Nhà văn hóa kỳ vĩ
Trương Vĩnh Ký
1. Trong làn sóng “chống lật sử” thời gian vừa
qua, Trương Vĩnh Ký cũng là một trong những cái tên bị nhiều người/ trang đưa
lên đoạn đầu đài và đấu tố với những lời lẽ kết án ghê gớm nhất (tuy điều này
không mới mẻ và xa lạ).
Nếu
trong mắt của các bậc thức giả xưa nay Trương Vĩnh Ký thường được nhìn nhận như
một nhà bác học, một trí tuệ kiệt xuất, một bộ óc lớn nhất của Việt Nam thế kỷ
19, thì sau này, đánh giá về ông khá phức tạp.
Dư
luận về Trương Vĩnh Ký có thể tạm chia thành 3 thời kỳ: Trước 1945, từ
1945-1975, và sau 1975.
Ở
Giai đoạn đầu thì tương đối thống nhất trong việc đề cao một nhân vật vạm vỡ đã
có những đóng góp lớn lao cho văn hóa Việt Nam.
Giai
đoạn 2 thể hiện mạnh mẽ tính “xét lại”; và cũng chính ở đây, Trương Vĩnh Ký bị
kết tội là “phản quốc, tay sai, bán nước”…
Giai
đoạn 3 dù vẫn mang âm hưởng của giai đoạn 2 nhưng đã xuất hiện trở lại nhiều tiếng
nói “chiêu tuyết” cho ông với những bài viết và công trình nghiên cứu có hệ thống
nhằm định vị Trương Vĩnh Ký trong dòng chảy lịch sử và văn hóa của đất nước. Và
theo thời gian, xu hướng này cơ hồ đã dần thành chủ đạo.
2. Trương Vĩnh Ký (1837–1898) quê Bến
Tre, là một người Công giáo, thông thạo gần 30 ngoại ngữ, trong đó có tiếng Hy
Lạp, tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Miên, tiếng Thái… Ông
am hiểu sâu rộng cả hai nền văn hóa Đông, Tây; hoạt động trong nhiều lĩnh vực
nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật, viết sách, dạy học, làm báo, biên soạn từ điển…
Đến nay, Trương Vĩnh Ký để lại khoảng 121 tác phẩm bằng nhiều thứ tiếng, trong
đó chiếm gần một nửa là thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học.
Đương
thời, ông tiếp xúc với các văn hào và các học giả lớn của Pháp và Âu châu, như
Victo Hugo, được kính trọng như một trí tuệ siêu phàm của Việt Nam và được báo
chí phương Tây bình chọn là 1 trong 18 nhà bác học của thế giới.
3. Những đánh giá trái chiều về
Trương Vĩnh Ký trong thời gian gần đây, như đã nói, là không có gì mới. Tuy
nhiên, điều đáng nói là khi xu hướng chính (ít nhất là thuộc giới nghiên cứu và
phần nào ở cả chính quyền) đang ghi nhận và đề cao những đóng góp của ông cho nền
khoa học, giáo dục và văn hóa Việt Nam trong buổi đầu hiện đại hóa của đất nước,
thì trên mạng xã hội lại rầm rộ một làn sóng kết tội, đi ngược lại với xu hướng
trên. Có thể nói, điều này không ngẫu nhiên, mà nằm trong “phong trào chống lật
sử” nhắm vào nhà Nguyễn, Gia Long, Tả quân Lê Văn Duyệt…
Nếu
chỉ nhìn bề ngoài, điều này cũng không phải khó hiểu. Khi mà Pháp xâm lược Việt
Nam, nhân dân và sĩ phu đứng lên cầm vũ khí chống kẻ thù thì Trương Vĩnh Ký đã
chọn một con đường khác: Làm việc cho Pháp. Vai trò chính của ông trong giai đoạn
đầu là làm thông dịch, rồi sau này làm giáo dục, làm báo, nghiên cứu, viết
sách…
Tại
sao Trương Vĩnh Ký chọn con đường này? Khi Pháp xâm lược, nước ta là một nước
nghèo nàn, lạc hậu, hầu hết dân chúng đều mù chữ, chưa biết đến thế giới văn
minh. Trong lúc đó, trên lãnh thổ tồn tại 3 thứ tiếng chính, là Pháp, Hán và tiếng
Việt, tương ứng với chữ Hán, chữ Pháp, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.
Hán
vốn là ngoại tộc, Pháp là chữ và tiếng của thực dân, chỉ có chữ Nôm và Quốc ngữ
là chữ của ta, dùng để ghi tiếng nói của ta. Nhưng chữ Nôm thì quá khó học và
không thể phổ biến trong dân chúng. Với học vấn xuất chúng của mình, Trương
Vĩnh Ký đã chọn phát triển và phổ biến Quốc ngữ. Hoạt động không mệt mỏi, đưa
nó từ khuôn viên nhà thờ ra xã hội rộng lớn.
Ông
viết trong sách dạy chữ Quốc ngữ: “Chữ Quốc ngữ phải trở thành chữ viết của
đất nước. Phải như thế, vì lợi ích và sự tiến hóa. Vậy người ta nên tìm cách phổ
biến thứ chữ này bằng mọi phương tiện”. Bởi quan niệm như thế, ông viết
hàng chục công trình về ngữ pháp, từ điển, sách dạy tiếng Việt, mở trường dạy học
và sáng lập – làm chủ bút tờ báo Quốc ngữ đầu tiên của nước ta (Gia Định báo).
Ông
cũng viết nhiều sách về địa lý, lịch sử, khoa học, nhiều sách dịch thuật, sưu tầm
và in ấn văn thơ yêu nước chống Pháp…
Có
thể nói, trong hậu bán thế kỷ 19, Trương Vĩnh Ký là nhân vật quan trọng nhất
trong nền văn hóa Việt Nam. Ông trở thành cầu nối giữa Đông và Tây, là người đặt
nền móng cho quá trình hiện đại hóa của đất nước. Những gì ông đã làm và để lại
là không thể thay thế và không thể thiếu vắng.
3. Viết về Trương Vĩnh Ký, giáo sư
Cao Xuân Hạo nhận định: “Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam đầu tiên đã tiếp
thu được những tri thức khoa học của phương Tây vào cuối thế kỷ XIX đến một
trình độ mà không phải người trí thức nào được đào tạo chính quy ở một nước Âu
châu thời bấy giờ cũng có thể có được. Điều này đã làm cho nhiều giới trí thức
châu Âu rất kinh ngạc và thán phục. Đọc những dòng cảm tưởng của họ viết về
Trương Vĩnh Ký, chắc không có một người Việt nào không thấy tự hào về dân tộc
mình và biết ơn Trương Vĩnh Ký ít nhất là về phương diện học thuật”.
Nhưng
có lẽ thầy Cao Xuân Hạo đã có phần lạc quan quá đáng, vì hậu thế đã và vẫn có một
bộ phận “không nhỏ” không những coi khinh mà còn xem Trương Vĩnh Ký là “tội đồ
dân tộc”, là “nỗi nhục” đối với họ! Đó là chưa kể đến cái bộ phận lớn hơn còn
không biết ông là ai, chưa từng nghe nói đến.
Ngược
lại, những người biết suy xét đã gọi con đường của Trương Vĩnh Ký là yêu nước
“phi truyền thống” (xem Bằng Giang). Nghĩa là ông không chọn con đường cầm súng
trên mặt trận vũ trang, mà trở thành “người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” –
như cách nói của những người cộng sản sau này.
Giữa
cơn gió Á mưa Âu, khi “Các nho sĩ xuất thân từ Cửa Khổng Sân Trình thì ngao
ngán, chán nản, chua chát: Nào có ra chi cái chữ nho (Trần Tế Xương), Sách vở
ích chi cho buổi ấy (Nguyễn Khuyến)” và khi “Các nho sĩ cấp tiến
thì hăng hái canh tân và xem văn hóa truyền thống như vật cản tác hại cần phải
phế bỏ càng nhanh càng tốt. Các trí thức Tây học thì ưa chuộng đến tôn sùng văn
hóa phương Tây và miệt thị văn hóa truyền thống”; thì Trương Vĩnh Ký với tầm
vóc bác học của mình, đã chọn hiện đại hóa đất nước nhưng vẫn giữ gìn và đề cao
văn hóa truyền thống của dân tộc.
Bởi
thế, ông sưu tầm, chọn các tác phẩm kinh điển và các sáng tác dân gian, dịch ra
chữ quốc ngữ. Rồi đưa vào trường học, đăng báo chí, phổ biến chúng; đồng thời,
dốc công hiện đại hóa tiếng Việt bằng lối văn xuôi “trơn tuột” như lời nói hàng
ngày.
Nhiều
người sẽ không hình dung được sự trọng đại của công việc này nếu họ không biết
rằng, ở thời điểm đó, tiếng Việt và chữ Việt vẫn chỉ là một thứ ngôn ngữ hạng
hai, hạng ba, bị coi khinh và không được dùng trong giáo dục, hành chính và
sinh hoạt văn hóa. Đến thời điểm ấy, tiếng Việt và chữ Việt chưa bao giờ có địa
vị là một ngôn ngữ quốc gia. Hãy hình dung rằng, khi đó chưa ai viết văn xuôi bằng
tiếng Việt (và cũng không biết viết!) như ta đang viết bây giờ.
Tuy
là một người Công giáo, được đề nghị quốc tịch Pháp, được mời “vào dân Tây”,
nhưng ông đã từ chối, “hồi tục” và chọn lối ăn mặc của một người Việt Nam, quyết
không bỏ việc thờ cúng cha mẹ, ông bà…
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/01/1-21.jpeg
Ảnh
Trương Vĩnh Ký do Pun Lun chụp khoảng thập niên 1880
Tranh
thủ hệ thống và những điều kiện có được với tư cách là một người làm việc cho
Pháp, ông viết và in ấn không ngừng, mở trường dạy học, làm báo… nhằm giữ gìn
và phát triển chữ Quốc ngữ và tiếng Việt; dạy cho người Việt những tri thức
khoa học theo lối giáo dục Tây phương.
Chính
bởi những nền móng ban đầu và quan trọng này mà Trương Vĩnh Ký đã xây nên, sau
này các sĩ phu yêu nước như Phan Châu Trinh đã tiếp nối trong các phong trào
Đông du, Đông kinh Nghĩa thục; và cho đến năm 1945 khi vừa khai sinh ra nước
VNDCCH, chính phủ của Hồ Chí Minh đã thừa kế và quyết định lấy chữ Quốc ngữ và
tiếng Việt làm ngôn ngữ chính thức của đất nước.
Đối
với tôi, Trương Vĩnh Ký là một người Việt Nam khổng lồ, người đã cô đơn trên
hành trình nhiều búa rìu để làm một công việc có tầm vóc lớn lao cho sự tồn
vong của dân tộc trên phương diện văn hóa. Những đóng góp của ông mang tính lịch
sử, được thực hiện bởi một trí tuệ kiệt xuất mà vào thời điểm ấy, ngoài ông ra,
không ai có đủ sức đảm đương.
Một
đất nước không chỉ cần người chiến sĩ cầm súng ngoài mặt trận, mà còn cần cả những
nhà văn hóa để giữ gìn và kiến thiết ở chiều sâu, làm cho nó không bị vong bản
và mông muội. Và bất luận thế nào, Trương Vĩnh Ký là nhân vật quan trọng nhất của
Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19 trên “mặt trận” ấy.
Khi
Pháp xâm lược Việt Nam, ngoài những người đã chọn lao vào nơi hòn tên mũi đạn,
thì cũng có lắm kẻ cơ hội đã nhảy ra kiếm ăn một cách trơ tráo và nhục nhã;
trong khi Trương Vĩnh Ký, dù được sự trọng vọng tột cùng của chính kẻ cai trị,
nhưng đã chọn sống nghèo khó cho đến hết đời. Ông đã tìm mọi cách để in sách dạy
học; đến ngày chết đi, tiền nợ nhà in vẫn còn chưa trả hết. Ngày nay, những phường
giá áo túi cơm, đứng chưa đến cái móng chân ông, cả về học vấn lẫn nhân cách, vẫn
nhân danh “yêu nước” để lớn tiếng chửi mắng, như các nhà đạo đức của thời đại!
Và
mỉa mai thay, bây giờ cái lớp hậu thế ấy đang dùng chính cái tiếng nói và chữ
viết mà ông đã dành cả đời để xây dựng và phát triển, để mạt sát và kết tội ông
như một tội đồ dân tộc! Phan Châu Trinh gọi những kẻ ấy là “yêu nước bằng cái lỗ
mồm”.
Thực
ra cũng không can dự gì được đến ông, nhất là khi sự nghiệp mà ông để lại đã
làm tròn sứ mạng lịch sử vẻ vang của nó và vẫn sống một cách mãnh liệt với hôm
nay trong mọi ngõ ngách của xã hội, bất luận người ta có biết đến điều đó hay
không. Nhưng điều đáng buồn chỉ là, một dân tộc sẽ không thể lớn lên được nếu
không biết về quá khứ của chính mình – nơi mà cha ông họ, những người ưu tú nhất,
lại vẫn bị đám con cháu ít học coi khinh và đấu tố như kẻ thù…
(Danh
mục 121 tác phẩm của Trương Vĩnh Ký: xem ở phần bình luận)
Thái
Hạo
HÌNH
: https://www.facebook.com/photo?fbid=1275174577822892&set=a.225469346126759
No comments:
Post a Comment