dư luận. Cũng có sự giải thích không công khai, là đây là sự “đá hất lên”, cho lên chức, nhưng thực ra chỉ làm chức không quan trọng. Hiện nay, trong số các thứ trưởng Bộ quốc phòng của ta, thì chỉ ông Vịnh là không phải Ủy viên trung ương Đảng. Và ông Vịnh phụ trách công tác đối ngoại của Bộ Quốc phòng, nên gần đây thấy đi nước ngoài liên tục. Trong Bộ Quốc phòng, có 3 chức vụ quan trọng nhất, là Bộ trưởng, Tổng tham mưu trưởng, và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thì ông Vịnh không nắm các chức vụ này. Ngay trong Hội nghị Trung ương 12 họp bàn chuẩn bị nhân sự cho Đại hội 11 vào năm 2011, thì ông Vịnh cũng không được mời dự, mà lại đi Úc, và đi Nhật. Thế cho nên vai trò của ông Vịnh cũng chẳng oai gì lắm với cái chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, quyền lực chỉ có tính hình thức. Thế nhưng dù sao, đưa lên như thế cũng là sự xem thường dư luận, sự thiếu tôn trong Đại tướng Võ Nguyên Giáp,,,và chắc chắn sẽ có những hậu quả không lường trước được. Hãy thử nhìn mấy cụ hưu 50, 60 ,,,tuổi Đảng bình luận về lá đơn của Trung tá Vũ Minh Trí, và thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và chức vụ thứ trưởng trêu ngươi của ông Vịnh, thì mới thấy như ngồi trên thùng thuốc súng. Đó là chưa kể các vụ Boxit Tây Nguyên, vụ PMU18 xử ngược, kết tội mấy nhà báo và công an có công làm phanh phui vụ này, vụ ta phản ứng yếu ớt với Trung Quốc khi Trung Quốc bắt, đánh, giết, phạt tiền ngư dân của ta, rồi vụ PCI của ông Huỳnh Ngọc Sĩ, vụ tiền Polime, vụ mấy người dân bị công an bắt, và bị chết oan khuất trong đồn công an,, vụ chó cắn chết người, vụ học sinh đánh nhau đưa lên mạng...

Có vẻ như Đại hội 11 vào đầu năm sau sẽ ngồi trên thùng thuốc súng. Đảng ta đang đứng trước quá nhiều bê bối, và đều khó xử cả.

Trở lại câu chuyện của Trung tá Vũ Minh Trí, sau lá đơn của anh, thì Trung tướng Vịnh thôi làm Tổng cục trưởng Tổng cục 2, được lên Thứ trưởng Bộ quốc phòng, còn Trung tá Trí thì bị “tước quân hàm sĩ quan”, nhưng không bị đuổi ra khỏi quân đội, như anh bạn trẻ Nguyễn Tiến Trung học ở Pháp về. Ngày 10 tháng 2 năm 2010, ông Thượng tướng Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Văn Được ký Quyết định số 246/QĐ-BQP về việc thi hành kỷ luật tước quân hàm sĩ quan đối với Trung tá Trí. Cùng ngày 10 tháng 2 năm 2010, Đảng bộ Quân đội, Đảng ủy Tổng cục 2 ra Quyết định số 27-QĐ ĐUTC2, về việc khai trừ anh Trí ra khỏi Đảng cộng sản Việt Nam.

Thái độ của Trung tá Trí như thế nào nhỉ? Bình thản. Rất bình thản. Chẳng có gì lo sợ. Sau khi bị kỷ luật cả về mặt Đảng, và chính quyền, anh Vũ Minh Trí đã nêu 4 ý kiến như sau:

1 - “Tôi tiếp nhận quyết định khai trừ Đảng và giáng quân hàm với tâm trạng hoàn toàn nhẹ nhõm, thanh thản, bởi hai lý do chính: 1-Một là tôi đã dự kiến và chuẩn bị về mọi mặt, kể cả về mặt pháp lý và công luận cho nhiều tình huống, trong đó có những tình huống gay go, nguy hiểm hơn thế này. 2-Hai là, các quyết định (kỷ luật ) trên giúp tôi khẳng định rõ hơn bản chất, âm mưu, thủ đoạn của đối tượng đấu tranh, từ đó mà bổ sung, điều chỉnh phương hướng, biện pháp đấu tranh cho phù hợp.

Ngày 13 tháng 11, năm 2007, Trung tá Trí đã có đơn xin cho xuất ngũ, vì quá chán với những bê bối trong Tổng cục 2, nhưng không được trả lời. Và đến nay, mặc dù bị tước quân hàm sĩ quan, nhưng vẫn chưa được xuất ngũ. Như vậy, anh vẫn còn được ưu ái thì phải. Tất nhiên anh Trí hiểu rằng người ta vẫn muốn quản lý anh, chứ cho anh ra khỏi quân đội, thì khó quản lý. Đâu có gì. Tương kế tựu kế mà. Ai tương kế, ai tựu kế, thì hồi sau sẽ rõ.

2 - Anh Vũ Minh Trí có đơn gửi Trung ương, đề rõ “Tổng cục 2, vì ai nên nỗi”, mà Trung ương chẳng có kết luận gì cả. Nên anh Trí cho rằng các quyết định kỷ luật đối với anh là không có giá trị. Quả là to gan. Đã có ai dám nói như thế chưa? Ngay ông Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cục cảnh sát hình sự C14, phụ trách điều tra vụ PMU18, khi bị đưa ra xét xử, cũng không dám nói “Bản án đối với tôi là không có giá trị”. Nhưng với Trung tá Trí, thì thật là dũng cảm. Rất đáng khâm phục.

3 - Anh Trí tuyên bố, từ nay, vẫn đến cơ quan bình thường, nhưng chỉ đến cơ quan ngồi chơi, chứ không làm việc, chờ được cho ra khỏi quân đội.

4 - Anh Trí tuyên bố tiếp tục đấu tranh, giống như nữ luật sư trẻ Lê Thị Công Nhân tuyên bố ngay sau khi ra tù.

Những con người dũng cảm như anh Vũ Minh Trí trong xã hội ta ngày nay vẫn còn chưa nhiều, nhưng đã xuất hiện, và đang tăng lên, mặc dù chưa nhiều. Xã hội ta muốn thay đổi, muốn tiến bộ, cần nhiều những con người dũng cảm như anh Vũ Minh Trí, nữ luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn Đài, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Việt Chiến, Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc...

Người Mỹ, và các tổ chức ủng hộ nhân quyền trên thế giới có lẽ cũng nên ủng hộ những người như anh Vũ Minh Trí, cần trao các giải thưởng quốc tế về nhân quyền, về chống cái ác cho những người như Trung tá Vũ Minh Trí, như Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nhà báo Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên... Không nên chỉ chú ý đến các nhà bất đồng chính kiến hoặc đấu tranh cho tự do tôn giáo.

Mỗi con người dũng cảm như anh Vũ Minh Trí, đang là những con én nhỏ để làm nên mùa xuân của dân tộc Việt Nam ta.

.

.

.