Wednesday, September 30, 2026

SỰ TRỖI DẬY và SUY TÀN CỦA PHONG TRÀO THÁNH CHIẾN TOÀN CẦU (Daniel Byman / Foreign Affairs)

 



Sự trỗi dậy và suy tàn của phong trào thánh chiến toàn cầu

Daniel Byman  -  Foreign Affairs  

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch  -   Nghiên Cứu Quốc Tế

27/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/27/su-troi-day-va-suy-tan-cua-phong-trao-thanh-chien-toan-cau/

 

Cách nước Mỹ kiềm chế – nhưng không chấm dứt – mối đe dọa khủng bố.

 

Hai mươi lăm năm trước, các thành viên al-Qaeda đã cướp bốn máy bay chở khách của Mỹ, lao hai chiếc vào tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York và một chiếc vào Lầu Năm Góc ở Washington, D.C. Trên chiếc máy bay thứ tư, các hành khách đã cố giành lại quyền kiểm soát, khiến nó rơi xuống Shanksville, Pennsylvania, làm toàn bộ những người trên khoang thiệt mạng. Tổng cộng, những kẻ không tặc đã cướp đi sinh mạng của 2.977 người – cho đến nay vẫn là vụ tấn công khủng bố đơn lẻ đẫm máu nhất trong lịch sử.

 

Đối với nhiều người Mỹ, các sự kiện ngày 11/09/2001 dường như xảy ra hoàn toàn bất ngờ. Khi đó, rất ít người từng nghe tới al-Qaeda. Nhưng chỉ một ngày sau, nước Mỹ đã bước vào điều mà Tổng thống George W. Bush gọi là “cuộc chiến chống khủng bố” – một cuộc chiến kéo dài suốt nhiều thập niên, bao trùm nhiều tổ chức thánh chiến và lan tới hầu như mọi khu vực trên thế giới.

 

Nước Mỹ đã nhiều lần thất bại hoặc phải lùi bước trong cuộc chiến này. Những biện pháp nhằm ngăn chặn một vụ 11/9 khác, hoặc một cuộc tấn công còn lớn hơn, đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lồ nhưng thường kém hiệu quả, đồng thời gây tổn thất lớn về nhân mạng. Một số nỗ lực, đặc biệt là các cuộc chiến toàn diện ở Afghanistan và Iraq, để lại hậu quả tàn khốc. Cuộc xâm lược Iraq năm 2003 thậm chí còn thúc đẩy một làn sóng tuyển mộ chiến binh thánh chiến mới. Trong những năm sau 2001, nhiều nhóm thánh chiến mới – một số liên kết với al-Qaeda, số khác đối địch với tổ chức này – đã thiết lập căn cứ ở Trung Đông cũng như khắp Đông và Tây Phi. Tại đó, chúng châm ngòi hoặc khoét sâu những cuộc nội chiến đẫm máu, tàn phá các cộng đồng địa phương và tiến hành các vụ tấn công khủng bố cả trong lẫn ngoài khu vực.

 

Tuy nhiên, cuộc chiến chống khủng bố cũng không hoàn toàn thất bại. Bản thân al-Qaeda đã bị tàn phá nặng nề. Trong suốt hai thập niên rưỡi qua, các chiến binh thánh chiến hầu như không thể tiến hành những cuộc tấn công lớn trên đất Mỹ – có lẽ là thước đo thành công quan trọng nhất đối với phần lớn các nhà lãnh đạo Mỹ. Theo dữ liệu của tổ chức New America, kể từ năm 2001, những phần tử khủng bố thánh chiến đã giết chết 122 người tại Mỹ, một con số rất nhỏ so với những gì giới chức Mỹ từng lo ngại trong những năm ngay sau vụ 11/9. Và dù các nhóm thánh chiến vẫn tồn tại, phong trào này đã đánh mất phần lớn sức hút về mặt ý thức hệ.

 

Hãy xem những gì diễn ra kể từ năm 2023. Ngày 07/10, Hamas – một tổ chức mà al-Qaeda thường xuyên chỉ trích vì đã thỏa hiệp các nguyên tắc thần học để theo đuổi mục tiêu chính trị – phát động một cuộc tấn công khủng bố đẫm máu vào Israel, giết chết hơn 1.100 người. Israel nhanh chóng đáp trả, giết chết hàng chục nghìn người Palestine ở Gaza, phần lớn là dân thường, đồng thời tiến hành các cuộc tấn công khác ở Iraq, Lebanon, Syria và Bờ Tây. Năm 2025, Mỹ cùng Israel ném bom Iran; tới năm 2026, liên quân Mỹ–Israel chính thức phát động một cuộc chiến toàn diện với mục tiêu ban đầu là thay đổi chế độ ở Tehran.

 

Cuộc chiến của Israel tại Gaza đã châm ngòi cho những cuộc biểu tình quy mô lớn trên khắp thế giới, còn toàn bộ chuỗi sự kiện trên cung cấp chất liệu cho các thuyết âm mưu cho rằng kẻ thù của Hồi giáo đang âm mưu chống lại người Hồi giáo. Thế nhưng, trái với những gì từng xảy ra sau cuộc xâm lược Iraq của Mỹ năm 2003 hay khi nội chiến Syria bùng nổ năm 2011, các biến động này không tạo ra một làn sóng thánh chiến mới. Trên thực tế, ngay sau khi lên nắm quyền, những cựu binh thánh chiến từng lật đổ nhà độc tài Syria Bashar al-Assad vào năm 2024 đã nhanh chóng tìm cách hòa giải với các quốc gia vốn có truyền thống chống các tổ chức khủng bố, trong đó có Mỹ và Ả Rập Saudi.

 

Một phần tư thế kỷ sau khi Osama bin Laden ra lệnh tiến hành các vụ tấn công ngày 11/9, những người kế nhiệm ông ta vẫn chưa thể xây dựng một phong trào xuyên quốc gia bền vững, đủ khả năng liên tục tấn công nước Mỹ và buộc các chính phủ phải khuất phục trước yêu sách của chúng. Cảm giác về một thời cơ lịch sử – thứ từng giúp phong trào thánh chiến trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với phương Tây – đã phai nhạt. Mỹ có thể chưa giành chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố, nhưng các chiến binh thánh chiến rõ ràng đã thất bại.

 

SỰ RA ĐỜI CỦA MỘT PHONG TRÀO

 

Cuối năm 2001, al-Qaeda dường như đang trên đà lớn mạnh. Phong trào này bắt nguồn từ cuộc đấu tranh vũ trang chống sự chiếm đóng của Liên Xô tại Afghanistan trong thập niên 1980, thu hút các chiến binh Hồi giáo từ khắp thế giới. Dưới sự lãnh đạo của bin Laden, al-Qaeda theo đuổi nhiều mục tiêu, từ giúp Taliban duy trì quyền lực ở Afghanistan đến huấn luyện thành viên cho các chiến dịch khủng bố và nổi dậy trên khắp thế giới Hồi giáo. Nhưng ưu tiên hàng đầu của tổ chức là đẩy Mỹ ra khỏi Trung Đông.

 

Trong khi đó, các nhóm thánh chiến khác tập trung vào những mục tiêu riêng: chống lại các chính phủ mà họ coi là lực lượng chiếm đóng ngoại bang ở Chechnya và Kashmir; lật đổ những chế độ Ả Rập bị xem là bội giáo; chiến đấu với người Hồi giáo Shiite; hoặc thành lập một nhà nước Hồi giáo.

 

Quy mô của vụ tấn công vào Mỹ đã mang lại cho al-Qaeda một vầng hào quang chiến thắng và nâng mạnh vị thế của tổ chức trong phong trào thánh chiến rộng lớn hơn. Sau ngày 11/9, chiến đấu chống Mỹ và các đồng minh phương Tây – điều mà trước đó phần lớn các phần tử thánh chiến chỉ xem là ưu tiên thứ yếu – trở thành một mục tiêu chủ lưu hơn. Việc chính phủ Mỹ sau đó gần như không phân biệt giữa các nhóm liên kết với al-Qaeda và những nhóm thánh chiến chỉ tập trung vào mục tiêu địa phương càng củng cố xu hướng này.

 

Một số yếu tố đã tạo điều kiện cho các cuộc tấn công năm 2001. Trong đó có nhiều thiếu sót trong cách Washington tiếp cận vấn đề chống khủng bố, được chỉ ra bởi Ủy ban 11/9 – cơ quan độc lập do chính phủ Mỹ thành lập năm 2002 mà tôi từng là thành viên. Những sai lầm bao gồm việc chia sẻ thông tin kém giữa các cơ quan chính phủ; không đưa vào danh sách theo dõi những kẻ sau này trở thành không tặc dù chúng bị nghi có liên hệ với al-Qaeda và được cho là đang tới Mỹ; không tích cực truy tìm các nghi phạm khủng bố được cho là đã có mặt trên lãnh thổ Mỹ; và không phản ứng thích đáng trước những báo cáo đáng lo ngại từ các sĩ quan thực địa rằng các chiến binh thánh chiến dường như đặc biệt quan tâm đến việc học lái máy bay.

 

Không kém phần quan trọng là cách thức tổ chức của chính al-Qaeda. Phần lớn lãnh đạo tổ chức đều sáng tạo, tận tụy và sẵn sàng hợp tác với các nhóm khác, qua đó tạo dựng một mạng lưới rộng lớn để tuyển chọn những đặc vụ xuất sắc nhất.

Quan trọng hơn cả, al-Qaeda có một nơi trú ẩn an toàn tại Afghanistan dưới sự cai trị của Taliban, nơi chúng có thể xây dựng chiến lược, lên kế hoạch tấn công và phối hợp với các đối tác quốc tế mà ít bị can thiệp. CIA ước tính từ 10.000 đến 20.000 tình nguyện viên đã tham gia các trại huấn luyện tại Afghanistan vào cuối thập niên 1990, cho phép al-Qaeda xây dựng một lực lượng có quy mô tương đương một đội quân nhỏ.

 

Những tân binh từ khắp thế giới, đặc biệt là Trung Đông, được đào tạo những kiến thức cơ bản về chiến tranh nổi dậy. Những ứng viên triển vọng hơn được học các kỹ thuật phản gián và chế tạo bom nâng cao. Một số sau khi hoàn thành huấn luyện chiến đấu cùng Taliban chống lại các đối thủ còn lại của nhóm này tại Afghanistan. Taliban cũng cho phép những người khác rời đất nước để gia nhập các nhóm nổi dậy hoặc các chi bộ khủng bố địa phương trên khắp thế giới.

 

Những tân binh nổi bật được lựa chọn để huấn luyện thêm và giao cho các nhiệm vụ ưu tiên. Chẳng hạn, nhiều kẻ không tặc trong vụ 11/9 ban đầu tới Afghanistan với ý định học các kỹ năng chiến đấu và tạo dựng quan hệ trước khi sang Chechnya tham chiến cùng lực lượng nổi dậy Chechnya chống Nga. Nhưng sau khi được huấn luyện và cực đoan hóa tại các trại của al-Qaeda, chúng lại được phái đi tấn công nước Mỹ.

 

Khi đó, phần lớn các chính phủ trên thế giới chỉ dành sự chú ý hạn chế cho mối nguy đang gia tăng. Họ hầu như không làm gì để ngăn thành viên các tổ chức khủng bố tuyển mộ, tuyên truyền, gây quỹ và xây dựng mạng lưới trên lãnh thổ của mình, miễn là những nhóm này không trực tiếp tiến hành tấn công tại đó.

Chẳng hạn, trong thập niên 1990, nhiều thủ lĩnh và đặc vụ thánh chiến đã lên kế hoạch cho các hoạt động ở Algeria, Bosnia và những nơi khác ngay từ London. Ngay cả ở Mỹ, công tác kiểm soát cũng tương đối lỏng lẻo: Ayman al-Zawahiri, người kế nhiệm bin Laden sau khi Mỹ tiêu diệt thủ lĩnh al-Qaeda năm 2011, từng đến Mỹ trong thập niên 1990 để gây quỹ.

 

CUỐI CÙNG TÌNH THẾ CŨNG ĐẢO NGƯỢC

 

Sau vụ 11/9, các nỗ lực chống khủng bố của Mỹ nhanh chóng thành công trong việc phá hủy căn cứ hoạt động của al-Qaeda. Khi đống đổ nát của tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới vẫn còn bốc khói, Mỹ đã bắt đầu các chiến dịch quân sự tại Afghanistan. Các sĩ quan CIA và lực lượng đặc nhiệm Mỹ phối hợp với những nhóm chống Taliban, dưới sự yểm trợ của Không quân Mỹ, nhanh chóng lật đổ chính quyền Taliban.

 

Nhiều thành viên al-Qaeda thiệt mạng trong cuộc chiến. Những kẻ sống sót mất nơi trú ẩn an toàn và, quan trọng hơn, mất hệ thống trại huấn luyện, buộc phải tháo chạy. Phần lớn trốn sang Pakistan và Iran rồi tiếp tục hoạt động từ đó. Nhiều cuộc tấn công thành công nhất của al-Qaeda sau 11/9, trong đó có vụ đánh bom hệ thống giao thông công cộng London năm 2005, được chỉ đạo từ Pakistan.

 

Nhưng Islamabad và Tehran đều là những nơi trú chân kém thuận lợi hơn nhiều so với Afghanistan dưới thời Taliban. Cả hai không cho phép al-Qaeda thiết lập các trại huấn luyện mới. Quan trọng hơn, giới chức Pakistan thường xuyên hỗ trợ Mỹ bắt giữ và tiêu diệt các đặc vụ của tổ chức này.

 

Không còn cơ sở hạ tầng huấn luyện quy mô lớn như từng có ở Afghanistan, các nhóm thánh chiến mất phần lớn khả năng tổ chức những cuộc tấn công tinh vi và tầm xa như vụ 11/9. Tuy nhiên, chúng vẫn tiếp tục gieo rắc kinh hoàng cho người dân địa phương trên khắp Trung Đông.

 

Tệ hơn, Mỹ lại vô tình tiếp thêm sức mạnh cho phong trào thánh chiến bằng cuộc xâm lược Iraq năm 2003, một cuộc chiến được biện minh một phần bằng nhu cầu chống khủng bố. Cuộc chiếm đóng sau đó của Mỹ kích động sự phẫn nộ trên toàn khu vực và thúc đẩy sự phát triển của các nhóm nổi dậy chống Mỹ ở Iraq.

 

Tình trạng hỗn loạn do các cuộc nổi dậy của người Ả Rập năm 2011 gây ra tiếp tục mở thêm không gian cho những nhóm này phát triển. Kết quả cuối cùng là sự trỗi dậy của cái gọi là Nhà nước Hồi giáo (ISIS). Ở thời kỳ đỉnh cao năm 2014–2015, ISIS kiểm soát một vùng lãnh thổ ở Iraq và Syria có diện tích gần bằng bang Virginia, với hàng triệu người sinh sống. Tổ chức này thu hút thêm hàng chục nghìn tân binh từ Trung Đông, châu Âu và Trung Á.

 

Những nhóm khác, như al-Shabab ở Somalia, cũng chiếm giữ những vùng lãnh thổ rộng lớn, nơi chúng thu thuế, đe dọa dân chúng và lên kế hoạch hoạt động.

 

Tuy nhiên, áp lực liên tục của Mỹ lên các sào huyệt thánh chiến còn lại cuối cùng cũng phát huy tác dụng. Tại Iraq và Syria, Mỹ từng bước làm suy yếu quyền kiểm soát lãnh thổ của Nhà nước Hồi giáo cho tới khi tổ chức này mất toàn bộ vùng đất từng nắm giữ.

 

Khác với các cuộc chiến huy động hàng chục nghìn binh sĩ Mỹ ở Afghanistan và Iraq, Washington lần này chỉ triển khai các đội tác chiến đặc biệt quy mô nhỏ, trong khi các đối tác địa phương – được Mỹ huấn luyện và hỗ trợ bằng không quân cùng tình báo – đảm nhiệm phần lớn hoạt động chiến đấu và chịu phần lớn thương vong.

Ở những nơi khác như Libya và Somalia, Washington hỗ trợ quân đội quốc gia và các lực lượng dân quân địa phương chiến đấu chống các nhóm thánh chiến, đồng thời tiến hành một chiến dịch “đập chuột” liên tục nhằm vào các thủ lĩnh của phong trào.

 

Sự xuất hiện của máy bay không người lái vũ trang hỗ trợ mạnh mẽ cho nỗ lực này, cho phép quân đội Mỹ thu thập nhiều thông tin tình báo hơn và tấn công nhanh hơn, đồng thời giảm thiệt hại ngoài ý muốn so với việc sử dụng không quân truyền thống. Hợp tác ngày càng sâu giữa các cơ quan tình báo đồng minh cũng mang lại hiệu quả đáng kể.

 

Phần lớn công việc này rất máy móc và tẻ nhạt – chẳng hạn liên kết một số điện thoại với một giao dịch tài chính – nhưng chính nó cho phép Washington và các đối tác từng bước phơi bày và tháo gỡ phần lớn mạng lưới thánh chiến toàn cầu, bắt giữ thành viên al-Qaeda cùng các nhóm khác và làm gián đoạn hoạt động của chúng trên khắp thế giới.

 

Không kém phần quan trọng là những khoản đầu tư khổng lồ của Mỹ vào an ninh nội địa. Bộ An ninh Nội địa, thành lập năm 2002, có nhiệm vụ tập hợp an ninh hàng không, bảo vệ biên giới và các bộ phận khác của bộ máy an ninh quốc gia tham gia ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố trên lãnh thổ Mỹ.

 

Chi tiêu cho an ninh sân bay, ứng phó thảm họa và cải thiện liên lạc giữa các cơ quan liên bang, tiểu bang và địa phương được tăng mạnh, nhằm bảo đảm thông tin về các mối đe dọa mới được chia sẻ nhanh chóng, những kẻ khủng bố bị ngăn không cho nhập cảnh và phản ứng trước các cuộc tấn công trong tương lai được phối hợp tốt hơn.

 

FBI đưa chống khủng bố lên hàng ưu tiên cao nhất và ráo riết điều tra những cá nhân bị nghi có hoạt động khủng bố. Đôi khi cơ quan này hành động quá mức; các tổ chức bảo vệ quyền tự do dân sự cho rằng FBI đã bắt giữ và thẩm vấn một số lượng lớn đàn ông Hồi giáo cũng như theo dõi các nhà thờ Hồi giáo mà không có bằng chứng về hành vi sai trái. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, những nỗ lực này đã phát huy hiệu quả trong việc ngăn chặn các cuộc tấn công.

 

Các biện pháp trên bổ trợ lẫn nhau. Không còn các trại huấn luyện, những kẻ muốn trở thành khủng bố thiếu nơi rèn luyện kỹ năng và mở rộng mạng lưới. Việc huấn luyện không đầy đủ khiến chúng dễ mắc những sai lầm nhỏ, qua đó làm hoạt động gây quỹ và tuyển mộ dễ bị phát hiện hơn. Các cơ quan an ninh tích cực hơn của Mỹ và đồng minh lại sẵn sàng bắt giữ chúng, rồi sử dụng thông tin tình báo thu được để tiếp tục nhắm vào mạng lưới và nơi trú ẩn ở nước ngoài.

 

Việc triệt phá các sào huyệt thánh chiến ở Afghanistan, Iraq, Syria và những nơi khác cũng từng bước làm suy giảm uy tín và sức hấp dẫn của các nhóm này. Vào thời kỳ đỉnh cao, việc Nhà nước Hồi giáo kiểm soát lãnh thổ đã chứng minh sức mạnh của tổ chức và thu hút những người muốn sống trong một xã hội được cai trị theo cách diễn giải luật Hồi giáo của nó. Nhưng khi Nhà nước Hồi giáo mất lãnh thổ, lời kêu gọi các chiến binh mới tới bảo vệ “vương quốc Hồi giáo” tự xưng ngày càng trở nên sáo rỗng. Tuyển mộ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Ngày càng ít phần tử thánh chiến tiềm năng muốn gia nhập một phong trào rõ ràng đang thất bại.

 

NHỮNG BÀN PHẢN LƯỚI NHÀ

 

Không chỉ áp lực của Mỹ dẫn tới sự suy tàn của phong trào thánh chiến. Chính các nhóm thánh chiến cũng liên tục đưa ra những lựa chọn làm suy giảm sức hấp dẫn của mình.

 

Trước hết, chúng tạo ra quá nhiều kẻ thù. Kẻ thù của al-Qaeda không chỉ là Mỹ mà còn gồm những thế lực khác bị xem là lực lượng chiếm đóng ngoại bang, như Ấn Độ, Israel và Nga. Một số phe phái trong phong trào rộng lớn hơn còn chống lại các chính phủ tại những quốc gia Hồi giáo mà chúng coi là không đủ ngoan đạo, bao gồm Ai Cập, Indonesia, Ả Rập Saudi và Yemen.

 

Danh sách kẻ thù của Nhà nước Hồi giáo còn dài hơn. Những cuộc chiến khốc liệt nhất của tổ chức này thậm chí diễn ra với người Hồi giáo Shiite và những tín đồ Hồi giáo không thuộc dòng Sunni.

 

Việc có nhiều kẻ thù giúp các nhóm này thu hút những thành phần ủng hộ khác nhau, nhưng đồng thời buộc chúng phải phân tán nguồn lực. Tấn công tất cả mọi người, ở mọi nơi và cùng một lúc khiến việc duy trì nỗ lực tập trung nhằm đạt bất kỳ mục tiêu cụ thể nào trở nên khó khăn.

 

Tai hại hơn, chiến lược đó gần như bảo đảm rằng tất cả những đối tượng bị tấn công sẽ phản công. Chống chủ nghĩa khủng bố thánh chiến là một trong số ít vấn đề có khả năng đoàn kết hầu như mọi chính phủ trên thế giới. Mỹ vì vậy có thể huy động sự hỗ trợ quân sự và tình báo từ nhiều quốc gia vốn bất đồng sâu sắc với Washington trong các vấn đề khác nhưng cùng chia sẻ lợi ích trong việc kiềm chế các nhóm thánh chiến.

 

Nghiêm trọng hơn nữa, một số nhóm thánh chiến đã khiến chính công chúng Hồi giáo quay lưng lại với chúng bằng cách sát hại và ngược đãi dân thường Hồi giáo.

Những người từng đồng cảm với cuộc chiến chống Mỹ và các thế lực ngoại bang chưa chắc chấp nhận việc chiến binh thánh chiến giết cảnh sát và nhân viên an ninh Ả Rập Saudi trong các năm 2003 và 2004, hay việc một nhánh al-Qaeda tàn sát cả dân thường Sunni lẫn Shiite ở Iraq trong các năm 2006 và 2007.

 

Những vụ giết chóc như vậy làm suy giảm nghiêm trọng uy tín của phong trào. Ở Ả Rập Saudi, với sự ủng hộ rộng rãi của công chúng, chính phủ đã tiêu diệt hoặc bắt giữ nhiều thành viên al-Qaeda, làm tổ chức này suy yếu nặng nề trong nước. Ở Iraq, các hành động bạo lực cũng khiến tổ chức bị lên án cả bởi những giáo sĩ từng ủng hộ phong trào thánh chiến toàn cầu lẫn các lãnh đạo tôn giáo dòng chính.

Quyết định mở rộng quá mức của Nhà nước Hồi giáo tại Iraq và Syria cuối cùng lại trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới sự diệt vong của tổ chức.

 

Tuyên bố thành lập một vương quốc Hồi giáo năm 2014 gây chấn động đối với nhiều tín đồ Hồi giáo, đặc biệt trong bối cảnh tổ chức dường như liên tục mở rộng lãnh thổ và đánh bại đối thủ. Nhưng chính dự án ấy đã mở đường cho thất bại sau này.

 

Như bin Laden từng cảnh báo riêng với một thủ lĩnh thánh chiến ở Yemen nhiều năm trước, việc xây dựng một nhà nước sẽ tạo cho Mỹ và các nước khác một mục tiêu rõ ràng để tập trung hỏa lực. Khi Nhà nước Hồi giáo tuyên bố thành lập vương quốc, việc kiểm soát lãnh thổ không chỉ khiến tổ chức dễ bị tấn công hơn mà cách thức cai trị của nó còn phơi bày mức độ tàn bạo trước công chúng. Những yêu sách tối đa hóa cũng khiến việc hợp tác với các nhóm thánh chiến khác – chưa nói tới các quốc gia khác – gần như bất khả thi.

 

Đến giữa thập niên 2020, phong trào thánh chiến không còn ở vị thế có thể dễ dàng khai thác những biến động tại Trung Đông.

 

Cuộc chiến ở Gaza, sự sụp đổ của Assad trước lực lượng gồm nhiều cựu binh thánh chiến, và cuộc chiến Mỹ–Israel với Iran đều tạo ra bất mãn, hình ảnh và những câu chuyện vốn từng thúc đẩy sự lan rộng toàn cầu của phong trào. Nhưng ngoại trừ Somalia và phần lớn Tây Phi, các nhóm thánh chiến không thể tạo ra một làn sóng huy động lực lượng tương đương với những gì từng xảy ra sau Chiến tranh Iraq năm 2003 hay trong thời kỳ Nhà nước Hồi giáo trỗi dậy.

 

Trong những giai đoạn trước, ý thức hệ thánh chiến vẫn có động lực quốc tế. Sau thất bại của dự án lãnh thổ Nhà nước Hồi giáo, ý tưởng về một cuộc thánh chiến toàn cầu đã mất phần lớn sức hấp dẫn ở hầu hết các khu vực. Những năm vừa qua lẽ ra là cơ hội lý tưởng để tuyển mộ thanh niên Hồi giáo bất mãn ở châu Âu và Trung Đông. Nhưng các chiến binh thánh chiến đã không thể tận dụng cơ hội đó.

 

CUỘC CHIẾN CHƯA KẾT THÚC

 

Bất chấp sự suy tàn của chủ nghĩa thánh chiến và mức độ an toàn tương đối của lãnh thổ Mỹ sau ngày 11/9, vẫn khó có thể nói rằng Mỹ đã chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố.

 

Không cuộc chiến lớn nào được tiến hành dưới danh nghĩa đó, đặc biệt ở Afghanistan và Iraq, có một kết thúc tốt đẹp. Lực lượng Mỹ nhanh chóng lật đổ Taliban ở Afghanistan và loại bỏ nơi trú ẩn an toàn của các chiến binh thánh chiến, nhưng chiến dịch sau đó sa vào thế bế tắc kéo dài và kết thúc bằng một thất bại gây tổn hại uy tín vào năm 2021, khi Taliban được tái thiết giành lại quyền kiểm soát đất nước.

 

Cuộc chiến Iraq cuối cùng giúp một chính phủ tốt hơn chế độ độc tài của Saddam Hussein xuất hiện, nhưng đồng thời đặt nền móng cho sự trỗi dậy của Nhà nước Hồi giáo.

 

Những cuộc chiến này, cùng nhiều cuộc xung đột khác trong khu vực, cũng gây ra cái giá khổng lồ về nhân mạng. Dự án Costs of War của Đại học Brown ước tính gần một triệu người – trong đó gần một nửa là dân thường – đã thiệt mạng tại Afghanistan, Iraq, Pakistan, Syria và Yemen từ năm 2001 đến 2023.

 

Về phía Mỹ, hơn 2.000 binh sĩ đã thiệt mạng ở Afghanistan và hơn 4.000 người ở Iraq, cùng trên 50.000 người bị thương trong hai cuộc xung đột. Tính đến năm 2021, Washington đã chi tổng cộng khoảng 8 nghìn tỷ đô la cho các cuộc chiến hậu 11/9.

 

Các nỗ lực chống khủng bố cũng không thể loại bỏ hoàn toàn chủ nghĩa thánh chiến. Trong nhiều năm, các chiến dịch quân sự của Mỹ, kết hợp với bộ máy tuyên truyền hiệu quả của al-Qaeda và Nhà nước Hồi giáo chuyên khuếch đại những hành vi lạm dụng của Mỹ và đồng minh, duy trì những điều kiện chính trị cho phép ý thức hệ này tiếp tục lan truyền.

 

Và dù không tổ chức thánh chiến nào có thể thực hiện một chiến dịch khác với quy mô tương đương vụ 11/9, Mỹ và các đồng minh vẫn là mục tiêu của nhiều âm mưu và các cuộc tấn công do những cá nhân được truyền cảm hứng bởi hệ tư tưởng thánh chiến thực hiện, ngay cả khi họ chưa bao giờ trực tiếp gặp một thành viên al-Qaeda hay Nhà nước Hồi giáo.

 

Nhiều âm mưu đã bị ngăn chặn nhờ các biện pháp phòng ngừa tốt hơn. Nhưng mong muốn sát hại người Mỹ và công dân những nước nằm trong danh sách kẻ thù của các nhóm thánh chiến chưa biến mất.

 

Những nỗ lực của nhiều chính quyền Mỹ nhằm trực tiếp chống lại bộ máy tuyên truyền thánh chiến – trong đó có các chương trình “chống chủ nghĩa cực đoan bạo lực” – cũng không thực sự thành công trong việc giành lấy “trái tim và khối óc” của những người phản đối chính sách Mỹ và không có lý do để tin tưởng Washington trong bối cảnh dân thường Hồi giáo vẫn thiệt mạng trong các cuộc chiến của Mỹ.

Tuy nhiên, sự tồn tại dai dẳng của một hệ tư tưởng không đồng nghĩa với việc nó vẫn giữ được vị thế nổi bật như trước.

 

Ở thời kỳ đỉnh cao, các nhóm thánh chiến đã chứng minh khả năng tiến hành những vụ bạo lực kinh hoàng, thiết lập liên minh trong các cuộc nội chiến và thậm chí chiếm giữ lãnh thổ. Nhưng chúng thất bại trong việc chuyển hóa những thành tựu ấy thành một dự án chính trị bền vững hoặc duy trì sức hấp dẫn toàn cầu trong dài hạn.

 

Bên ngoài khu vực châu Phi cận Sahara, chủ nghĩa thánh chiến không còn đưa ra được một câu trả lời thuyết phục cho những bất mãn của người Hồi giáo hay một con đường khả tín dẫn tới biến đổi chính trị như phong trào từng làm trong hai thập niên đầu thế kỷ này. Các chiến binh thánh chiến không còn đổ xô đi chiến đấu chống Israel hay Mỹ, còn những cựu binh thánh chiến Syria hiện ngồi tại Damascus dường như quan tâm tới việc thu hút đầu tư nước ngoài hơn là chiến đấu với các thế lực ngoại đạo.

 

Điều này buộc Washington phải đối mặt với những lựa chọn khó khăn về mức độ can dự cần thiết để chống lại các nhóm thánh chiến vẫn đang hoạt động.

 

Phần lớn những nhóm này sống sót nhờ tham gia vào các cuộc nội chiến tàn khốc nhưng diễn ra ở những nơi nằm ngoài vùng lõi lợi ích của Mỹ, như Mali, Somalia và Yemen. Có nguy cơ chúng biến sự tham gia trong các cuộc chiến này thành cơ hội xây dựng những nơi trú ẩn an toàn mới, từ đó tổ chức các cuộc tấn công quốc tế.

Nhưng nếu Mỹ trực tiếp can thiệp, Washington cũng phải đối mặt với nguy cơ bị trả đũa và sa lầy vào những cuộc xung đột mới.

 

Tại Somalia và Yemen, giải pháp của Washington là sử dụng máy bay không người lái tấn công các thủ lĩnh và chiến binh thánh chiến, đồng thời hỗ trợ ở mức hạn chế cho chính phủ khu vực, các lãnh chúa và thủ lĩnh bộ lạc nhằm duy trì áp lực lên các nhóm này.

 

Tuy nhiên, chừng nào chính phủ tại những quốc gia đó vẫn yếu và hỗ trợ an ninh không tạo ra những thay đổi đáng kể – hoặc nếu Washington cắt giảm hoàn toàn viện trợ, như chính quyền Trump đã làm tại nhiều nước châu Phi – thì các nhóm thánh chiến vẫn sẽ tiếp tục hoạt động.

 

Nước Mỹ phải chấp nhận rằng chủ nghĩa thánh chiến có thể sẽ không bao giờ hoàn toàn biến mất.

 

Hiện tại, các chiến dịch chống khủng bố của Mỹ và đồng minh, kết hợp với chuỗi thất bại của chính các chiến binh thánh chiến, đang giữ cho những nhóm này ở trạng thái tương đối bị kiềm chế. Nhưng để duy trì tình trạng đó sẽ cần những nỗ lực liên tục: hợp tác tình báo với đồng minh, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào những chiến binh thánh chiến, và huấn luyện quân sự cho các đối tác địa phương nhằm ngăn các nhóm này tái thiết tại những quốc gia yếu kém.

 

Những hoạt động đó sẽ hiệu quả nhất khi được tiến hành tương đối kín đáo, tránh trao cho các chiến binh thánh chiến những chiến thắng tuyên truyền dễ dàng và hạn chế tối đa chi phí đối với chính nước Mỹ.

 

Nếu Washington có thể duy trì cảnh giác mà không ôm đồm quá mức, họ có thể giữ cho chủ nghĩa thánh chiến là một mối nguy có thể quản lý được, thay vì để nó một lần nữa trở thành mối đe dọa mang tính định hình.

 

---------------

Daniel Byman là Giáo sư tại Trường Dịch vụ Đối ngoại thuộc Đại học Georgetown và là Giám đốc Chương trình Chiến tranh, Các mối đe dọa phi truyền thống và Chủ nghĩa khủng bố tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS).

 

Nguồn: Daniel Byman, “The Rise and Fall of Global Jihadism,” Foreign Affairs, 08/09/2026






ÔNG TRUMP SẼ KHÔNG HỢP TÁC VỚI TRUNG QUỐC VỀ ‘AI’ (NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt)

 



Ông Trump sẽ không hợp tác với Trung Quốc về AI

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt

30/9/2026

https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/news/20260930_RS09/

 

Tổng Thống Mỹ Donald Trump nhấn mạnh rằng ông tập trung vào việc duy trì vị thế dẫn rước Trung Quốc trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI).

 

Hôm Thứ Ba, ông cho biết ông không thảo luận “nhiều đến thế” về vấn đề này với Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại cuộc gặp thượng đỉnh ở Washington hồi tuần trước.

 

Ông Trump phát biểu như trên tại một sự kiện ở thủ đô Washington. Ông nói: “Hiện chúng tôi đang dẫn trước Trung Quốc và tất cả các nước khác, và tôi muốn duy trì vị thế đó”.

 

Ông Trump tỏ ra không mặn mà với việc hợp tác với Bắc Kinh. Ông nói: “Nhiều người nói rằng hãy cùng làm với Trung Quốc, nhưng như vậy họ sẽ ngay lập tức có thể tiếp cận những thứ mà chúng ta biết còn họ thì không”.

 

Sự kiện được tổ chức nhân dịp ra mắt một trang web ứng dụng AI của chính phủ. Tại đây, ông Trump đã ký sắc lệnh hành pháp liên quan đến cổng thông tin mới này.

 

Tuần trước, Nhà Trắng cho biết tại cuộc gặp thượng đỉnh hai nhà lãnh đạo đã nhất trí thiết lập một cơ chế đối thoại Mỹ - Trung về rủi ro và lợi ích của AI.

 

 

 


THÍ ĐIỂM TIỀN MÃ HÓA CỦA VIỆT NAM và CON ĐƯỜNG GIỮA BẮC KINH và SINGAPORE (Lê Hồng Hiệp / Nghiên Cứu Quốc Tế)

 


Thí điểm tiền mã hóa của Việt Nam và con đường giữa Bắc Kinh và Singapore

Lê Hồng Hiệp

30/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/30/thi-diem-tien-ma-hoa-cua-viet-nam-va-con-duong-giua-bac-kinh-va-singapore/

 

Xem thêm: Các chương khác trong bản thảo “Vượt ra ngoài gia công” 

 

Tóm tắt

·        Ngày 9/9/2025, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP, khởi động chương trình thí điểm kéo dài năm năm về cấp phép cho các sàn giao dịch tài sản mã hóa. Nghị quyết quy định mức vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng (khoảng 380–400 triệu đô la Mỹ), giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài ở mức 49%, đồng thời yêu cầu hoạt động phát hành, giao dịch và thanh toán phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam. Chương này xem đây là một nỗ lực có chủ đích nhằm định vị Việt Nam ở khoảng giữa lệnh cấm hoàn toàn của Trung Quốc và chế độ cấp phép tương đối cởi mở, dù sàng lọc nghiêm ngặt, của Singapore.

·        Chương trình thí điểm phản hồi một vấn đề cấp bách, không phải một mối quan ngại trừu tượng. Chainalysis ước tính người dùng Việt Nam đã thực hiện giao dịch tài sản mã hóa trị giá 220–230 tỷ đô la Mỹ trong mười hai tháng tính đến tháng 6/2025, chủ yếu thông qua các nền tảng ở nước ngoài không thuộc phạm vi quản lý trong nước. Việt Nam vì vậy đứng thứ tư toàn cầu trong Chỉ số Áp dụng Tiền mã hóa Toàn cầu năm 2025 của Chainalysis, với khoảng 17 triệu người sở hữu tài sản mã hóa và tỷ lệ sở hữu thuộc nhóm cao nhất thế giới.

·        Kinh nghiệm Singapore cho thấy một cơ chế cấp phép về nguyên tắc cởi mở vẫn có thể tạo ra thị trường được sàng lọc chặt chẽ nếu cơ quan quản lý áp dụng quy trình thẩm định nghiêm ngặt, thay vì chỉ dựa vào ngưỡng vốn. Trong số 176 đơn xin cấp phép dịch vụ token thanh toán số ban đầu, 103 đơn bị từ chối hoặc được rút lại. Đến năm 2025, Singapore tiếp tục khép lại kẽ hở từng cho phép doanh nghiệp đặt trụ sở tại Singapore nhưng chỉ phục vụ khách hàng ở nước ngoài. Đây là bài học trực tiếp cho Việt Nam trong nỗ lực ngăn dòng vốn chảy ra nước ngoài thông qua các pháp nhân đăng ký trong nước.

·        Lệnh cấm tiền mã hóa năm 2021 của Trung Quốc cho thấy giới hạn của biện pháp cấm đoán. Hơn bốn năm sau khi Bắc Kinh tuyên bố mọi giao dịch tiền mã hóa là bất hợp pháp, ước tính vẫn có hơn 20 triệu công dân Trung Quốc giao dịch thông qua các sàn nước ngoài, thường bằng cách sử dụng VPN. Trong khi đó, Hong Kong — vận hành theo một hệ thống pháp lý riêng — đã cấp phép cho 13 nền tảng giao dịch tài sản ảo và tiếp tục mở rộng phạm vi sản phẩm cũng như khả năng tiếp cận thị trường. Điều này cho thấy Bắc Kinh vẫn nhìn nhận giá trị của một địa điểm giao dịch tài sản mã hóa được quản lý, miễn là hoạt động đầu cơ bán lẻ tại Trung Quốc đại lục không được mở cửa.

·        Cách tiếp cận của Việt Nam kết hợp một số yếu tố của cả hai mô hình nhưng không sao chép hoàn toàn mô hình nào. Khác với Trung Quốc, Việt Nam không cấm tài sản mã hóa mà tìm cách đưa hoạt động này vào khuôn khổ trong nước, dưới sự giám sát chặt chẽ và với yêu cầu thanh toán bằng đồng Việt Nam nhằm hạn chế nguy cơ tháo chạy vốn. Khác với Singapore, Việt Nam chủ yếu sàng lọc người tham gia thị trường thông qua một ngưỡng vốn rất cao — cao gấp khoảng 600 lần mức tối thiểu của Hong Kong và vượt xa Singapore — thay vì dựa chủ yếu vào đánh giá năng lực và mức độ tuân thủ.

·        Khi Bộ Tài chính chuẩn bị cấp các giấy phép đầu tiên trong năm 2026, câu hỏi then chốt là liệu yêu cầu vốn cao có thực sự đóng vai trò như một biện pháp bảo đảm thận trọng. Một mặt, yêu cầu này có thể thu hút các định chế đủ năng lực xây dựng hạ tầng thanh khoản, an ninh và tuân thủ mà Việt Nam còn thiếu, như trường hợp HashKey Capital và OKX Ventures đầu tư vào nền tảng CAEX có sự hậu thuẫn của ngân hàng. Mặt khác, nó cũng có thể tạo ra thế độc quyền nhóm được nhà nước chấp thuận cho một số ít doanh nghiệp đương nhiệm có liên hệ với ngân hàng, đồng thời loại các doanh nghiệp tiền mã hóa bản địa như KyberSwap và Coin98 khỏi thị trường, dù các doanh nghiệp này đã sớm xây dựng được tệp người dùng tại Việt Nam.

·        Xét về bản chất, các lựa chọn thiết kế của Nghị quyết 05 — thanh toán bằng đồng Việt Nam, kênh phát hành chỉ dành cho nhà đầu tư nước ngoài, cùng điều kiện về vốn và cơ cấu sở hữu — phản ánh nỗ lực củng cố chủ quyền quản lý hơn là một chính sách tiền mã hóa theo nghĩa hẹp. Mục tiêu trọng tâm của Hà Nội không chỉ là quản lý tài sản mã hóa, mà là bảo đảm một lĩnh vực tài chính đang tăng trưởng nhanh, trên thực tế phần lớn xoay quanh stablecoin neo giá đô la Mỹ hơn là Bitcoin, vận hành trong những định chế mà nhà nước có thể giám sát, đánh thuế và quy trách nhiệm, thay vì trong một hệ thống tài chính song song nằm ngoài tầm kiểm soát.

 

Giới thiệu

 

Quản lý tài sản mã hóa đặt ra một dạng đặc biệt gay gắt của vấn đề mà mọi cơ quan quản lý tài chính đều phải đối mặt: làm thế nào giám sát một hoạt động đang được một bộ phận đáng kể dân số thực hiện trên quy mô lớn nhưng phần lớn nằm ngoài tầm với của nhà nước. Phần lớn các đổi mới tài chính phát triển đủ chậm để cơ quan quản lý có thời gian quan sát, nghiên cứu và điều chỉnh phản ứng chính sách trước khi chúng trở thành rủi ro có ý nghĩa hệ thống. Tài sản mã hóa — đặc biệt trong trường hợp Việt Nam — không cho phép sự chủ động theo kiểu đó.

 

Khi Hà Nội bắt đầu xây dựng khung cấp phép chính thức vào năm 2025, giá trị giao dịch tài sản mã hóa tại Việt Nam trong mười hai tháng tính đến tháng 6 năm 2025 đã đạt khoảng 220–230 tỷ đô la Mỹ, theo ước tính của Chainalysis. Quy mô này đưa Việt Nam vào nhóm nhỏ các thị trường dẫn đầu thế giới về mức độ áp dụng tài sản mã hóa, trong khi phần lớn hoạt động vẫn diễn ra ngoài phạm vi quản lý trong nước.[1] Đây không phải là một hiện tượng ngách chỉ giới hạn trong giới đầu cơ: khoảng 31% dân số Việt Nam được ước tính sở hữu tài sản mã hóa, một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới. Việt Nam cũng xếp thứ tư trong Chỉ số Áp dụng Tiền mã hóa Toàn cầu năm 2025 của Chainalysis, chỉ số tổng hợp dựa trên khối lượng giao dịch, hoạt động trên chuỗi và giá trị chuyển khoản bán lẻ, có tính đến quy mô dân số và sức mua.[2]

 

Do đó, câu hỏi chính sách không còn là liệu Việt Nam có nên quản lý tài sản mã hóa hay không; quy mô của hoạt động hiện hữu đã mặc nhiên trả lời câu hỏi đó. Vấn đề cốt lõi là Việt Nam — với một đồng tiền được quản lý, truyền thống thận trọng đối với tự do hóa tài khoản vốn và những lo ngại có cơ sở về tháo chạy vốn — cần thiết kế cơ chế cấp phép như thế nào để đưa hoạt động này vào khuôn khổ trong nước. Cơ chế ấy phải tránh làm gia tăng chính các rủi ro về ổn định tài chính và thoát vốn mà nó hướng đến kiểm soát, đồng thời không đẩy hoạt động giao dịch sâu hơn vào thị trường ngầm.

 

Tài sản mã hóa tạo ra thách thức đặc biệt vì chúng không chỉ là một loại tài sản mới mà cơ quan quản lý chứng khoán có thể đơn giản đưa vào khung pháp lý hiện hành. Cơ chế điều hành tỷ giá theo hướng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phụ thuộc vào khả năng quan sát và, khi cần thiết, kiểm soát quy mô cũng như hướng đi của dòng vốn xuyên biên giới. Một thị trường tài sản mã hóa lớn và không được quản lý làm suy yếu năng lực này qua ít nhất bốn kênh.

·         

·        Thứ nhất, hoạt động mua bán tài sản mã hóa được định giá hoặc dễ dàng quy đổi sang đô la Mỹ tạo ra một kênh chuyển đổi từ đồng Việt Nam sang đô la Mỹ nằm ngoài dữ liệu ngoại hối chính thức của Ngân hàng Nhà nước.

·        Thứ hai, người cư trú có thể chuyển giá trị qua biên giới thông qua ví điện tử mà không để lại dấu vết tương ứng trong thống kê cán cân thanh toán — vốn là nền tảng để theo dõi và thực thi các biện pháp kiểm soát vốn thông thường.

·        Thứ ba, nếu một phần đáng kể tiết kiệm của hộ gia đình được nắm giữ dưới dạng tài sản mã hóa thay vì tiền gửi bằng đồng Việt Nam, hiệu lực truyền dẫn của các công cụ tiền tệ như lãi suất điều hành và dự trữ bắt buộc có thể bị suy giảm.

·        Thứ tư, hệ thống chống rửa tiền và khai báo thuế hiện được thiết kế chủ yếu cho các giao dịch qua hệ thống ngân hàng. Hệ thống này không có cơ chế tương đương để bao quát đầy đủ các giao dịch ngang hàng trên blockchain hoặc giao dịch thực hiện qua sàn ở nước ngoài.[3]

 

Theo nghĩa đó, chính sách tài sản mã hóa của Việt Nam trước hết là vấn đề về chủ quyền quản lý, hơn là chính sách tiền mã hóa theo nghĩa hẹp. Điều Việt Nam tìm cách bảo vệ không phải một mức tỷ giá hay một biện pháp kiểm soát vốn cụ thể, mà là năng lực căn bản của nhà nước trong việc quan sát, đánh thuế và, khi cần, hạn chế một lĩnh vực hoạt động tài chính đang mở rộng nhanh chóng. Một thị trường tài sản mã hóa vận hành chủ yếu ở nước ngoài và không chịu quản lý có thể làm suy yếu năng lực này, bất kể pháp luật trong nước chính thức cho phép hay cấm đoán hoạt động đó.

 

Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP, do Chính phủ ban hành ngày 9/9/2025 trên cơ sở Luật Công nghiệp Công nghệ số được Quốc hội thông qua ba tháng trước đó, cần được đánh giá đúng theo bản chất của nó. Đây không phải là sự mở cửa toàn diện cho thị trường tài sản mã hóa, cũng không phải là một lệnh cấm, mà là chương trình thí điểm năm năm với các điều kiện gia nhập rất chặt chẽ: vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng, giới hạn sở hữu nước ngoài ở mức 49% và yêu cầu phát hành, giao dịch, thanh toán bằng đồng Việt Nam.[4]

 

Chương này đặt thiết kế đó trong tương quan với hai tiền lệ khác biệt rõ rệt. Trường hợp thứ nhất là Singapore, nơi Đạo luật Dịch vụ Thanh toán mở ra cơ chế xin cấp phép chính thức cho các sàn giao dịch tiền mã hóa từ năm 2019, nhưng sử dụng quy trình đánh giá nghiêm ngặt về năng lực và tuân thủ — thay vì ngưỡng vốn cao — để tạo ra một thị trường có chọn lọc. Trường hợp thứ hai là Trung Quốc, nơi lệnh cấm năm 2021 là một trong những lệnh cấm toàn diện nhất từng được một nền kinh tế lớn áp dụng. Tuy nhiên, hiệu quả hạn chế của lệnh cấm trong việc ngăn công dân Trung Quốc tiếp tục giao dịch tài sản mã hóa cho thấy khoảng cách giữa phạm vi của quy định trên giấy tờ và năng lực thực thi trên thực tế.

Chương này lập luận rằng Việt Nam chia sẻ mối lo cốt lõi đứng sau lệnh cấm của Trung Quốc: một loại tài sản không được quản lý, có chức năng gần với ngoại tệ, có thể đe dọa kỷ luật tài khoản vốn và chủ quyền tiền tệ. Tuy vậy, Việt Nam không lựa chọn biện pháp cấm đoán mà nghiêng về logic cấp phép của Singapore, dù phương thức triển khai khác biệt đáng kể. Điểm chưa chắc chắn nhất trong cách tiếp cận của Việt Nam là việc đặt trọng tâm vào quy mô vốn, thay vì thẩm định năng lực tuân thủ và hành vi thị trường như Singapore.

 

Kinh nghiệm quốc tế

 

Stablecoin và DeFi phía sau Bitcoin

 

Trước khi xem xét riêng Singapore, Trung Quốc và Hong Kong, cần lưu ý một đặc điểm chung trong kinh nghiệm của ba khu vực pháp lý này cũng như của Việt Nam: cách định khung chính sách tiền mã hóa xoay quanh Bitcoin thường che khuất công cụ thực sự đảm nhận phần lớn việc chuyển dịch vốn xuyên biên giới và né tránh kiểm soát vốn. Công cụ đó không phải Bitcoin hay Ethereum, mà là các stablecoin neo giá đô la Mỹ, trong đó USDT của Tether giữ vai trò nổi bật.

 

USDT là stablecoin lớn nhất thế giới xét theo lượng lưu hành, với hàng chục tỷ đô la Mỹ token được lưu hành trên Ethereum, Tron và ngày càng nhiều blockchain khác. Trên thực tế, USDT có thể vận hành như một dạng tài khoản định giá bằng đô la Mỹ mà không cần ngân hàng, chuyển khoản xuyên biên giới hay giao dịch ngoại hối theo thông lệ.[5] Phần về Trung Quốc dưới đây sẽ cho thấy USDT là kênh vào và ra chủ yếu của hơn 20 triệu công dân Trung Quốc vẫn giao dịch tiền mã hóa bất chấp lệnh cấm toàn diện của Bắc Kinh. Theo nhiều đánh giá trong ngành, công cụ này cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng trong hoạt động tài sản mã hóa ở nước ngoài của người Việt Nam mà Nghị quyết 05 hướng tới đưa vào khuôn khổ quản lý.

 

Vì vậy, theo một nghĩa quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ, vấn đề chính sách của Việt Nam không chỉ là Bitcoin mà còn là hiện tượng đô la hóa ngầm dưới hình thức tài sản mã hóa.[6] Lệnh cấm toàn diện trong Nghị quyết 05 đối với các công cụ tương đương stablecoin, cùng yêu cầu thanh toán bằng đồng Việt Nam, nên được hiểu chủ yếu là phản ứng trước rủi ro này. Mối quan ngại trọng tâm không phải là đầu cơ giá tài sản mã hóa nói chung, mà là mức độ phơi nhiễm tài khoản vốn do một công cụ thanh toán neo giá đô la Mỹ, vận hành ngoài hệ thống ngân hàng, có thể tạo ra trong một nền kinh tế có đồng tiền được quản lý.

 

Các tổ chức thiết lập chuẩn mực quốc tế đang dần hình thành một ngôn ngữ quản lý chung cho vấn đề này, dù quá trình đó chưa hoàn chỉnh. Việc xây dựng năng lực thể chế của Việt Nam sẽ hiệu quả hơn nếu tham gia vào các chuẩn mực đang định hình này, thay vì phát triển một khuôn khổ biệt lập. Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF) đã mở rộng tiêu chuẩn chống rửa tiền sang tài sản ảo và nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo từ năm 2019. Từ đó, tổ chức này thúc đẩy việc áp dụng “quy tắc du hành” (travel rule), theo đó các sàn phải thu thập và chia sẻ thông tin về người khởi tạo và người thụ hưởng đối với các giao dịch vượt một ngưỡng nhất định.

 

Tuy nhiên, các đợt rà soát của FATF vào năm 2023 và 2025 cho thấy phần lớn trong số hơn 150 khu vực pháp lý được khảo sát mới chỉ đạt tiến bộ một phần, hoặc chưa có tiến bộ đáng kể, trong việc thực hiện các yêu cầu này.[7] Điều đó cho thấy ngay cả cơ chế phối hợp xuyên biên giới cơ bản nhất vẫn đang trong quá trình hoàn thiện trên phạm vi toàn cầu, chứ không phải một giải pháp sẵn có mà Việt Nam có thể áp dụng ngay lập tức.

 

Khung quản lý toàn cầu của Ủy ban Ổn định Tài chính (FSB) ban hành tháng 7 năm 2023, dựa trên nguyên tắc “cùng hoạt động, cùng rủi ro, cùng quy định”, cùng với Quy định về Thị trường Tài sản mã hóa (Markets in Crypto-Assets Regulation — MiCA) của Liên minh châu Âu, đều cung cấp những khuôn mẫu phù hợp cho Việt Nam. MiCA đưa tổ chức phát hành stablecoin vào một cơ chế cấp phép riêng, đi kèm các yêu cầu nghiêm ngặt về tài sản dự trữ và quyền hoàn trả của người nắm giữ, bắt đầu áp dụng từ giữa năm 2024.[8] So với việc chỉ tham chiếu mô hình cấp phép sàn giao dịch của Singapore hoặc lệnh cấm của Trung Quốc, hai khuôn khổ này có tính chuyển giao trực tiếp hơn vì được thiết kế xoay quanh rủi ro của stablecoin và hoạt động xuyên biên giới, thay vì chủ yếu tập trung vào đầu cơ bán lẻ trong nước.

 

Một hạn chế có ý nghĩa cấu trúc đối với mô hình cấp phép của Việt Nam cũng cần được thừa nhận. Mọi mô hình được khảo sát trong chương này — chế độ cấp phép của Singapore, lệnh cấm của Trung Quốc, khung cấp phép Nền tảng Giao dịch Tài sản Ảo (VATP) của Hong Kong và Nghị quyết 05 của Việt Nam — đều dựa trên việc cấp phép hoặc cấm các trung gian tập trung có thể nhận diện, gồm sàn giao dịch, tổ chức lưu ký và tổ chức phát hành. Các chủ thể này có thể được yêu cầu về vốn, chịu giám sát và bị quy trách nhiệm.

 

Ngược lại, tài chính phi tập trung (decentralised finance — DeFi) cho phép người dùng giao dịch, cho vay và vay trực tiếp qua các giao thức hợp đồng thông minh, không có trung gian được cấp phép đứng giữa. Vì vậy, DeFi phần lớn nằm ngoài khả năng điều chỉnh thực tế của các khuôn khổ hiện hành. Ngay cả FATF cũng gặp khó khăn trong việc xác định chính xác đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ của “nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo” khi một giao thức không có đơn vị vận hành theo nghĩa thông thường.[9]

 

Mô hình cấp phép của Việt Nam, tương tự Singapore và Hong Kong, chỉ có thể điều chỉnh phần hoạt động diễn ra qua các sàn giao dịch tập trung có thể xác định và cấp phép. Đây là phân khúc lớn, hiện được ước tính đạt khoảng 220–230 tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Tuy nhiên, do bản chất của mô hình quản lý dựa trên trung gian, khung này không thể bao quát hiệu quả phần hoạt động chuyển sang các giao thức phi tập trung — một nguy cơ dịch chuyển mà phần khuyến nghị chính sách của chương sẽ trở lại phân tích.

 

Singapore: Cửa mở, sàng lọc chặt

 

Cách tiếp cận của Singapore đối với tài sản mã hóa bắt đầu từ một tiền đề gần như đối lập với chương trình thí điểm của Việt Nam. Thay vì hạn chế người tham gia thị trường bằng một ngưỡng vốn có tính loại trừ cao, Cơ quan Tiền tệ Singapore (Monetary Authority of Singapore — MAS) xây dựng một cơ chế xin cấp phép chính thức tương đối mở theo Đạo luật Dịch vụ Thanh toán năm 2019. Đạo luật có hiệu lực từ tháng 1/2020, hợp nhất các quy định thanh toán vốn phân tán trước đó thành một khuôn khổ cấp phép thống nhất, bao gồm cả dịch vụ token thanh toán số (digital payment token — DPT).[10]

 

Về nguyên tắc, mọi doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu về công bố thông tin, quản trị và chống rửa tiền đều có thể nộp đơn. Thiết kế này phản ánh tham vọng của MAS trong việc định vị Singapore như một trung tâm nghiêm túc cho đổi mới blockchain và tài sản số, thay vì ngăn cấm hoàn toàn hoạt động tiền mã hóa. Đạo luật Dịch vụ Thanh toán (Sửa đổi) năm 2021 tiếp tục mở rộng phạm vi điều chỉnh; từ tháng 4/2022, nhà cung cấp dịch vụ DPT, sàn giao dịch, tổ chức lưu ký và đơn vị hỗ trợ chuyển giao đều thuộc phạm vi cấp phép của MAS.[11]

Điểm khác biệt giữa Singapore và một mô hình đơn thuần cho phép thị trường hoạt động nằm ở mức độ chọn lọc rất cao trong thực tế. Theo thông tin MAS công bố trước Quốc hội, trong số 176 doanh nghiệp nộp đơn xin cấp phép dịch vụ DPT trong giai đoạn đầu, 103 doanh nghiệp bị từ chối hoặc rút đơn sau quá trình làm việc với cơ quan quản lý. Chỉ một số ít được cấp phép, ban đầu gồm DBS Vickers, Independent Reserve, FOMO Pay và TripleA.[12]

 

Mô hình này — mở cửa về nguyên tắc nhưng khắt khe trong thực thi — đối lập với phương thức gác cổng chủ yếu bằng ngưỡng vốn của Việt Nam. MAS đã tạo ra một thị trường có chọn lọc thông qua thẩm định năng lực, quản trị, kiểm soát rủi ro và tuân thủ. Tinh thần ấy được tóm lược trong thông điệp của MAS: “có với đổi mới tài sản số, không với đầu cơ tiền mã hóa”. Cách tiếp cận này nhằm phân biệt các ứng dụng công nghệ và dịch vụ thể chế hợp pháp với giao dịch đầu cơ bán lẻ, lĩnh vực mà MAS đánh giá là nguồn rủi ro chủ yếu đối với người tiêu dùng.[13]

 

Lập trường này trở nên cứng rắn hơn sau năm 2022. Diễn biến đó mang lại bài học đáng chú ý cho các cơ quan quản lý, trong đó có Việt Nam, về việc cần tích hợp các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng ngay từ đầu thay vì chỉ bổ sung sau khủng hoảng. Từ tháng 1/2022, MAS cấm nhà cung cấp dịch vụ DPT quảng cáo đại chúng, tổ chức khuyến mãi công khai, tiếp thị thông qua người có ảnh hưởng trên mạng xã hội và vận hành ATM tiền mã hóa tại nơi công cộng.[14] Đây là biện pháp phòng ngừa đối với quá trình bình thường hóa giao dịch tiền mã hóa trong công chúng mà nhiều khu vực pháp lý khác từng để phát triển gần như không kiểm soát.

 

Sự thận trọng này càng có cơ sở sau đó. Three Arrows Capital, quỹ đầu cơ tiền mã hóa có trụ sở tại Singapore, sụp đổ vào giữa năm 2022. Đến tháng 11 cùng năm, sau khi FTX phá sản, Temasek — quỹ đầu tư quốc gia của Singapore — phải xóa sổ toàn bộ khoản đầu tư trị giá 275 triệu đô la Mỹ vào sàn giao dịch này. Hai sự kiện đã gây tổn hại đáng kể đến tham vọng xây dựng Singapore thành trung tâm tiền mã hóa, bởi các tổ chức liên quan ít nhất trên danh nghĩa đều hoạt động trong phạm vi tài phán của Singapore.[15]

 

MAS thực tế đã công bố tài liệu tham vấn về việc siết chặt bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch DPT và stablecoin từ cuối tháng 10/2022, chỉ vài tuần trước khi FTX sụp đổ. Các quy tắc hoàn thiện năm 2023 cấm nhà cung cấp DPT cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ, cung cấp giao dịch DPT có đòn bẩy, chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng để mua DPT hoặc trả thưởng cho việc giới thiệu khách hàng bán lẻ khác giao dịch DPT.[16] Các biện pháp này trực tiếp hạn chế những cơ chế từng thúc đẩy sự quá nóng của thị trường năm 2021: vay mượn, đòn bẩy và tăng trưởng dựa trên giới thiệu.

 

Động thái quản lý gần đây nhất của Singapore có ý nghĩa đặc biệt trực tiếp đối với nỗ lực của Việt Nam nhằm kiểm soát dòng vốn chảy ra nước ngoài. Trong nhiều năm, một số doanh nghiệp về mặt pháp lý đặt trụ sở tại Singapore nhưng chỉ cung cấp dịch vụ cho khách hàng ở nước ngoài đã hoạt động trong khoảng trống quản lý: không được cấp phép ở nơi nào, không chịu giám sát trực tiếp, nhưng vẫn hưởng lợi từ uy tín thể chế của Singapore.

Quy định về Dịch vụ và Thị trường Tài chính (Nhà cung cấp Dịch vụ Token Kỹ thuật số) năm 2025 đã chấm dứt kẽ hở này. Quy định yêu cầu các doanh nghiệp thuộc diện điều chỉnh phải xin cấp phép trước ngày 30/6/2025 hoặc ngừng hoạt động. MAS cũng nêu rõ rằng cơ quan này “nhìn chung sẽ không cấp phép” cho doanh nghiệp có toàn bộ khách hàng ở ngoài Singapore, bởi mô hình này làm gia tăng rủi ro rửa tiền trong khi MAS không thể giám sát một cách thực chất hoạt động được tiến hành hoàn toàn ở nước ngoài.[17]

 

Không có giai đoạn chuyển tiếp cho các doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu; họ phải dừng hoạt động khi thời hạn kết thúc.[18] Bài học đối với Việt Nam rất rõ ràng: ngay cả một khu vực pháp lý đã nhiều năm xây dựng danh tiếng thân thiện với tiền mã hóa cũng đi đến kết luận rằng tính chính danh của giấy phép chỉ được bảo đảm khi giấy phép đó gắn với hoạt động trong nước có thể được giám sát thực chất, chứ không chỉ với một địa chỉ đăng ký doanh nghiệp thuận tiện.

 

Đây cũng là nguyên tắc mà yêu cầu thanh toán bằng đồng Việt Nam và điều kiện về vốn trong nước của Việt Nam hướng đến thực thi ngay từ đầu, thay vì để thị trường phát triển trong khoảng trống pháp lý rồi mới xử lý. Trong suốt quá trình này, chế độ DPT của Singapore cũng được liên kết chặt chẽ với tiêu chuẩn “quy tắc du hành” của FATF và với hoạt động đối thoại giám sát thường xuyên giữa MAS với các cơ quan quản lý đồng cấp trong khu vực. Đây là lớp hợp tác quốc tế mà Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam chưa có nhiều điều kiện để phát triển.

 

Trung Quốc và Hong Kong: Giới hạn của lệnh cấm và một “van xả” được quản lý

 

Cách tiếp cận của Trung Quốc nằm ở cực đối lập với Singapore. Kết quả của cách tiếp cận này cho thấy lệnh cấm toàn diện chưa chắc là công cụ dứt khoát hoặc dễ thực thi hơn. Ngày 24/9/2021, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, phối hợp với chín cơ quan nhà nước khác — gồm Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Công an và Cục Quản lý Ngoại hối Nhà nước — tuyên bố mọi hoạt động liên quan đến tiền mã hóa là bất hợp pháp tại Trung Quốc. Các hoạt động bị cấm bao gồm quy đổi tiền tệ, vận hành sàn giao dịch, khớp lệnh, phát hành tiền mã hóa lần đầu và giao dịch phái sinh. Thông báo này còn đi xa hơn các biện pháp trước đó khi khẳng định rằng sàn giao dịch nước ngoài cung cấp dịch vụ trực tuyến cho cư dân Trung Quốc cũng bị xem là đang thực hiện hoạt động tài chính bất hợp pháp trong lãnh thổ Trung Quốc, bất kể sàn được thành lập ở đâu.[19]

 

Lệnh cấm không chỉ áp dụng đối với giao dịch mà còn mở rộng sang hoạt động khai thác tiền mã hóa. Bắc Kinh đồng thời tìm cách loại bỏ ngành khai thác trong nước bằng cách hạn chế đầu tư, tăng mạnh chi phí điện đối với các cơ sở khai thác bị phát hiện và ngăn chặn người mới gia nhập thị trường. Các biện pháp này đã nhanh chóng chấm dứt vị thế thống lĩnh của Trung Quốc trong hoạt động khai thác Bitcoin toàn cầu vào thời điểm đó.[20]

 

Lý do chính thức của Trung Quốc tập trung vào tội phạm tài chính, cờ bạc, huy động vốn bất hợp pháp và những xáo trộn mà biến động giá tiền mã hóa có thể gây ra đối với trật tự tài chính và kinh tế. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều nhà phân tích bên ngoài, động lực có ý nghĩa cấu trúc hơn là ngăn chặn tháo chạy vốn. Tiền mã hóa tạo ra một kênh chuyển dịch tài sản ra ngoài biên giới khó giám sát và kiểm soát hơn đáng kể so với chuyển khoản ngân hàng quốc tế thông thường. Vì vậy, chúng được xem là mối đe dọa đối với các biện pháp kiểm soát tài khoản vốn, vốn là nền tảng của mô hình quản lý tiền tệ và tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của Trung Quốc.[21]

 

i thiệu như điểm giao nhau giữa lệnh cấm của Trung Quốc và thiết kế thận trọng hơn của Việt Nam. Nó giúp lý giải vì sao Nghị quyết 05 của Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu định giá, thanh toán bằng đồng Việt Nam và sử dụng tài khoản ngân hàng chuyên biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài. Trong thiết kế này, rủi ro đối với tài khoản vốn không phải là vấn đề thứ yếu mà là một trong các mục tiêu điều chỉnh trung tâm.

 

Tuy nhiên, trường hợp Trung Quốc có ý nghĩa nhất đối với Việt Nam ở chỗ cho thấy lệnh cấm thực sự đạt được gì sau bốn năm. Dù phạm vi lệnh cấm rất rộng và các hoạt động liên quan bị hình sự hóa rõ ràng, giới quan sát trong ngành vẫn ước tính hơn 20 triệu người dùng tiền mã hóa ở Trung Quốc tiếp tục hoạt động. Phần lớn trong số này truy cập các sàn giao dịch nước ngoài thông qua VPN, trong khi chính quyền chỉ có thể phát hiện và chặn một phần các kết nối đó.[22]

 

USDT của Tether vẫn là kênh nạp và rút tiền chủ đạo cho hoạt động này. Đây chính là loại công cụ neo giá đô la Mỹ, khó truy vết và có khả năng hỗ trợ chuyển dịch vốn xuyên biên giới mà các biện pháp kiểm soát vốn của Trung Quốc hướng đến ngăn chặn. Trên thực tế, việc thực thi đối với người dùng cá nhân không phải lúc nào cũng nhất quán; một số trường hợp được ghi nhận chỉ bị phạt từ 1.000 đến 15.000 nhân dân tệ vì truy cập internet trái phép, thay vì chịu chế tài hình sự nghiêm khắc như ngôn ngữ của thông báo năm 2021 có thể gợi ý.[23]

 

Bắc Kinh không nới lỏng lập trường trước khoảng cách rõ rệt giữa phạm vi cấm đoán trên giấy tờ và khả năng thực thi trong thực tế. Ngược lại, vào tháng 2/2026, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và Ủy ban Quản lý Chứng khoán Trung Quốc đã phối hợp mở rộng chiến dịch kiểm soát, nhắm rõ hơn vào stablecoin và mã hóa tài sản (asset tokenisation). Động thái này cho thấy bản năng cấm đoán của Trung Quốc đại lục đang trở nên cứng rắn hơn, dù hiệu quả thực tế của lệnh cấm đối với người dùng phổ thông vẫn có những giới hạn đáng kể.[24]

 

Điểm đáng chú ý nhất về mặt phân tích không nằm ở bản thân lệnh cấm tại Trung Quốc đại lục, mà ở sự cùng tồn tại của lệnh cấm này với một mô hình quản lý hoàn toàn khác tại Hong Kong, dưới cùng một chủ quyền. Ủy ban Chứng khoán và Hợp đồng Tương lai Hong Kong (Securities and Futures Commission — SFC) đã đưa vào áp dụng chế độ cấp phép chính thức đối với Nền tảng Giao dịch Tài sản Ảo (Virtual Asset Trading Platform — VATP) từ ngày 1/6/2023. Các nền tảng đang hoạt động được hưởng một giai đoạn chuyển tiếp theo cơ chế “được coi như đã được cấp phép” đến ngày 31/5/2024 để hoàn tất việc tuân thủ.[25]

Đến tháng 2/2026, SFC đã cấp phép đầy đủ cho 13 nền tảng giao dịch tài sản ảo. Thay vì tiếp tục siết chặt chế độ này, cơ quan quản lý Hong Kong đã mở rộng quyền tiếp cận của các nền tảng được cấp phép đối với nguồn thanh khoản toàn cầu và cho phép mở rộng danh mục sản phẩm. Quỹ đạo chính sách này cho thấy Hong Kong đang củng cố vị thế như một trung tâm tài sản mã hóa có tính khu vực và kết nối quốc tế.[26]

 

Đáng chú ý, yêu cầu vốn tối thiểu để được cấp phép tại Hong Kong chỉ là 5 triệu đô la Hong Kong, tương đương khoảng 640.000 đô la Mỹ. Mức này tương phản rõ rệt với yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng của Việt Nam. Sự chênh lệch không chỉ phản ánh khác biệt về quy mô thị trường mà còn cho thấy hai triết lý quản lý khác nhau: Hong Kong đặt trọng tâm lớn hơn vào các yêu cầu tuân thủ, quản trị và giám sát hoạt động, trong khi Việt Nam sử dụng quy mô vốn như một hàng rào gia nhập chủ yếu.[27]

 

Sự tồn tại song song giữa lệnh cấm toàn diện tại Bắc Kinh và một thị trường được cấp phép, đang mở rộng tại Hong Kong trong khuôn khổ “một quốc gia, hai chế độ” không nhất thiết là mâu thuẫn. Trái lại, nó cho thấy một lựa chọn chính sách có chủ đích: giới lãnh đạo Trung Quốc dường như vẫn nhận thấy giá trị của một địa điểm được quản lý, có uy tín quốc tế, dành cho hoạt động tài sản mã hóa mang tính thể chế và xuyên biên giới. Điều kiện là địa điểm đó phải có sự tách biệt đủ rõ, cả về pháp lý lẫn địa lý, với hoạt động đầu cơ bán lẻ và rủi ro đối với tài khoản vốn tại Trung Quốc đại lục.

 

Ở quy mô nhỏ hơn, Việt Nam đang cố gắng tái tạo một phần logic này thông qua cơ chế phát hành sơ cấp chỉ dành cho nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, uy tín của Hong Kong với tư cách một trung tâm khu vực không chỉ đến từ cơ chế cấp phép; nó còn dựa vào hoạt động hợp tác giám sát tích cực giữa SFC với các cơ quan quản lý đồng cấp, bao gồm MAS của Singapore, và với các tổ chức thiết lập chuẩn mực quốc tế. Chính mạng lưới hợp tác đó giúp hồ sơ tuân thủ của một nền tảng được cấp phép tại Hong Kong có thể được công nhận và lưu chuyển xuyên biên giới theo cách mà một giấy phép thuần túy nội địa của Việt Nam hiện chưa thể đạt được.

 

Bối cảnh Việt Nam

 

Từ vùng xám đến khung pháp lý

Trước Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, cách tiếp cận của Việt Nam đối với tài sản mã hóa không phải là lệnh cấm toàn diện như Trung Quốc, cũng chưa phải là cơ chế cấp phép như Singapore. Thay vào đó, Việt Nam duy trì trong gần một thập kỷ một trạng thái pháp lý tương đối mơ hồ: không công nhận tiền mã hóa là phương tiện thanh toán hợp pháp, nhưng cũng không cấm tuyệt đối việc cá nhân nắm giữ, mua hoặc bán tài sản mã hóa.

Từ tháng 10/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã khẳng định Bitcoin và các loại tiền mã hóa tương tự không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp. Đến tháng 4/2018, Chỉ thị số 02/CT-NHNN, cùng với chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý hoạt động liên quan đến tiền mã hóa, cấm tổ chức tín dụng và tổ chức trung gian thanh toán cung cấp dịch vụ thanh toán, phát hành thẻ hoặc thực hiện chuyển khoản liên quan đến tiền mã hóa.[28]

 

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, pháp luật Việt Nam không cấm hoàn toàn cá nhân sở hữu, mua hoặc bán tài sản mã hóa. Khoảng trống pháp lý đó, kết hợp với dân số trẻ, mức độ tiếp cận công nghệ số cao và sự phát triển chưa đồng đều của các dịch vụ tài chính chính thức tạo điều kiện để giao dịch tài sản mã hóa tăng trưởng mạnh. Phần lớn hoạt động diễn ra qua các sàn giao dịch ở nước ngoài, ngoài phạm vi giám sát và quản lý thuế hiệu quả của cơ quan chức năng Việt Nam.[29]

 

Luật Công nghiệp công nghệ số, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã thay đổi căn bản cách phân loại pháp lý đối với tài sản số. Luật chính thức công nhận tài sản số là tài sản theo Bộ luật Dân sự; trong đó, tài sản mã hóa được xác định là một loại tài sản số được xác thực bằng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao. Đồng thời, luật không công nhận tài sản mã hóa là tiền pháp định hoặc phương tiện thanh toán hợp pháp cho hàng hóa và dịch vụ.[30]

 

Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, ban hành ngày 9/9/2025, đã chuyển sự công nhận về mặt phân loại pháp lý thành một khuôn khổ thí điểm cụ thể. Nghị quyết thiết lập hai thị trường riêng biệt, có cấu trúc và đối tượng tham gia khác nhau, thay vì một thị trường tài sản mã hóa thống nhất.

 

Thứ nhất, kênh phát hành sơ cấp cho phép doanh nghiệp Việt Nam phát hành tài sản mã hóa mới dựa trên tài sản cơ sở là tài sản thực. Tuy nhiên, tài sản cơ sở không bao gồm chứng khoán và các dạng số của tiền pháp định. Các tài sản mã hóa này chỉ được chào bán cho nhà đầu tư nước ngoài; mọi giao dịch tiếp theo cũng chỉ được thực hiện giữa các nhà đầu tư nước ngoài thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa do Bộ Tài chính cấp phép và tài khoản ngân hàng chuyên biệt bằng đồng Việt Nam.[31]

 

Thứ hai, cơ chế cấp phép “tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa” cho phép các nền tảng được cấp phép cung cấp hạ tầng giao dịch, dịch vụ lưu ký và thanh toán. Đây là công cụ chủ yếu để Việt Nam đưa hoạt động giao dịch tài sản mã hóa của nhà đầu tư cá nhân và tổ chức — vốn hiện chủ yếu diễn ra trên các nền tảng nước ngoài — vào phạm vi quản lý trong nước.[32]

 

Tất cả hoạt động phát hành, giao dịch và thanh toán trong hai kênh này đều phải thực hiện bằng đồng Việt Nam. Quy định này nhằm hạn chế kênh chuyển dịch vốn dựa trên stablecoin neo giá đô la Mỹ — rủi ro đã được phân tích trong trường hợp Trung Quốc — đồng thời vẫn cho phép người Việt Nam tiếp cận một thị trường tài sản mã hóa trong nước được pháp luật cho phép.[33]

 

Các điều kiện cấp phép đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của Việt Nam đặc biệt chặt chẽ theo chuẩn mực quốc tế. Doanh nghiệp xin cấp phép phải là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần được thành lập tại Việt Nam, với vốn điều lệ đã góp tối thiểu 10.000 tỷ đồng và toàn bộ phần vốn góp bằng đồng Việt Nam. Ít nhất 65% vốn điều lệ phải do cổ đông tổ chức góp; trong đó, trên 35% phải đến từ ít nhất hai tổ chức thuộc các nhóm như ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc doanh nghiệp công nghệ. Các tổ chức này phải có kết quả kinh doanh có lãi trong hai năm liên tiếp, với báo cáo tài chính được kiểm toán không có ý kiến ngoại trừ. Tổng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 49% vốn điều lệ của tổ chức được cấp phép.

 

Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu chi tiết về năng lực nhân sự và công nghệ. Doanh nghiệp phải có tổng giám đốc với ít nhất hai năm kinh nghiệm quản lý cấp cao trong lĩnh vực tài chính; giám đốc công nghệ có tối thiểu năm năm kinh nghiệm công nghệ thông tin trong lĩnh vực tài chính; ít nhất mười nhân sự công nghệ sở hữu chứng chỉ an ninh mạng; và hệ thống công nghệ thông tin cốt lõi đạt yêu cầu an toàn thông tin cấp độ 4.[34]

 

Hồ sơ xin cấp phép được nộp cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cơ quan tiếp nhận và điều phối quá trình thẩm định. Bộ Tài chính, phối hợp với Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quyết định việc cấp phép trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; tổ chức được cấp phép có thêm 30 ngày để đưa hệ thống vào hoạt động.[35]

 

Dù Nghị quyết 05 không quy định con số trần cứng đối với số lượng nền tảng được cấp phép, cơ quan quản lý đã phát tín hiệu rằng nhóm đầu tiên có thể chỉ gồm khoảng năm sàn. Đây là một cơ chế hạn chế gia nhập thị trường có chủ đích: xét về mục tiêu, nó tương tự thị trường được sàng lọc của Singapore, nhưng sử dụng công cụ khác — ngưỡng vốn rất cao thay vì quy trình thẩm định chuyên sâu dựa trên năng lực tuân thủ.[36]

 

Khi đánh giá yêu cầu vốn 10.000 tỷ đồng, cần tránh xem đây chỉ là hàng rào cạnh tranh. Điều kiện này cũng có thể được hiểu như một công cụ bảo đảm an toàn thận trọng và năng lực vận hành. Nghị quyết 05 kết hợp yêu cầu vốn với các chuẩn mực về nhân sự, an ninh mạng, lưu ký tài sản và quản trị rủi ro, qua đó tạo ra một bộ chỉ báo thay thế về khả năng vận hành của nền tảng.[37]

 

Theo cách hiểu này, mức vốn 10.000 tỷ đồng không đơn thuần là phép thử về quy mô tài sản. Nó là một vùng đệm về khả năng thanh toán và năng lực chống chịu, nhằm bảo đảm nền tảng có thể bảo vệ tài sản khách hàng, ứng phó với sự cố an ninh mạng, xử lý tình trạng rút tiền hàng loạt hoặc hấp thụ tổn thất khi một đối tác lớn thất bại. Mục tiêu là tránh lặp lại những thiệt hại mà khách hàng của FTX và Three Arrows Capital phải gánh chịu trong năm 2022.

 

Dù vậy, vẫn còn một câu hỏi thực nghiệm quan trọng: liệu mức 10.000 tỷ đồng đã được xác định phù hợp với mục tiêu bảo đảm khả năng phục hồi hay chủ yếu nhằm loại bỏ các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn khỏi thị trường. Bằng chứng so sánh trong chương này chưa thể trả lời dứt khoát. Tuy nhiên, lập luận về an toàn vận hành cần được xem xét song song với lo ngại về mức độ khép kín cạnh tranh, thay vì bị bác bỏ hoàn toàn.

 

Ai vượt qua ngưỡng?

 

Theo Quyết định số 96/QĐ-BTC, Bộ Tài chính mở tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép từ ngày 20/1/2026. Đến tháng 3, năm thực thể được cho là đã vượt qua vòng sàng lọc ban đầu gồm: TCEX, có liên hệ với Techcombank; CAEX, được VPBank Securities và công ty công nghệ số LynkiD hậu thuẫn; LPEX, liên kết với LPBank; VIXEX, được VIX Securities hậu thuẫn; và một thực thể liên quan đến Sun Group.[38]

 

Thủ tướng Lê Minh Hưng, người nhậm chức vào tháng 4/2026, đã chỉ đạo tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội trong tháng đó rằng một nền tảng giao dịch thí điểm nên được triển khai trong quý 2 năm 2026.[39] Tuy nhiên, các báo cáo cho thấy tiến độ này đã bị lùi lại, và tính đến thời điểm tháng 8/2026, vẫn chưa có giấy phép nào được cấp chính thức.

 

Sau khi giấy phép đầu tiên có hiệu lực, kế hoạch được nêu là dành cho nhà đầu tư Việt Nam thời gian chuyển tiếp sáu tháng trước khi việc tiếp tục giao dịch trên nền tảng nước ngoài không được cấp phép có thể bị xử lý. Cách tiếp cận này kết hợp khuyến khích chuyển dịch hoạt động vào thị trường trong nước với chế tài đối với hành vi không tuân thủ, nhằm đạt được trong thời gian ngắn điều mà lệnh cấm hoàn toàn của Trung Quốc chưa đạt được sau nhiều năm.[40]

 

Danh tính của các doanh nghiệp vượt qua vòng sàng lọc ban đầu cung cấp một chỉ dấu quan trọng về cách vận hành thực tế của yêu cầu vốn. Câu hỏi đặt ra là liệu ngưỡng vốn trong Nghị quyết 05 chủ yếu hoạt động như một bộ lọc an toàn thận trọng, hay như cơ chế phân bổ thị trường cho một số doanh nghiệp đương nhiệm có liên hệ với khu vực ngân hàng. Dựa trên dữ kiện hiện có, câu trả lời có lẽ là cả hai.

 

CAEX là ví dụ rõ nhất. Tháng 4 năm 2026, CAEX — tên đầy đủ là Sàn Giao dịch Tài sản Tiền mã hóa Thịnh vượng Việt Nam — cho biết HashKey Capital niêm yết tại Hong Kong và OKX Ventures, bộ phận đầu tư mạo hiểm của OKX, sẽ đầu tư vốn và hỗ trợ nền tảng đáp ứng yêu cầu vốn 10.000 tỷ đồng. Các đối tác này cũng dự kiến cung cấp hạ tầng kỹ thuật, hệ thống an ninh, khung tuân thủ, năng lực quản trị rủi ro và kết nối thanh khoản, với cơ cấu sở hữu được thiết kế để duy trì tổng tỷ lệ vốn nước ngoài trong giới hạn 49%.[41]

 

Xét theo hướng tích cực, đây là kết quả mà một yêu cầu về vốn và cơ cấu sở hữu được thiết kế tốt có thể hướng tới. Các định chế tài sản số có kinh nghiệm quốc tế có thể bổ sung chuyên môn về tuân thủ, vận hành thị trường và tạo lập thanh khoản cho một nền tảng do nhà đầu tư trong nước nắm quyền kiểm soát. Ví dụ, HashKey có giấy phép tại nhiều khu vực pháp lý và đã niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hong Kong vào tháng 12/2025. Điều này cho thấy khả năng chuyển giao công nghệ và năng lực quản trị, thay vì chỉ là bổ sung vốn.[42]

 

Tuy vậy, mô hình này cũng có mặt trái. Một số doanh nghiệp tiền mã hóa bản địa, bao gồm KyberSwap và Coin98 — những dự án đã góp phần xây dựng cộng đồng người dùng tài sản mã hóa tại Việt Nam từ trước khi Nghị quyết 05 ra đời — được cho là đã tạm dừng hoặc thu hẹp hoạt động trong nước thay vì cố đáp ứng ngưỡng vốn rất cao. Theo quan điểm công khai của một số người trong ngành, rất ít doanh nghiệp thuần túy về tiền mã hóa, kể cả ở quy mô quốc tế, có thể độc lập đáp ứng mức vốn này.[43]

 

Khoảng cách giữa yêu cầu vốn của Việt Nam và các thị trường trong khu vực là rất lớn. Nếu quy đổi tương đương khoảng 380 triệu đô la Mỹ, ngưỡng vốn của Việt Nam cao gần 600 lần mức 5 triệu đô la Hong Kong của Hong Kong. Khoảng cách này khó có thể chỉ được lý giải bằng khác biệt về quy mô thị trường hoặc rủi ro hệ thống; nó cho thấy một lựa chọn rõ rệt về chính sách gia nhập thị trường.[44]

 

Tuy nhiên, cũng không nên mặc định mọi doanh nghiệp bị loại trừ bởi ngưỡng vốn đều phù hợp để được cấp phép nếu Việt Nam áp dụng mô hình thẩm định theo kiểu Singapore. Các doanh nghiệp tiền mã hóa trong nước không phải một nhóm đồng nhất. KyberSwap vận hành giao thức sàn giao dịch phi tập trung, không có mô hình lưu ký tài sản khách hàng hoặc bảng cân đối kế toán theo cấu trúc thông thường của một sàn tập trung. Do đó, đối tượng này về bản chất khác với một nền tảng tập trung nắm giữ tiền và tài sản của khách hàng. Những doanh nghiệp rút lui khác cũng có thể khác biệt đáng kể về quản trị, cơ chế kiểm soát rủi ro và mức độ trưởng thành trong tuân thủ.

 

Vì vậy, sự căng thẳng trung tâm nằm ở lựa chọn công cụ điều tiết. Việt Nam đã không đi theo lệnh cấm toàn diện của Trung Quốc mà tiếp thu một số yếu tố trong cách Trung Quốc bảo vệ kỷ luật tài khoản vốn, thể hiện qua kênh phát hành chỉ dành cho nhà đầu tư nước ngoài và yêu cầu thanh toán bằng đồng Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam cũng không sử dụng cơ chế thẩm định sâu về năng lực tuân thủ và hành vi thị trường như Singapore làm công cụ sàng lọc chủ đạo.

 

Thay vào đó, Việt Nam chọn một ngưỡng vốn đơn lẻ và rất cao. Về mặt cấu trúc, lựa chọn này ưu ái các ngân hàng thương mại và tập đoàn lớn — những chủ thể đã có khả năng tiếp cận nguồn vốn quy mô tổ chức — hơn là các doanh nghiệp công nghệ có năng lực chuyên môn nhưng quy mô vốn nhỏ hơn. Đây lại là những doanh nghiệp đã góp phần hình thành thị trường mà Nghị quyết 05 hiện hướng đến chính thức hóa.

 

Việc đánh đổi này có hợp lý hay không sẽ phụ thuộc phần lớn vào một câu hỏi chưa thể trả lời khi các giấy phép chưa được cấp chính thức: liệu các nền tảng được lựa chọn có thể cung cấp trải nghiệm giao dịch trong nước đủ sức cạnh tranh với sàn nước ngoài về thanh khoản, mức phí và phạm vi sản phẩm hay không. Nếu không, người dùng Việt Nam có thể tiếp tục giao dịch qua các nền tảng ở nước ngoài, sử dụng chính những biện pháp lách luật bằng VPN đã làm suy giảm hiệu quả thực tế của lệnh cấm tại Trung Quốc.

 

Bảo vệ người tiêu dùng, lưu ký và vấn đề đồng Việt Nam kỹ thuật số

 

Nghị quyết 05 và phần phân tích trước chủ yếu tập trung vào kỷ luật tài khoản vốn và cấu trúc thị trường. Tuy nhiên, tính chính danh của một cơ chế cấp phép trong mắt người dùng cuối cùng cũng phụ thuộc vào việc cơ chế đó có bảo vệ họ hiệu quả trước gian lận, thao túng thị trường và rủi ro mất tài sản lưu ký hay không. Trên bình diện quốc tế, các mục tiêu này đã trở nên quan trọng không kém kiểm soát dòng vốn trong quản lý tài sản mã hóa.

 

So với các quy định bảo vệ nhà đầu tư bán lẻ chi tiết mà Singapore ban hành năm 2023, Nghị quyết 05 hiện công bố tương đối ít quy định cụ thể về một số vấn đề then chốt. Các vấn đề đó gồm yêu cầu tách bạch tài sản của nền tảng khỏi tài sản của khách hàng; cơ chế giải quyết tranh chấp thống nhất cho người dùng cho rằng sàn giao dịch đã xử lý sai tài sản của họ; và quy tắc xác định trách nhiệm của nền tảng khi xảy ra sự cố an ninh mạng hoặc thất thoát tài sản lưu ký.

 

Các khoảng trống này cần được khép lại với mức độ khẩn cấp không kém những vấn đề về cạnh tranh và cấu trúc thị trường do yêu cầu vốn cao đặt ra. Kinh nghiệm của Việt Nam trong thập kỷ qua cho thấy đây không chỉ là rủi ro giả định. Nhiều nhà đầu tư trong nước đã chịu thiệt hại đáng kể từ các mô hình tiền mã hóa và kinh doanh đa cấp không được quản lý. Chính nhóm người dùng này là đối tượng mà chiến lược đưa hoạt động giao dịch vào trong nước của Nghị quyết 05 hướng tới bảo vệ.

 

Nếu các nền tảng được cấp phép không cung cấp cơ chế bảo vệ và khắc phục quyền lợi rõ ràng hơn các sàn giao dịch nước ngoài mà chúng được kỳ vọng thay thế, sẽ khó tạo dựng niềm tin cần thiết để thu hút người dùng chuyển sang thị trường trong nước. Vì vậy, các quy định hướng dẫn cần ưu tiên ít nhất bốn nội dung: tách biệt và bảo toàn tài sản khách hàng; tiêu chuẩn quản lý ví và khóa riêng; cơ chế bồi thường hoặc xử lý khi nền tảng mất khả năng thanh toán; và kênh tiếp nhận, giải quyết khiếu nại độc lập, dễ tiếp cận.

 

Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng cũng liên hệ trực tiếp với một câu hỏi lớn hơn: tại sao Việt Nam tập trung xây dựng mô hình sàn giao dịch được cấp phép cho tài sản mã hóa do tư nhân phát hành, thay vì đáp ứng nhu cầu về một công cụ thanh toán số nhanh, chi phí thấp và thuận tiện thông qua một đồng tiền số do Nhà nước phát hành? Nói cách khác, thay vì chỉ điều chỉnh thị trường tài sản mã hóa tư nhân, liệu Việt Nam có nên phát triển một đồng Việt Nam kỹ thuật số dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước?

 

Trên thực tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng bước nghiên cứu theo hướng này, dù theo một lộ trình thể chế riêng với Nghị quyết 05. Năm 2021, Thủ tướng Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (central bank digital currency — CBDC). Đến tháng 12/2022, Ngân hàng Nhà nước công bố đề cương nghiên cứu nội bộ; tháng 10/2025, cơ quan này giao Viettel và MobiFone nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh kỹ thuật và chính sách của một đồng tiền số quốc gia để báo cáo Chính phủ.[45]

 

Một đồng Việt Nam kỹ thuật số, nếu được thiết kế và vận hành hiệu quả, không thể thay thế hoàn toàn khuôn khổ cấp phép sàn giao dịch tài sản mã hóa. CBDC là nghĩa vụ nợ trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước, không phải công cụ để người dùng nắm giữ hoặc giao dịch Bitcoin, Ethereum hay các tài sản mã hóa do tư nhân phát hành. Do đó, CBDC không thể loại bỏ nhu cầu điều chỉnh đối với sàn giao dịch, tổ chức lưu ký và các trung gian cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa.

 

Tuy nhiên, CBDC có thể trực tiếp xử lý vấn đề hẹp hơn nhưng mang tính nền tảng mà phần phân tích về stablecoin đã chỉ ra: nhu cầu sử dụng một công cụ thanh toán số nhanh, chi phí thấp, ít ma sát và mang tính số hóa bản địa. Đây là một phần nguyên nhân khiến stablecoin neo giá đô la Mỹ, đặc biệt là USDT, trở nên hấp dẫn với người dùng.

 

Nếu được triển khai phù hợp, đồng Việt Nam kỹ thuật số có thể mang lại những tiện ích thanh toán tương tự mà không tạo ra mức độ phơi nhiễm đối với tháo chạy vốn và tài khoản vốn như stablecoin tư nhân neo giá đô la Mỹ. Khác với stablecoin do doanh nghiệp tư nhân phát hành, giá trị và cung tiền của CBDC vẫn thuộc phạm vi kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước.[46]

 

Nhìn tổng thể, khung cấp phép sàn giao dịch theo Nghị quyết 05 và chương trình nghiên cứu CBDC của Ngân hàng Nhà nước nên được xem là hai cấu phần bổ sung của cùng một chiến lược tăng cường chủ quyền quản lý. Một cấu phần hướng tới đưa hoạt động giao dịch tài sản mã hóa hiện diễn ra trên các nền tảng nước ngoài vào phạm vi giám sát trong nước. Cấu phần còn lại hướng tới giảm nhu cầu sử dụng các công cụ thanh toán thay thế đô la — vốn là động lực quan trọng khiến stablecoin ở nước ngoài hấp dẫn người dùng Việt Nam.

Vì vậy, Việt Nam nên điều phối hai hướng chính sách này như một chương trình thống nhất, thay vì coi chúng là hai sáng kiến riêng rẽ với các mốc triển khai hành chính khác nhau. Điều này đòi hỏi sự phối hợp thực chất giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Công an và các cơ quan liên quan, đặc biệt trong việc thiết kế tiêu chuẩn dữ liệu, định danh người dùng, bảo vệ quyền riêng tư, chống rửa tiền và cơ chế xử lý tranh chấp.

 

Khuyến nghị chính sách

 

Ngắn hạn

·         

·        Công bố tiêu chí thẩm định và phương pháp chấm điểm. Bên cạnh các điều kiện pháp định về vốn và cơ cấu sở hữu trong Nghị quyết 05, cơ quan quản lý nên công khai các tiêu chí đánh giá cụ thể đối với hồ sơ xin cấp phép, cũng như phương pháp chấm điểm hoặc thẩm định. Điều này giúp nhóm khoảng năm tổ chức được cấp phép được hiểu và có thể được đánh giá độc lập như kết quả của một quy trình minh bạch, dựa trên năng lực, thay vì chủ yếu dựa trên quy mô vốn hoặc khả năng tiếp cận chính sách.

·        Thiết lập cơ chế phê duyệt trước đối với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Việt Nam nên xây dựng một quy trình thẩm định nhanh, có điều kiện, dành cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đã được cơ quan quản lý uy tín cấp phép, đặc biệt là Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) hoặc Ủy ban Chứng khoán và Hợp đồng Tương lai Hong Kong (SFC). Cơ chế này áp dụng cho các khoản đầu tư thiểu số trong giới hạn sở hữu nước ngoài 49%, qua đó thể chế hóa mô hình CAEX–HashKey Capital–OKX Ventures thành chính sách có thể áp dụng rộng rãi thay vì một thỏa thuận riêng lẻ. Mục tiêu là thu hút có hệ thống năng lực về thanh khoản, quản trị rủi ro, an ninh hệ thống và tuân thủ quốc tế.

·        Công bố dữ liệu cạnh tranh của các nền tảng được cấp phép. Mỗi nền tảng nên định kỳ công bố dữ liệu so sánh về phí giao dịch, chênh lệch giá, thanh khoản và danh mục tài sản cung cấp so với các sàn nước ngoài lớn mà người dùng Việt Nam đang sử dụng. Những chỉ số này cho phép cơ quan quản lý và công chúng đánh giá liệu thị trường trong nước có đủ sức cạnh tranh với lựa chọn ở nước ngoài hay không. Không nên giả định rằng việc cấp phép, tự thân nó, sẽ tự động kéo khối lượng giao dịch về nước.

·        Quy định chuẩn bảo vệ người tiêu dùng như điều kiện cấp phép. Các yêu cầu tối thiểu cần bao gồm tách biệt tài sản khách hàng khỏi tài sản của nền tảng; tiêu chuẩn rõ ràng về quản lý khóa riêng và ví lưu ký; cơ chế xử lý tranh chấp thống nhất; nghĩa vụ thông báo sự cố; và quy định trách nhiệm, bồi thường khi xảy ra vi phạm an ninh do lỗi của nền tảng. Những tiêu chuẩn này cần là điều kiện bắt buộc trước khi vận hành, thay vì được bổ sung sau khi thị trường đã phát triển.

·        Thiết lập kênh hợp tác giám sát quốc tế. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nên xây dựng cơ chế hợp tác chính thức với MAS, SFC và các cơ quan quản lý phù hợp khác. Nội dung hợp tác cần bao gồm trao đổi thông tin theo “quy tắc du hành”, xác minh tình trạng cấp phép, cảnh báo về rủi ro thị trường, chia sẻ dữ liệu phục vụ chống rửa tiền và phối hợp thực thi đối với hoạt động xuyên biên giới. Cơ chế này sẽ giúp chế độ cấp phép của Việt Nam gắn với các chuẩn mực quốc tế đang hình thành, thay vì phát triển tách biệt.

 

Trung hạn

·         

·        Tiến hành rà soát độc lập giữa kỳ. Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Công an nên ủy quyền một cuộc rà soát độc lập, công khai vào khoảng giữa thời hạn thí điểm. Rà soát không nên chỉ đo tỷ lệ hoạt động chuyển từ nền tảng nước ngoài về các sàn trong nước, mà cần đánh giá đầy đủ các chỉ số sau: Tỷ lệ giá trị và số lượng giao dịch chuyển sang nền tảng được cấp phép; Doanh thu thuế thu được từ hoạt động tài sản mã hóa; Số lượng, tính chất và tỷ lệ giải quyết khiếu nại của người dùng; Kết quả kiểm tra tuân thủ chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố; Mức độ tập trung thị trường giữa các nền tảng được cấp phép; Tỷ trọng sở hữu do các nhà đầu tư mới nắm giữ, thay vì chỉ tập trung ở nhóm doanh nghiệp ban đầu; Mức độ cạnh tranh của phí, thanh khoản và phạm vi sản phẩm so với sàn nước ngoài. Nếu tỷ lệ dịch chuyển vào thị trường trong nước vẫn thấp trên tập chỉ số này, Việt Nam nên xem xét điều chỉnh ngưỡng vốn hoặc thiết kế cấp phép, thay vì chỉ tăng cường biện pháp chặn nền tảng nước ngoài. Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy việc siết thực thi đối với truy cập xuyên biên giới qua VPN có thể chỉ đạt hiệu quả một phần.

·        Xây dựng cơ chế cấp phép phân tầng. Việt Nam nên bổ sung một hạng giấy phép thứ hai với yêu cầu vốn thấp hơn, tách biệt với giấy phép vận hành thị trường giao dịch đầy đủ. Mô hình này có thể tham khảo các hạng mục giấy phép môi giới, đại lý hoặc lưu ký của Hong Kong. Hạng giấy phép thấp hơn sẽ tạo lối quay lại thị trường hợp pháp cho các doanh nghiệp công nghệ và tiền mã hóa bản địa như KyberSwap, Coin98 hoặc các doanh nghiệp tương tự, với vai trò nhà cung cấp dịch vụ, nhà phát triển hạ tầng, môi giới giới thiệu hoặc đơn vị hỗ trợ lưu ký, thay vì buộc họ phải trở thành nhà vận hành sàn giao dịch toàn diện.

·        Xây dựng hạ tầng báo cáo theo giao dịch. Ngân hàng Nhà nước cần có hạ tầng dữ liệu cho phép quan sát dòng vốn tổng hợp đi qua các nền tảng được cấp phép, trong khi vẫn bảo đảm nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân và giới hạn tiếp cận dữ liệu cá thể. Hệ thống cần hỗ trợ giám sát khối lượng giao dịch, luồng thanh toán, mức độ tập trung rủi ro, giao dịch bất thường và các chỉ dấu về chuyển dịch vốn xuyên biên giới. Khi đó, yêu cầu thanh toán bằng đồng Việt Nam mới có thể được kiểm chứng bằng dữ liệu thực tế, thay vì chỉ được giả định là hiệu quả trên cơ sở thiết kế pháp lý.

·        Theo dõi rủi ro dịch chuyển sang DeFi. Cơ quan quản lý nên theo dõi tỷ trọng hoạt động chuyển từ các sàn tập trung sang giao thức phi tập trung, ví không lưu ký và các công cụ giao dịch không có trung gian. Đây là phản ứng có thể xảy ra nếu chi phí tuân thủ, mức phí hoặc giới hạn sản phẩm tại sàn trong nước khiến người dùng tiếp tục tìm kiếm lựa chọn bên ngoài. Việt Nam nên dựa vào hướng dẫn đang phát triển của FATF về DeFi và ví không lưu ký, tập trung vào giám sát rủi ro, chia sẻ dữ liệu, cảnh báo người dùng và giáo dục công chúng, thay vì cho rằng cơ chế cấp phép đối với sàn tập trung có thể bao phủ trực tiếp lĩnh vực này.

·         

Dài hạn

·         

·        Xây dựng chế độ thuế chuyên biệt đối với tài sản mã hóa. Việt Nam nên hoàn thiện một khuôn khổ thuế riêng cho tài sản mã hóa, thay vì tiếp tục dựa vào cách áp dụng tương tự đối với chứng khoán hoặc các loại tài sản truyền thống. Khuôn khổ này cần làm rõ nghĩa vụ thuế đối với giao dịch, đầu tư, khai thác, lưu ký, phát hành và các dịch vụ liên quan. Mức thuế cũng cần được thiết kế sao cho các nền tảng được cấp phép trong nước vẫn có khả năng cạnh tranh về chi phí với các lựa chọn ở nước ngoài.

·        Điều phối chính sách CBDC và tài sản mã hóa. Nghiên cứu về tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương cần được đặt trong cùng một chiến lược với khung cấp phép sàn giao dịch theo Nghị quyết 05. Một đồng Việt Nam kỹ thuật số được thiết kế tốt có thể giảm nhu cầu sử dụng USDT và các stablecoin neo giá đô la Mỹ như công cụ thanh toán hoặc lưu giữ giá trị ngắn hạn. Trước khi xem xét cho phép stablecoin tư nhân neo giá đồng Việt Nam, Việt Nam nên ưu tiên đánh giá khả năng một CBDC đáp ứng an toàn và hiệu quả nhu cầu thanh toán số trong nước.

·        Rà soát toàn diện trước khi kết thúc thí điểm. Trước khi Nghị quyết 05 hết hiệu lực sau năm năm, Chính phủ cần tổ chức đánh giá chính thức về thiết kế thị trường. Đánh giá này phải trả lời rõ liệu nhóm nền tảng ban đầu, yêu cầu vốn cao và giới hạn gia nhập thị trường nên được giữ nguyên, mở rộng hay chuyển đổi sang mô hình phân tầng. Khung so sánh của chương này có thể là điểm tham chiếu hữu ích: mô hình sàng lọc dựa trên năng lực và tuân thủ của Singapore; giới hạn thực thi của lệnh cấm tại Trung Quốc; và cơ chế gia nhập linh hoạt nhưng giám sát chặt chẽ tại Hong Kong.

 

Kết luận

 

Chương trình thí điểm tài sản mã hóa của Việt Nam trả lời một câu hỏi mà Singapore và Trung Quốc đã giải quyết theo hai hướng rất khác nhau: một nhà nước có đồng tiền được quản lý và lo ngại chính đáng về tháo chạy vốn nên làm gì khi một bộ phận lớn dân số đã giao dịch tài sản mã hóa ở quy mô không thể phớt lờ.

 

Trung Quốc chọn cấm đoán. Cách tiếp cận này bền vững về mặt pháp lý nhưng chỉ đạt hiệu quả một phần trong thực tế: hoạt động giao dịch vẫn tiếp diễn thông qua nền tảng nước ngoài và các công cụ vượt chặn, trong khi Hong Kong duy trì một trung tâm tài sản mã hóa được cấp phép, quản lý chặt chẽ và kết nối quốc tế. Singapore chọn một con đường khác: mở cơ chế xin cấp phép nhưng sàng lọc rất nghiêm ngặt thông qua năng lực quản trị, tuân thủ và bảo vệ người tiêu dùng.

 

Việt Nam không đi theo hoàn toàn mô hình nào mà tiếp thu mối lo cốt lõi của Trung Quốc về tháo chạy vốn và chủ quyền tiền tệ, nhưng thay vì cấm đoán, lựa chọn đưa hoạt động tài sản mã hóa vào phạm vi quản lý trong nước. Các công cụ chủ yếu gồm yêu cầu thanh toán bằng đồng Việt Nam, kênh phát hành sơ cấp dành cho nhà đầu tư nước ngoài, giới hạn sở hữu nước ngoài và ngưỡng vốn đặc biệt cao đối với nền tảng giao dịch.

 

Điểm chưa chắc chắn lớn nhất là liệu ngưỡng vốn này có tạo ra một thị trường an toàn, có thanh khoản và đủ sức cạnh tranh hay không. Trường hợp CAEX cho thấy yêu cầu vốn cao có thể thu hút đối tác quốc tế mang theo công nghệ, chuyên môn tuân thủ và năng lực tạo lập thị trường. Tuy nhiên, cùng cơ chế đó cũng có nguy cơ củng cố vị thế của một nhóm nhỏ ngân hàng và tập đoàn lớn, trong khi loại bỏ các doanh nghiệp tiền mã hóa nội địa đã góp phần xây dựng thị trường từ sớm.

 

Bên dưới các công cụ khác nhau — lệnh cấm, tiêu chí cấp phép, yêu cầu vốn và giới hạn sở hữu — là một mục tiêu chung: chủ quyền quản lý. Đó là năng lực của nhà nước trong việc quan sát, đánh thuế và quy trách nhiệm đối với một lĩnh vực tài chính đang tăng trưởng nhanh, mà trên thực tế được trung gian hóa nhiều bởi stablecoin như USDT hơn là Bitcoin. Nghị quyết 05 vì thế không chủ yếu là tuyên bố về việc tài sản mã hóa tốt hay xấu, mà là nỗ lực khôi phục năng lực quản lý đối với một thị trường đã phát triển phần lớn ở ngoài phạm vi giám sát trong nước.

 

Việt Nam đã lựa chọn một con đường riêng, nằm giữa cấm đoán và tự do hóa. Thành công của lựa chọn này không nên được mặc định từ thiết kế ban đầu. Nó cần được đánh giá liên tục bằng dữ liệu về mức độ dịch chuyển giao dịch về thị trường trong nước, mức độ bảo vệ người tiêu dùng, hiệu quả chống rửa tiền, cạnh tranh về phí và thanh khoản, cũng như khả năng thu hút năng lực công nghệ và quản trị thực chất. Chỉ khi đó, Việt Nam mới có thể xác định liệu chương trình thí điểm đang tạo ra một thị trường trong nước đáng tin cậy, hay chỉ tái phân bổ đặc quyền tiếp cận vào một thị trường vẫn khó cạnh tranh với các nền tảng ở nước ngoài.

Bài viết trích từ bản thảo “Vượt ra ngoài gia công: Kinh nghiệm quốc tế về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho Việt Nam”. Rất mong nhận được ý kiến phản biện, góp ý của quý độc giả. Mọi liên hệ, góp ý xin gửi về: nghiencuuquocte@gmail.com. Trân trọng cảm ơn! 

 

————

[1] Chainalysis, “The 2025 Geography of Cryptocurrency Report,” https://www.chainalysis.com/reports/2025-geography-of-cryptocurrency-report/; AInvest, “Vietnam’s Crypto Pilot: A $230 Billion Market Goes Onshore,” https://www.ainvest.com/news/vietnam-crypto-pilot-230-billion-market-onshore-2604/.

 

[2] VnEconomy, “Vietnam Ranks 4th in Global Crypto Adoption 2025,” https://en.vneconomy.vn/vietnam-ranks-fourth-globally-in-crypto-adoption.htm; Chainalysis, “The Chainalysis 2025 Global Crypto Adoption Index,” https://www.chainalysis.com/blog/2025-global-crypto-adoption-index/.

 

[3] Financial Stability Board, “FSB Global Regulatory Framework for Crypto-Asset Activities,” https://www.fsb.org/2023/07/fsb-global-regulatory-framework-for-crypto-asset-activities/; Bank for International Settlements, Financial Stability Institute, “Implementation of Global Regulatory Framework for Cryptoassets and Stablecoins,” https://www.bis.org/fsi/fsisummaries/exsum_24901.htm.

 

[4] Viet An Law, “Resolution 05/2025/NQ-CP: Vietnam’s Crypto Asset Market Program,” https://vietanlaw.com/resolution-05-2025-nq-cp-vietnams-crypto-asset-market-program/; Fintech Singapore, “Vietnam Opens Crypto Licensing, Sets US$400 Million Capital Bar,” https://fintechnews.sg/125009/vietnam/vietnam-crypto-licensing/.

 

[5] Modern Treasury, “What Is a Stablecoin On-Ramp and Off-Ramp?,” https://www.moderntreasury.com/learn/stablecoin-on-ramp-and-off-ramp; Eco, “How to Off-Ramp Crypto: 2026 Guide for USDC, USDT, ETH,” https://eco.com/support/en/articles/15039727-how-to-off-ramp-crypto-2026-guide-for-usdc-usdt-eth.

 

[6] Blockworks, “No, China Didn’t Ban Crypto. It’s Just Pushing Exchanges Offshore,” sđd.; Lightspark, “Is Crypto Legal in China?,” sđd.

 

[7] FATF, “Targeted Update on Implementation of the FATF Standards on VAs and VASPs,” https://www.fatf-gafi.org/en/publications/Fatfrecommendations/targeted-update-virtual-assets-vasps-2023.html; FATF, “Best Practices Travel Rule Supervision,” June 2025, https://www.fatf-gafi.org/content/dam/fatf-gafi/recommendations/Best-Practices-Travel-Rule-Supervision.pdf.

 

[8] Financial Stability Board, “FSB Global Regulatory Framework for Crypto-Asset Activities,” sđd.; ESMA, “Markets in Crypto-Assets Regulation (MiCA),” https://www.esma.europa.eu/esmas-activities/digital-finance-and-innovation/markets-crypto-assets-regulation-mica; Norton Rose Fulbright, “Regulating Crypto-Assets in Europe: Practical Guide to MiCA,” https://www.nortonrosefulbright.com/en/knowledge/publications/2cec201e/regulating-crypto-assets-in-europe-practical-guide-to-mica.

 

[9] FATF, “Targeted Update on Implementation of the FATF Standards on VAs and VASPs,” sđd.

 

[10] MAS, “Payment Services Act 2019,” https://sso.agc.gov.sg/Act/PSA2019; NameScan, “Singapore Crypto Regulations: All You Need to Know,” https://namescan.io/insights/singapore-crypto-regulations-all-you-need-to-know/.

 

[11] NameScan, “Singapore Crypto Regulations,” sđd.

 

[12] MAS, “Reply to Parliamentary Question on Digital Payment Token Service Provider Applicants,” https://www.mas.gov.sg/news/parliamentary-replies/2021/reply-to-parliamentary-question-on-digital-payment-token-service-provider-applicants; Vulcan Post, “S’pore Shows Its Commitment to Crypto by Rejecting Vast Majority of MAS License Applicants,” https://vulcanpost.com/772986/singapore-reject-majority-crypto-license-applicants/.

 

[14] Medium/Jung-Hua Liu, “Singapore’s Evolving Cryptocurrency Regulatory Stance,” https://medium.com/@gwrx2005/singapores-evolving-cryptocurrency-regulatory-stance-3d1e7a97e175.

 

[15] Medium/Jung-Hua Liu, “Singapore’s Evolving Cryptocurrency Regulatory Stance,” sđd.

 

[16] Clifford Chance, “Singapore to Tighten Rules on Cryptocurrency Trading,” https://www.cliffordchance.com/insights/resources/blogs/talking-tech/en/articles/2022/11/singapore-to-tighten-rules-on-cryptocurrency-trading.html.

 

[17] MAS, “MAS Clarifies Regulatory Regime for Digital Token Service Providers,” https://www.mas.gov.sg/news/media-releases/2025/mas-clarifies-regulatory-regime-for-digital-token-service-providers; CMS Law, “Singapore’s June 30 Hard Deadline for Crypto Firms Serving Overseas Customers,” https://cms.law/en/sgp/legal-updates/singapore-s-june-30-hard-deadline-for-crypto-firms-serving-overseas-customers.

 

[18] Blockhead, “MAS Sets Hard June 30 Deadline for Unlicensed Crypto Firms Serving Overseas Clients,” https://www.blockhead.co/2025/06/02/mas-sets-hard-june-30-deadline-for-unlicensed-crypto-firms-serving-overseas-clients/.

 

[19] Library of Congress, “China: Central Bank Issues New Regulatory Document on Cryptocurrency Trading,” https://www.loc.gov/item/global-legal-monitor/2021-10-13/china-central-bank-issues-new-regulatory-document-on-cryptocurrency-trading/; CNBC, “China’s Central Bank Says All Cryptocurrency-Related Activities Are Illegal, Vows Harsh Crackdown,” https://www.cnbc.com/2021/09/24/china-central-bank-vows-harsh-crackdown-on-cryptocurrency-industry.html.

 

[20] CNBC, “China’s Central Bank Says All Cryptocurrency-Related Activities Are Illegal,” sđd.

 

[21] World Economic Forum, “What’s Behind China’s Cryptocurrency Ban?,” https://www.weforum.org/stories/2022/01/what-s-behind-china-s-cryptocurrency-ban/.

 

[22] Blockworks, “No, China Didn’t Ban Crypto. It’s Just Pushing Exchanges Offshore,” https://blockworks.co/news/no-china-didnt-ban-crypto-its-just-pushing-exchanges-offshore.

 

[23] Lightspark, “Is Crypto Legal in China? Regulations & Compliance in 2026,” https://www.lightspark.com/knowledge/is-crypto-legal-in-china; CNBC, “Crypto Is Banned in China, but Binance Employees and Support Volunteers Tell People How to Bypass the Ban,” https://www.cnbc.com/2023/03/23/binance-employees-volunteers-tell-users-how-to-evade-china-crypto-ban.html.

 

[24] CoinDesk, “China Expands Crypto Crackdown to Stablecoins, Asset Tokenization,” https://www.coindesk.com/policy/2026/02/06/china-expands-crypto-crackdown-to-stablecoins-asset-tokenization.

 

[25] King & Wood Mallesons, “Deemed Licensing Window for Hong Kong’s Virtual Asset Exchanges Has Now Commenced,” https://www.kwm.com/hk/en/insights/latest-thinking/deemed-licensing-window-for-hk-virtual-asset-exchanges-has-now-commenced.html.

 

[26] Crowdfund Insider, “Hong Kong’s Securities and Futures Commission Approves Digital Assets Trading License for Victory Fintech,” https://www.crowdfundinsider.com/2026/02/262446-hong-kongs-securities-and-futures-commission-approves-digital-assets-trading-license-for-victory-fintech/; Davis Polk, “Hong Kong Permits Virtual Asset Exchanges to Access Global Liquidity and Expand Product Offering,” https://www.davispolk.com/insights/client-update/hong-kong-permits-virtual-asset-exchanges-access-global-liquidity-and-expand.

 

[27] Blockwarp, “Vietnam Crypto Exchange Licensing 2026: Why Market Entry Now Requires a ‘Local-First’ Regulatory Strategy,” https://blockwarp.io/blog/vietnam-crypto-exchange-licensing-2026.

 

[28] CoinDesk, “Vietnam’s Central Bank Announces Ban on Bitcoin Payments,” https://www.coindesk.com/markets/2017/10/31/vietnams-central-bank-announces-ban-on-bitcoin-payments; Lightspark, “Is Crypto Legal in Vietnam? Regulations & Compliance in 2026,” https://www.lightspark.com/knowledge/is-crypto-legal-in-vietnam.

 

[29] Chương 14 của cuốn sách này sẽ đi sâu phân tích hệ sinh thái ví điện tử và thanh toán kỹ thuật số của Việt Nam, trong đó MoMo, ZaloPay và VNPay là những cái tên nổi bật nhất.

 

[30] Chambers and Partners, “Vietnam Formally Recognises Digital Assets under New Law,” https://chambers.com/articles/vietnam-formally-recognises-digital-assets-under-new-law; CoinDesk, “Vietnam Passes Landmark Law Recognizing Crypto Assets,” https://www.coindesk.com/policy/2025/06/16/vietnam-passes-landmark-law-recognizing-crypto-assets.

 

[31] Viet An Law, “Resolution 05/2025/NQ-CP,” sđd.; Duane Morris/Oliver Massmann, “Vietnam Introduces Pilot Program for Virtual Asset Market: What You Must Know,” https://blogs.duanemorris.com/fintech/2025/09/12/vietnam-introduces-pilot-program-for-virtual-asset-market-what-you-must-know/.

 

[32] Allen & Gledhill, “Vietnam Establishes Digital Technology Framework and Launches Crypto Asset Market Pilot Program,” https://www.allenandgledhill.com/vn/publication/articles/31333/establishes-digital-technology-framework-and-launches-crypto-asset-market-pilot-program.

 

[33] Viet An Law, “Resolution 05/2025/NQ-CP,” sđd.

 

[34] Viet An Law, “Resolution 05/2025/NQ-CP,” sđd.; Fintech Singapore, “Vietnam Opens Crypto Licensing,” sđd.

 

[35] Tilleke & Gibbins, “Vietnam Begins Accepting License Applications for Crypto Asset Trading Platforms,” https://www.tilleke.com/insights/vietnam-begins-accepting-license-applications-for-crypto-asset-trading-platforms/; SGGP English Edition, “State Securities Commission Begins Licensing Process for Crypto Asset Exchanges,” https://en.sggp.org.vn/state-securities-commission-begins-licensing-process-for-crypto-asset-exchanges-post123431.html.

 

[36] Decrypt, “Vietnam Caps Crypto Pilot at Five Licensed Exchanges,” https://decrypt.co/343048/vietnam-pilot-five-licensed-crypto-exchanges.

 

[37] Viet An Law, “Resolution 05/2025/NQ-CP,” sđd.; Fintech Singapore, “Vietnam Opens Crypto Licensing,” sđd.

 

[38] CoinDesk, “Vietnam Pushes Local Crypto Exchanges as Hanoi Moves to Block Offshore Trading,” https://www.coindesk.com/policy/2026/03/17/vietnam-pushes-local-crypto-exchanges-as-hanoi-moves-to-block-offshore-trading-reuters; Reports/Tiger Research, “The Game Is Changing for Vietnam’s Centralized Exchange Licenses,” https://reports.tiger-research.com/p/the-game-is-changing-for-vietnams-eng.

 

[39] CoinDesk, “Vietnam Pushes Local Crypto Exchanges,” sđd.; MEXC News, “Vietnam Plans to Launch Regulated Cryptocurrency Trading by Mid-2026,” https://www.mexc.com/news/1086696.

 

[40] TheInvestor.vn, “Vietnam to Block Unlicensed Crypto Platforms, Shift Trading to Domestic Exchanges,” https://theinvestor.vn/vietnam-to-block-unlicensed-crypto-platforms-shift-trading-to-domestic-exchanges-d18703.html; Bitcoin Magazine, “Vietnam Begins to Restrict Overseas Crypto Trading,” https://bitcoinmagazine.com/news/vietnam-to-restrict-overseas-crypto.

 

[41] South China Morning Post, “OKX Ventures, HashKey Capital Backing Enables Vietnam Crypto Platform’s Pilot Scheme Bid,” https://www.scmp.com/business/banking-finance/article/3349530/okx-ventures-hashkey-investment-enables-vietnam-crypto-platforms-pilot-scheme-bid.

 

[42] South China Morning Post, “OKX Ventures, HashKey Capital Backing,” sđd.

 

[43] Cryptoverselawyers.io, “Vietnam’s First Crypto Regulation: Inside the 2026 Licensing Framework,” https://www.cryptoverselawyers.io/vietnam-first-crypto-regulation-licensing/.

 

[44] Blockwarp, “Vietnam Crypto Exchange Licensing 2026,” sđd.; Cryptoverselawyers.io, “Vietnam’s First Crypto Regulation,” sđd.

 

[45] Ledger Insights, “Vietnam Plans to Pilot Central Bank Digital Currency,” https://www.ledgerinsights.com/vietnam-plans-to-pilot-central-bank-digital-currency/; VietnamNet, “Viettel and MobiFone Lead Vietnam’s First CBDC Pilot Program,” https://vietnamnet.vn/en/viettel-and-mobifone-lead-vietnam-s-first-cbdc-pilot-program-2448876.html; The Investor, “Viettel, MobiFone Jointly Research Central Bank Digital Currency,” https://theinvestor.vn/viettel-mobifone-jointly-research-central-bank-digital-currency-d17228.html.

 

[46] Friedrich Naumann Foundation, “Central Bank Digital Currency: Economic and Legal Aspects – A Vision for Vietnam,” 9 November 2021, https://www.freiheit.org/southeast-and-east-asia/central-bank-digital-currency-crypto-vision-vietnam.

FacebookLinkedInEmailMessengerWhatsAppTelegramPrintShare