Thursday, December 1, 2011

ĐÓNG VAI THIỆN ÁC ? (Trần Khải)



11/27/2011

Có những điều cần để suy nghĩ: Trung Quốc sợ gì ai ở Biển Đông? Cụ thể, chính phủ Bắc Kinh sợ thế lực của nước nào khi đã đưa hải quân đánh chiếm Hoàng Sa trong năm 1974, và chiếm một phần Trường Sa của Việt Nam trong năm 1988?

Nếu những năm đó, TQ đã không sợ gì ai, thì tại sao bây giờ Bắc Kinh phải lo sợ? Thực tế, trên Biển Đông hiện nay, về nguyên tắc, Hải Quân Trung Quốc không sợ gì ai, miễn là đừng cản trở tuyến hải hành mà Hoa Kỳ đã yêu cầu đừng ngăn trở lưu thông.

Còn nói về nỗi lo sợ, nhà cầm quyền Bắc Kinh chắc chắn là chỉ lo sợ nội bộ thôi, cũng y hệt như Liên Xô, Đông Âu, Đông Đức... đã chỉ sụp đổ vì lý do nội bộ. Thậm chí, đôi khi, chúng ta cũng cần tiên liệu rằng, khi nội bộ có dấu hiệu bất tường, Trung Quốc có thể dấy binh, gây chiến với Việt Nam để dân chúng Hoa Lục không bận tâm về Tây Tạng hay Tân Cương, không quá lo về lạm phát hay thất nghiệp, không quá quan tâm về họa sĩ Ngải Vị Vị hay Pháp Luân Công. Thêm nữa, những dấu hiệu Trung Quốc đưa ra có khi hai mặt, lúc lộ diện như Ông Thiện để vuốt ve Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, và lúc hiện thân Ông Ác để buộc Hà Nội cứng rắn với những người biểu tình đòi giữ đảo, giữ biển.

Đó là lý do chúng ta thấy Trung Quốc có khi đi quá đà để thực sự khiêu khích Việt Nam, không chỉ là cho tàu vào biển VN cắt dây cáp taù thăm dò dầu VN, mà gần đây nhất là biến Hoàng Sa thành khu lầu xanh kiểu mới. Cần nhắc rằng Hoàng Sa là một nhóm 120 đảo, đã bị Hải Quân TQ chiếm toàn bộ vào năm 1974, sau một trận hải chiến với Hải Quân VNCH lúc đó.

Bị bêu xấu như thế, VN đã lên tiếng công khai, không còn giữ kiểu đóng cửa trong nhà như thường lệ. Bản tin thông tấn nhà nước VTC News hôm 24-11-2011 viết, trích:

“Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa
Mọi hoạt động của nước ngoài tại Trường Sa và Hoàng Sa không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nói tại cuộc họp báo thường kỳ vào hôm nay.
Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đưa ra trước đề nghị bình luận về thông tin trên báo chí Trung Quốc ngày 22/11 cho biết Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Nam, Trung Quốc đã phê duyệt cho phép một công ty của Trung Quốc mở tuyến du lịch đến quần đảo Hoàng Sa.
"Việt Nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động của nước ngoài tại hai khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam, trái với tinh thần DOC." - Ông Lương Thanh Nghị nói...”(
hết trích)

Hà Nội đòi Bắc Kinh tôn trọng Bộ Quy Tắc Ửng Xử Biển Đông? Sao lại có chuyện ngây thơ tin tưởng như thế? Không phải VN đã cam kết tôn trọng nhân quyền, tôn trọng Tuyên Ngôn Nhân Quyền LHQ, nhưng rồi có tôn trọng bao nhiêu đâu? Giữa nói và làm là 2 chuyện khác nhau, Hà Nội tất nhiên biết Bắc Kinh cũng cùng một môn võ Ngôn Hành Dị Biệt như thế.

Tuy nhiên, giây phút này nhà nước VN biết là có im lặng là sẽ hỏng. Bởi vì thời buổi Internet, không giấu gì được thông tin quan trọng đó, dù có muốn giấu. Thêm nữa, chính phủ Hà Nội đã thấy cần gây một tiếng vang cho an định lòng dân.

Báo Dân Trí hôm 25-11-2011 ghi lời ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Quốc Hội, rằng “Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.” Thực tế, giây phút này, nếu ông Dũng không nói gì, thì sẽ đi vào lịch sử muôn đời như một kẻ lặng lẽ chấp nhận cắt bỏ đảo Hoàng Sa để được bảo kê chế độ.

Báo Dân Trí viết: “Trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục nhấn mạnh, Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý khẳng định quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam và thực tế chúng ta đã làm chủ từ cách đây vài thế kỷ...
... chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa. "Việt Nam có đủ căn cứ, pháp lý khẳng định quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thực tế chúng ta đã làm chủ, ít nhất là từ thế kỷ XVII.", Thủ tướng nhấn mạnh.
Theo đó, năm 1956, Trung Quốc chiếm các đảo phía đông đảo Hoàng Sa. Năm 1974 Trung Quốc đem quân chiếm toàn bộ đảo Hoàng Sa. Chính quyền miền Nam Việt Nam đã phản đối tới Liên Hiệp Quốc. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng bày tỏ sự phản đối tại thời điểm đó...”(
hết trích)

Như thế, ông Nguyễn Tấn Dũng đã trở thành vị Thủ Tướng đầu tiên của chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN ghi công cho “Chánh quyền miền Nam Việt Nam đã phản đối tới Liên Hiệp Quốc” hồi năm 1974. Đúng là VNCH có công phản đối như thế, sau trận hải chiến thảm bại năm 1974. Tuy nhiên, có một điểm hình như không đúng sự thật là lời ông nói thêm, “Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng bày tỏ sự phản đối tại thời điểm đó...” Không rõ có bản văn nào từ VNDCCH phản đối như thế không? Hay bản văn từ cánh tay nối dài của Hà Nội lúc đó là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam? Hay chỉ riêng có nhà nước VNCH lên tiếng, còn mọi phe khác đều im lặng?

Tuy nhiên, một điểm để suy nghĩ, rằng ông Dũng yêu cầu Quốc Hội làm Luật Biểu Tình, vì theo ông, “Chính phủ căn cứ vào điều 69 Hiến pháp, quy định công dân được biểu tình theo pháp luật.” Sau đó, ông Dũng nói lời ca ngợi về các nhà trí thức xuống đường phản đối TQ xâm chiếm Biển Đông. Đúng là chuyện lạ. Trong khi công an Sài Gòn và Hà Nội dùng bạo lực, phi thân kẹp cổ người biểu tình, đứng từ xe buýt đạp chân vào mặt người biểu tình, ông Dũng lại “Về quan điểm, chủ trương ứng xử với những người tụ tập biểu thị lòng yêu nước, Thủ tướng khẳng định luôn luôn trân trọng, biểu dương và có khen thưởng xứng đáng với tất cả những hoạt động, việc làm của mọi người dân thực sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia....” Đúng là, có phảỉ VN chơi kiểu 2 mặt Thiện-Ác để làm người dân hoang mang?

Báo Asia Sentinel trong bài viết của Jens Kastner hôm Thứ Ba 22-11-2011 đã phân tích độc chiêu của chính phủ Bắc Kinh là Song Thủ Hỗ Bác, Thiện Ác Nan Phân...
Báo Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times), trụ sở ở Bắc Kinh, in trong cả tiếng Anh và tiếng Tàu, được bảo bọc của Đảng CSTQ, đang có những bài bình luận hung hăng, đòi đưa quân tấn công các nước láng giềng TQ, trái nghịch với ngôn ngữ chính thức của nhà nước TQ.

Có phải Đảng CSTQ đóng vai Ông Thiện, để Hoàn Cầu Thời Báo thủ vai Ông Ác, nhằm làm cho VN hoa mắt?
Trong 2 tháng qua, báo này đòi tấn công hệ thống vũ khí Hoa Kỳ nếu Đàì Loan được mua các vũ khí mới này, cũng như đã có những bài chỉ trích VN vô ơn và đòi tát vỡ mặt VN, và rồi có những bài đòi cùng lúc tiến đánh VN và Phi Luật Tân một trận để giữ an cho Biển Đông lâu dài...

Theo Asia Sentinel, tờ Hoàn Cầu Thời Báo trong bản tiếng Tàu thiết lập từ năm 1993, bây giờ in 1.5 triệu ấn bản hàng ngày, tất cả độc giả đều có khuynh hướng bảo thủ cứng rắn, trong khi ấn bản tiếng Anh in 100,000 bản và xuất bản từ năm 2009.

Steve Tsang, giám đốc Viện Chính Sách Trung Quốc tại đại học University of Nottingham (ở Anh Quốc), nói rằng đúng là quan điểm trên Hoàn Cầu Thời Báo có chỗ trái nghịch quan điểm chính thức của Đảng CSTQ, nhưng báo này là thuộc về tờ Nhân Dân Nhật Báo và thuộc quyền của Đảng CSTQ, không phải tiếng nói độc lập, và, theo ông, chính phủ TQ dùng Hoàn Cầu Thời Báo làm một công cụ trên bàn thương lượng quốc tế, kiểu y hệt như Ông Thiện/Ông Ác.

Theresa Fallon, một nhà nghiên cứu ở viện European Institute of Asian Studies, chỉ ra một điểm cho thấy Hoàn Cầu Thời Báo thích hợp với chính sách ngoaị giao của TQ, “Mục bình luận [trên báo này] có mục tiêu trực tiếp là hù dọa các công ty dầu Tây Phương để họ bỏ chạy khỏi VN và Phi Luật Tân, và nhằm ngăn cản họ ký kết làm ăn với 2 nước này,” theo lời bà dẫn từ báo Taipei Times.

Dẫn từ các công điện ngoaị giao Mỹ trên WikiLeaks, bà Fallon nói TQ đã có nỗ lực từ 2006 là áp lực các công ty dầu như Exxon Mobil, BP, Chevron và Petronas sau khi họ thương lượng với VN.
Fallon nói với báo Asia Sentinel rằng vài tuần sau khi Hoàn Cầu Thời Báo đòi hải chiến ở Biển Đông, chính phủ TQ xuất hiện và cảnh cáo các hãng dâu phảỉ rời xa VN.

Câu hỏi của chúng ta bây giờ còn là, có phải đạị biểu Hoàng Hữu Phước xuất hiện, chống phá Luật Biểu Tình cũng là để đóng vai Ông Ác, nhằm làm nổi bật vai trò Ông Thiện của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, khi ông Dũng đưa ra Luật Biểu Tình để cứu xét?

Môn võ Song Thủ Hỗ Bác quả nhiên là độc chiêu. Khả dĩ làm khắp thiên hạ hoa mắt, từ tranh chấp dầu Biển Đông, cho tới biểu tình ở Bờ Hồ?
.
.
.

VỀ LỜI TUYÊN BỐ CỦA ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG (Vi Anh)



11/28/2011

Tại cái gọi là Quốc Hội của VNCS, ngày 25 tháng 11, năm 2011, Thủ Tướng CSVN Nguyễn tấn Dũng tuyên bố đại ý, Hòang Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Câu nói khẳng định sự thật này đã có không biết bao lâu rồi, từ trong lịch sử xa xưa của quốc gia dân tộc Việt Nam. Nhưng trong thời CS vào những năm gần đây, câu nói vốn đã thành niềm tin lịch sử của dân tộc VN đó đã làm không biết bao nhiêu người Việt Nam yêu nước bị CS bắt bớ, giam cầm, trấn áp, sách nhiễu. Trong số những người yêu nước đó có Blogger Điếu Cày còn đang bị CS bỏ tù, nghe nói đã bị ám hại tàn phế một cánh tay. Thế bây giờ - dữ hong ( nói theo kiểu dân Miền Nam là gốc gác của Thủ Tướng CSVN Nguyễn tấn Dũng), bây giờ Ô. Dũng mới nói lên câu nói ấy.

Trong một phiên họp ngày 25/11 tại Hà Nội của Quốc hội Khóa 13 của VNCS, TT Dũng mới mở miệng nói câu nói chân lý pháp lý và lịch sử mà đất nước ông bà Việt Nam xưa nay, bà cô cô bác gần 90 triệu đồng bào Việt Nam đều biết, đều tin như biết nói tiếng Việt Nam vậy. Ông Dũng nói: "Đối với Hoàng Sa thì năm 1956, Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các quần đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của Chính quyền Sài Gòn (tức Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa). Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hiệp quốc can thiệp. Chính phủ Cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này." Bằng cớ pháp lý và lịch sử Ô. Dũng nói có "ít nhất từ thế kỷ 17 khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào".

Trước nhứt phải nói TT Dũng của VNCS nói quá trễ, nhưng thôi trễ còn hơn không. Ít ra Ô Dũng cũng “ngon lành, chịu chơi” hơn mấy Ông lãnh đạo Đảng Nhà Nước khác, ông Nam, ông Bắc, ông Trung khác, ông nào cũng câm như hến tránh né không nói ra thì cũng nói vòng vo tam quốc mà không dám nói thẳng mực Tàu sợ đau lòng quan thầy TC.

Kế đến phải nói TT Dũng nói “hụych tọet” Trung Quốc xâm chiếm Hòang sa bằng võ lực. TC coi Hòang sa là lãnh thổ TQ, TQ không bao giờ đặt Hoàng Sa vào trong nội dung các cuộc đàm phán- khác với Trường Sa vốn được cho là khu vực tranh chấp mà TC muốn giải quyết tay đôi với từng nước tranh chấp như Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei.

Nhưng trong chánh trị, nói là một chuyện, còn làm là một chuyện khác, có khi khác nhau cả ngàn dặm. Nhứt là đối với những người CS, người Việt Nam không tin ngay từ thời Việt Minh, CS lợi dụng lòng yêu nước của người Quốc Gia, núp dưới danh nghĩa Việt Minh để cướp và độc chiếm và cộng sản hóa chánh quyền, nên có thành ngữ CS “láo như Vẹm”.

Do vậy vấn đề đặt ra là, liệu Ông Dũng, Thủ Tướng VNCS “nổ” vì cảm thấy lên gân trước tình hình TT Obama trong chuyến công du Á châu khẳng định Mỹ trở lại Á châu Thái bình Dương. Ông Dũng tuyên bố giảm áp lực của dân chúng, hy vọng lấy lòng dân VN đã quá bất mãn trước thái độ và hành động của Đảng Nhà Nước quá nhu nhược với quân Tàu, nhu nhược đến đổi như a tòng, đồng phạm, mãi quốc cầu an, cắt đất dâng biển cho quân Tàu Cộng vậy.
Qua lời tuyên bố của Ông Dũng, trong tâm trạng người Tây Phương chưa hay ít bị CS đọa đày, báo chí và những chuyên viên ngọai quốc theo dõi tình hình biến động ở Biển Đông rất chú ý lời tuyên bố của TT Dũng. Bình luận và bình lọan lên.

Cho đó nào là lời tuyên bố đầu tiên của một lãnh tụ Đảng CS, một lãnh đạo Nhà Nước của CS. Nào là một khẳng định rõ rệt và cương quyềt nhứt. Nào là lời tuyên bố long trọng trước cái gọi là Quốc Hội. Nào là dấu hiệu một chuyển dịch về đường lối đối phó với Bắc Kinh. Nào là TT Nguyễn tấn Dũng công nhận chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa không nhường một tấc đất cho giặc Tàu, tử chiến với Hải Quân TC năm 1974. TT Dũng nhắc mấy lần chữ chánh quyền Việt Nam Cộng hòa.

Nhưng kinh nghiệm biến thành thói quen như bản chất thứ hai của người dân Việt có được bằng máu, nước mắt, mồ hôi kết tinh lại trong thời kỳ sống chung đụng với CS trong trại tù nhỏ là trại giam và trại tù lớn là xã hội VN, làm người dân Việt hết sức đề cao cảnh giác vế lời tuyên bố rất nổ của TT Dũng đối với quân Tàu.

Người dân Việt Nam ở Bắc, ở Trung, ở Nam, ở hải ngọai không vội tin lời TT Dũng. Kinh nghiệm về CS nhắc nhở “đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm”. Bình tĩnh chờ coi hành động của TT Dũng trong việc bảo vệ Hòang sa, Trường sa là của VN.

Nếu TT Nguyễn tấn Dũng khẳng định Hòang Sa là của VN, thì với tư cách và trong thẩm quyền Thủ Tướng người cầm đầu chánh phủ của VNCS, Ông phải:

- Một là, không cấm đóan, đàn áp, bắt bớ những người biểu tình ở Sài Gòn và Hà Nội để phản đối những hành vi xâm lấn của TC đối với Việt Nam, đặc biệt là đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa.

- Hai là trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho những người bị CS Hà nội bắt bớ, giam cầm khi biểu tình, phát biểu, đấu tranh cho chân lý Hòang sa và Trường sa là của VN. Ông cũng phải xóa bỏ hồ sơ cảnh sát, công an, tòa án đối với những người mà CS ghi vào số bìa đen, (CS gọi là tiền sự, tiền sử) cần theo dõi vì lý do đấu tranh cho chân lý Hòang sa và Trường sa là của VN.

Nếu TT Dũng khẳng định Hòang Sa là của VN, là người cầm đầu chánh phủ, Ông phải “ bảo quốc an dân”. Mở mặt trận ngoại giao và quân sự để đòi lại, đúng như tinh thần đất nước ông bà VN, một tấc đất cũng không nhường cho giặc. Mở mặt trận bảo vệ ngư dân hành nghề trên ngư trường này, và tất cả công ty thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên cho VN.

Đằng này tuy nói mạnh về Hòang sa, nhưng TT Dũng nói Hòang sa, đề phụ Trường sa như một vấn. Ông nói trước Quốc Hội. Theo truyền thống các nước tự do dân chủ, Quốc Hội là cơ quan quyền lực nhứt nước, nói trước Quốc Hội là nói trước tòan dân và tòan quốc. Nhưng hiềm vì cái gọi là Quốc hội của CS là “đảng cử dân bầu” nên không có tính long trọng, quan trọng như trong các chánh thể tự do, dân chủ.

TT Dũng lại nói Hòang sa, Trường sa trong một cuộc điều trần. Có hăm hai “đại biểu” ghi tên trước được chánh phủ chọn trả lời nhiều vấn đề nhưng chỉ có hai đặt vấn đề Hòang sa và Trường sa mà thôi. TT Dũng trả lời không quá 10 phút. Chớ không phải trong một cơ hội long trọng, liên quan vấn đề quan trọng, lãnh đạo Đảng Nhà Nước thường phát biểu bằng một “báo cáo chánh trị” dài không dưới 60 phút.

Về giải pháp giải quyết mà TT Dũng trình bày cũng bổn cũ sọan lại theo “bài bản” của Đảng CSVN. TT Dũng nói "Chủ trương của chúng ta là nghiêm túc thực hiện Công ước Luật Biển, nghiêm túc thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông (gọi tắt là DOC), và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây mà chúng ta đã ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cụ thể là chúng ta yêu cầu các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm, có ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực này."

TT Dũng còn đính chính dùm cho Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng sang Tàu cam kết giải quyết vấn đề Biển Đông trên nguyên tắc song phương làm cho người dân Việt nam vô cùng tức tối. Ông Dũng giải thích rằng đó là Ô. Tổng Bí Thư giải quyết một phần lãnh hải gần Vịnh Bắc Hội và Đảo Hải Nam của TQ, chớ không phải Biển Đông.

Và sau cùng, giải pháp “các bên giữ nguyên trạng” mà TT Dũng đưa ra là một gỉai pháp bất lợi cho VN, mà lợi cho TC. TC đã chiếm Hòang sa, lấy làm huyện Tam sa, trực thuộc tỉnh Hải Nam rồi. TC đã đưa ra bản đồ hình lưỡi bò chiếm 89% Biển Đông của VN rồi. Mấy năm liền TC đơn phương ra lịnh cấm đánh cá, và đánh phá tàu VN và lên tiếng phản đối các công ty thăm dò khai thác dầu của Anh, của Ấn rồi. Và TC rất nhiều lần tuyên bố và hành động vùng biển đó là quyền lợi bất khả tranh cãi của TC. Thời gian và nguyên trạng đều có lợi cho TC và có hại cho VN. Thế mà TT Dũng nói “các bên giữ nguyên trạng”, tức là giao trứng cho ác, làm ngược lại lời tuyên bố Hòang sa, Trường sa là của VN.
.
.
.

VÌ SAO ÔNG DŨNG NHẮC ĐẾN VIỆT NAM CỘNG HÒA ? (Tâm Việt)



Tâm Việt
Wednesday, November 30, 2011 2:12:51 PM

Vì sao ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN, Thứ Sáu vừa rồi, 25 tháng 11, đã phải nhắc đến ba lần đích danh “Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa” khi trả lời hai đại biểu Quốc Hội ở Hà nội về vấn đề chủ quyền của VN trên biển Ðông?

Làm việc này, có người cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã tiến bộ rất lớn so với 3.6 triệu người đồng đảng của ông trong hơn 36 năm qua kể từ khi CS miền Bắc cưỡng chiếm xong miền Nam vào tháng 4, 1975. Ðể hiểu vấn đề, ta nên nhớ lại là khi CS mới vào Sài Gòn, họ hoàn toàn phủ nhận chính quyền miền Nam và gọi đó là “ngụy quân, ngụy quyền.” Cho đến khi Nguyễn Văn Linh quyết định về chính sách Ðổi Mới (1986) thì mới có quyết định tránh dùng hai chữ “ngụy quân, ngụy quyền” mặc dầu thỉnh thoảng rơi rớt, các sách báo Hà Nội và các cơ quan tuyên truyền của Hà Nội vẫn vô tình hay cố ý dùng hai chữ miệt thị này. Nhưng ngày nào Hà Nội còn không công nhận chỗ đứng chính danh của chính quyền miền Nam, một quốc gia được 60 quốc gia khác trên thế giới công nhận trong một thời gian dài (từ 1948 đến 1975), thì ngày đó Hà Nội không giẫy được ra cái nghịch lý này:

Một là Phạm Văn Ðồng, bằng công hàm ngày 14 tháng 9, 1958, đã
(a) hoặc là “bán da gấu” cho Chu Ân Lai khi công nhận định nghĩa chủ quyền của Trung Cộng 10 ngày trước đó, nghĩa là bán một vật mà không thuộc quyền sở hữu của Hà Nội lúc bấy giờ;
(b) hoặc là đã trắng trợn dối trá, không nói sự thật, tóm lại là đã “bất tín” đối với Bắc Kinh khi biết rõ là mình viết một tờ giấy lộn.
Cả hai thái độ đều không thể chấp nhận được trong đời sống quốc tế và cũng chính vì thế mà Bắc Kinh đã nắm đầu được Hà Nội từ bấy lâu nay vào trong một cái vòng kim cô không thể gỡ ra nổi. (Cũng chính vì thế mà ông Lưu Văn Lợi, khi đã bỏ thời giờ ra viết nguyên một cuốn sách về chuyện này, vẫn không gỡ tội được cho ông Phạm Văn Ðồng, và chúng ta cũng phải hiểu là cho ông Hồ Chí Minh bởi không thể nào ông Phạm Văn Ðồng có thể tự ý mà viết được cái công hàm “đưa đầu vào thòng lọng” kia.)

Nhưng khi công nhận một sự thật hiển nhiên như ông Nguyễn Tấn Dũng vừa làm hôm Thứ Sáu vừa qua thì mọi sự sáng tỏ. Tuy lời phát biểu long trọng của ông trước Quốc Hội CS ở Ba Ðình là một đòn trời giáng vào một vị tiền nhiệm của ông, nó ít nhất gỡ được VN ra khỏi cái vòng kim cô mà bấy lâu nay ông và các “đồng chí” của ông không cục cựa ra khỏi được!

Nó cũng ít nhiều chứng tỏ là ông có bản lĩnh hơn các cấp lãnh đạo đồng đảng của ông (dù cũng như nhiều phát biểu của ông trước đây, nó cũng tỏ ra ông có thể là một con người bất nhất - tựa như lời tuyên bố của ông chống tham nhũng khi ông mới ngồi vào ghế thủ tướng). Bất nhất nhưng biết sửa cái sai trước đây thì vẫn là một thái độ can đảm, can đảm hơn 3.6 triệu con cừu trong đảng của ông!

Cái được
Cái được thứ nhất là ông chứng tỏ ông cao hơn các đồng ủy viên Chính Trị Bộ của ông một cái đầu. Song cái đó chỉ là một cái được cá nhân, nó chưa ý nghĩa gì lắm khi, như ông Bùi Tín đã có hơn một dịp nhắc, cả cái Bộ Chính Trị ở Hà nội là một đám người lùn!
Cái được hơn là qua lời phát biểu của ông, ông đã trả lại được danh dự cho một chế độ tưởng đã chết. Không những chế độ đó đã không chết, nó còn đang cần phải dựng lại để đem chính nghĩa về cho Việt Nam, để đảm bảo sự liên tục chủ quyền lịch sử của VN từ thế kỷ thứ XVII (dưới thời các chúa Nguyễn, như chính ông Dũng cũng đã xác nhận) qua thời thuộc Pháp sang đến thời Quốc Gia VN của ông Bảo Ðại (Hội nghị San Francisco năm 1951), thời Ðệ Nhất Cộng Hòa của ông Ngô Ðình Diệm và thời Ðệ Nhị Cộng Hòa kế thừa đất nước từ chính phủ Ngô Ðình Diệm. Có thế tháng 1, 1974, Hải Quân VNCH mới dám chống trả (anh dũng) tàu xâm lăng của Trung Cộng vào Hoàng Sa và có thế ta mới tin tưởng đủ ở chính nghĩa của ta để xin đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc. Xin nhắc lại ngay lời của ông Dũng ở đây: “Ðến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, chính quyền VNCH đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp.”
Nói như ông Dũng tuy là gan cùng mình song chính thật cũng là chỉ đi theo dân mà thôi. Bởi chính người dân thường ở ngay Hà Nội, qua nhiều Chủ Nhật trong tháng 6 tháng 7 năm nay, đã trưng tên và cả hình ảnh của các chiến sĩ Hải Quân VNCH chết trong trận hải chiến Hoàng Sa vào tháng 1, 1974 để gọi họ là anh hùng. Tóm lại, nói như ông Dũng chẳng qua chỉ là đi theo người dân để mua lại, vớt vát chút niềm tin mà người dân đã mất từ lâu vào đảng CS của ông!

Vì sao?
Thiết tưởng trả lời câu hỏi này cũng không khó. Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể mù mờ nhiều chuyện (như chuyện bauxit, chuyện PMU 18, chuyện Vinashin...) song ông chắc chắn là một con người chính trị, nhìn ra được những nguy cơ sắp đổ vào đầu chế độ của ông - và thế cũng có nghĩa là vào đầu ông.
Một, chuyện Mùa Xuân Ả Rập đã từ tháng 2 năm nay đánh sập các chế độ chuyên quyền tưởng vững như bàn thạch ở Tunisie, Ai cập, Lybia, sắp tới là Yemen (ông Saleh đã bằng lòng từ chức), và có lẽ không bao lâu nữa sẽ đến lượt Syria của ông Bashar al Assad (Liên Ðoàn Ả Rập cấm vận chế độ của ông, Thổ Nhĩ Kỳ kêu gọi ông từ chức).
Hai, Miến Ðiện đã ngưng dự án đập Myitsore do Trung Cộng tài trợ, thả trên 300 tù nhân chính trị, sửa cả Hiến Pháp để cho bà Aung San Suu Kyi có thể ra tranh cử trở lại mặc dù bà đã là một “tù nhân” chính trị trong hơn 20 năm. Dựa vào những bước đầu ý nghĩa này, bà Ngoại Trưởng Hoa kỳ Hilary Clinton sắp sang Miến Ðiện gặp cả phe chính quyền lẫn linh hồn của phe đối lập là bà Suu Kyi.
Ba, tình hình kinh tế VN hôm nay vô cùng bi đát, đầu tư ngoại quốc cạn dần, thị trường chứng khoán thì coi như không có, lạm phát ở mức trên 20 phần trăm (và cao hơn nhiều nữa trong nhiều mặt nhu yếu phẩm), hệ thống ngân hàng phải tái cơ cấu vì có nguy cơ sụp đổ ngày một ngày hai và chính quyền đang chuẩn bị cho một đợt ăn cắp vàng và đô la của dân... nghĩa là tuyệt vọng!
Trong khi đó thì Trung Cộng đang ép cho đến tắt thở!

Chưa đủ
Trong thế này, ông Dũng đang tìm cách gỡ bí. (Ta không nên tin những nguồn tin cho rằng giữa các ông Dũng và ông Sang, ông Trọng đang có những chia rẽ trầm trọng!) Song cũng phải nói ngay là một lời tuyên bố như của ông hôm rồi vẫn chưa đủ - dù như sự tương đối yên lặng của Bắc Kinh trước lời tuyên bố đó cũng chứng tỏ là nước bước mới của ông đang có hiệu ứng, làm cho Trung Cộng khá lúng túng, chưa biết trả lời làm sao.
Ðiều cần làm hơn nữa là để có hậu thuẫn từ người dân, ông và những “đồng chí” của ông cần bắt chước Miến điện để mà nới lỏng dần chế độ, đưa 90 triệu dân sớm đến một chế độ dân chủ thực sự, có nhân quyền, có tự do báo chí và ngôn luận, có tự do hội họp và quyền thành lập hội đoàn, đoàn thể, công đoàn để có thể đi đến một chế độ dân cử đích thực trong đó người dân, trong vài ba năm, có thể có được những cuộc bầu cử lương thiện nhằm chọn những đại diện xứng đáng cho 90 triệu dân đưa đất nước vào một con đường xán lạn.
.
.
.

HỒ SƠ WIKILEAKS (53) : Công an quấy phá chùa Hòa Hảo, tu sĩ dọa tự thiêu ( Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt)



HỒ SƠ WIKILEAKS (53) :
Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt
Thứ Năm - 1 Tháng 12, 2011

WESTMINSTER (NV) - Công an xông vào ngăn cản một buổi lễ Phật Giáo Hòa Hảo, cấm treo cờ Hòa Hảo, cấm treo chân dung Ðức Huỳnh Phú Sổ, khiến cho người tu sĩ leo lên cây dọa tự thiêu và làm cho ngoại giao đoàn Mỹ quan tâm đặc biệt, theo tiết lộ của một loạt công điện năm 2001 và nhắc lại trong nhiều năm sau đó.

Ngôi chùa Hòa Hảo bị công an đột nhập tọa lạc tại Chợ Mới, An Giang, và người dọa tự thiêu là tu sĩ Võ Văn Thanh Liêm. Bức công điện không nêu, nhưng ngôi chùa này mang tên Quang Minh Tự. “Nhiều chục tín đồ Hòa Hảo đến đây thờ phượng hàng ngày,” công điện ngày 8 tháng 11 viết. Công điện này được gởi từ Hà Nội về Washington D.C., và cũng được gởi thêm cho tòa đại sứ Mỹ tại Geneva, Thụy Sĩ, nơi có trụ sở nhiều cơ quan Liên Hiệp Quốc.

Ngày 6 tháng 11, 2001, tin tức từ một tổ chức Hòa Hảo tại Mỹ cho biết tu sĩ tại đây đang hăm dọa tự thiêu, và viên tham tán chính trị tòa đại sứ bèn điện thoại khắp nơi để tìm hiểu. Họ liên lạc được với hai cư sĩ Hòa Hảo từng bị chính quyền bắt giữ, là cụ Lê Quang Liêm và cụ Trần Hữu Duyên. Hai cụ cho tòa đại sứ và tòa tổng lãnh sự biết chi tiết.

Bị cấm treo cờ Hòa Hảo, chân dung Huỳnh Giáo Chủ
Ngôi chùa Quang Minh Tự cũng là nhà ở của ông Võ Văn Thanh Liêm, được gọi là Năm Liêm. “Vào ngày 1 tháng 11, Năm Liêm tổ chức một buổi tụng kinh trong nhà. Khác với những lần trước, lần này ông trưng cờ Hòa Hảo và treo chân dung vị sáng lập Hòa Hảo trong chùa.”
Tuy là lễ trong chùa, nhưng ngay lập tức công an bên ngoài biết. “Công an tới chùa ra lệnh cho Năm Liêm tháo cờ và hình.” Ông từ chối. Công an ra lệnh cho mọi người phải giải tán về nhà.
Buổi chiều, công an trở lại, đột nhập vào chùa với mục đích tháo cờ, tháo hình. Tu sĩ Năm Liêm không buông tay để yên cho công an tung hoành.

Bản công điện viết:
“Trong lúc công an ở trong chùa, Năm Liêm khóa cửa chùa, nhốt họ bên trong. Phá cửa nhiều lần không nổi, công an phải bắn vỡ khóa mới ra ngoài được.”
Trong nhiều ngày sau đó, công an đứng canh bên trong chùa và không cho ai vô. Tranh cãi với công an không được, tới ngày 6 tháng 11, tu sĩ Năm Liêm leo lên cây sau chùa, “mang theo một can xăng 5 lít và một con dao, dọa sẽ tự vẫn nếu công an không bỏ đi”. Tin tức cho biết ông đã cầm dao cắt đùi mình.
Tới lúc viết công điện 8 tháng 11, ông Liêm đã ở trên cây 3 ngày và công an vẫn vây ở dưới. Ðiều này khiến cho người Mỹ hơi yên tâm là “một dấu hiệu khả quan cho thấy hai bên đều không có hành động gì hấp tấp”.

Tới chiều sau đó, tu sĩ Năm Liêm chịu leo xuống, theo công điện 9 tháng 11. Ông Liêm vẫn ở tại chùa, và 30 công an cùng 50-70 viên chức địa phương cũng lởn vởn trong khu đất đó.
Một tuần sau, trong công điện đề ngày 16 tháng 11, tòa tổng lãnh sự tại TP. HCM cho biết thêm là tu sĩ Năm Liêm vẫn còn ở trong chùa, được cha mẹ chăm sóc, cùng một số tín đồ Hòa Hảo mà được công an cho phép vô trong. Cụ Trần Hữu Duyên cho rằng lúc tu sĩ Năm Liêm leo lên cây là lúc chính quyền địa phương đưa giấy quản thúc hành chánh về tội nhốt công an trong chùa.

Người tu sĩ nhiều lần bị tù
Ông Năm Liêm không xa lạ với đoàn ngoại giao Mỹ. Năm 1996, ông dựng cổng trên lối đi vô chùa, rồi bị chính quyền địa phương bắt tháo gỡ vì xây không có giấy phép. Ông từ chối, rồi khi công an tới bắt thì ông leo lên cây, “cũng cái cây đó,” công điện ngày 8 tháng 11 cho biết.
Lần đó, ông ngồi trên cây trong 4 ngày. “Nhân chứng khi đó nói phải huy động hàng trăm công an để ngăn chặn hàng ngàn người hiếu kỳ không vào khu vực này.”
Khi ông leo xuống thì bị tuyên án tù 2 năm với tội danh “ngăn cản người thừa hành công vụ”. Năm 1999, tham tán chính trị tòa đại sứ Mỹ có ghé thăm ông Liêm trong nửa ngày. Ông được miêu tả là “rất tin vào tâm linh và nói chuyện vô cùng hấp dẫn”. Ông cho viên tham tán xem vết thẹo trên đầu gối, và nói, trong tù ông tự cắn đầu gối để chứng minh với cán bộ là ông không sợ đau đớn.

Chính quyền địa phương có vẻ sợ ảnh hưởng của tu sĩ Võ Văn Thanh Liêm. Năm sau, 2002, khi viên tham tán chính trị trở lại An Giang thăm ông Liêm, thì viên chức địa phương vây quanh chùa không cho vô trong. Một bức công điện đề ngày 19 tháng 7, 2002 miêu tả quang cảnh:
“Khi tham tán chính trị tới đường lót gạch dẫn tới chùa của Năm Liêm hôm 24 tháng 6, ba người thanh niên đứng ra chặn đường. Nhiều người khác, dường như trong cùng nhóm, đứng trên bãi cỏ quán trà bên cạnh. Một trong những thanh niên này vùng vằng nói tham tán chính trị đi chỗ khác. Anh này nói người dân địa phương không muốn tiếp người Mỹ và ‘không muốn người Mỹ quấy phá tu sĩ trong chùa.’”

Khi viên tham tán chính trị bảo ông đã tới thăm và được đón tiếp niềm nở 3 năm trước, còn nếu chính quyền địa phương cấm không cho vào, hay quản thúc ông Năm Liêm tại gia, thì ông sẵn sàng đi chỗ khác.
Lúc đó, “người thanh niên này nổi giận và bắt đầu chửi tục, chối không phải công an và nói vị tu sĩ không bị giới hạn gì cả. Anh la lên rằng anh đại diện cho cộng đồng và cộng đồng không muốn người Mỹ tới gần đây.”
Nhiều người khác cũng bắt đầu bu quanh. Viên tham tán nhận ra nhiều tín đồ Hòa Hảo vì tóc búi tó và mặc đồ nâu hay xám. Những tín đồ này “đứng nghe chăm chú, rồi một vài người trong số họ bắt đầu cãi nhau với những thanh niên đứng chặn đường”.
Ngại có xô xát xảy ra, viên tham tán bỏ đi. Sáu tiếng sau quành lại, “cũng nhóm thanh niên này vẫn còn chờ ở đó”.
Tới năm 2005, ông Liêm lại bị bắt. Khi Dân Biểu Christopher Smith tới Việt Nam, gặp cụ Trần Hữu Duyên, cụ cho biết khi tu sĩ Năm Liêm tưới xăng vào một viên chức chính quyền địa phương thì ông bị bắt và bị tuyên án 6 năm rưỡi tù.

.
.
.