Việt
Nam: Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của đảng Cộng
Sản
Thanh Phương
- RFI
Đăng
ngày: 26/01/2026 - 13:02
Đại hội đảng
Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành
Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp
tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này
đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa
Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao
vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.”
HÌNH
:
Các
container hàng xuất khẩu được chất lên một chiếc tàu tại cảng Sài Gòn, Việt
Nam, ngày 03/05/2020. AP - Hau Dinh
Trong
bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng bí thư Đảng cũng đã đề ra
một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong
giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh
đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Cải
cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực
Nguyên
là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú
Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy
nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30
xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63
xuống chỉ còn 34.
Trả
lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu
Đông Nam Á, Singapore, nhận định:
"Các
cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay.
Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ
máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả
quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng.
Thứ
hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để
đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng,
hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân.
Mặt
tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những
thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của
bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định,
vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới.
Tuy
nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời
gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn
trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình
trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được
trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu
trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh
hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng
này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp
phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh
nghiệp cũng bị đinh trệ.
Một
mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những
cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải
công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể
tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm
hành chính lại đặt ở tỉnh khác, họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc,
họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần.
Trong
số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều
ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết,
nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc
thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn,
theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới
đi tới các bước tiếp theo."
Trong
bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026,
nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ
Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra
chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa
học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Tuy
nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ
thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được
thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương.
Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa
ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng
đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục
tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.”
Phát
triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn
Ông
Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của
nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”.
Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho
tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn:
"Từ
khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt
Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh
nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công
An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là
Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v....
Trong
khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư
vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều
được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát
triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập
đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp
khác.
Những
doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những sự hỗ trợ cần thiết. Một số
thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn
và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người
dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ...,
khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa.
Chính
phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường
kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn
phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ
hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh
nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng,
đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ
tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công
nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong
khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có
thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh
nghiệp quốc tế.
Trong
bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận
ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận
lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân
tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng
suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng
có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ
thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ.
Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực
hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh
tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các
doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.”
Theo
mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro
Bên
cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm
còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của
Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20
doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp
đưa ra lời cảnh báo:
"Điều
quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi,
các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra
những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và
qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm
vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực
kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu.
Tuy
nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt
trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng
lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát
triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối
quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền.
Khi
các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như
vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ
cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào
nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên
nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.
Một
số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân
trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu
quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp
nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng
phổ biến."
Mục
tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh?
Mặt
khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra,
trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản
thương mại sẽ là thử thách đối với Việt Nam trong những năm tới.
Tuần
báo của Anh The Economist trong bài viết đăng ngày 08/01/2026,
ghi nhận “nền kinh tế Việt Nam, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, đã đạt mức
tăng trưởng 8% trong năm 2025 – nhanh nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,3-8,5% của
năm. Mặc dù mục tiêu 10% của năm nay có vẻ khó đạt được hơn, nhưng vẫn có lý do
để lạc quan: Những cải cách lớn nhất của ông Lâm vẫn chưa phát huy hết tác dụng,
trong đó có Nghị quyết 68, một nỗ lực nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân bằng các biện
pháp ưu đãi thuế và giảm bớt thủ tục hành chính. Các cơ quan quản lý đã được
yêu cầu chấp nhận rủi ro cao hơn khi phê duyệt các dự án.”
Vấn
đề là theo The Economist, “hiện vẫn chưa rõ các tập đoàn lớn
của Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm như thế nào nếu họ không hoàn thành các dự án
quan trọng. Một số tập đoàn ngại rủi ro nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ví
dụ, vào ngày 25/12 vừa qua, Vingroup đã rút khỏi dự án trị giá 67 tỷ đôla xây dựng
tuyến đường sắt xuyên Việt Nam. Tập đoàn này đã yêu cầu 80% dự án được tài trợ
bằng khoản vay không lãi suất từ nhà nước,
nhưng nhà nước đã từ chối. Các tập đoàn khác có thể sẽ thay Vingroup tham gia dự
án, nhưng tình trạng tương tự vẫn sẽ tiếp diễn. Tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam, dù gây ấn tượng mạnh, vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thái độ tùy hứng của một vài
doanh nghiệp.”
Về
phần mình, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp e ngại là tăng tốc quá nhanh sẽ gây phản
ứng ngược cho nền kinh tế Việt Nam:
"Chúng
ta thấy là năm 2025 vừa qua Việt Nam cũng đã nỗ lực rất nhiều, nhưng chỉ đạt được
mức tăng trưởng 8%. Thậm chí có nhiều người đặt câu hỏi liệu có phải là thực sự
8%, hay chỉ là một con số được "chế biến" để có thể đáp ứng được các
mục tiêu chính trị của ban lãnh đạo.
Tăng
trưởng ít nhất 10% trong thời gian tới là một mục tiêu rất là thách thức. Việt
Nam một hai năm trước chỉ đạt tăng trưởng 6 hay 7%. Bây giờ trong vòng một
hai năm Việt Nam muốn tăng trưởng lên 10% thì tôi nghĩ rằng người ta đã đốt
cháy giai đoạn ở một mức độ nào đấy. Muốn tăng tốc thì ta phải tăng tốc từ từ.
Tôi sợ rằng trong thời gian tới, nếu Việt Nam quá nôn nóng để tăng trưởng và sử
dụng các biện pháp không bền vững, không hiệu quả về lâu dài, thì có thể gặp sự
cố, có thể là không phải ngay trong trước mắt 1, 2 năm tới, mà có thể là 3, 4
năm tới.
Khi
nền kinh tế phát triển quá nóng và dựa trên việc bơm tiền vào nền kinh tế, mà
không dựa vào các biện pháp mang tính bền vững như phát triển khoa học công nghệ
hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể gặp các vấn đề nghiêm trọng
trong vòng 4 đến 5 năm tới.
Việt
Nam hiện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài, nhưng trong bối cảnh
môi trường địa chính trị toàn cầu gặp rất nhiều biến động như vậy, vốn đầu tư
nước ngoài Việt Nam có thể bị chựng lại, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới.
Việt
Nam cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là thương mại với Mỹ. Năm
ngoái chúng ta thấy là thuế đối ứng chỉ bắt đầu được áp dụng vào nửa cuối năm,
còn nửa đầu năm thì thuế đối ứng này chưa có tác động nhiều. Năm nay chúng ta sẽ
thấy bức tranh toàn cảnh hơn về tác động của thuế đối với kinh tế Việt Nam.
Trong trường hợp thuế đối ứng này làm giảm xuất khẩu Việt Nam, thì rõ ràng mục
tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Thứ
ba là tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Tiêu dùng chủ yếu vẫn tập
trung ở một số bộ phận cư dân thu nhập cao ở thành thị. Còn rất nhiều gia đình
đang thắt lưng buột bụng. Trong bối cảnh đấy, tiêu dùng khó có thể tăng trưởng
mạnh để trở thành một động lực của nền kinh tế.
Bên
cạnh đấy, các động lực mới sẽ được ưu tiên phát triển trong cái thời gian tới,
như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hay phát triển doanh nghiệp tư nhân
thì vẫn cần thời gian không chỉ một hai năm mà có lẽ lâu hơn mới có thể phát
huy tác dụng, để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong
tương lai.
Trong
bối cảnh đấy thì có lẽ các đòn bẩy quan trọng nhất mà chính phủ Việt Nam sẽ tiếp
tục sử dụng đấy là chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, đặc biệt là thông
qua đầu tư công, đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để kích thích kinh tế Việt
Nam. Tuy nhiên, biện pháp này đi kèm với mặt trái, đó là có thể dẫn tới giá tài
sản tăng nhanh, dẫn tới bong bóng thị trường bất động sản, có thể đe dọa ổn định
tài chính của Việt Nam và tạo ra những mầm móng bất ổn cho kinh tế Việt Nam
trong lâu dài."
==================
XEM
THÊM
Đại
hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XIV : Sự cân bằng quyền lực giữa công an và quân đội
19/01/2026
2025
: Một năm cải cách, bất trắc để Việt Nam khởi động "kỷ nguyên mới"?
29/12/2025
Biến
tàu hỏa thành trải nghiệm du lịch văn hóa sang trọng ở Việt Nam
22/12/2025
No comments:
Post a Comment