Monday, May 31, 2010

DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN : ƯU TƯ và THẮC MẮC

Dân Chủ và Nhơn quyền: Ưu tư và thắc mắc

Phan Văn Song

Tháng Năm 31, 2010

http://ledienduc.wordpress.com/2010/05/31/dan-ch%e1%bb%a7-va-nh%c6%a1n-quy%e1%bb%81n-%c6%b0u-t%c6%b0-va-th%e1%ba%afc-m%e1%ba%afc/

Đã từ lâu nay khi có một Phái đoàn Nhà Nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam qua Âu Châu đến thăm Quốc hội Âu châu xin tiền thường hay bị chất vấn về vấn đề tình trạng Nhơn quyền ở Việt Nam rằng, hiện nay vẫn còn bị xâm phạm và nhiều người không đồng tư tưởng, không đồng ý kiến, vẫn còn bị giam cầm.

Người đại diện và trưởng phái đoàn Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ung dung, tự tại, trả lời không ngượng miệng là Quốc hội Âu châu chỉ biết nghe những tin thất thiệt và hiểu lầm Việt Nam, vả lại quan niệm Nhơn quyền ở Đông phương và Tây phương khác nhau: theo định nghĩa Tây phương, quan niệm Nhơn quyền là quyền một con người cá nhơn, còn ở Đông phương (chúng tôi) quan niệm Nhơn quyền là một quan niệm quyền một cộng đồng, một tập thể con người.

Nhơn quyền ở Việt Nam do Đảng Cộng sản chỉ đạo, được định nghĩa theo tư duy của Đảng Cộng sản.

Quyền tự do Tôn giáo và tự do Tín ngưỡng cũng phải theo định nghĩa của Đảng Cộng sản cầm quyền, là quyền của một tập thể, một cộng đồng Cộng sản, nay được song tịch vào quốc tịch việt nam, trước thờ các ông có râu xồm: Các Mác, Lê Nin, Xì ta lin… ngày nay tiếp tục thờ một xác chết ướp khô, đệ tử chơn truyền của các vị thánh râu xồm ấy với cuốn Thánh kinh được gọi là Tư tưởng Hồ Chí Minh; và Nhà nước do Đảng cộng sản cầm quyền không chấp nhận những quan niệm thờ phượng khác.

Về quan niệm Yêu quê hương, yêu Tổ quốc giang san cũng thế: quan niệm yêu quê hương là yêu quê hương xã hội chủ nghĩa, yêu Tổ quốc giang san là Tổ quốc giang san xã hội chủ nghĩa, núi liền núi sông liền sông, vì thế thà nên giao núi, giao sông, giao biển, giao đảo cho quan thầy Trung Hoa giữ, chắc ăn hơn, còn hơn giữ lấy một mình sợ không kham, phần dân chúng thì dân chúng phải biết tuân lệnh, không được biểu tình phản đối… dù chỉ phản đối, đả đảo và chống Tàu.

Nhưng có một điều cũng lạ, biểu tình một nhơn quyền, và là một nhơn quyền tập thể, đó quyền phát biểu của một tập thể công dân để nói lên sự không đồng ý không bằng lòng của mình đối với nhà nước cầm quyền. Biểu tình là nghề ruột của chàng Cộng sản lúc còn nằm vùng ở Việt nam Cộng hòa, đã từng sử dụng xúi dân thời ấy chống Việt nam Cộng hòa lúc ấy. Vậy mà ngày nay vị thủ trưởng nhà cầm quyền Cộng sản, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải đọc đít-cua ra lệnh Cảnh sát Công an của mình phải dẹp biểu tình: chống biểu tình lại biến thành một quốc sách, và quyền biểu tình, một Nhơn quyền tập thể dân chủ, củng biến thành một món hàng quôc cấm

Vậy quan niệm Nhơn quyền là quyền của một tập thể một cộng đồng cũng không có ở Đông phương tuốt, hay chắc các ông Cộng sản muốn nói rõ là ở “Đông phương Cộng sản”. Sao các ông không nói toẹt ra là ở xứ Việt Nam Cộng sản chúng tôi chẳng những không tôn trọng Nhơn quyền, mà ở xứ chúng tôi thực sự là không có Nhơn quyền. Người dân Việt Nam không có quyền gì cả. Và vì không có quyền nên chẳng làm Chủ, vậy thì Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng không có Dân chủ. Ce qu’il fallait démontrer.

Như vậy các vị dân biểu Tây phương sẽ hiểu và sẽ không đòi đi thăm Việt Nam như các anh Dân biểu Quốc hội Âu châu Mario Panella và Thượng Nghị sĩ Ý Mario Peducca để phiền nhiểu nhà cầm quyền Việt nam phải lo lắng cấm không cho các vị ấy vào Việt Nam, vì sợ tập thể nhơn dân Việt nam vì quá giận, sẽ hành hung họ, vì các vị người Tây phương, thiếu ngoại giao và thiếu thông tin, cả gan dám hỏi thăm đến tình trạng giam cầm của tù nhơn không đồng chánh kiến và dám đấu láo trên mạng vi tính và tình trạng Nhơn quyền ở Việt Nam.

Ngành Ngoại giao Việt Nam nó cao cả như vậy. Quan niệm và từ ngữ Khoa học Chánh trị của Việt Nam ngày nay đã đi vượt thời gian và không gian, ngay đến cả chúng ta, tuy là những người gốc Việt đọc Việt ngữ, vẫn không hiểu nỗi chiều sâu đầy triết lý những quan niệm khoa học chánh trị ấy. Nên người viết cũng thấy cần có những suy nghĩ để đặt lại những định nghĩa triết học chánh trị ấy:

Cộng Hòa hay Đế Quốc? Xã hội Nhà Nước hay Xã Hội Dân Sự?

Phát huy Dân Chủ bằng Tổ chức Xã Hội hay bằng Tổ chức Luật Pháp (Pháp trị)?

.

1/ Định nghĩa và tổng kết tình hình hiện nay của nền Pháp trị

.

Pháp trị: Giấc mơ của các hệ thống cơ chế Nhà nước Dân chủ trên thế giới. Ở Pháp, ngay từ những năm sau Thế Chiến II, 1945, sau mỗi lần có thay đổi chánh phủ lãnh đạo là mỗi lần đều có nói trong chương trình sự cần thiết là phải sửa đỗi chế độ Luật Pháp Nhà Nước. Ngay cả ngày hôm nay trong các thể chế Cộng hòa, với định nghĩa một đất nước thống nhứt, “một và không phân chia” (un et indivisible), quan niệm phân chia quyền hạn (séparation des pouvoirs) hay tam quyền phân lập, hay quan niệm phân chia quyền lực cho nhơn dân, dân chủ tham dự, vẫn còn mù mờ không rõ ràng. Tại sao khó khăn như vậy? Có phải tại từ ngàn xưa, quyền lực thường nằm trong tay kẻ cầm quyền: thời của các Vua Chúa, độc đoán, độc tài? Ở Pháp thí dụ, ngay từ những ngày đầu nền Cộng Hòa, Jean Bodin (Angers Pháp 1530 – Laon Pháp 1596), tuy là nhà luật gia với một tư tưởng rất “Tân Thế giới” (“Không có của cải hay sức mạnh nào bằng con người – il y a ni richesse ni force que l’homme” – Six Livres de la République Livre V Chapitre II – Sáu sách Tham Luận về nền Cộng Hòa, Tập V Chương II), vẫn có cái suy nghĩ cho rằng, “dù với một nền Công hòa, cũng nên giao quyền lập Pháp cho các Nhà Cầm quyền”…. Và ngay với cả chúng ta ngày nay, chúng ta, những nhà luật gia hay chánh trị gia tân thời, chúng ta vẫn, một cách quá khứ, lẫn lộn cầm quyền và làm luật: “Nếu ta cầm quyền ta sẽ ban những Luật như thế nầy…. ”. Ở Pháp thiên hạ vẫn còn giữ và tôn sùng những kỷ niệm các vị cầm quyền sáng giá: Vua Henri IV đã dẹp yên vấn nạn Giáo Chiến, tướng Bonaparte – những tranh giành ảnh hưởng sau cuộc Đại Cách Mạng, tướng De Gaulle – những vấn nạn do các Đảng Phái…Và ngày nay, với tình hình khủng hoảng kinh tế, một quốc gia như nước Pháp phải trả một cái giá rất đắt (thì giờ và tiền bạc) vì phải vòng vo thương thuyết tìm những giải pháp chánh trị và kinh tế; hoặc phải sử dụng ở chổ nầy những luật phá rào kinh tế (dérèglementation) hoặc phải bãi bỏ ở những chỗ khác những rào cản thuế vụ (niches fiscales), hoặc phải ban bố ơn huệ tài chánh bằng những luật thuế vụ khuyến khích (incitations fiscales), …. trong khi chỉ phải thẳng thừng áp dụng những biện pháp cải tổ do các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, …. thuộc cả hai phe cầm quyền và đối lập đề nghị; thuộc cả hai trường phái: (kinh tế thị trường) tự do và và (kinh tế chỉ đạo tục gọi là trường phái) xã hội.

Nhưng cái việc phải làm để cải tổ nền pháp trị mà chúng tôi nghĩ là rất cần thiết, đó là cải tổ ngành Tư pháp, vì chúng tôi chuyên nghiệp về Luật học, ngành Tư pháp phải được độc lập và thoát khỏi quyền lực chánh trị, và nếu có thể, trao quyền kiểm soát cho dân (Quốc hội). Ngành Tư pháp phải được độc lập, ngành Tư pháp phải có nhiều quyền tự do hơn, nhiều vì có nhiều quyền lực hơn, ngành Tư pháp phải có nhiều trách nhiệm hơn: Viện Kiểm Soát, hay Tối Cao Pháp Viện phải được độc lập (thoát khỏi ảnh hưởng quyền lực chánh trị) và phải do dân cử nghĩa là những thành viên phải là những đại diện của các dân cử hay do dân cử. Chương trình và đường hướng chánh trị của ngành Tư pháp phải được đưa ra bàn cải trước Quốc hội hằng năm và biểu quyết.

Không dám nói đến những quốc gia độc tài như Việt nam Xã hội Chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt nam độc quyền lãnh đạo chỉ biết phân nhiệm cho tam quyền, và chỉ đạo và chỉ định luôn cho Nhân dân bằng Đảng cử dân bầu người dân cử.

.

2/ Cộng hòa, Đế quốc Dân chủ, quân chủ

Theo thông lệ thiên hạ hay cho Cộng hoà và Dân chủ là hai quan niệm hoặc đối nghịch lẫn nhau hoặc thay thế nhau. Theo Aristote, Cộng hòa là định nghĩa cho một thể chế tổ chức xã hội mà lợi ích hằng đầu là phục vụ cho lợi ích chung – (Rès Publica = phục vụ cho cái chung – pour La Chose Publique). Quyền lực do Pháp luật áp dụng bình đẳng cho mọi thành phần cá nhơn có tự do trong xã hội. Thể chế ngược lại là thể chế độc tài và được gọi là đế quốc.

Dân chủ – quyền lực ở nhơn dân – chỉ là phương thức quản trị. Phương thức có thể dùng hoặc Quân chủ (monarchie) hoặc một giai cấp quý phái (aristocratie) để quản trị. Một quốc gia có một nền Cộng Hòa có thể dùng phương thức quản trị Quân chủ: Vương Quốc Anh, Vương quốc Bỉ, Đan Mạch, …. phương thức một giai cấp quý phái như thời Cộng hòa Venise, và Dân chủ như các quốc gia cộng hòa ngày nay trên thế giới.

Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu kỹ, phân tích đi sâu vào trình độ văn hóa và giai cấp, các nhà cầm quyền ngày nay trên các quốc gia tiên tiến đều xuất thân từ những Trường Đại học chuyên môn về Luật học và Chánh trị học đào tạo những chánh trị gia đặc biệt: ở Mỹ Harvard, Columbia, …. ở Anh Oxford, Cambridge… và đặc biệt ở Pháp các trường Chánh trị học (Sciences politiques) và trên tất cả Trường ENA (Quốc Gia hành Chánh),…. vậy thì đây có phải là một giai cấp quý tộc bằng cấp không? Nghiên cứu kỹ hơn tí nữa chúng ta sẽ thấy ở những địa hạt quản trị lãnh đạo kinh tế, tài chánh và luật pháp, với phương thức bảo trợ lẫn nhau; các nhơn viên ngân hàng cao cấp biến thành thành viên (member-associate), các luật sư cao cấp biến thành những luật sư associates, … ngành nghề quản trị lãnh đạo đất nước đều phải qua hệ thống bảo trợ nghề nghiệp. (cooptation professionnelle)… Phần quản trị lãnh đạo thực sự bình dân do dân cử chỉ còn ở phần hạ tầng cơ sở như Xã trưởng các làng xã nhỏ…

Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp sử dụng phương thức hỗn hợp: một nền Cộng hòa, một Tổng thống dân cử với một quyền hạn quân chủ, với một chánh phủ quý tộc, quan chức hành chánh xuất thân trường ENA. Thậm chí Đảng đối lập khi Tả lúc Hữu cùng đều do các viên chức cùng lò ENA điều khiển. Hiến Pháp thành lập nền Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp nầy phát xuất từ những ý kiến của Tướng De Gaulle không lấy gì làm Dân chủ lắm?

Và để bổ túc cái thiếu thốn về sanh hoạt Dân chủ ấy, dân chúng thường tự tổ chức những tổ chức Xã hội Công dân. Vì hệ thống (la structure) thiếu dân chủ, người ta tạo ra những diễn viên dân chủ (des acteurs) ấy, những xã hội công dân (sociétés civiles): hội đoàn, (ở Pháp là những Hội theo luật 1901 – tháng 7 / 1901; ở những quốc gia theo luật anglo-saxon, những hội đoàn không làm lợi nhuận (non profit organisation), nói tóm lại danh từ được gọi chung là những hội đoàn phi chánh phủ hay ngoài chánh phủ NGO (non gouvernemental organisations), là những diễn viên dân chủ có quyền hạn tham dự vào quyền lực quản trị, hành chánh của Nhà nước.

Nhưng, nếu chúng ta những nhà luật học, chúng ta sẽ thấy rõ rằng, chúng ta phải kêu gọi cải tổ cái hệ thống dân chủ. Sau khi đề nghị cải tổ nền Pháp trị, bằng cải tổ lại ngành Tư pháp, chúng ta phải nghĩ ngay đến cột trụ thứ hai của một nền Dân chủ tân tiến: đó là ngành Giáo dục. Khác với thể thao, Chánh trị không phải chỉ cần có mặt tham dự thôi. Tham dự vào Chánh trị chưa đủ, cần phải có những hành động, lấy những quyết định. Hiện nay, ở các nước tiên tiến và nhứt là ở Pháp, chỉ có một số ít Trường dạy cho Công dân binh thường thành những Chánh trị gia có những hành động quyết định chánh trị: Harvard, Columbia ở Mỹ, Oxford, Cambridge ở Anh và ở Pháp chỉ một Trường độc nhứt vô nhị là ENA (Quốc Gia hành chánh). Làm sao phải đem những quan niệm chánh trị, kinh tế hành chánh vào các ngành nghề khác để tạo những người quản trị đất nước tương lai với những cái nhìn hổ tương với nhau, với những góc độ nghề nghiệp khác nhau, và xa hơn nữa với những tiểu sử giai cấp khác nhau.

Một lần nữa phải nói đến Việt Nam để đo lường cái mức độ xa cách thiếu Dân chủ ấy. Toàn bộ bộ máy Hành chánh do Đảng Cộng sản chỉ đạo. Ghê gớm hơn và quỷ quyệt hơn, tất cả các bực thang hành chánh đều nhân đôi. Bên cạnh bộ máy Hành chánh của Chánh phủ và Nhà nước, bộ máy Hành chánh do Đảng nằm cạnh kiểm soát. Người dân phải bị kiểm soát hai lần, một lần, phần xác do hệ thống hành chánh “dân sự’ với những cường hào ác bá, cửa quyền tham nhũng bóc lột, một lần thứ hai do các apprachiks, người của bộ máy Đảng Cộng sản kiểm soát, nhưng nguy hiểm hơn là ở phần tư tưởng tức là phần hồn. Cũng lại tham nhũng hà hiếp. Còn cá nhơn các nhà chánh trị gia quản trị, tất cả đều phát xuất ở một lò đào tạo: Chủ nghĩa Cộng sản Mác Lê-nin lỗi thời cũ rích phá sản từ đã trên 20 năm nay.

.

3/ Phát huy Dân chủ bằng cải tổ Tổ chức Xã hội hay bằng cải tổ nền Pháp trị

Khi chúng ta nhìn vào những phúc lợi đang được hưởng ngày nay của những công dân của những quốc gia tiên tiến trong đời sống hằng ngày, chúng ta phải nhìn nhận rằng những tiên tiến ấy là do sự thắng lợi của những đấu tranh để cải tổ Xã hội, từ những điều kiện làm việc, những luật lệ làm việc, những điều kiện tổ chức ngày giờ giữa những ngày nghỉ, ngày làm việc, lương bổng,…. vân vân, đến những luật lệ xã hội, quỹ hưu bổng, tuổi về hưu… thậm chí đến quỹ Sức khoẻ, quỹ An Sanh Xã hội, Giáo dục và cưởng bức giáo dục, nhà ở… Nhà nước cha mẹ, nhà nước bác ái (Etat providence), vì cưu mang công dân của mình từ lúc mở mắt chào đời đến tuổi già xuống lỗ, đã tạo nên nền ổn định Xã hội và củng cố một nền Cộng hòa (thí dụ của nền Cộng hòa Pháp). Tổ chức Xã hội, và Luật lệ Xã hội là điển hình của đời sống chánh trị của số đông các quốc gia Âu châu và đặc biệt nước Pháp. Thế nhưng, Luật Xã hội có thể xóa bỏ tranh chấp giữa những cộng đồng chủng tộc không?… Những tệ nạn xã hội vẫn còn: phân chia nam nữ (gender, sexisme), kỷ thị chủng tộc, hà hiếp kẻ dưới quyền, đuổi người vô cớ… Tổ chức Xã hội không thể giải quyết mọi vấn đề, vì Tổ chức Xã hội không thay thế được tất cả đời sống chánh trị. Chỉ có cải tổ một đời sống chánh trị mới đem những cải thiện vào Xã hội, và muốn cải thiện đời sống chánh trị chỉ có Pháp luật – Một nền Pháp luật Chánh trị (Le droit politique). Lấy thí dụ ở nước Pháp, Quỹ An sinh Xã hội ra đời sau khi nước Pháp được Giải Phóng (khỏi bàn tay xâm chiếm của Đức quốc Xã), chứ không phải nước Pháp được Giải phóng bởi Quỹ An sanh Xã hội. Nói tóm lại, ngày hôm nay, nếu chúng ta cần phát huy những cải tiến về Dân chủ, nếu chúng ta cần phát huy những hướng tổ chức xã hội để cải thiện xã hội chúng phải có một nền Pháp Luật Chánh trị chung tiên tiến và dân chủ!

Còn Việt Nam? Mang một cái tên chỉ là một cái vỏ không rỗng tuếch. Cộng Hòa? Việt Nam không phải là một Cộng hòa, vì thiếu nền Pháp trị, vì không có sự phân chia quyền lực, tam quyền phân lập, ở Việt Nam là một cuộc phân nhiệm do Đảng Cộng sản chỉ đạo. Cũng từng ấy người cán bộ cao cấp lãnh ba nhiệm vụ khác nhau. Kể cả xã hội dân sự và quyền tham dự chánh trị của người dân, Dân biểu là đại diện dân do Đảng đề cử dân bầu để gọi là, các hội đoàn, đoàn thể do Đảng tổ chức đề cử Ban lãnh đạo và gom lại trong một bộ phận ngoài nhà nước là Mặt Trận Tổ quốc (nhưng do Đảng kiểm soát). Vì không có Đảng đối lập nên Dân chủ không có, còn định nghĩa Xã hội Chủ nghĩa thì Xã hội và tổ chức xã hội cũng không tìm thấy… Nói như vậy để nhắn với các vị đại diện Nhà Nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa chớ tuyên bố định nghĩa từ ngữ các tư tưởng hay quan niệm như Dân Chủ Tự Do Nhơn quyền Độc lập làm gì! Mong quý vị cứ thẳng thừng mà nói, hãnh diện mà nói: chúng tôi là một nước độc tài, chúng tôi là Đảng Cộng sản, chúng tôi là người Cộng sản… chúng tôi cầm quyền. Ở Việt Nam, không có Tự do, không có Nhơn quyền, không có Dân chủ… Quốc gia Việt Nam là một quốc gia theo chế độ Cộng sản quốc tế, chúng tôi không có biên cương giới hạn lãnh thổ gì với anh láng giềng Trung Quốc, hai chúng tôi là một. Như vậy những người gốc Việt Nam ở Hải ngoại tránh khỏi phải hiểu mù mờ, và các anh Tây phương cũng rõ ràng không đi thăm Việt nam bậy bạ rủi bị dân chúng Việt Nam biểu tình đả đảo phải tông cửa sau mà đi. Tội nghiệp lắm!!!

.

Kết luận

Xã hội là một tổ chức lấy Cá nhơn con người làm trung tâm. Luật Pháp là một tổ chức lấy cộng đồng làm trọng điểm. Hai quan niệm ấy có mâu thuẫn với nhau. Như vậy Nhơn quyền và luật lệ Nhà nước có nhiều xung khắc. Từ ngàn xưa, những luật lệ của Nhà nước đã được phát xuất ra ngay từ những thời quân chủ thạnh hành, thế kỷ thứ XVI, thế kỷ thứ XVII để bảo đảm những thành tựu về nền Độc lập, về Chủ quyền của đất đai mình, và hệ thống hóa những liên hệ giữa nhà cầm quyền và công dân. Nhơn quyền trái lại sanh sau đẻ muộn vào thế kỷ thứ XVIII nhìn nhận những quyền tự nhiên và bất khả kháng của con người (công dân) đối với một Nhà nước cầm quyền. Những quyền con người ấy đã được tuyên bố trên những Bản Tuyên Ngôn Nhân quyền của thế kỷ thứ XVIII. Nhưng sự tương khắc ấy không phải lúc nào cũng có, vì những Nhân quyền chỉ được tôn trọng khi các Quốc gia cam kết bảo đảm sự tôn trọng, đó là các Quốc gia có nền Pháp trị, hay các quốc gia có nền Cộng hòa. Vì thế khi được đặt một câu hỏi về Nhân quyền và Nhà nước , nhà Triết học Emmanuel Kant (1724 Königsberg, ngày nay là Kaliningrad Nga – 1804 Königsberg) của thời đại Ánh Sáng (époque des Lumières) đã không ngần ngại trả lời rằng: “chỉ có một cách hòa giải Nhơn quyền với Luật Nhà nước là phải có một nền cộng hòa toàn diện (république universelle) và một nền hòa bình vĩnh cửu (une paix perpétuelle)”.

Nhưng còn về phần những liên quan (ngoại giao) chánh trị giữa các Quốc gia với nhau? Đế quốc, độc tài, đảng trị, dân chủ, …? Muốn có hòa bình, muốn có hòa giải, hai rào cản phải được né tránh: một là phương thức ngoại giao chánh trị úp úp mở mở, đu giây giữa sự khủng bố và sự tránh chấp biểu diễn sứ mạnh của các Quốc gia có Pháp trị và những Quốc gia độc tài. Hai, sử dụng những lòng nhân đạo, bác ái vô biên của quần chúng, nhưng chỉ biết tố cáo tội lỗi của các Quốc gia dân chủ pháp trị không làm tròn phận sự ngăn cản những sự xâm phạm Nhơn quyền của các quốc gia độc tài. Giữa giải pháp quá thực tế của real politics, và cái nhìn quá đạo đức, một con đường trung dung có thể có chỗ đứng, đó là con đường của quyền xen lấn nhân đạo (ingérence humanitaire) và các Tòa Án quốc tế.

Mong thay!

Đối với Việt Nam, con đường xen lấn nhơn đạo, sẵn sàng giúp đỡ người Việt Nam, nhưng không giúp đỡ nước Việt Nam và nhà cầm quyền Việt Nam nếu những điều kiện Nhơn quyền thiếu thốn. Cũng đừng quên nhắc nhở cho các nhà lãnh đạo Việt Nam nhứt là những Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là họ vẫn là những người trách nhiệm những tội ác do Đảng Cộng sản Việt nam gây ra từ 70 năm nay: Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc 1949 đến 1956, Thảm sát Tết Mậu Thân Huế 1968, Cải tạo thương nghiệp và Chế độ lao tù tập thể và cưỡng bách lao động những quân cán chánh và gia đình của chánh quyền miền Nam sau ngày 30 thánh Tư 1975, … những Tòa Án quốc tế có thể được thành lập để xữ họ.

Cuối Năm 2008, Pentecôte 2010
—–
T.B: Trong tuần qua, dư luận trên các diễn đàn “lề trái” và cộng đồng bloggers được dịp nóng lên trước thông tin Trung tướng công an Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục an ninh, đã tự hào khoe thành tích: “Trong mấy tháng qua, bộ phận kỹ thuật của “ta” đã phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu”.

Thật không ai khảo mà khai: Lạy ông tôi ở bụi nầy! Khoe thành tích chống mạng thông tin và vẫn vênh váon hãng diện lập thành tích khoe khoang rằng ViệtNam Cộng sản tôn trọng cái Nhơn quyền số 1 là “Quyền Thông Tin và Ngôn Luận”. Thật miễn bàn!

Nguồn: Bài nhận được từ tác giả.

.

.

.

NHỮNG NGỘ NHẬN DANH XƯNG TỐN KÉM

Những ngộ nhận danh xưng tốn kém

Nguyễn Văn Tuấn

31-5-2010

http://nguyenvantuan.net/science/4-science/854-nhung-ngo-nhan-danh-xung-ton-kem

Trong vòng vài năm trở lại đây, có nhiều nhà khoa học hoặc được kết nạp vào New York Academy of Science (Viện hàn lâm khoa học New York), hoặc đề cử có tên trong các từ điển danh nhân loại “Who is Who”. Cố nhiên các nhà khoa học này có ít nhiều đóng góp quan trọng cho khoa học, nhưng việc họ có tên trong các từ điển danh nhân hay được phong tặng những danh hiệu to lớn như thế có thực sự là một vinh dự, hay phản ánh tầm cỡ vĩ đại của nhà khoa học, hay là nạn nhân của những chiêu thức tiếp thị tinh vi của các công ti chuyên kinh doanh tiểu sử? Đây là một vấn đề cần xem lại cẩn thận. Trong bài viết này, tôi sẽ trình bày một số thông tin liên quan để bạn đọc lượng xét.

------------------------------------

.

Sản phẩm quan trọng số 1 của một nhà khoa học là những bài báo khoa học được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế (thường là tập san chuyên môn), hay những bằng phát minh được công nhận cấp bản quyền (patent). Những bài báo hay bằng phát minh là một “chứng chỉ” về cống hiến tri thức và ý tưởng cho thế giới của nhà khoa học. Có công thì có thưởng: với những đóng góp tri thức, nhà khoa học có cơ hội thăng chức trong guồng máy khoa bảng, hay được đồng nghiệp trên thế giới biết đến và ghi nhận đóng góp.

Tùy theo tầm quan trọng của những góp vào khoa học, hình thức ghi nhận có thể là nhà khoa học được mời giảng dạy và giữ các chức vụ trọng yếu trong một hiệp hội chuyên môn, hay được trao một giải thưởng cao quí nào đó. Nhà toán học trẻ Ngô Bảo Châu vừa qua được trao giải Clay và được mời đi giảng nhiều nơi trên thế giới vì một đóng góp quan trọng của anh trong toán học. Với một cống hiến xuất sắc có giá trị lâu dài, nhà khoa học có thể được đồng nghiệp đề cử nhận giải Nobel, hay được tiến cử vào các tổ chức khoa học cấp cao như viện hàn lâm khoa học. Nhà vật lí lừng danh Albert Einstein và nhà sinh học James Watson (người phát hiện DNA) vừa là những người từng được giải Nobel, vừa là những thành viên của Viện hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Kì (The National Academy of Sciences of The USA).

.

Phân biệt thật và giả: tên gọi

Nhưng cần phải phân biệt những viện hàn lâm khoa học thật và những cơ sở kinh doanh núp dưới danh hiệu “viện hàn lâm khoa học”.

Nói một cách nôm na và tượng hình, viện hàn lâm khoa học “thật” là một văn bằng tốt nghiệp đại học cho một nước, và là một biểu tượng cho một nền khoa học đã trưởng thành. Ở các nước có nền kinh tế và khoa học phát triển cao như Mĩ, Anh Quốc, Pháp, Úc, Thụy Điển, v.v... đều có một viện hàn lâm khoa học. Ở Mĩ, sau cả trăm năm lập quốc và đạt được nhiều thành tựu giáo dục đáng kể, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kì được thành lập vào năm 1863; ở Úc, mãi đến năm 1954 Viện Hàn lâm Khoa học Úc (Australian Academy of Science) mới ra đời sau khi Úc đã có hai nhà khoa học chiếm giải Nobel về y khoa. Hội Hoàng gia (The Royal Society) của Anh Quốc, hay Hoàng gia Hàn lâm viện (Royal Academy of Sciences, cơ quan có chức năng tuyển chọn người lãnh giải Nobel hàng năm) của Thụy Điển cũng được hình thành vào thế kỉ 19 khi mà nền khoa học của họ đã ở vào giai đoạn “trưởng thành.”

Không giống như Liên Xô cũ, nơi mà Viện hàn lâm khoa học Moscow là một trung tâm nghiên cứu, ở các nước Tây phương như Mĩ, viện hàn lâm không phải là một viện nghiên cứu, cũng không phải là tập hợp các viện nghiên cứu, mà là một đoàn thể hay tổ chức bất vụ lợi có chức năng chính là: (i) cố vấn cho chính phủ các chính sách liên quan tới khoa học và kĩ thuật; và (ii) giáo dục và cổ động quần chúng về khoa học và vai trò của khoa học trong xã hội. Do đó, các viện hàn lâm này thực chất là những hiệp hội độc lập với chính phủ, không nhận kinh phí từ chính phủ, và chính phủ không dính dáng vào việc điều hành. Các nhà khoa học tự điều hành và kinh phí thường do đóng góp từ tư nhân và của chính các nhà khoa học.

Bên cạnh những viện hàn lâm nghiêm chỉnh trên, ở Mĩ còn có rất nhiều nhóm thương mại chuyên môn kinh doanh tên họ hay tiểu sử của các nhà khoa học dưới những cái tên rất khoa học như “Academy” (Viện hàn lâm) hay “Institute” (Viện nghiên cứu) [1]. Các nhóm lâu đời và nổi tiếng trong lĩnh vực kinh doanh này phải kể đến New York Academy of Science, Third World Academy of Science (Viện hàn lâm khoa học thế giới thứ 3), và Institute of Biography (viện tiểu sử). Trong thực tế, báo chí Mĩ cho biết nhiều “tổ chức” này chẳng có văn phòng gì đồ sộ cả, phần lớn làm việc trong một văn phòng với vài ba nhân viên, thậm chí trong nhà chứa xe (garage)! Đó là chưa kể hàng chục công ti chuyên sản xuất hàng trăm từ điển tiểu sử cho từng bộ môn khoa học khác nhau.

Những viện hàn lâm giả hiệu này tất nhiên là chẳng được giới khoa học công nhận hay để ý đến, bởi vì họ không hoạt động cho khoa học mà chỉ là những công ti thương mại thuần túy. Hàng năm, họ xuất bản hàng trăm cuốn “từ điển danh nhân” như “Who is Who in Engineering”, “Who is Who in Science”, “Who is Who in Medicine”, v.v… Công ti sống nhờ vào tiền niên liễm của những người có tên trong từ điển. Còn các “viện hàn lâm” như New York Academy of Science, Third World Academy of Science thì sống nhờ vào tiền đóng góp của thành viên (những người có tên trong đó dưới danh hiệu “member” – hội viên) và dùng tiền của hội viên để đầu tư vào thị trường chứng khoán.

.

Phân biệt thật và giả: hoạt động

Qui trình tuyển chọn thành viên của Viện hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Kì cũng giống như cách chọn nhà khoa học để trao giải Nobel. Mỗi năm hội đồng tuyển chọn gửi thư đến hàng ngàn nhà khoa học khắp nước Mĩ và yêu cầu họ đề cử người xứng đáng. Những ngưỡi được gửi giấy mời đề cử thường là hội viên của Hàn lâm viện hoàng gia (Royal Academy of Sciences), các nhà khoa học đã từng được tặng giải Nobel, các giáo sư trong các đại học Mĩ. Sau khi đã có một danh sách các nhà khoa học, hội đồng họp lại và tuyển chọn người để kết nạp vào viện hàn lâm. Thành viên cũng có thể là người nước ngoài. Trong số khoảng 1900 thành viên, có khoảng 300 là người mang quốc tịch và làm việc ở nước ngoài. Chưa có một người Việt Nam nào là thành viên của Viện hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Kì. Và theo tôi biết cũng chưa có một người Việt Nam nào là thành viên của các Viện hàn lâm khoa học Úc, Anh hay Thụy Điển.

Không giống như cách làm việc nghiêm chỉnh trên, các công ti kinh doanh tiểu sử dựa vào một nguyên lí kinh doanh đơn giản là tận dụng tâm lí “phải có danh gì với núi sông” (tạm mượn lời của cụ Nguyễn Công Trứ) của nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học trẻ hay mới bước vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, để kinh doanh. Nhà khoa học nào cũng có một chút chủ quan rằng công trình của mình là quan trọng, và tên tuổi mình đáng lưu danh với đời. Cho nên, trước những dạm hỏi và chào đón nồng nhiệt của các công ti này, nhất là xuất hiện dưới danh hiệu “viện hàn lâm”, nhà khoa học khó mà vượt qua những cám dỗ ngọt ngào này.

Cách thức kinh doanh kinh doanh của họ rất đơn giản. Hàng năm, họ tra cứu các tập san khoa học quốc tế, tìm tên tác giả của các bài báo khoa học, rồi rà soát lại xem có phải đây là những tác giả mới xuất hiện, hay là những tác giả đã “có tên tuổi”. Tùy vào vai vế của tác giả, họ gửi cho từng tác giả một lá thư đại ý cho biết tác giả đã được một hội đồng khoa học bình bầu là nhà khoa học xuất sắc trong năm, là nhà khoa học lỗi lạc của thế kỉ, là bộ óc vĩ đại của thế giới, là có cống hiến quan trọng cho khoa học, v.v… Nói tóm lại họ dùng toàn những danh xưng rất ấn tượng để làm cho tác giả thích thú và tưởng mình là một nhà khoa học vĩ đại hay công trình của mình có tầm vóc thế kỉ. Chẳng những gửi thư, có công ti còn gửi cả một bằng chứng nhận mẫu với tên của tác giả được in trên giấy bóng màu mè cực kì đẹp mắt và rất hấp dẫn. Họ không quên kèm theo một mẫu đặt hàng với các ô vuông để tác giả ghi vào đó số thẻ tín dụng (credit card). Giá cả thường khoảng 200 USD đến 500 USD, tùy theo danh hiệu và từ điển được bọc bìa da hay bìa giấy cứng. Khi đã trả tiền qua thẻ tín dụng, tác giả chờ khoảng 6 tháng (để họ in từ điển) để có những “chứng từ” ấn tượng đó. Nhưng giá trị của nó chỉ 1 năm mà thôi. Nếu năm tới tác giả muốn có tên mình trong từ điển nữa hay muốn duy trì thành viên của “viện hàn lâm” thì phải đóng thêm tiền. Bất cứ một sinh viên nào trên thế giới đều có thể trở thành “viện sĩ” một năm nếu họ chịu trả tiền.

.

“Viện sĩ” có phải là một danh dự?

Đối với phần đông quần chúng, cụm từ “viện hàn lâm” đồng nghĩa với nơi tập trung của những bộ óc siêu việt, những con người thông thái nhất của một quốc gia. Nhưng trong thực tế ở các nước có nền khoa học tiến bộ cao như Mĩ thì điều này chỉ đúng một phần, vì như nói trên, viện hàn lâm chỉ là một đoàn thể, là một cơ quan đại diện [có thể là cao nhất] cho các nhà khoa học.

Vì là đoàn thể, nên có người thích tham gia và có người không thích tham gia. Trong số khoảng 350 nhà khoa học và xã hội Mĩ đoạt giải Nobel, chỉ có 170 người là thành viên của Viện này. Đã có nhiều người cho rằng Viện hàn lâm chỉ là một câu lạc bộ kín ("close club") của các vị có tuổi, nơi mà chỉ có các nhà khoa học quen biết với nhau qua giao thiệp xã giao, hơn là một cơ quan đại diện chân chính cho các nhà khoa học. Thành ra, nhiều nhà khoa học lớn, những người tự coi họ là làm khoa học loại "thứ thiệt" (hard-core scientists), những người không thích hư danh hay ồn ào trên các hệ thống truyền thông, thì không thích có mặt trong Viện này. Nhà vật lí học danh tiếng Richard Feynman – cũng như nhiều nhà khoa học lừng danh khác – không phải là thành viên của một viện hàn lâm nào cả.

Ở các nước như Mĩ và Anh, không một thành viên nào của viện hàn lâm khoa học dùng danh xưng “Academician” (viện sĩ) trước tên mình. Một số có dùng thì chỉ dùng sau học vị của họ (như John Smith, PhD, FAAA –viết tắt của chữ Fellow of the Australian Academy of Science), và chỉ dùng trong các công văn, chứ không bao giờ trên báo chí kiểu “Academician John Shine” cả. Điều này cũng đơn giản, bởi vì danh xưng “viện sĩ” không phải là một chức danh khoa học, cũng chẳng phải là một đẳng cấp khoa bảng.

Trong cộng đồng nghiên cứu khoa học, các viện hàn lâm dỏm như New York Academy of Science hay Institute of Biography không có một uy tín gì cả. Để nhấn mạnh, xin lặp lại cho rõ: không có một uy tín gì cả. Do đó, thành viên của Viện hàn lâm khoa học New York không phải là một danh dự, càng không phải là một chứng nhận về sự thành đạt trong hoạt động khoa học. Thành viên của các “viện” này chẳng ai dám dùng chữ “viện sĩ” trước tên mình. Thực ra, ngược lại là đằng khác: các nhà khoa học nào liệt kê trong lí lịch mình là thành viên các nhóm này thường được đánh giá là ngây thơ trong trường khoa học.

Thế nhưng tiếc thay, rất nhiều nhà khoa học Việt Nam trong những năm gần đây hồ hởi tham gia vào các công ti kinh doanh này, và tự hào gắn thêm danh hiệu “viện sĩ” trước học vị và tên mình! Có vị còn in trên danh thiếp danh hiệu “Academician”! Đối với giới khoa học “thứ thiệt” ở phương Tây, cái danh hiệu đó không chỉ là một chuyện tiếu lâm, mà còn nói cho họ biết tác giả của nó chỉ là một người còn quá ấu trĩ trong trường khoa học.

.

Tránh thêm ngộ nhận và tốn tiền!

Các công ti kinh doanh tiểu sử và viện hàn lâm dỏm đã khá thành công trong thị trường các nước Tây phương một thời gian, đến khi giới khoa học biết được chân tướng thật của họ. Hiện nay, các nước Tây phương không còn là thị trường kinh doanh của họ nữa, cho nên họ phải tìm một thị trường mới. Đối với họ, các nước Đông Âu, Á châu và Phi châu là thị trường béo bở, bởi vì giới làm khoa học ở đây thiếu thông tin. Thiếu thông tin dễ dẫn đến ngộ nhận và tốn kém.

Thử tưởng tượng một người làm khoa học ở Việt Nam có vài bài báo công bố trên một tập san khoa học của Mĩ, một ngày đẹp trời nào đó nhận được thư từ một ông viện trưởng viện hàn lâm trịnh trọng báo cho hay là mình đã được kết nạp vào viện hàn lâm. Cái giây phút đó ắt phải là một thời điểm mãn nguyện lắm chứ, bởi vì công trình mình phấn đấu bao năm nay đã được ghi nhận! Còn 300 USD để được kết nạp vào viện và có tên trong từ điển danh nhân? Ôi, có là bao. Tiếng quan trọng hơn tiền! Ngày xưa các vị tiến sĩ có tên trên bia đá ở Quốc tử giám, thì ngày nay ta có tên trong đại từ điển danh nhân. Đó là một tâm lí cực kì thuận tiện cho các công ti thương mại Mĩ.

Thành ra, vài năm gần đây chúng ta thấy các công ti viện hàn lâm có khá nhiều khách hàng từ Việt Nam. Đã có khá nhiều nhà khoa học Việt Nam được bầu làm “viện sĩ” hay có tên trong các “từ điển danh nhân”. Nhưng đọc kĩ thì không một ai là thành viên của các viện hàn lâm nghiêm chỉnh nào cả. Thực vậy, những cái gọi là “viện hàn lâm” mà họ được đề cử có tên chỉ toàn là những viện hàn lâm dỏm. Giới báo chí, có lẽ do thiếu thông tin, lại thổi phồng câu chuyện làm cho nhiều người cảm thấy rất ngượng. Nó chẳng những làm tốn tiền cho nhà khoa học mà còn gây ra nhiều ngộ nhận dở cười dở khóc cho người trong cuộc. Những đồng nghiệp biết chuyện thì im lặng, sợ nói ra thì bị mang tiếng là “ganh tị”, mà không nói ra thì thấy lòng bức rức.

Phải thẳng thắn mà nhìn nhận rằng nền khoa học của ta còn yếu kém so với các nước trên thế giới và ngay cả chưa sánh được với các nước trong vùng. Hơn nữa, ở nước ta số lượng nhà khoa học có tầm cỡ quốc tế còn rất ít, nếu không muốn nói là chỉ “đếm đầu ngón tay”. Thực ra, uy tín của nhà khoa học không phụ thuộc vào những danh xưng “viện sĩ” hay “giáo sư” hay “tiến sĩ”, mà phụ thuộc vào khả năng và bản lĩnh nghiên cứu khoa học của họ, thường được thể hiện qua mức độ cống hiến cho tri thức khoa học. Những danh xưng phù phiếm như thế chẳng những là đầu mối của những câu chuyện khôi hài mà còn làm cho đại đa số nhà khoa học chân chính cảm thấy xấu hổ.

.

Chú thích:

[1] Danh từ Academy trong tiếng Anh cũng có thể dùng để chỉ một hội đoàn y khoa, trung tâm huấn luyện cảnh sát (như Police Academy), cơ sở dạy nhảy đầm, cơ sở dạy võ, tiệm cắt tóc & uốn tóc, v.v… Tương tự danh từ Institute trong tiếng Anh có thể là một trung tâm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, nhưng cũng có thể dùng để đặt tên cửa hàng buôn bán hay uốn tóc, dạy võ ...

.

Có thể xem thêm :

"Tạo sao người ta thích danh xưng".

Tôn vinh cái gì? Thói háo danh hay thành tích học thuật?

.

.

.

KÝ ỨC SƠ SÀI 10 (Về Thơ TÔ THÙY YÊN)

Ký ức sơ sài 10

NGUYỄN KHIÊM

23/05/2010

http://daohieu.wordpress.com/2010/05/23/ky%cc%81-%c6%b0%cc%81c-s%c6%a1-sa%cc%80i-10/

Thời gian qua, vài người bạn hỏi tôi vì sao suốt tất cả các kỳ KUSS đều trích nhắc thơ Tô Thùy Yên với lòng ưu ái có vẻ sâu nặng. Các bạn đã thắc mắc thì tôi phải trả lời. Nói thẳng ngay đọc thơ Tô Thùy Yên rồi thì đọc thơ ai cũng không còn thấy hay nữa, đây là điều tai hại cả đời tôi không khắc phục được nên đành chịu thua thói xấu đó của chính mình.Thật ra nói cho rõ, cho rạch ròi vì sao mình thích thơ người này rồi đâm ra ngại đọc thơ của ai khác là chuyện khó giải bày. Thích là một chuyện, nói đâu ra đó vì sao mình thích tất phải cắt nghĩa thơ đó ra thì gian nan biết chừng nào, hầu như chuyện bất khả, bởi lẽ chẳng ai có thể giải nghĩa rõ ràng thơ ai được, dù là trong chừng mực tương đối. Nhưng nếu không thể nói gì thì mình chẳng qua chỉ ngụy biện, hoặc tệ hơn, chỉ ngụy thôi chứ có biện gì đâu!

Vậy nên tôi sẽ cố gắng nói đôi điều những cảm nhận của mình về thơ Tô Thùy Yên. Tôi chẳng phải nhà phê bình, sở học vốn nông cạn, kiến thức sơ sài, biện luận chẳng bằng ai, dám bàn về thơ mà lại thơ Tô quân là liều lĩnh. Nhưng đã lỡ. Thôi cũng đành chớ biết làm sao!

Ngày trước đã có lần anh bảo:

Coi như đi quyền trên Mai hoa thung

Nên tôi biến chế hoài những bí tự

Xếp thành những bài thơ tối tăm

Đưa ra ánh sáng trần gian những u ẩn linh hồn

Tôi thích những bài thơ “tối tăm” đó từ ngày biết võ vẽ đọc thơ, mới chết. Thành thử, ở đây, tôi chỉ cốt cố làm sáng tỏ đôi điều nỗi đam mê chủ quan của mình với vài người bạn đã hỏi chứ không có tham vọng gì hơn. Tất nhiên còn có ai thông cảm thì đó là điều vô vàn phước hạnh.

Trong dịp phát hành tập Thơ Tuyển ở Mỹ, Tô Thùy Yên có nói: “Một dân tộc, một ngôn ngữ, trong bất cứ thời đại nào, không sản sinh được lấy một thi sĩ tài hoa kiệt xuất, xứng đáng là một thành phần ý thức của thời đại đó, chắc chắn ngôn ngữ đó đang là một ngôn ngữ khô cằn, cứng chết, chắc chắn dân tộc đó đang lâm vào tình trạng báo động của một cơ nguy thoái hóa, tan rã. Sự hấp hối của hồn thơ ở một dân tộc đồng nghĩa với sự hấp hối của lịch sử ở dân tộc đó”.

Thi sĩ “tài hoa, kiệt xuất, xứng đáng là một thành phần ý thức của thời đại” theo tôi, chính là anh, anh là đại diện xứng đáng nhất cho lớp thi nhân của dân tộc ở thế hệ anh. Làm thơ bằng chữ quốc ngữ, trước anh, không ai sánh được, sau anh càng chưa có ai và với bao khốn đốn triền miên của văn học và Việt ngữ trong hơn ba thập niên vừa qua mà ai cũng thấy, hoàn toàn có nguy cơ không bao giờ còn ai nữa. Ước gì tôi chỉ bi quan và hàm hồ. Một người quen nói với tôi rằng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư có bảo người nào chỉ nói trổng không thơ Tô Thùy Yên hay là nói hỗn. Điều này không rõ thực hư nhưng nếu cô nói thế cũng không có gì quá đáng, bởi vì quả thật, thơ anh ở trên chữ hay một trăm lần. Từ những ngày đầu mới đăng báo, tôi đã cảm nhận tài thơ anh trác tuyệt, hồn thơ bát ngát, thi giới thì mênh mông, chủ đề đa dạng và phong phú, nội dung tư tưởng vô cùng súc tích, cấu trúc câu thơ tròn trịa,vững chắc, toàn bài thì gần như bài nào cũng là tác phẩm lớn hoàn chỉnh; chữ nghĩa thì lúc nào cũng tinh diệu và linh diệu, không có từ nào là thừa, là “hà rứa” – chữ của Phan Khôi – xác đáng và mới mẻ tới tận cùng dù rằng tứ thơ đôi lúc gần xa thoảng ý ca dao của muôn đời trước hoặc hơi hám từ Đường thi xa lắc.

Nhiều nhà phê bình đã chỉ ra chủ đề bao trùm toàn bộ thơ ca Tô Thùy Yên là tính chất hư không của cõi sống, sự vô vọng trong tìm kiếm ý nghĩa kiếp nhân sinh, những vấn nạn triền miên về hiện hữu và những bí hiểm của cõi vô hình.Vì vậy, Bùi Vĩnh Phúc nói thơ anh nhằm tả cái “vinh dự lầm than của kiếp người”. Anh thú nhận mình luôn “Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn” mặc dù vẫn biết: “Trí ta không đủ lực đo lường”. Đọc thơ anh, không ít lần ta gặp hình ảnh nhọc nhằn của con còng xe cát: Biển đông đã một ngày xe cát…Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui/Con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn/Càng nhẹ tênh trên cõi ngậm ngùi. Con còng Tô Thùy Yên mải mê ẩn nhẫn, quanh quẩn kỳ khu xe cát trên cõi ngậm ngùi – thì cũng như Sisyphe của Camus cả đời bị đọa đày, lầm lũi xe hòn đá nặng lên đỉnh núi, chúng ta còn nhớ. Ngoài ra, thơ anh luôn bày tỏ nỗi ám ảnh về thời gian, cái chết, lịch sử (các chế độ chính trị từng cai quản đất nước), sự biến thiên (lẽ đời dâu biển), con người cô đơn, hành nhân thất thểu, chiến tranh tù đày, tuổi thơ mất hút, danh phận hẩm hiu, thời thanh xuân khốn đốn vì chinh chiến…

Khó lòng kể đủ các chủ đề, chủ điểm đó cũng như dẫn chứng minh bạch, chỉ cần chịu khó đọc anh ta sẽ dễ dàng nhận ra. Có điều ngạc nhiên, dường như thiếu vắng chủ đề tình yêu trong thơ anh.

Nhưng trước khi nói chuyện tình yêu, ta thử nhớ lại chuyện làm thơ của anh. Rất sớm sủa, anh có vẻ xem thường hay ít ra cũng không hào hứng mấy chuyện văn nghệ, chuyện thơ ca. Phải chăng thơ phú trên đất nước thời anh sống là chuyện phù phiếm, không chút gì xứng đáng?

Tôi muốn đi khắp nơi

Vì chẳng định đi đâu

Tôi làm thơ

Vì chẳng biết làm gì

Ôi giá gặp thời

Được làm thơ bằng những từ ngữ êm đềm

Gần im lặng nhất

Mà bây giờ cũng chưa phải lúc

Được làm thơ

Một lần khác, anh tỏ bày:

-Tôi định một ngày gần đây sẽ thôi làm văn nghệ tôn giáo của

những anh hùng bất lực

Về dạy trường làng già có tiền lương hưu trí chết có quan tài nước mắt vợ con

Và anh làm thật. Bẵng đi thời gian lâu không thấy thơ anh nữa. Mãi sau này, anh vẫn giữ giọng đó trong bài Thảo khấu:

Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn

Nên gặp nhau không giấu nỗi mừng

Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn

Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương

Hai câu sau sao nghe khinh bạc rẻ rúng thi ca chữ nghĩa quá chừng. Tôi hơi dài dòng để thấy rằng làm thơ thôi anh đã ngại thế huống hồ là mang tiếng làm thơ tình. Lúc bấy giờ, Sài Gòn lưu truyền một giai thoại. Nhà thơ TTT nhận xét về thơ của một tác giả rất nôi tiếng trong lãnh vực thơ tình, rằng thơ ông này chỉ là thứ thơ kẹo mứt (confiserie poétique). Lời nói tới tai tác giả, ông giận dữ, không nhìn mặt TTT, nghe đâu tới suốt đời.

Ít nhất là cho tới 1975, Tô Thùy Yên chưa bao giờ viết trọn một bài nào dành cho tình yêu. Bài thơ có nhan đề “Chuyện Tình Người Lỡ Vận” thật ra ta có thể nói đó chỉ là “Chuyện Người Lỡ Vận” vì rõ ra chẳng thấy tình đâu. Yêu gì mà ngay trong khổ thơ đầu anh đã bộc bạch “Ta làm trò tung hứng trái tim chai” và tiếp đó, bình thản nói tới thứ hạnh phúc tình ái phù du:

Biết đã trễ nên không thèm hối hả

Cuộc tình này như chút đỉnh khoan dung

Của định mệnh cũng có lần nới thả

Hạnh phúc này như sóng rã trên sông

Anh tính toán thiệt hơn, giọng rẻ rúng:

Thà làm kẻ si tình hát điên loạn

Hơn làm người thành đạt thời nhiễu nhương

Bài thơ kết bằng câu: “Nghề ngông cuồng tập mãi cũng thành quen” chứng tỏ tình ở đây chỉ là cái cớ để tay cuồng sĩ lỗi lạc gửi vào lời oán trách thân thế dở dang cùng tháng ngày nhiễu nhương, ly loạn.(Khổ thơ thứ tư có câu “Chí lớn đành đốn sập đốt ra than” khiến nhớ ca dao “Anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt than”). Cũng có một đoạn thơ khá dài trong bài Chiều Trên Phá Tam Giang nhắc tới tình yêu, nhưng phần lớn nói về nỗi nhớ của người nữ, lặp đi lặp lại nhiều lần câu “Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi”, dường như nuối tuổi hai mươi nhiều hơn thì phải. Và kết đoạn đó như sau:

Thấy tình yêu như vận hội tàn đời

Để xé mình khỏi ác mộng

Mà người đàn ông mê tưởng suốt thanh xuân

Ôi tình yêu, bằng chứng huy hoàng của thất bại!

Đúng ra, không phải bao giờ anh cũng nói tới tình yêu cùng một giọng như thế. Bài Vườn Hạ xây dựng trên chủ đề hoài niệm tuổi thơ – cánh diều đã băng mù khơi tuyệt tích – với tất cả bồi hồi, dịu dàng, thơ mộng, (chắc TTY không ưa chữ này!) khổ chót là những câu thơ tình đẹp nhất, đau đớn nhất (mà tôi đã có dịp trích trong kỳ trước) “Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi”, sao vậy? Phải chăng nỗi nhớ vẫn mãi đọa đày và những chấn thương trong tâm tưởng ngày nào cho tới tuổi già xiêu đã chẳng bao giờ lành lặn? “…cho đáng kiếp chờ” là một lời rủa như nói lẫy, hờn dỗi, nghĩa cay đắng hơn nỗi đợi trong ca dao “Chờ em biết tới bao giờ/Vạc kêu sườn núi trăng mờ đầu non” nghe nhẹ nhàng đằm thắm hơn hẳn. Hình ảnh và từ ngữ hai câu cuối: tuổi già, gom lại, thương tưởng, cuối vườn chiều, mót củi rơi…toàn là từ và hình ảnh của tàn tạ, phôi pha, buồn thương bất tận. Ngoài ra, trong những bài thơ đậm chất triết lý, nặng vẻ siêu hình, ta vẫn bất ngờ gặp những đoạn, những câu thơ làm sao không hiểu chính là thơ tình đích thực hoặc ít nhất, cũng khiến ta se lòng vì một thứ tình ý mông lung, bâng khuâng và ngậm ngùi, rất khó định hình:

Khép mắt cho hồn bay dịu vợi

Mà yêu đến khóc, đến u mê

Để khi mở mắt ta nhìn thấy

Cả cuộc đời ta có đáng chi

Ôi những con đường đến tự đâu

Một lần gặp gỡ ngã tư nào

Rồi trong vô hạn chia lìa miết

Có cuốn theo mình bụi của nhau

Suốt bến sông này hoa trắng nở

Cỏ cây lưu gió khóc mơ màng…

Chẳng hẹn mà sao vẫn đợi nhau?

Nước xưa về tận chốn giang đầu

Thăm hỏi con chim màu sặc sỡ

Lời ca u uất giấu nơi đâu?

Chiều chiều, lớp lớp mây tiền sử

Quần tụ bên trời gợi nhớ nhung

Ta gửi mỗi ngày một sợi tóc

Cầu may cho trận gió kinh thiên

Có ai bên cõi vô cùng tận

Bắt gặp lòng ta bay đảo điên

Hỡi người cố cựu trong trời đất

Khi nước tràn sông có nén tâm?

Thơ đượm màu sắc siêu hình, thần bí, trí thức, chủ đề cao siêu này nọ cũng chẳng là gì nếu thủ pháp nghệ thuật không khiến người ta nể sợ tài năng quan sát, cấu tứ, phối chữ cùng phong cách diễn đạt, tức thi pháp thơ – theo kiểu nói mới – của tác giả. Tỉ như đôi mắt nạc người phàm ta chỉ thấy đá chỉ là đá, thì cát là cát, nước là nước, bùn là bùn nhưng TTY lại thấy khác, cách thấy khác của anh biến những ý đó thành TỨ THƠ độc đáo: cát hôn mê, nước miệt mài trôi, bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui, Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay!…Những nhóm từ cùng kiểu như thế xuất hiện nhan nhản trong thơ anh với tần số rất cao, rất gợi tả, là một sáng tạo chỉ có một, chưa có người thứ hai làm được trong thi ca Việt ngữ. Những đoản ngữ này, nhiều nhất là ngữ danh từ, Vd: Châu thổ mang mang, đảo chếnh choáng,bờ bãi hỗn mang, cát hôn mê, giấc suông đêm rỗng, đống lửa man rợ, cát loạn muôn trùng, nắng kim khí chảy, miếu cỏ lạnh ma hoang, làn nước biển xanh lơ mộng…kế đến là ngữ động từ, Vd: vây trắng bốn bề, miên man thổi, miệt mài trôi, độc thoại lời kinh ánh xanh…và ngữ tính từ: thăm thẳm sầu, lạ sóng nước, tịch mịch mùi, buồn ngây chân tay, hiu hắt nỗi không tên, phất phơ chéo áo đường thiên cổ

Đành rằng những loại đoản ngữ thì ngôn ngữ nào lại không có và cũng đâu ít người sử dụng chúng trong tiếng Việt, nhưng ở đây, chỗ khác và hơn nhau là do cách kết hợp sáng tạo, chọn từ tinh tế, bất ngờ, có khi cả ba nhóm từ trên hòa quyện nhau trong một khối khiến tứ thơ thành tân kỳ, ngôn từ trở nên mới mẻ, cô đọng, tối ưu. Ta cũng thấy động từ trong thơ anh hiếm khi đứng một mình, hình như bao giờ anh cũng khổ công tìm kiếm một tính từ đắc địa nhất đi theo nó, nếu không thì ít nhất cũng một đông từ khác để bổ nghĩa. Ví dụ: Mầm cỏ ngoi ngoi lên rạo rực/Con chim chèo bẻo hót lanh chanh…Tàu chuối xác xơ reo ngất ngất/ Nỗi đời bi thiết xé lưa tưa, Hòn ngói lia bay bay mặt nước, Dòng sông tới biển nức tuôn, tuôn, Mưa ôm choàng đất khóc thương mong…Những câu đảo ngữ gọn gàng, chắc nịch làm biến đổi nhạc điệu câu thơ cách tinh vi: Lờn rờn bóng lá đong đưa nắng/Thảm thiết dây leo quấn quít cây, Mùa đông bắc gió miên man thổi…

Ta còn thấy không vật thể nào là vô tri trong thơ TTY, gần như tuyệt nhiên không, điều này liên hệ đến chuyện vận dụng triệt để các phép tu từ tỉ dụ, nhân hóa, tượng trưng… của anh. Chẳng hạn, nói đến đá – phải chăng TTY bị ám ảnh đá – có thể kể ra: Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay, Thức dậy đi nào gỗ đá ơi, Ôi đá địa cầu vần vụ mộng, Đá chẳng đá nào lên tiếng với, Đá bạc rền tan nước mắt hồng, đá nổi lau nhau, thân đá địa đầu mù, Đá ở lại/Thiên thu mòn mỏi giấc phiêu bồng, Ôi những thân đá tiên tri già hôm mê vạn đại/Đứng rải/Đường ta đi, Ta cũng khóc một chiều nào/Ôm chầm lấy đá, Đá cũng làm thinh không có chuyện…Đặc biệt bài Đá Mộng:

Nhìn đá, ta định chừng đá ngủ.

Phải chăng đá giú mộng trong lòng?

Tại đây, đá sống lâu đời nhất,

Đá rõ điều ta muốn rõ không?

Và đây là cát: Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn, cát hôn mê, Cát trôi nhăn nhíu, Cát bụi nặng tình liên đới cũ, Gió cát không nguôi khóc dãi dầu…Dường như thiên nhiên thảy đều có ý thức và linh hồn, như cơn mưa trong bài Mùa Hạn:

Mưa ôm choàng đất khóc thương mong.

Mưa báo tin vui chạy sáng đồng.

Mưa đuổi bắt gào reo hớn hở.

Mưa mừng trẩy hội nước trăm sông.

Vạn vật trong thơ anh bao giờ cũng trong trạng thái sống và động và đầy ý thức: Thủy triều sôi, mây xôn xao, Nước xưa về tận chốn giang đầu, Dòng sông u hiển trôi vô lượng, Dòng sông hiền triết chảy vô tâm, Nước mây buồn bã chợt quên trôi, Thời gian mất trí trắng vô âm, Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ, Chân mây rách đỏ vết thương dài, Trời đất bào thai cựa cựa nhanh, Đóa hoa buông cánh khi tàn hương, Cửa não nề, bản lề khô kẽo kẹt hôn mê, mặt trời thì xao xuyến mọc và mặt trăng thì chỉ mọc riêng cho anh “Mọc lại cho ta thuở xế tàn” rồi mai kia “Trên mồ ta trăng phải lang thang”…Khó mà quên những con vật luôn hiện diên, chim, cò, sáo… bay, kêu suốt trong thơ TTY: Chim đã bay quanh từ vạn cổ/Gió thật xưa, mây thật già nua, Ta về như bóng chim qua trễ, Di điểu qua sông xẽ luống sầu, Núi xa, chim giục giã hoàng hôn, Níu cánh chim bằng qua biển gió, Con chim nhào chết khô trên cửa, Con chim động giấc gào cô đơn, Thấy nhành ớt động bóng chim quen, Con chim lạc bạn kêu trời rộng, Con chim thần thoại mắt khoen sâu/Giật mình như đã ngàn năm ngủ/Giũ bụi lông, cất khản tiếng gào, Nửa khuya một tiếng chim ai oán/Ghé hỏi thăm thần trí bỏ quên, Con chim nào đậu khóc suốt ba sinh, Ác điểu ngày đêm gào xáo xác, Con chim bói cá trong tàn tối/Soi vĩnh hằng xanh rợn mặt hồ, Khắc khoải chim kêu ngày tận tuyệt/Ai trầm luân đó có về qua, Khắc khoải chim kêu đời khổ nạn rồi sau mới đến Khắc khoải chim kêu mùa xóa giải, Cò: Chiều mập mờ xiêu lạc dáng cò, Con cò lặng ngẩn lắng hơi thu…, gà: Gà lay tỉnh một mé rừng hư định… chó: Con chó tung tăng giỡn bóng mình, Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa… chuồn chuồn: Chuồn chuồn vui đậu trên nhành lúa/Để lại bay đi lúc kịp buồn/Con chuồn chuồn đó thong dong quá/Mùa hết còn bay dõi dõi theo… dế: Đây rồi chú dế giang hồ ấy/Vẫn hót say sưa dưới cỏ buồn, Đêm tối im ru lời thủ thỉ/Bên hè có tiếng dế ca ran…Con cá lia thia của TTY luôn bị đá bại: Cảm thương con cá thia lia bại/Có sót huy hoàng cũng xếp vi…

Nghệ thuật thơ TTY xây dựng cũng không ngoài mấy phép miêu tả lớn của văn chương nhân loại như tỉ dụ, nhân hóa, tượng trưng… Ai cũng biết so sánh và nhất là nhân hóa rất dễ rơi vào chỗ tầm thường dễ dãi, nhạt nhẽo. Nhưng tôi chưa thấy anh một lần rơi vào cái bẫy dễ dãi đó. Sống trong một thời bế tắt, bất lực và vô vọng, anh viết:

Tôi cam tâm làm thằng thất chí

Đóng cửa nằm nhà

Căn nhà không có ghế bàn như ngục thất

Những bức tường như những tấm gương soi

Thật không thể có cách nào khác tả nỗi dằn vặt nội tâm kín đáo mà lại cụ thể hơn, xác thực hơn được. Ai cũng thấy đất nước chỉ có một con đường săt độc đạo nhưng mấy ai nhìn ra “con đường sắt dài xương sống quê hương”, cũng như thay vì nói xứ sở khô cằn, sỏi đá thì lại bảo những bờ cát thau, những trái núi chì. Thử ghi nhận cách so sánh độc đáo trong khổ thơ tả nắng trên đảo Trường Sa:

Ngày, ngày trắng chói chang như giũa

Ánh sang vang lừng điệu múa điên

Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ

Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên

Và đây đó mấy kiểu so sánh rất lạ bắt nguồn từ những quan sát tinh tế va trí tưởng tượng phi thường: Cô tịch bưng ồn như máu tuôn, Ta ngó thấy thùy dương gãy rũ/Từng cây như nỗi bất an già, Ta ngó thấy rào chà cản nước/Từng hàng như nỗ lực lao đao, Con đường đáo nhậm xa như nhớ (Hình như Nhất Linh cũng có lần tả đóm lửa trong chiều muộn trên cánh đồng như nỗi nhớ xa xôi đang mờ dần, hay nhưng không mới bằng).Tài tình nhất là phối hợp nhuần nhuyễn các phép tu từ ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng… để tạo ảnh tượng thi ca, mới mẻ và mạnh mẽ: Xứ sở những cây dừa phù thủy xõa tóc hú cuồng phong, Chân mây rách đỏ vết thương dài, Hừng đông như một làn da phỏng, Mùa hè cọ xát điên kim loại, Lượn sóng trên ghềnh nhọn rách tơi… Thử đọc những câu thơ vết theo phép tỉ dụ điển hình này ta mới thấy tài năng cấu tứ và khổ công kiếm chữ tạo hình của tác giả:

Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta về như hạt sương trên cỏ

Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời

Ta về như sợi tơ trời trắng

Chấp chới trôi buồn với nắng hanh

Ta về như tứ thơ xiêu tán

Trong cõi hoang đường trắng lãng quên

Ta về như nước tào khê chảy

Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ

Ta về như tiếng kêu đồng vọng

Rau mác lên bờ đã trổ bông

Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng

Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta về như hạc vàng thương nhớ

Một thuở trần gian bay lướt qua

Ta tiếc đời ta sao hữu hạn

Đành không trải hết được lòng ta

Tôi đã chỉ sơ lược cố gắng lắp bắp bằng thứ ngôn ngữ nghèo nàn, diễn ý lủng củng, thiếu tính chuyên nghiệp và chẳng có gì uyên bác nên chỉ nói được phần nhỏ lòng ngưỡng mộ của mình đối với thơ Tô Thùy Yên.

Lê Thị Huệ từng nhận xét: “Người đàn ông biết những chữ ông viết xuống là những tạ canh dưỡng sinh. Chúng là những con chữ nặng nghìn tạ ơn nghĩa nhân gian trổ mã ra cánh đồng và bàn viết dành riêng cho ông…Quỷ có thể xướng thi. Thượng đế có thể xóa tất cả ván cờ và làm lại. Nhưng người đàn ông thi sĩ lủng lơ viết xuống tuyên bố là mình hiện hữu…Tô Thùy Yên biết ông là một thi sĩ sống và làm được những điều mà bọn âm binh quỷ sứ cùng Im Lặng Lớn kia không làm được…Thơ Tô Thùy Yên cưu mang được sự vĩnh cửu của thi ca…Ông là một tay chơi chữ cừ khôi. Một thi sĩ xào chữ tuyêt vời đã để lại cho đời những câu thơ lừng lẫy”.

Bùi Giáng, giai đoạn dài trước khi qua đời, rõ ràng không tin gì vào chữ nghĩa nữa. Ngôn ngữ Việt hiện đại, nói như Nguyễn Khải, dùng để che đậy, nói dối chứ không phải để giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng che đậy. Bùi Giáng cũng thấy ngôn từ bất lực, chữ không còn nghĩa hoặc nghĩa ngược nên coi như vô phương dụng ngữ, giống như giận cá chém thớt, ông bắt đầu đùa giỡn, thơ tá lả đụng đâu làm đó, đụng đâu tặng đó, chữ nghĩa cố tình dễ dãi hoặc lung tung, ông bỡn cợt thi ca, ngôn ngữ cho tới ngày chết.

Tô Thùy Yên, dù sao, không vậy. Trong bài nói tôi có nhắc trên kia, anh tin tưởng: “…Một dân tộc muốn duy trì bảo vệ hữu hiệu chính mạng sống của mình, đầu tiên phải triệt để duy trì bảo vệ một thứ thiết thân duy nhất không thể bị tước đoạt, bị mất mát, đó là ngôn ngữ của mình. Một dân tộc có thể tạm thời mất tất cả sông núi của mình, mất tất cả những gì mình kiến tạo, nhưng chẳng bao giờ được để mất ngôn ngữ của mình. Do đó, hầu hết những gì mà dân tộc ta chắc chắn còn có thể lưu truyền được cho hậu thế đều mang tính chất khẩu truyền , qua phương tiện ngôn ngữ, được bảo toàn đời đời trong ký ức của tập thể. Và thơ vốn là phần tinh hoa tuyệt vời nhất, là sự thăng hoa hồn nhiên nhất của ngôn ngữ một dân tộc. Cũng bởi thơ vận hành sống chết với ngôn ngữ nên thơ là hình thái nghệ thuật đầu tiên của con người khi con người chưa có gì cả trong tay, cũng như thơ chắc chắn sẽ là hình thái nghệ thuật cuối cùng khi con người không còn gì nữa trong tay…Với ngôn ngữ, thơ chính là nơi giữ gìn bất khả xâm phạm cái hồn mộng chung trường cửu của một dân tộc, và qua đặc thù của từng thời đại, thơ làm sinh hiện hiển linh cái hồn mộng chung đó trong tâm khảm của mỗi con người mãi còn chan chứa bao nhiêu là tình tự thiết tha thâm sâu nguồn cội. Với ngôn ngữ, thơ là đống lửa ấm cúng sum vầy của một dân tộc không khứng chịu chia lìa, không khứng chịu thất tán. Với ngôn ngữ, thơ đích thực là quê hương chắc chắn không xa rời, không mất mát. Với ngôn ngữ, thơ trợ giúp chúng ta được còn là một dân tộc xứng đáng, được còn là con người xứng đáng.”

Tôi tin rằng, qua thơ của mình, Tô Thuỳ Yên đã cứu tiếng Việt. Ai cũng rõ văn học chúng ta, ngôn ngữ chúng ta đang trong một thời đốn mạt kéo dài hiếm thấy trong lịch sử. Đọc thơ anh để còn nuôi một niềm tin vào chữ nghĩa của tổ tiên và hồn thơ của dân tộc. Riêng tôi, thơ anh đã an ủi tôi khi buồn bã, nâng đỡ tôi vui sống tuổi xế chiều.

NGUYỄN KHIÊM

.

.

.