Nhà văn Nguyên Ngọc:
Kinh tế đã khá nhưng văn hóa thì...
10:16' 30/01/2009 (GMT+7)
http://vietnamnet.vn/vanhoa/2009/01/826253/
Đầu xuân, vào đền, lên chùa đâu chỉ để cầu may mà chính trong không gian chứa đựng tinh thần cội rễ ấy, chúng ta cảm nhận sâu hơn về giá trị văn hóa truyền thống. Nhưng chúng ta đã và đang ứng xử với những di tích văn hóa này ra sao? Không gian tâm linh ấy có bị chính chúng ta biến thành chốn "tạp" không?... Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện đầu năm cùng nhà văn Nguyên Ngọc.
Thưa nhà văn Nguyên Ngọc, theo ông, chúng ta đã ứng xử với các "di sản" tâm linh ra sao?
Nhà văn Nguyên Ngọc : Quả thật, nỗi lo lớn bây giờ là dù kinh tế có đang khá lên, nhưng văn hóa đã không khá theo, thậm chí còn sa sút. Đang có hiện tượng cả xã hội lao đi làm kinh tế, nhưng kể cả trong tầng lớp "khá giả" nhất của xã hội cũng rất ít người quan tâm đến văn hóa, quan tâm tới cách ứng xử có văn hóa. Văn hóa trọc phú đang tràn ngập trong xã hội.
Đau lòng nhất là chúng ta làm văn hóa không vì văn hóa. Như cách chúng ta ứng xử với di tích chẳng hạn. Cứ ngôi chùa nào được trùng tu thì ngôi chùa ấy... hỏng. Cách đây mấy năm, tôi có viết bài về chùa Bổ Đà, khi đó còn là ngôi chùa được xây dựng bằng đất cổ rất đẹp, nhiều chuyên gia xây dựng còn chưa lý giải được vì sao những vách tường đất ấy lại có thể bền vững lâu dài đến thế. Lúc viết, tôi đã cố tình giấu tên ngôi chùa để... ít người biết đến, hy vọng du lịch không tàn phá ngôi chùa. Nhưng chỉ năm sau quay lại đã thấy rất nhiều bức tường đất cổ bị phá đi để xây lại tường gạch, hàng quán bán dọc cả lối vào.
Hay như chùa Phật Tích rất quý hiếm bởi còn những dấu tích của thời Lý cách đây cả nghìn năm, giờ người ta "quảng bá" là ngôi chùa có tượng Phật rất lớn, đang trong quá trình xây lại, to hơn và rất hiện đại. Đặc trưng của chùa miền Bắc là sự thâm u, trầm tư, yên tĩnh. Kể cả những ngôi chùa nằm giữa phố, bước vào chùa là một không gian khác hẳn, khiến con người ta lắng lại. Nhưng giờ thì đâu đâu cũng thi đua trùng tu, mở rộng chùa.
Anh em chúng tôi thường nói với nhau, tốt nhất là cứ để nguyên các di tích đó, đừng trùng tu gì cả.
Thưa ông, hình thái kiến trúc đền, chùa thì như vậy, nhưng có thể chúng ta vẫn giữ được không gian tâm linh?
Nhà văn Nguyên Ngọc : Hình thái kiến trúc đã "hỏng", cách ứng xử trong các không gian tôn nghiêm ấy cũng có quá nhiều chuyện đáng buồn. Đã có lần tôi cùng nhạc sĩ Dương Thụ đến chùa Tháp Bút, thấy tình trạng "hát kinh" có nhạc đệm, giống như trong nhà thờ. Cách tụng kinh Phật chậm rãi, nhấn nhá ê, a không có chút gì giống với nhạc đệm nhà thờ ở phương Tây cả. Tết năm ngoái tôi lên chùa Phật Tích, đi từ ngoài vào tới sân trong toàn thấy mùi... mực nướng!
Nhưng đấy là những người ăn nhờ lộc Phật, chúng ta đang nói đến cách ứng xử của chính chúng ta, những người đi chùa để tìm chút cân bằng, lắng lại giữa cuộc sống xô bồ hiện đại...
Nhà văn Nguyên Ngọc : Chùa Tây phương nổi tiếng có những bức tượng La Hán rất giá trị, nhưng khi tôi lên đó thì không thể chụp ảnh tượng được vì khách đến thăm chùa liên tục giắt tiền trên tay những "ông" tượng đó. Nếu muốn đóng góp công đức cho nhà chùa, sao họ không bỏ tiền vào hòm công đức?
Ở Thái Lan người dân lên chùa dùng vàng lá dát lên tượng Phật với ý nghĩa: đem những gì quý giá nhất của con người cúng dường cho đức Phật (Chùa Vàng). Mà trước khi vào tới nơi chiêm ngưỡng cúng dường tượng Phật, ai cũng phải bỏ giầy dép bên ngoài cửa, đi chân trần qua cả một cái sân rộng lớn. Đấy là hành trình tự làm trong sạch mình, tự lắng lại để đến với cõi tâm linh thuần khiết, vô uế tạp. Còn chúng ta, sao lại đem tiền lẻ chỉ dùng đi chợ mua mắm mua cá nhét vào tay các pho tượng Phật? Các cụ nhà ta đã dạy, làm như thế thì "kính chẳng bõ phiền!".
Xin cảm ơn nhà văn về cuộc trò chuyện này.
Khánh Linh
TIN LIÊN QUAN
Nhà văn Nguyên Ngọc: Văn hóa… để làm gì?
Văn hóa có phải chuyện "cờ, đèn, kèn, trống..."?
Friday, January 30, 2009
LIÊN MINH CÁC NHÀ DÂN CHỦ TRẺ QUỐC TẾ
Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế
Trà Mi, phóng viên RFA
2009-01-30
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/international-young-democrat-union-TMi-01302009103136.html
Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế, một tổ chức được bảo trợ bởi cựu nữ thủ tướng Anh Margaret Thatcher, với mục tiêu phát huy và cổ suý dân chủ trên toàn cầu.
Ông Peter Gitmark, Chủ tịch của Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế (trái), tiếp chuyện cựu nữ Thủ tướng Anh Margaret Thatcher. Photo courtesy of petergitmark.no
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/international-young-democrat-union-TMi-01302009103136.html/gitmark_thatcher-305.jpg
Cùng với xu hướng phát huy dân chủ trên toàn cầu, tại Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều nhà đấu tranh dân chủ bất chấp những sách nhiễu của chính quyền, mạnh dạn lên án sự cai trị độc tài và kêu gọi nhà nước tôn trọng các quyền tự do căn bản của công dân để tiến tới một xã hội dân sự thực thụ.
Cũng trong chí hướng này, trên thế giới có một tổ chức phi chính phủ với tên gọi Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế, (viết tắt là IYDU), được bảo trợ bởi cựu nữ thủ tướng đầu tiên của nước Anh, bà Margaret Thatcher.
Các thành viên đa quốc gia của IYDU phần lớn là những người trẻ đang làm việc cho chính quyền các nước.
Mời qúy vị cùng tìm hiểu hoạt động và sự đóng góp của tổ chức cổ suý dân chủ đa quốc gia có uy tín IYDU qua cuộc trao đổi giữa Trà Mi với ông Peter Gitmark, Chủ tịch của Liên minh này, với phần chuyển ngữ do Gia Minh trình bày.
Trước tiên, ông Gitmark giới thiệu sơ lược về IYDU:
Ông Peter Gitmark: Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế là một tổ chức toàn cầu ra đời cách đây trên dưới 15 năm, quy tụ các hội viên từ khắp nơi trên thế giới. Chúng tôi nhắm tới con số chừng 5 triệu thành viên, gồm 80 tổ chức khác nhau từ khoảng 60 quốc gia toàn cầu. Cho nên có thể nói Liên minh của chúng tôi là một tổ chức khá quy mô.
Ông Peter Gitmark gặp gỡ Linh mục Nguyễn Văn Hùng, giám đốc Văn phòng Trợ giúp Pháp lý cho Công nhân và Cô dâu Việt Tại Đài Loan. Photo courtesy of petergitmark.no
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/international-young-democrat-union-TMi-01302009103136.html/PeterGitmark-NguyenVanHung-250.jpg
Qui tụ nhiều lãnh đạo trẻ
Trà Mi: Kể từ khi thành lập đến nay, IYDU đã tạo được danh tiếng và tầm ảnh hưởng như thế nào, thưa ông?
Ông Peter Gitmark: Ảnh hưởng lớn nhất của Liên minh đến nay được thể hiện qua việc nối mạng liên đới rất hữu hiệu và có ý nghĩa. Rất nhiều nhà lãnh đạo trẻ tuổi và các chính trị gia có cơ hội gặp gỡ giao lưu, trao đổi ý kiến và cùng thảo luận về những việc cần làm, những giải pháp đối phó với các vấn đề quan tâm. Tóm lại, Liên minh thật sự là nơi liên kết và nối vòng tay lớn với các người trẻ trên khắp thế giới.
Trà Mi: Và IYDU cụ thể đã làm những gì để đạt được những mục tiêu chính là đề cao dân chủ, tôn trọng nhân quyền, cổ suý thị trường tự do, mậu dịch tự do?
Ông Peter Gitmark: Mỗi năm chúng tôi tổ chức 2 hội nghị lớn. Một là Diễn đàn Tự do thường diễn ra vào mùa hè, và hai là cuộc họp Hội đồng vào cuối năm để bầu ra những lãnh đạo chuyên trách. Đó là hai sự kiện liên kết quan trọng nhất để chúng tôi cùng ngồi lại bàn thảo, cải tiến chính sách, đường lối hoạt động của tổ chức.
Ngoài ra, chúng tôi cũng tổ chức nhiều chiến dịch cổ võ cho quyền tự do của con người trên thế giới, chẳng hạn như chiến dịch ở Zimbabwe do chính tôi lãnh đạo. Chúng tôi cũng có chiến dịch cổ súy tự do ở Belarus. Và hiện nay chúng tôi sắp sửa giới thiệu các chiến dịch vận động cho tự do-dân chủ của Cuba và Việt Nam.
Hoạt động tại Việt Nam
Trà Mi: Về chiến dịch vận động cho tự do-dân chủ ở Việt Nam, ông có thể cho biết khi nào nó sẽ được chính thức tiến hành?
Ông Peter Gitmark: Rất may là Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường vừa gia nhập làm thành viên của IYDU và tôi hy vọng là chiến dịch vận động tự do-dân chủ cho Việt Nam sẽ được thiết lập ngay trong vòng vài tuần tới và sẽ đi vào hoạt động ngay tức khắc.
Đáng tiếc là hiện nay nhân dân Việt Nam vẫn còn phải sống dưới chế độ độc tài. Bốn giá trị cốt lõi mà chúng tôi đề cao bao gồm dân chủ, nhân quyền, tự do thị trường, và tự do thương mại.
Tất cả những yếu tố này đều hết sức quan trọng đối với Việt Nam và chúng tôi sẽ ưu tiên chú trọng vào hai yếu tố đầu tiên là tôn trọng dân chủ và nhân quyền.
Chúng tôi sẽ cùng làm việc với “Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường” để bàn xem phương cách nào tốt nhất để chúng tôi tiến hành chiến dịch này, để có được áp lực từ bên ngoài, để bảo đảm rằng khi các thành viên của chúng tôi đến Việt Nam có thể tiếp xúc, tiếp nhận những người tù lương tâm tại Việt Nam làm đại diện hay thành viên, có thể gửi thư ngỏ đến giới lãnh đạo Việt Nam, và khi chúng tôi đến Việt Nam không chỉ với tư cách là du khách mà còn còn có thể tìm hiểu được diễn tiến và tình hình dân chủ thật sự tại Việt Nam.
Ông Peter Gitmark (giữa), trong cuộc gặp giữa các thành viên của Liên minh các nhà dân chủ trẻ với nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel. Photo courtesy of petergitmark.no
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/international-young-democrat-union-TMi-01302009103136.html/gitmark_merkele-305.jpg
Trà Mi: IYDU trong mắt chính phủ Việt Nam có vị trí như thế nào, thưa ông?
Ông Peter Gitmark: Đối với chính phủ Việt Nam, IYDU thật sự không là gì cả. Cho tới nay, chính quyền Hà Nội gần như chẳng có biểu hiện thực thụ, cụ thể nào đối với việc cải thiện và tôn trọng nhân quyền và dân chủ.
Thật kinh khủng khi thấy nhà cầm quyền Hà Nội tước quyền tự do chính trị của người dân. Môi trường chính trị tại Việt Nam chỉ nhằm phục vụ và làm giàu cho chính bản thân những người cầm quyền mà thôi.
Vì vậy, chúng tôi không nghĩ rằng IYDU sẽ là một tổ chức mà chính quyền Việt Nam tôn trọng và lắng nghe, nhưng rất may mắn là chúng tôi có mối quan hệ làm việc tốt đẹp với rất nhiều quốc gia dân chủ trên thế giới. Đối với môi trường chính trị quốc tế thì IYDU là tiếng nói có một số ảnh hưởng nhất định.
Trà Mi: Bất kỳ cá nhân hay tổ chức tại Việt Nam cũng có thể gia nhập vào tổ chức IYDU chứ? Làm cách nào để trở thành hội viên của IYDU, thưa ông?
Ông Peter Gitmark: Tiến trình gia nhập thành hội viên của IYDU khá đơn giản. Các thành viên của chúng tôi là các tổ chức của những người trẻ làm chính trị. Bạn có thể trở thành hội viên của IYDU bằng cách đăng ký và gửi về chương trình hành động tranh cử mới nhất của mình.
Đối với các đơn đăng ký của các cá nhân hoặc tổ chức tại những quốc gia độc tài không có tranh cử độc lập như Việt Nam, thì chúng tôi xét đến yếu tố liệu tổ chức đó có bảo vệ, tôn trọng, và cổ võ nền dân chủ, nhân quyền trên quốc tế hay không, như trường hợp của hội viên mới là tổ chức mang tên “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” chẳng hạn.
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn ông Peter Gitmark đã dành thời gian giới thiệu đến thính giả của RFA về Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế.
-------------------------
Trên đây là cuộc trao đổi giữa Trà Mi với ông Peter Gitmark, Chủ tịch Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế. Ông Gitmark cũng là dân biểu trẻ của Na-Uy. Đầu năm 2008, ông từng đến Việt Nam thăm nhà văn Trần Khải Thanh Thủy khi bà được trả tự do sau hơn 9 tháng bị giam cầm vì đấu tranh cho dân chủ-nhân quyền tại Việt Nam.
Mạng Lưới Lên Đường là Tổ Chức Thanh Niên Người Việt Nam Đầu Tiên Trở Thành Hội Viên Của Hội Đồng Tổng Hội Thanh Niên Dân Chủ Quốc Tế (IYDU)
Cập nhật: 17/01/2009
http://www.lenduong.net/spip.php?article19981
Wellington, New Zealand – Anh Phan Đình Quốc, Tổng Thư Ký của Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường, ngày hôm nay đã công bố việc Mạng Lưới Lên Đường được chấp nhận là thành viên thứ 81 của Hội Đồng Tổng Hội Thanh Niên Dân Chủ Quốc Tế (International Young Democrat Union - IYDU).
Tổng Hội Thanh Niên Dân Chủ Quốc Tế (IYDU) là một liên minh toàn cầu của các tổ chức thanh niên mang tính cách chính trị để chia sẽ lý tưởng chung là tranh đấu cho tự do và nhân quyền. Những người tham dự các hội nghị của IYDU trong quá khứ nay đã trở thành những bộ trưởng, dân biểu quốc hội hay những cố vấn cao cấp trong quốc gia của họ. Hội nghị năm nay của Hội Đồng IYDU có sự hiện diện của Thủ Tướng của Tân Tây Lan là John Key, và các dân biểu quốc hội như Bill English, Murray McCully, Tim Groser.
(Từ trái: Đỗ Mạnh Tiến, Thủ tướng Tân Tây Lan ông John Key, Phan Đình Quốc)
http://www.lenduong.net/IMG/cache-150x110/P1000516-2-150x110.jpg
Anh Phan Đình Quốc và một đại diện khác của Lên Đường tại Tân Tây Lan đã tới Wellington, Tân Tây Lan vào ngày thứ hai, 12 Tháng 1, để dự hội nghị thường niên do IYDU tổ chức.
Anh nói: “Chúng tôi lấy làm tự hào là tổ chức thanh niên Việt Nam đầu tiên trở thành thành viên của một tổ chức dân chủ quốc tế danh tiếng như IYDU. Đây là cơ hội để mang vấn đề đấu tranh dân chủ Việt Nam vào diễn đàn này. Mạng Luới sẽ cố gắng hết mình tạo ảnh huởng, để vấn đề Việt Nam đuợc chú trọng hơn và mong IYDU sẽ đóng góp tích cực cho phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.”
Cho dù chúng ta đang cư ngụ trong một quốc gia văn minh yêu chuộn tự do dân chủ hoặc sinh sống một trong một quốc gia nghèo nàn dưới một chế độ độc tài; Mạng Lưới Lên Đường luôn kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam khắp năm châu hãy quyết tâm đồng hành với phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam trong ý thức trách nhiệm để góp phần phục vụ cho lý tưởng nhân bản.
Mạng Lưới Tuổi Trẻ Lên Đường là một mạng lưới bất vụ lợi của các tổ chức thanh niên và sinh viên Việt Nam với mục tiêu quảng bá những việc làm nhân đạo và chính trị trong giới thanh niên Việt Nam.
Trà Mi, phóng viên RFA
2009-01-30
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/international-young-democrat-union-TMi-01302009103136.html
Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế, một tổ chức được bảo trợ bởi cựu nữ thủ tướng Anh Margaret Thatcher, với mục tiêu phát huy và cổ suý dân chủ trên toàn cầu.
Ông Peter Gitmark, Chủ tịch của Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế (trái), tiếp chuyện cựu nữ Thủ tướng Anh Margaret Thatcher. Photo courtesy of petergitmark.no
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/international-young-democrat-union-TMi-01302009103136.html/gitmark_thatcher-305.jpg
Cùng với xu hướng phát huy dân chủ trên toàn cầu, tại Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều nhà đấu tranh dân chủ bất chấp những sách nhiễu của chính quyền, mạnh dạn lên án sự cai trị độc tài và kêu gọi nhà nước tôn trọng các quyền tự do căn bản của công dân để tiến tới một xã hội dân sự thực thụ.
Cũng trong chí hướng này, trên thế giới có một tổ chức phi chính phủ với tên gọi Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế, (viết tắt là IYDU), được bảo trợ bởi cựu nữ thủ tướng đầu tiên của nước Anh, bà Margaret Thatcher.
Các thành viên đa quốc gia của IYDU phần lớn là những người trẻ đang làm việc cho chính quyền các nước.
Mời qúy vị cùng tìm hiểu hoạt động và sự đóng góp của tổ chức cổ suý dân chủ đa quốc gia có uy tín IYDU qua cuộc trao đổi giữa Trà Mi với ông Peter Gitmark, Chủ tịch của Liên minh này, với phần chuyển ngữ do Gia Minh trình bày.
Trước tiên, ông Gitmark giới thiệu sơ lược về IYDU:
Ông Peter Gitmark: Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế là một tổ chức toàn cầu ra đời cách đây trên dưới 15 năm, quy tụ các hội viên từ khắp nơi trên thế giới. Chúng tôi nhắm tới con số chừng 5 triệu thành viên, gồm 80 tổ chức khác nhau từ khoảng 60 quốc gia toàn cầu. Cho nên có thể nói Liên minh của chúng tôi là một tổ chức khá quy mô.
Ông Peter Gitmark gặp gỡ Linh mục Nguyễn Văn Hùng, giám đốc Văn phòng Trợ giúp Pháp lý cho Công nhân và Cô dâu Việt Tại Đài Loan. Photo courtesy of petergitmark.no
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/international-young-democrat-union-TMi-01302009103136.html/PeterGitmark-NguyenVanHung-250.jpg
Qui tụ nhiều lãnh đạo trẻ
Trà Mi: Kể từ khi thành lập đến nay, IYDU đã tạo được danh tiếng và tầm ảnh hưởng như thế nào, thưa ông?
Ông Peter Gitmark: Ảnh hưởng lớn nhất của Liên minh đến nay được thể hiện qua việc nối mạng liên đới rất hữu hiệu và có ý nghĩa. Rất nhiều nhà lãnh đạo trẻ tuổi và các chính trị gia có cơ hội gặp gỡ giao lưu, trao đổi ý kiến và cùng thảo luận về những việc cần làm, những giải pháp đối phó với các vấn đề quan tâm. Tóm lại, Liên minh thật sự là nơi liên kết và nối vòng tay lớn với các người trẻ trên khắp thế giới.
Trà Mi: Và IYDU cụ thể đã làm những gì để đạt được những mục tiêu chính là đề cao dân chủ, tôn trọng nhân quyền, cổ suý thị trường tự do, mậu dịch tự do?
Ông Peter Gitmark: Mỗi năm chúng tôi tổ chức 2 hội nghị lớn. Một là Diễn đàn Tự do thường diễn ra vào mùa hè, và hai là cuộc họp Hội đồng vào cuối năm để bầu ra những lãnh đạo chuyên trách. Đó là hai sự kiện liên kết quan trọng nhất để chúng tôi cùng ngồi lại bàn thảo, cải tiến chính sách, đường lối hoạt động của tổ chức.
Ngoài ra, chúng tôi cũng tổ chức nhiều chiến dịch cổ võ cho quyền tự do của con người trên thế giới, chẳng hạn như chiến dịch ở Zimbabwe do chính tôi lãnh đạo. Chúng tôi cũng có chiến dịch cổ súy tự do ở Belarus. Và hiện nay chúng tôi sắp sửa giới thiệu các chiến dịch vận động cho tự do-dân chủ của Cuba và Việt Nam.
Hoạt động tại Việt Nam
Trà Mi: Về chiến dịch vận động cho tự do-dân chủ ở Việt Nam, ông có thể cho biết khi nào nó sẽ được chính thức tiến hành?
Ông Peter Gitmark: Rất may là Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường vừa gia nhập làm thành viên của IYDU và tôi hy vọng là chiến dịch vận động tự do-dân chủ cho Việt Nam sẽ được thiết lập ngay trong vòng vài tuần tới và sẽ đi vào hoạt động ngay tức khắc.
Đáng tiếc là hiện nay nhân dân Việt Nam vẫn còn phải sống dưới chế độ độc tài. Bốn giá trị cốt lõi mà chúng tôi đề cao bao gồm dân chủ, nhân quyền, tự do thị trường, và tự do thương mại.
Tất cả những yếu tố này đều hết sức quan trọng đối với Việt Nam và chúng tôi sẽ ưu tiên chú trọng vào hai yếu tố đầu tiên là tôn trọng dân chủ và nhân quyền.
Chúng tôi sẽ cùng làm việc với “Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường” để bàn xem phương cách nào tốt nhất để chúng tôi tiến hành chiến dịch này, để có được áp lực từ bên ngoài, để bảo đảm rằng khi các thành viên của chúng tôi đến Việt Nam có thể tiếp xúc, tiếp nhận những người tù lương tâm tại Việt Nam làm đại diện hay thành viên, có thể gửi thư ngỏ đến giới lãnh đạo Việt Nam, và khi chúng tôi đến Việt Nam không chỉ với tư cách là du khách mà còn còn có thể tìm hiểu được diễn tiến và tình hình dân chủ thật sự tại Việt Nam.
Ông Peter Gitmark (giữa), trong cuộc gặp giữa các thành viên của Liên minh các nhà dân chủ trẻ với nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel. Photo courtesy of petergitmark.no
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/international-young-democrat-union-TMi-01302009103136.html/gitmark_merkele-305.jpg
Trà Mi: IYDU trong mắt chính phủ Việt Nam có vị trí như thế nào, thưa ông?
Ông Peter Gitmark: Đối với chính phủ Việt Nam, IYDU thật sự không là gì cả. Cho tới nay, chính quyền Hà Nội gần như chẳng có biểu hiện thực thụ, cụ thể nào đối với việc cải thiện và tôn trọng nhân quyền và dân chủ.
Thật kinh khủng khi thấy nhà cầm quyền Hà Nội tước quyền tự do chính trị của người dân. Môi trường chính trị tại Việt Nam chỉ nhằm phục vụ và làm giàu cho chính bản thân những người cầm quyền mà thôi.
Vì vậy, chúng tôi không nghĩ rằng IYDU sẽ là một tổ chức mà chính quyền Việt Nam tôn trọng và lắng nghe, nhưng rất may mắn là chúng tôi có mối quan hệ làm việc tốt đẹp với rất nhiều quốc gia dân chủ trên thế giới. Đối với môi trường chính trị quốc tế thì IYDU là tiếng nói có một số ảnh hưởng nhất định.
Trà Mi: Bất kỳ cá nhân hay tổ chức tại Việt Nam cũng có thể gia nhập vào tổ chức IYDU chứ? Làm cách nào để trở thành hội viên của IYDU, thưa ông?
Ông Peter Gitmark: Tiến trình gia nhập thành hội viên của IYDU khá đơn giản. Các thành viên của chúng tôi là các tổ chức của những người trẻ làm chính trị. Bạn có thể trở thành hội viên của IYDU bằng cách đăng ký và gửi về chương trình hành động tranh cử mới nhất của mình.
Đối với các đơn đăng ký của các cá nhân hoặc tổ chức tại những quốc gia độc tài không có tranh cử độc lập như Việt Nam, thì chúng tôi xét đến yếu tố liệu tổ chức đó có bảo vệ, tôn trọng, và cổ võ nền dân chủ, nhân quyền trên quốc tế hay không, như trường hợp của hội viên mới là tổ chức mang tên “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” chẳng hạn.
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn ông Peter Gitmark đã dành thời gian giới thiệu đến thính giả của RFA về Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế.
-------------------------
Trên đây là cuộc trao đổi giữa Trà Mi với ông Peter Gitmark, Chủ tịch Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế. Ông Gitmark cũng là dân biểu trẻ của Na-Uy. Đầu năm 2008, ông từng đến Việt Nam thăm nhà văn Trần Khải Thanh Thủy khi bà được trả tự do sau hơn 9 tháng bị giam cầm vì đấu tranh cho dân chủ-nhân quyền tại Việt Nam.
Mạng Lưới Lên Đường là Tổ Chức Thanh Niên Người Việt Nam Đầu Tiên Trở Thành Hội Viên Của Hội Đồng Tổng Hội Thanh Niên Dân Chủ Quốc Tế (IYDU)
Cập nhật: 17/01/2009
http://www.lenduong.net/spip.php?article19981
Wellington, New Zealand – Anh Phan Đình Quốc, Tổng Thư Ký của Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường, ngày hôm nay đã công bố việc Mạng Lưới Lên Đường được chấp nhận là thành viên thứ 81 của Hội Đồng Tổng Hội Thanh Niên Dân Chủ Quốc Tế (International Young Democrat Union - IYDU).
Tổng Hội Thanh Niên Dân Chủ Quốc Tế (IYDU) là một liên minh toàn cầu của các tổ chức thanh niên mang tính cách chính trị để chia sẽ lý tưởng chung là tranh đấu cho tự do và nhân quyền. Những người tham dự các hội nghị của IYDU trong quá khứ nay đã trở thành những bộ trưởng, dân biểu quốc hội hay những cố vấn cao cấp trong quốc gia của họ. Hội nghị năm nay của Hội Đồng IYDU có sự hiện diện của Thủ Tướng của Tân Tây Lan là John Key, và các dân biểu quốc hội như Bill English, Murray McCully, Tim Groser.
(Từ trái: Đỗ Mạnh Tiến, Thủ tướng Tân Tây Lan ông John Key, Phan Đình Quốc)
http://www.lenduong.net/IMG/cache-150x110/P1000516-2-150x110.jpg
Anh Phan Đình Quốc và một đại diện khác của Lên Đường tại Tân Tây Lan đã tới Wellington, Tân Tây Lan vào ngày thứ hai, 12 Tháng 1, để dự hội nghị thường niên do IYDU tổ chức.
Anh nói: “Chúng tôi lấy làm tự hào là tổ chức thanh niên Việt Nam đầu tiên trở thành thành viên của một tổ chức dân chủ quốc tế danh tiếng như IYDU. Đây là cơ hội để mang vấn đề đấu tranh dân chủ Việt Nam vào diễn đàn này. Mạng Luới sẽ cố gắng hết mình tạo ảnh huởng, để vấn đề Việt Nam đuợc chú trọng hơn và mong IYDU sẽ đóng góp tích cực cho phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.”
Cho dù chúng ta đang cư ngụ trong một quốc gia văn minh yêu chuộn tự do dân chủ hoặc sinh sống một trong một quốc gia nghèo nàn dưới một chế độ độc tài; Mạng Lưới Lên Đường luôn kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam khắp năm châu hãy quyết tâm đồng hành với phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam trong ý thức trách nhiệm để góp phần phục vụ cho lý tưởng nhân bản.
Mạng Lưới Tuổi Trẻ Lên Đường là một mạng lưới bất vụ lợi của các tổ chức thanh niên và sinh viên Việt Nam với mục tiêu quảng bá những việc làm nhân đạo và chính trị trong giới thanh niên Việt Nam.
ĐẦU XUÂN NHÌN LẠI
Đầu Xuân nhìn lại
Hoàng Cúc
Đăng ngày 30/01/2009 lúc 03:44:12 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3490
Đầu xuân, những lúc trà dư tửu hậu, người ta hay cùng nhau ôn lại những chuyện quá khứ, những chuyện mới qua. Lời chúc tân xuân hầu như luôn là những lời tốt đẹp, nhưng bên tách trà nghi ngút khói, trong cái lạnh giêng hai, đề tài có thể luân chuyển và việc nói tới những chuyện tệ hại của năm cũ cũng không phải là điều cấm kị. Vậy nhân dịp đầu xuân, tôi cũng muốn kề cà nói đôi chuyện năm qua như vài tia sáng le lói soi vào bóng tối mịt mờ của lịch sử.
Vài thực tế xót xa
Những ngày đầu năm dương lịch 2009, lễ hội hoa thật “hoành tráng” được khai mạc tại Hà Nội. Nhưng rồi “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, khi vừa sau lễ khai mạc, Hà Nội ngàn năm văn hiến đã phải chua xót chứng kiến cảnh phá phách tan tành của thứ “văn hoá cướp giật”, “văn hoá huỷ diệt”. Người tức giận, kẻ ngậm ngùi và dàn đồng ca của trên 600 tờ báo cũng được dịp xướng lên đủ các cung bậc hỉ nộ.
Lễ hội hoa biến thành lễ hội “văn hoá chộp giật” cũng khiến người ta nhớ lại một vết thương chưa kịp lành miệng ở xứ sở văn hiến. Đó là lễ hội hoa anh đào vào ngày 6-4-2008. Khi so sánh hai lễ hội hoa diễn ra ở cùng một thành phố, cách nhau chưa đầy một năm, người có chút đầu óc quan sát có thể thấy ngay rằng món “văn hoá huỷ diệt” ở lễ hội sau thực ra chỉ là phiên bản của nền “văn hoá cướp giật” của lễ hội trước.
Cả hai lễ hội hoa trên đều là dịp khiến không ít du khách và viên chức ngoại quốc phải ngạc nhiên về “văn hoá ứng xử” của “một bộ phận dân cư” Hà Nội. Bộ mặt nhem nhuốc của thủ đô vì thế cũng hiện lên rõ nét hơn. Dù sinh sống và làm việc ở đâu, người Việt Nam còn chút liêm sỉ không khỏi cảm thấy tủi nhục vì lối sống chụp giật quá lộ liễu và mọi rợ của đồng bào mình ngay tại chốn kinh kì thanh lịch.
Truy tìm căn cớ
Hiện tượng đã khá rõ ràng, dĩ nhiên người ta sẽ phải tìm cách điều tra nguồn cội. Hàng loạt lí do được đưa ra. Nào là vì dân nhập cư vào Hà Nội ngày càng đông, nào là tại cả một tỉnh Hà Tây mênh mông núi đồi thôn quê và đồng ruộng bỗng chốc một sớm một chiều biến thành một phần máu thịt của thủ đô Hà Nội, nào là vì nền giáo dục quá nặng về trí dục mà nhẹ về đức dục.
Dĩ nhiên, cũng như bất cứ khi nào xảy ra chuyện này chuyện nọ, vài nhân vật có chút tên tuổi liền được lôi ra để ban vài lời vàng ngọc.
Nhà văn Băng Sơn nhận xét một cách rất chừng mực rằng: “Tôi cảm thấy buồn và xấu hổ. Người Hà Nội làm xấu Hà Nội đi. Bao nhiêu năm hội hoa ở Đà Lạt, ở TP HCM mà không phải làm hàng rào vẫn giữ được cho đến ngày cuối cùng”. Ông đã xem điều xót xa này là nỗi “xấu hổ” của người Hà Nội.
Ông nghị Dương Trung Quốc lại giải thích rằng: “Đứng trên phương diện văn hoá học, tôi cho rằng những hành vi tiêu cực này xuất phát từ một nhu cầu có tính tập quán của người Việt Nam, đầu năm phải có được cái gì đó gọi là có lộc”.
Giáo sư Trần Ngọc Thêm, tiến sĩ toán học ham viết về văn hoá, lại đổ vấy một cách rất vô trách nhiệm: “Xét về mặt văn hóa, những hành động này phát xuất từ văn hóa nông thôn, văn hóa làng xã mà ra”. Đọc lối giải thích vòng vèo của ông sau, tôi tin rằng đa số độc giả khó có thể hiểu được thực ra ông ta muốn nói gì.
Những lối kiến giải có vẻ rất “uyên thâm”, rất “khoa học” của những vị mũ cao áo rộng, khiến đại đa số độc giả của các tờ báo chính thức sẽ hồ hởi phấn khởi nhận xét rằng: nói đúng quá, nói giỏi quá, để rồi thực tế phũ phàng sẽ không còn lại bao nhiêu dư âm trong lòng họ.
Vì đâu nên nỗi
Theo tôi, những lí do được được kể ra chỉ là bề nổi, hay nói cách khác chỉ là những mẩu sự thật. Thực ra cũng chẳng cần phải học hành hay suy nghĩ nhiều lắm để phán ra những điều như thế. Một anh xe ôm hay một chị hàng rong cũng có thể nói ra những nguyên nhân đại loại như thế khi bất chợt gặp nhau nói chuyện bâng quơ ở một quán nước ven đường.
Manh mối sâu xa của hiện tượng “văn hoá cướp giật” này hẳn phải nằm đâu đó nơi những góc khuất khúc của lịch sử đất nước.
Một thời nào đó, những khẩu hiệu nhuốm mầu giết chóc đã được trưng ra, giữa bầu khí khủng bố, tạo ra nỗi sợ hãi bao trùm và trấn áp toàn xã hội: “trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”. Hàng ngàn con người đã bị qui cho cái tội rất mơ hồ là “bóc lột” hay “có nợ máu với nhân dân” và bị giết chết một cách dã man thê thảm, tài sản của họ bị tước đoạt chia chác. Xét cho cùng thì tội của họ một đàng là vì họ sở hữu những tài sản vật chất và phi vật chất, trong khi người ta đang muốn xây dựng một xã hội vô sản; đằng khác, những người vừa cướp được chính quyền muốn cào bằng tất cả để xây dựng một cơ cấu xã hội hoàn toàn mới với những “con người mới XHCN”. Đó là chuyện đã xảy ra ở miền Bắc từ hơn nửa thế kỉ trước.
Ở miền Nam cách nay vài chục năm, sau khi giành được quyền lực nhờ cấu kết với ngoại bang và nướng sống vài triệu thanh niên, người ta cũng đã dùng bầu không khí sợ hãi, cũng bằng vở tuồng chụp mũ ngày nào, tội “bóc lột” hay “có nợ máu với nhân dân”, hàng triệu người lại tiếp tục bị đày ải tù tội, rất nhiều tài sản của họ dĩ nhiên lọt vào tay “nhân dân” để rồi bị sang tay tráo đổi.
Người từng đọc lịch sử hẳn đều biết rằng chính quyền Việt Nam đôi lúc cũng đã hé mắt nhìn để rồi “sửa sai” hay “đổi mới”. Tuy nhiên họ luôn cho rằng những điều họ đã làm là hoàn toàn đúng, là “qui luật tất yếu của lịch sử”, những sai sót chỉ thuộc về những tiểu tiết trong khi thi hành, còn đường lối là luôn luôn đúng đắn. Về căn bản, họ không bao giờ chấp nhận đó là những sai lầm khủng khiếp đã khiến bánh xe lịch sử Việt Nam quay chậm đi hàng thế kỉ với một quốc gia tan hoang hỗn loạn.
Khi con người trong xã hội bị kết tội chỉ vì họ giầu có, về của cải hoặc về tri thức, hay chỉ vì họ mang chính kiến khác biệt, cũng có nghĩa những quyền căn bản nhất của con người như quyền tư hữu và quyền lên tiếng đã bị chà đạp. Một xã hội không bao giờ có thể phát triển lành mạnh khi mỗi cá nhân luôn nơm nớp lo sợ rằng tất cả những gì mình gắng công vun đắp kiến tạo hôm nay sẽ bị cướp giật tước đoạt hay lọt vào tay kẻ khác vào một ngày đẹp trời, chẳng cần qua bất cứ một trình tự pháp lí minh bạch nào, mà chỉ do những phát động sặc mùi vu khống chụp mũ bao trùm bằng nỗi sợ hãi.
Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu, điều thê thảm cùng cực đối với số mạng từng con dân và vận mệnh cả dân tộc Việt Nam trong thế kỉ qua đó là TÀI SẢN CÁ NHÂN CHƯA HỀ ĐƯỢC TÔN TRỌNG. Hơn thế nữa, người ta đã mải miết xoá bỏ tất cả những điều xưa cũ để xây dựng một cơ cấu xã hội mới. Sau nửa thế kỉ hồ hởi phấn khởi xây thiên đường mù, người ta mới chợt ngã ngửa nhận ra rằng cái thiên đường ấy chưa hề được định hình cụ thể ra sao. Rút cuộc, người Việt Nam chúng ta hầu như đã đánh mất tất cả những truyền thống tốt đẹp xa xưa, trong khi cơ cấu mới thực sự là một mớ hỗn độn không ra quân chủ, chẳng ra tư bản, lại thêm một cái đuôi lòng thòng là “định hướng XHCN” được vận hành theo lối mafia với những tên công bộc tham lam nhũng nhiễu.
Vậy nên, chuyện bẻ hoa, cướp hoa, dẫm đạp lên hoa mà chúng ta từng chứng kiến là gì nếu không phải là cách hành xử theo nguyên tắc CỦA MÀY LÀ CỦA TAO? Đáng lẽ đảng và chính phủ phải tuyên dương những con người đó, vì họ chính là những “con người mới XHCN”, đã “thấm nhuần đạo đức cách mạng”.
Chữa bệnh dĩ nhiên phải chữa tận căn, trong khi trên thực tế hiện nay, người ta chỉ quan sát hiện tượng để rồi chữa trị các căn bệnh trong xã hội theo kiểu vặt ngọn hay bịt ngọn. Điều đó chỉ khiến cho các mối liên hệ xã hội ngày càng trở nên bùng nhùng phức tạp, vô phương giải quyết. Văn kiện mới nhất mà ông thủ tướng ban hành vẫn chỉ là một lời tái khẳng định nguyên tắc của “đạo đức cách mạng” rằng CỦA MÀY LÀ CỦA TAO, những gì chúng tao đã lấy của chúng mày, chúng mày không được đòi lại, chúng mày không có cơ sở đòi lại.
Dù sao, tôi nhận thấy đảng và chính phủ đã thực sự đổi mới, bởi vì tôi chợt nghĩ nếu dùng món võ của Mộ Dung Phục ngày nào, “dĩ bỉ chi đạo hoàn thi bỉ thân”, nói một cách nôm na là gậy ông lại đập lưng ông, để áp dụng vào thời buổi hiện tại, “trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, theo chính những tiêu chí người ta đã đưa ra ngày nào, tôi tin rằng đa số thành phần bị xếp vào hàng “bóc lột” hay “có nợ máu với nhân dân” hiện nay chính là những đảng viên cộng sản.
Hoàng Cúc
Hoàng Cúc
Đăng ngày 30/01/2009 lúc 03:44:12 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3490
Đầu xuân, những lúc trà dư tửu hậu, người ta hay cùng nhau ôn lại những chuyện quá khứ, những chuyện mới qua. Lời chúc tân xuân hầu như luôn là những lời tốt đẹp, nhưng bên tách trà nghi ngút khói, trong cái lạnh giêng hai, đề tài có thể luân chuyển và việc nói tới những chuyện tệ hại của năm cũ cũng không phải là điều cấm kị. Vậy nhân dịp đầu xuân, tôi cũng muốn kề cà nói đôi chuyện năm qua như vài tia sáng le lói soi vào bóng tối mịt mờ của lịch sử.
Vài thực tế xót xa
Những ngày đầu năm dương lịch 2009, lễ hội hoa thật “hoành tráng” được khai mạc tại Hà Nội. Nhưng rồi “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, khi vừa sau lễ khai mạc, Hà Nội ngàn năm văn hiến đã phải chua xót chứng kiến cảnh phá phách tan tành của thứ “văn hoá cướp giật”, “văn hoá huỷ diệt”. Người tức giận, kẻ ngậm ngùi và dàn đồng ca của trên 600 tờ báo cũng được dịp xướng lên đủ các cung bậc hỉ nộ.
Lễ hội hoa biến thành lễ hội “văn hoá chộp giật” cũng khiến người ta nhớ lại một vết thương chưa kịp lành miệng ở xứ sở văn hiến. Đó là lễ hội hoa anh đào vào ngày 6-4-2008. Khi so sánh hai lễ hội hoa diễn ra ở cùng một thành phố, cách nhau chưa đầy một năm, người có chút đầu óc quan sát có thể thấy ngay rằng món “văn hoá huỷ diệt” ở lễ hội sau thực ra chỉ là phiên bản của nền “văn hoá cướp giật” của lễ hội trước.
Cả hai lễ hội hoa trên đều là dịp khiến không ít du khách và viên chức ngoại quốc phải ngạc nhiên về “văn hoá ứng xử” của “một bộ phận dân cư” Hà Nội. Bộ mặt nhem nhuốc của thủ đô vì thế cũng hiện lên rõ nét hơn. Dù sinh sống và làm việc ở đâu, người Việt Nam còn chút liêm sỉ không khỏi cảm thấy tủi nhục vì lối sống chụp giật quá lộ liễu và mọi rợ của đồng bào mình ngay tại chốn kinh kì thanh lịch.
Truy tìm căn cớ
Hiện tượng đã khá rõ ràng, dĩ nhiên người ta sẽ phải tìm cách điều tra nguồn cội. Hàng loạt lí do được đưa ra. Nào là vì dân nhập cư vào Hà Nội ngày càng đông, nào là tại cả một tỉnh Hà Tây mênh mông núi đồi thôn quê và đồng ruộng bỗng chốc một sớm một chiều biến thành một phần máu thịt của thủ đô Hà Nội, nào là vì nền giáo dục quá nặng về trí dục mà nhẹ về đức dục.
Dĩ nhiên, cũng như bất cứ khi nào xảy ra chuyện này chuyện nọ, vài nhân vật có chút tên tuổi liền được lôi ra để ban vài lời vàng ngọc.
Nhà văn Băng Sơn nhận xét một cách rất chừng mực rằng: “Tôi cảm thấy buồn và xấu hổ. Người Hà Nội làm xấu Hà Nội đi. Bao nhiêu năm hội hoa ở Đà Lạt, ở TP HCM mà không phải làm hàng rào vẫn giữ được cho đến ngày cuối cùng”. Ông đã xem điều xót xa này là nỗi “xấu hổ” của người Hà Nội.
Ông nghị Dương Trung Quốc lại giải thích rằng: “Đứng trên phương diện văn hoá học, tôi cho rằng những hành vi tiêu cực này xuất phát từ một nhu cầu có tính tập quán của người Việt Nam, đầu năm phải có được cái gì đó gọi là có lộc”.
Giáo sư Trần Ngọc Thêm, tiến sĩ toán học ham viết về văn hoá, lại đổ vấy một cách rất vô trách nhiệm: “Xét về mặt văn hóa, những hành động này phát xuất từ văn hóa nông thôn, văn hóa làng xã mà ra”. Đọc lối giải thích vòng vèo của ông sau, tôi tin rằng đa số độc giả khó có thể hiểu được thực ra ông ta muốn nói gì.
Những lối kiến giải có vẻ rất “uyên thâm”, rất “khoa học” của những vị mũ cao áo rộng, khiến đại đa số độc giả của các tờ báo chính thức sẽ hồ hởi phấn khởi nhận xét rằng: nói đúng quá, nói giỏi quá, để rồi thực tế phũ phàng sẽ không còn lại bao nhiêu dư âm trong lòng họ.
Vì đâu nên nỗi
Theo tôi, những lí do được được kể ra chỉ là bề nổi, hay nói cách khác chỉ là những mẩu sự thật. Thực ra cũng chẳng cần phải học hành hay suy nghĩ nhiều lắm để phán ra những điều như thế. Một anh xe ôm hay một chị hàng rong cũng có thể nói ra những nguyên nhân đại loại như thế khi bất chợt gặp nhau nói chuyện bâng quơ ở một quán nước ven đường.
Manh mối sâu xa của hiện tượng “văn hoá cướp giật” này hẳn phải nằm đâu đó nơi những góc khuất khúc của lịch sử đất nước.
Một thời nào đó, những khẩu hiệu nhuốm mầu giết chóc đã được trưng ra, giữa bầu khí khủng bố, tạo ra nỗi sợ hãi bao trùm và trấn áp toàn xã hội: “trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”. Hàng ngàn con người đã bị qui cho cái tội rất mơ hồ là “bóc lột” hay “có nợ máu với nhân dân” và bị giết chết một cách dã man thê thảm, tài sản của họ bị tước đoạt chia chác. Xét cho cùng thì tội của họ một đàng là vì họ sở hữu những tài sản vật chất và phi vật chất, trong khi người ta đang muốn xây dựng một xã hội vô sản; đằng khác, những người vừa cướp được chính quyền muốn cào bằng tất cả để xây dựng một cơ cấu xã hội hoàn toàn mới với những “con người mới XHCN”. Đó là chuyện đã xảy ra ở miền Bắc từ hơn nửa thế kỉ trước.
Ở miền Nam cách nay vài chục năm, sau khi giành được quyền lực nhờ cấu kết với ngoại bang và nướng sống vài triệu thanh niên, người ta cũng đã dùng bầu không khí sợ hãi, cũng bằng vở tuồng chụp mũ ngày nào, tội “bóc lột” hay “có nợ máu với nhân dân”, hàng triệu người lại tiếp tục bị đày ải tù tội, rất nhiều tài sản của họ dĩ nhiên lọt vào tay “nhân dân” để rồi bị sang tay tráo đổi.
Người từng đọc lịch sử hẳn đều biết rằng chính quyền Việt Nam đôi lúc cũng đã hé mắt nhìn để rồi “sửa sai” hay “đổi mới”. Tuy nhiên họ luôn cho rằng những điều họ đã làm là hoàn toàn đúng, là “qui luật tất yếu của lịch sử”, những sai sót chỉ thuộc về những tiểu tiết trong khi thi hành, còn đường lối là luôn luôn đúng đắn. Về căn bản, họ không bao giờ chấp nhận đó là những sai lầm khủng khiếp đã khiến bánh xe lịch sử Việt Nam quay chậm đi hàng thế kỉ với một quốc gia tan hoang hỗn loạn.
Khi con người trong xã hội bị kết tội chỉ vì họ giầu có, về của cải hoặc về tri thức, hay chỉ vì họ mang chính kiến khác biệt, cũng có nghĩa những quyền căn bản nhất của con người như quyền tư hữu và quyền lên tiếng đã bị chà đạp. Một xã hội không bao giờ có thể phát triển lành mạnh khi mỗi cá nhân luôn nơm nớp lo sợ rằng tất cả những gì mình gắng công vun đắp kiến tạo hôm nay sẽ bị cướp giật tước đoạt hay lọt vào tay kẻ khác vào một ngày đẹp trời, chẳng cần qua bất cứ một trình tự pháp lí minh bạch nào, mà chỉ do những phát động sặc mùi vu khống chụp mũ bao trùm bằng nỗi sợ hãi.
Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu, điều thê thảm cùng cực đối với số mạng từng con dân và vận mệnh cả dân tộc Việt Nam trong thế kỉ qua đó là TÀI SẢN CÁ NHÂN CHƯA HỀ ĐƯỢC TÔN TRỌNG. Hơn thế nữa, người ta đã mải miết xoá bỏ tất cả những điều xưa cũ để xây dựng một cơ cấu xã hội mới. Sau nửa thế kỉ hồ hởi phấn khởi xây thiên đường mù, người ta mới chợt ngã ngửa nhận ra rằng cái thiên đường ấy chưa hề được định hình cụ thể ra sao. Rút cuộc, người Việt Nam chúng ta hầu như đã đánh mất tất cả những truyền thống tốt đẹp xa xưa, trong khi cơ cấu mới thực sự là một mớ hỗn độn không ra quân chủ, chẳng ra tư bản, lại thêm một cái đuôi lòng thòng là “định hướng XHCN” được vận hành theo lối mafia với những tên công bộc tham lam nhũng nhiễu.
Vậy nên, chuyện bẻ hoa, cướp hoa, dẫm đạp lên hoa mà chúng ta từng chứng kiến là gì nếu không phải là cách hành xử theo nguyên tắc CỦA MÀY LÀ CỦA TAO? Đáng lẽ đảng và chính phủ phải tuyên dương những con người đó, vì họ chính là những “con người mới XHCN”, đã “thấm nhuần đạo đức cách mạng”.
Chữa bệnh dĩ nhiên phải chữa tận căn, trong khi trên thực tế hiện nay, người ta chỉ quan sát hiện tượng để rồi chữa trị các căn bệnh trong xã hội theo kiểu vặt ngọn hay bịt ngọn. Điều đó chỉ khiến cho các mối liên hệ xã hội ngày càng trở nên bùng nhùng phức tạp, vô phương giải quyết. Văn kiện mới nhất mà ông thủ tướng ban hành vẫn chỉ là một lời tái khẳng định nguyên tắc của “đạo đức cách mạng” rằng CỦA MÀY LÀ CỦA TAO, những gì chúng tao đã lấy của chúng mày, chúng mày không được đòi lại, chúng mày không có cơ sở đòi lại.
Dù sao, tôi nhận thấy đảng và chính phủ đã thực sự đổi mới, bởi vì tôi chợt nghĩ nếu dùng món võ của Mộ Dung Phục ngày nào, “dĩ bỉ chi đạo hoàn thi bỉ thân”, nói một cách nôm na là gậy ông lại đập lưng ông, để áp dụng vào thời buổi hiện tại, “trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, theo chính những tiêu chí người ta đã đưa ra ngày nào, tôi tin rằng đa số thành phần bị xếp vào hàng “bóc lột” hay “có nợ máu với nhân dân” hiện nay chính là những đảng viên cộng sản.
Hoàng Cúc
NỀN BÁO CHÍ "GỌI DẠ BẢO VÂNG"
Nền báo chí “gọi dạ bảo vâng"
Phạm Trần
Đăng ngày 30/01/2009 lúc 02:54:43 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3489
Càng có thêm luật người làm báo càng nô lệ
Nền báo chí được gọi là “cách mạng” ở Việt Nam chẳng qua là “cách miệng” vì người làm báo chỉ được viết những điều đảng muốn và người đọc chỉ được biết những gì nhà nước cho phép.
Một Dự luật Báo chí mới sẽ được đem ra thảo luận tại Quốc hội sau Tết Kỷ Sửu có nội dung như thế, nhưng không người làm báo nào dám hé răng, không một Đại biểu Quốc Hội nào dám lên tiếng chống đối.
Vậy mà Luật của Bộ Thông Tin-Truyền Thông vẫn hô lên: “Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn của nhân dân.” (Điều 3)
Và tuy không có điều nào trong Hiến Pháp 1992 và trong mọi Bộ Luật của Nhà nước Cộng sản Việt Nam minh thị ngăn cấm tư nhân ra báo, những người tự đưa mình lên cầm quyền đã ngang nhiên chà đạp lên Hiến pháp và Luật pháp để giành độc quyền ra báo cho các Tổ chức của đảng và các đòan thể Chính trị - Xã hội do Nhà nước dựng lên.
Vậy mà trong Dự thảo Luật Báo chí, họ vẫn có thể viết trâng tráo trong Điều 4: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí.
Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ.
Không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động đúng pháp luật.
Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.
Nhà nước không kiểm duyệt báo chí trước khi đăng, phát sóng.”
Khi nói về chủ trương được gọi là “phát triển báo chí” của đảng và do đảng cho phép các Tổ chức của mình lập ra, Dự Luật vẫn giành lấy đặc quyền này trên giấy trằng mực đen như minh định theo 4 bước của Điều 7:
“1. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện xây dựng và phát triển toàn diện nền báo chí Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Nhà nước có chính sách đầu tư có trọng tâm, trọng điểm trong các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động báo chí; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý hoạt động báo chí; nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan báo chí.
3. Nhà nước có chính sách trợ cước, trợ giá phát hành và chính sách hỗ trợ khác đối với báo chí phục vụ thiếu niên, nhi đồng, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội trọng yếu và thông tin đối ngoại.
4. Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế, về phí đối với cơ quan báo chí hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu.”
Nói cách khác, đảng ra báo, nhà nước giúp duy trì các báo bằng mọi phương tiện và bằng tiền đóng thuế của dân thì chỉ có ở Việt Nam, dưới thời Cộng sản, mới có nền báo chí quái gở như nói thêm trong Điều 8:
“1. Quỹ hỗ trợ phát triển báo chí là tổ chức tài chính nhà nước, trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
Quỹ được sử dụng để hỗ trợ cơ quan báo chí và các hoạt động phát triển báo chí và đươc miễn thuế. Việc quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ phát triển báo chí phải đúng mục đích và theo quy định của pháp luật.
2. Nguồn tài chính của Quỹ hỗ trợ phát triển báo chí gồm hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguồn hợp pháp khác.”
Để xác định quyền kiểm soát báo chí phải thuộc về nhà nước, Bộ Thông Tin-Truyền Thông không ngần ngại viết trong Điều 10 của Dự Luật Báo chí mới:
“ 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí. 2. Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí. 3. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về báo chí. 4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về báo chí trong phạm vi địa phương.”Độc quyền và độc tài
Với những Điều vừa kể, mục đích ra đời của Luật Báo chí mới chỉ nhằm bóp nghẹt hơn quyền thông tin của Báo chí và quyền được thông tin của người dân.
Đảng CSVN còn đi xa hơn khi đưa ra những điều cấm kỵ viết trong Điều 12 quy định “Những hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí”, theo đó, báo chí không được :
1. Tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2. Tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục.
3. Tiết lộ bí mật Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà pháp luật quy định.
4. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, vĩ nhân, anh hùng dân tộc; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.”
Điều này còn viết: “Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về báo chí.”
Về việc “Cung cấp thông tin cho báo chí” Điều 16 có nhiều ràng buộc đối với cả người đưa tin và người sử dụng tin như sau:
“1. Trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình, các tổ chức, người có trách nhiệm có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã cung cấp. Cơ quan báo chí sử dụng thông tin được cung cấp phải nêu rõ xuất xứ nguồn tin.
2. Đối với vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, chưa xét xử hoặc xét xử kín thì các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền không cung cấp thông tin cho báo chí; báo chí có quyền thông tin theo các nguồn tài liệu của mình nhưng không được quy kết tội danh; phải nêu rõ là nguồn tin riêng của báo, nhà báo và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin.
3. Cơ quan báo chí và nhà báo có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ tên người cung cấp thông tin nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên khi xét thấy cần thiết cho việc xét xử tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
4. Chính phủ quy định cụ thể chế độ cung cấp thông tin cho báo chí.”
Khi Luật dành quyền cho nhà nước “quy định cụ thể chế độ cung cấp thông tin cho báo chí” thì có khác chi việc để cho cơ quan thi hành luật được tự do tròng thêm vào cổ người cung cấp tin một giây thòng lọng nữa ?
Tính chồng chéo của Luật pháp Việt Nam đã từng được tranh luận tại Quốc hội, trong nhân dân và bị các nhà đầu tư nước ngòai than phiền trên 20 năm qua, kể từ ngày có chủ trương Đổi Mới năm 1986, nhưng đảng vẫn chứng nào tật nấy cố tình tạo thêm nhiều khó khăn cho mọi người để kiểm soát và hưởng lợi.
Dự Luật này không cho người làm báo có quyền từ chối tiết lộ nguồn tin khi bị nhà nước điều tra thì ai còn muốn tố cáo kẻ tham nhũng, vi phạm luật pháp của cán bộ, đảng viên?
Bài học thất bại trong công tác chống Quan liêu, Tham nhũng, Lãng phí trong đảng và nhà nước từ bao nhiêu năm qua vẫn chưa làm đảng hết ngủ mê nên mới có Điều 16 để bảo vệ cho đảng không bị vạch áo cho người xem lưng như đã chứng minh trong vụ án hai báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ hồi tháng 10/2008.
Nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí
Và dường như người Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng ràng buộc báo chí như thế chưa đủ nên Bộ Thông tin-Truyền thông còn vẽ thêm ra Chương III để cho mọi người biết Báo chí phải có nhiệm vụ và chỉ có quyền hạn ghi trong Điều 17:
“1. Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân;
2. Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân;
4. Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội.”
Về “Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà báo”, Điều 19 ràng buộc họ phải:
“1. Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, góp phần thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.
2. Bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước; phát hiện, bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm.
3. Thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức và nghiệp vụ báo chí; không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật.
4. Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
5. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình.
6. Hoạt động báo chí trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ Việt Nam; hoạt động báo chí ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
7. Khai thác và được cung cấp thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật.
8. Khước từ việc viết, biên soạn hoặc tham gia biên soạn tác phẩm báo chí trái với quy định của pháp luật về báo chí.
9. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ báo chí; hưởng một số chế độ ưu tiên cần thiết trong hoạt động báo chí theo quy định của Chính phủ.
10. Được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Không ai được đe doạ, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phá huỷ, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật.”
Ai được quyền ra báo?
Luật Báo chí mới còn quy định rõ các thành phần được phép ra Báo ghi trong Điều 22 gồm:
“Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác do Chính phủ quy định được thành lập cơ quan báo chí.”
Phóng viên, Biên tập viên, Tổng biên tập và người thay mặt cơ quan, đoàn thể, tổ chức đứng tên xin ra báo, hay còn được gọi là Chủ Quản phải “Có đủ tiêu chuẩn chính trị”, nhưng Luật lại không minh thị những “tiêu chuẩn” ấy phải như thế nào!
Luật mới cho phép Báo chí nhà nước “Xuất khẩu” tự do như ghi trong Điều 42, nhưng “nhập khẩu” lại không có tự do:
“1. Báo chí xuất bản hợp pháp tại Việt Nam được phép xuất khẩu ra nước ngoài;
2. Việc nhập khẩu báo chí được thực hiện thông qua cơ sở xuất nhập khẩu báo chí.
3. Cơ sở nhập khẩu báo chí phải đăng ký danh mục báo chí nhập khẩu với Bộ Thông tin và Truyền thông trước khi nhập khẩu.
4. Người đứng đầu cơ sở nhập khẩu báo chí phải tổ chức kiểm tra nội dung báo chí nhập khẩu trước khi phát hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung báo chí mà mình nhập khẩu.”
Từ xưa tới nay, nhà nước CSVN vẫn khoe có tự do báo chí và đảng cam kết bảo vệ quyền này, nhưng đó là thứ tự do “có phép” và “phải được phép” nên đó là thứ tự do trong chiếc lồng, trong vòng vây của mạng lưới an ninh và chính trị của đảng.
Họ cũng bênh vực cho quyết định không cho phép tư nhân ra báo và cương quyết chống lại mọi nỗ lực “tư nhân hoá báo chí”, đã có một thời được một số người thử nghiệm.
Vì vậy, dù đảng CSVN có ra thêm bao nhiêu Luật chăng nữa, báo chí Việt Nam vẫn chỉ là thứ gọi dạ, bảo vâng và người làm báo vẫn muôn kiếp là loại cán viết những gì đảng muốn để nhồi nhét vào đầu người dân.
Phạm Trần
30/01/2009
Phạm Trần
Đăng ngày 30/01/2009 lúc 02:54:43 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3489
Càng có thêm luật người làm báo càng nô lệ
Nền báo chí được gọi là “cách mạng” ở Việt Nam chẳng qua là “cách miệng” vì người làm báo chỉ được viết những điều đảng muốn và người đọc chỉ được biết những gì nhà nước cho phép.
Một Dự luật Báo chí mới sẽ được đem ra thảo luận tại Quốc hội sau Tết Kỷ Sửu có nội dung như thế, nhưng không người làm báo nào dám hé răng, không một Đại biểu Quốc Hội nào dám lên tiếng chống đối.
Vậy mà Luật của Bộ Thông Tin-Truyền Thông vẫn hô lên: “Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn của nhân dân.” (Điều 3)
Và tuy không có điều nào trong Hiến Pháp 1992 và trong mọi Bộ Luật của Nhà nước Cộng sản Việt Nam minh thị ngăn cấm tư nhân ra báo, những người tự đưa mình lên cầm quyền đã ngang nhiên chà đạp lên Hiến pháp và Luật pháp để giành độc quyền ra báo cho các Tổ chức của đảng và các đòan thể Chính trị - Xã hội do Nhà nước dựng lên.
Vậy mà trong Dự thảo Luật Báo chí, họ vẫn có thể viết trâng tráo trong Điều 4: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí.
Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ.
Không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động đúng pháp luật.
Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.
Nhà nước không kiểm duyệt báo chí trước khi đăng, phát sóng.”
Khi nói về chủ trương được gọi là “phát triển báo chí” của đảng và do đảng cho phép các Tổ chức của mình lập ra, Dự Luật vẫn giành lấy đặc quyền này trên giấy trằng mực đen như minh định theo 4 bước của Điều 7:
“1. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện xây dựng và phát triển toàn diện nền báo chí Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Nhà nước có chính sách đầu tư có trọng tâm, trọng điểm trong các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động báo chí; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý hoạt động báo chí; nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan báo chí.
3. Nhà nước có chính sách trợ cước, trợ giá phát hành và chính sách hỗ trợ khác đối với báo chí phục vụ thiếu niên, nhi đồng, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội trọng yếu và thông tin đối ngoại.
4. Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế, về phí đối với cơ quan báo chí hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu.”
Nói cách khác, đảng ra báo, nhà nước giúp duy trì các báo bằng mọi phương tiện và bằng tiền đóng thuế của dân thì chỉ có ở Việt Nam, dưới thời Cộng sản, mới có nền báo chí quái gở như nói thêm trong Điều 8:
“1. Quỹ hỗ trợ phát triển báo chí là tổ chức tài chính nhà nước, trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
Quỹ được sử dụng để hỗ trợ cơ quan báo chí và các hoạt động phát triển báo chí và đươc miễn thuế. Việc quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ phát triển báo chí phải đúng mục đích và theo quy định của pháp luật.
2. Nguồn tài chính của Quỹ hỗ trợ phát triển báo chí gồm hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguồn hợp pháp khác.”
Để xác định quyền kiểm soát báo chí phải thuộc về nhà nước, Bộ Thông Tin-Truyền Thông không ngần ngại viết trong Điều 10 của Dự Luật Báo chí mới:
“ 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí. 2. Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí. 3. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về báo chí. 4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về báo chí trong phạm vi địa phương.”Độc quyền và độc tài
Với những Điều vừa kể, mục đích ra đời của Luật Báo chí mới chỉ nhằm bóp nghẹt hơn quyền thông tin của Báo chí và quyền được thông tin của người dân.
Đảng CSVN còn đi xa hơn khi đưa ra những điều cấm kỵ viết trong Điều 12 quy định “Những hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí”, theo đó, báo chí không được :
1. Tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2. Tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục.
3. Tiết lộ bí mật Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà pháp luật quy định.
4. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, vĩ nhân, anh hùng dân tộc; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.”
Điều này còn viết: “Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về báo chí.”
Về việc “Cung cấp thông tin cho báo chí” Điều 16 có nhiều ràng buộc đối với cả người đưa tin và người sử dụng tin như sau:
“1. Trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình, các tổ chức, người có trách nhiệm có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã cung cấp. Cơ quan báo chí sử dụng thông tin được cung cấp phải nêu rõ xuất xứ nguồn tin.
2. Đối với vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, chưa xét xử hoặc xét xử kín thì các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền không cung cấp thông tin cho báo chí; báo chí có quyền thông tin theo các nguồn tài liệu của mình nhưng không được quy kết tội danh; phải nêu rõ là nguồn tin riêng của báo, nhà báo và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin.
3. Cơ quan báo chí và nhà báo có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ tên người cung cấp thông tin nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên khi xét thấy cần thiết cho việc xét xử tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
4. Chính phủ quy định cụ thể chế độ cung cấp thông tin cho báo chí.”
Khi Luật dành quyền cho nhà nước “quy định cụ thể chế độ cung cấp thông tin cho báo chí” thì có khác chi việc để cho cơ quan thi hành luật được tự do tròng thêm vào cổ người cung cấp tin một giây thòng lọng nữa ?
Tính chồng chéo của Luật pháp Việt Nam đã từng được tranh luận tại Quốc hội, trong nhân dân và bị các nhà đầu tư nước ngòai than phiền trên 20 năm qua, kể từ ngày có chủ trương Đổi Mới năm 1986, nhưng đảng vẫn chứng nào tật nấy cố tình tạo thêm nhiều khó khăn cho mọi người để kiểm soát và hưởng lợi.
Dự Luật này không cho người làm báo có quyền từ chối tiết lộ nguồn tin khi bị nhà nước điều tra thì ai còn muốn tố cáo kẻ tham nhũng, vi phạm luật pháp của cán bộ, đảng viên?
Bài học thất bại trong công tác chống Quan liêu, Tham nhũng, Lãng phí trong đảng và nhà nước từ bao nhiêu năm qua vẫn chưa làm đảng hết ngủ mê nên mới có Điều 16 để bảo vệ cho đảng không bị vạch áo cho người xem lưng như đã chứng minh trong vụ án hai báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ hồi tháng 10/2008.
Nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí
Và dường như người Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng ràng buộc báo chí như thế chưa đủ nên Bộ Thông tin-Truyền thông còn vẽ thêm ra Chương III để cho mọi người biết Báo chí phải có nhiệm vụ và chỉ có quyền hạn ghi trong Điều 17:
“1. Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân;
2. Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân;
4. Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội.”
Về “Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà báo”, Điều 19 ràng buộc họ phải:
“1. Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, góp phần thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.
2. Bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước; phát hiện, bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm.
3. Thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức và nghiệp vụ báo chí; không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật.
4. Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
5. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình.
6. Hoạt động báo chí trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ Việt Nam; hoạt động báo chí ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
7. Khai thác và được cung cấp thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật.
8. Khước từ việc viết, biên soạn hoặc tham gia biên soạn tác phẩm báo chí trái với quy định của pháp luật về báo chí.
9. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ báo chí; hưởng một số chế độ ưu tiên cần thiết trong hoạt động báo chí theo quy định của Chính phủ.
10. Được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Không ai được đe doạ, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phá huỷ, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật.”
Ai được quyền ra báo?
Luật Báo chí mới còn quy định rõ các thành phần được phép ra Báo ghi trong Điều 22 gồm:
“Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác do Chính phủ quy định được thành lập cơ quan báo chí.”
Phóng viên, Biên tập viên, Tổng biên tập và người thay mặt cơ quan, đoàn thể, tổ chức đứng tên xin ra báo, hay còn được gọi là Chủ Quản phải “Có đủ tiêu chuẩn chính trị”, nhưng Luật lại không minh thị những “tiêu chuẩn” ấy phải như thế nào!
Luật mới cho phép Báo chí nhà nước “Xuất khẩu” tự do như ghi trong Điều 42, nhưng “nhập khẩu” lại không có tự do:
“1. Báo chí xuất bản hợp pháp tại Việt Nam được phép xuất khẩu ra nước ngoài;
2. Việc nhập khẩu báo chí được thực hiện thông qua cơ sở xuất nhập khẩu báo chí.
3. Cơ sở nhập khẩu báo chí phải đăng ký danh mục báo chí nhập khẩu với Bộ Thông tin và Truyền thông trước khi nhập khẩu.
4. Người đứng đầu cơ sở nhập khẩu báo chí phải tổ chức kiểm tra nội dung báo chí nhập khẩu trước khi phát hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung báo chí mà mình nhập khẩu.”
Từ xưa tới nay, nhà nước CSVN vẫn khoe có tự do báo chí và đảng cam kết bảo vệ quyền này, nhưng đó là thứ tự do “có phép” và “phải được phép” nên đó là thứ tự do trong chiếc lồng, trong vòng vây của mạng lưới an ninh và chính trị của đảng.
Họ cũng bênh vực cho quyết định không cho phép tư nhân ra báo và cương quyết chống lại mọi nỗ lực “tư nhân hoá báo chí”, đã có một thời được một số người thử nghiệm.
Vì vậy, dù đảng CSVN có ra thêm bao nhiêu Luật chăng nữa, báo chí Việt Nam vẫn chỉ là thứ gọi dạ, bảo vâng và người làm báo vẫn muôn kiếp là loại cán viết những gì đảng muốn để nhồi nhét vào đầu người dân.
Phạm Trần
30/01/2009
MỘT TỜ BÁO XÉ RÀO
Một tờ báo “xé toạc hàng rào”, chỉ trích chính quyền CSVN "mãi quốc cầu vinh"
Tin và hình: Phan Việt Ðăng
Thursday, January 29, 2009
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=90153&z=157
Có dấu hiệu “nước đang tràn ly”
(NV) - Bất chấp những răn đe từ Bộ Thông Tin và Truyền Thông, dù lẻ loi nhưng giai phẩm Xuân của một tờ báo có manchette là “Du Lịch”, với cơ quan chủ quản là Tổng Cục Du Lịch, thuộc Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch CSVN, vẫn lên tiếng ca ngợi những thanh niên, sinh viên từng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, khẳng định chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa là bất khả xâm phạm.
Giai phẩm Xuân của tờ Du Lịch được phát hành trước Tết Nguyên Ðán, với số lượng khoảng 10,000 bản đang gây xôn xao trong giới trí thức và sinh viên, học sinh bởi đây là lần đầu tiên, một trong khoảng 700 cơ quan truyền thông trực thuộc chính quyền CSVN, chính thức lên tiếng kêu gọi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và cảnh báo về họa ngoại xâm, thậm chí công khai khẳng định sự ủng hộ đối với các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, diễn ra từ cuối tháng 12 năm 2007 cho đến nay và luôn bị chính quyền CSVN tìm đủ cách để ngăn chặn, đàn áp.
Bìa giai phẩm Xuân Du Lịch
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/90153-medium_vn_300109_chongtau_1.jpg
Bài “Hận Nam Quan” được đăng trong giai phẩm này.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/90153-medium_vn_300109_chongtau_2.JPG
Ảnh chụp bài “Tản mạn đảo xa”
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/90153-medium_vn_300109_chongtau_3.JPG
Ðây cũng là ấn bản đầu tiên do một cơ quan truyền thông “chính thống” thực hiện, dám “xé toạc hàng rào” mà Ðảng và chính quyền CSVN đã dựng lên từ trước đến nay. Với hàng rào này, các cơ quan truyền thông trực thuộc chính quyền CSVN bị cấm đề cập đến tương quan giữa quan hệ Việt-Trung với chủ quyền lãnh thổ, có nội dung nằm ngoài sự chỉ đạo của Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương Ðảng và Bộ Thông Tin-Truyền Thông. Cũng vì vậy, ấn bản này đang được nhiều người săn tìm để photocopy.
Ấn bản đang thu hút sự chú ý lớn từ công chúng có sự góp mặt của khá nhiều tác giả vốn bị chính quyền CSVN xếp vào loại “có vấn đề về nhận thức chính trị” hoặc “không đáng tin cậy” như: Bùi Minh Quốc, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A,...
Ðáng chú ý là trong bài “Tản mạn cho đảo xa” đăng trên hai trang 12 và 13, một tác giả tên Trung Bảo viết: “...Những ngày cuối năm 2007 đầu năm 2008, lần đầu tiên kể từ ngày thống nhất đất nước, thanh niên Việt Nam đã xuống đường để bày tỏ lòng yêu nước khi Trung Quốc công khai bày tỏ dã tâm với hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Dẫu rằng vì nhiều lý do, những lần xuống đường đó không được báo chí trong nước thông tin rộng rãi. Dẫu rằng những tấm lòng yêu nước trong sáng, sự hiên ngang khí phách kia không được ca ngợi công khai... nhưng người ta sẽ phải nhớ rằng tấm lòng nhiệt thành với đất nước của thanh niên, trí thức sẽ không bao giờ thay đổi...”
Cũng tác giả này khẳng định: “Ngày 9.12.2007 có lẽ sẽ chẳng bao giờ khiến tôi quên được. Quên sao được không khí bừng bừng khí thế. Quên sao được khi tình cờ, tôi được đứng lẫn vào những người đã tạo dựng nên ngày lịch sử...” Tác giả Trung Bảo còn lên tiếng chỉ trích những kẻ đã ngăn cản, đàn áp thanh niên, sinh viên biểu tình chống ngoại xâm.
Những ý kiến vừa kể thật ra không mới nhưng những ý kiến này trở thành đặc biệt ở chỗ, chúng chưa bao giờ xuất hiện trên hệ thống truyền thông trực thuộc chính quyền CSVN. Theo dư luận, “Trung Bảo” là bút danh của một viên chức đang làm việc tại Mặt Trận Tổ Quốc của thành phố Sài Gòn.
Giai phẩm Xuân Du lịch còn nhiều bài viết khác nhấn mạnh, Ải Nam Quan và nhiều vùng lãnh thổ, lãnh hải khác là phần không thể tách rời khỏi chủ quyền của Việt Nam. Nhóm chủ biên đã đưa cả bài “Hận Nam Quan” vào giai phẩm. Những người theo dõi sát thời cuộc ở Việt Nam tin rằng, việc chọn đăng “Hận Nam Quan” nhằm phê phán tuyên bố của Vũ Dũng, thứ trưởng Ngoại Giao CSVN trên báo điện tử VietNamNet vào ngày 2 tháng 1 năm 2009. Bất chấp lịch sử dân tộc và vô số chứng cứ khác, trong tuyên bố đó, Vũ Dũng trâng tráo bảo rằng: “Theo lịch sử, thác Bản Giốc, ải Nam Quan đã là của Trung Quốc từ đời nhà Minh, nhà Thanh”.
Các nguồn thạo tin cho biết, do nội dung tờ Du Lịch vốn chỉ thiên về du lịch nên Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương của Ðảng CSVN, Bộ Thông Tin Truyền Thông và lực lượng an ninh của công an CSVN đã “mất cảnh giác”. Ðây là lý do giúp giai phẩm Xuân Du Lịch “lọt lưới”. Tuy nhiên, sau đó, các cơ quan này quyết định “án binh bất động”, chỉ “lặng lẽ thu hồi” để tránh làm dư luận xôn xao và tránh những phản ứng bất lợi có thể xảy ra ngay trong dịp Tết.
Vẫn theo các nguồn thạo tin, sắp tới, Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương của Ðảng CSVN, Bộ Thông Tin Truyền Thông và lực lượng an ninh của công an CSVN sẽ “xử lý sai phạm nghiêm trọng này rất nghiêm khắc”.
Trong khung xuất bản của giai phẩm Xuân Du Lịch, người ta đọc thấy tên người phụ trách xuất bản là phó tổng biên tập Nguyễn Trung Dân và tổng thư ký Trần Văn Tiến.
Từ cuối năm ngoái đến nay, áp lực càng ngày càng lớn từ dư luận trong và ngoài nước, kể cả trong cán bộ, đảng viên CSVN về sự bạc nhược, đốn mạt khi ứng xử với Trung Quốc đã khiến lãnh đạo Ðảng và chính quyền CSVN hết sức lo ngại. Các viên chức cao cấp đã đưa ra nhiều tuyên bố, nhằm phân bua họ không “mãi quốc cầu vinh”. Sự xuất hiện một ấn bản có nội dung như giai phẩm Xuân Du Lịch cho thấy nước đang tràn ly, kể cả trong báo giới, vốn vẫn quen cúi đầu khuất phục. (G.Ð)
Tin và hình: Phan Việt Ðăng
Thursday, January 29, 2009
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=90153&z=157
Có dấu hiệu “nước đang tràn ly”
(NV) - Bất chấp những răn đe từ Bộ Thông Tin và Truyền Thông, dù lẻ loi nhưng giai phẩm Xuân của một tờ báo có manchette là “Du Lịch”, với cơ quan chủ quản là Tổng Cục Du Lịch, thuộc Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch CSVN, vẫn lên tiếng ca ngợi những thanh niên, sinh viên từng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, khẳng định chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa là bất khả xâm phạm.
Giai phẩm Xuân của tờ Du Lịch được phát hành trước Tết Nguyên Ðán, với số lượng khoảng 10,000 bản đang gây xôn xao trong giới trí thức và sinh viên, học sinh bởi đây là lần đầu tiên, một trong khoảng 700 cơ quan truyền thông trực thuộc chính quyền CSVN, chính thức lên tiếng kêu gọi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và cảnh báo về họa ngoại xâm, thậm chí công khai khẳng định sự ủng hộ đối với các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, diễn ra từ cuối tháng 12 năm 2007 cho đến nay và luôn bị chính quyền CSVN tìm đủ cách để ngăn chặn, đàn áp.
Bìa giai phẩm Xuân Du Lịch
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/90153-medium_vn_300109_chongtau_1.jpg
Bài “Hận Nam Quan” được đăng trong giai phẩm này.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/90153-medium_vn_300109_chongtau_2.JPG
Ảnh chụp bài “Tản mạn đảo xa”
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/90153-medium_vn_300109_chongtau_3.JPG
Ðây cũng là ấn bản đầu tiên do một cơ quan truyền thông “chính thống” thực hiện, dám “xé toạc hàng rào” mà Ðảng và chính quyền CSVN đã dựng lên từ trước đến nay. Với hàng rào này, các cơ quan truyền thông trực thuộc chính quyền CSVN bị cấm đề cập đến tương quan giữa quan hệ Việt-Trung với chủ quyền lãnh thổ, có nội dung nằm ngoài sự chỉ đạo của Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương Ðảng và Bộ Thông Tin-Truyền Thông. Cũng vì vậy, ấn bản này đang được nhiều người săn tìm để photocopy.
Ấn bản đang thu hút sự chú ý lớn từ công chúng có sự góp mặt của khá nhiều tác giả vốn bị chính quyền CSVN xếp vào loại “có vấn đề về nhận thức chính trị” hoặc “không đáng tin cậy” như: Bùi Minh Quốc, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A,...
Ðáng chú ý là trong bài “Tản mạn cho đảo xa” đăng trên hai trang 12 và 13, một tác giả tên Trung Bảo viết: “...Những ngày cuối năm 2007 đầu năm 2008, lần đầu tiên kể từ ngày thống nhất đất nước, thanh niên Việt Nam đã xuống đường để bày tỏ lòng yêu nước khi Trung Quốc công khai bày tỏ dã tâm với hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Dẫu rằng vì nhiều lý do, những lần xuống đường đó không được báo chí trong nước thông tin rộng rãi. Dẫu rằng những tấm lòng yêu nước trong sáng, sự hiên ngang khí phách kia không được ca ngợi công khai... nhưng người ta sẽ phải nhớ rằng tấm lòng nhiệt thành với đất nước của thanh niên, trí thức sẽ không bao giờ thay đổi...”
Cũng tác giả này khẳng định: “Ngày 9.12.2007 có lẽ sẽ chẳng bao giờ khiến tôi quên được. Quên sao được không khí bừng bừng khí thế. Quên sao được khi tình cờ, tôi được đứng lẫn vào những người đã tạo dựng nên ngày lịch sử...” Tác giả Trung Bảo còn lên tiếng chỉ trích những kẻ đã ngăn cản, đàn áp thanh niên, sinh viên biểu tình chống ngoại xâm.
Những ý kiến vừa kể thật ra không mới nhưng những ý kiến này trở thành đặc biệt ở chỗ, chúng chưa bao giờ xuất hiện trên hệ thống truyền thông trực thuộc chính quyền CSVN. Theo dư luận, “Trung Bảo” là bút danh của một viên chức đang làm việc tại Mặt Trận Tổ Quốc của thành phố Sài Gòn.
Giai phẩm Xuân Du lịch còn nhiều bài viết khác nhấn mạnh, Ải Nam Quan và nhiều vùng lãnh thổ, lãnh hải khác là phần không thể tách rời khỏi chủ quyền của Việt Nam. Nhóm chủ biên đã đưa cả bài “Hận Nam Quan” vào giai phẩm. Những người theo dõi sát thời cuộc ở Việt Nam tin rằng, việc chọn đăng “Hận Nam Quan” nhằm phê phán tuyên bố của Vũ Dũng, thứ trưởng Ngoại Giao CSVN trên báo điện tử VietNamNet vào ngày 2 tháng 1 năm 2009. Bất chấp lịch sử dân tộc và vô số chứng cứ khác, trong tuyên bố đó, Vũ Dũng trâng tráo bảo rằng: “Theo lịch sử, thác Bản Giốc, ải Nam Quan đã là của Trung Quốc từ đời nhà Minh, nhà Thanh”.
Các nguồn thạo tin cho biết, do nội dung tờ Du Lịch vốn chỉ thiên về du lịch nên Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương của Ðảng CSVN, Bộ Thông Tin Truyền Thông và lực lượng an ninh của công an CSVN đã “mất cảnh giác”. Ðây là lý do giúp giai phẩm Xuân Du Lịch “lọt lưới”. Tuy nhiên, sau đó, các cơ quan này quyết định “án binh bất động”, chỉ “lặng lẽ thu hồi” để tránh làm dư luận xôn xao và tránh những phản ứng bất lợi có thể xảy ra ngay trong dịp Tết.
Vẫn theo các nguồn thạo tin, sắp tới, Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương của Ðảng CSVN, Bộ Thông Tin Truyền Thông và lực lượng an ninh của công an CSVN sẽ “xử lý sai phạm nghiêm trọng này rất nghiêm khắc”.
Trong khung xuất bản của giai phẩm Xuân Du Lịch, người ta đọc thấy tên người phụ trách xuất bản là phó tổng biên tập Nguyễn Trung Dân và tổng thư ký Trần Văn Tiến.
Từ cuối năm ngoái đến nay, áp lực càng ngày càng lớn từ dư luận trong và ngoài nước, kể cả trong cán bộ, đảng viên CSVN về sự bạc nhược, đốn mạt khi ứng xử với Trung Quốc đã khiến lãnh đạo Ðảng và chính quyền CSVN hết sức lo ngại. Các viên chức cao cấp đã đưa ra nhiều tuyên bố, nhằm phân bua họ không “mãi quốc cầu vinh”. Sự xuất hiện một ấn bản có nội dung như giai phẩm Xuân Du Lịch cho thấy nước đang tràn ly, kể cả trong báo giới, vốn vẫn quen cúi đầu khuất phục. (G.Ð)
HẬN NAM QUAN
Hận Nam Quan
Ngô Nhân Dụng
Thursday, January 29, 2009
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=90167&z=7
Tờ báo Xuân Kỷ Sửu của Tổng Cục Du Lịch trong chính quyền cộng sản trong nước đã đăng lại bài thơ Hận Nam Quan trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm.
Trong số báo Xuân trên cũng đăng bài của thi sĩ Bùi Minh Quốc, một người mà mục này đã nhắc tới khi ông viết bài tố cáo “Âm mưu diễn biến hòa bình” của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhà thơ thấy Cộng Sản Trung Hoa đã tìm cách chiếm đoạt chủ quyền của Việt Nam bằng cách chiếm dần dần quyền lãnh đạo trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Âm mưu đó đã thành công một phần, như chúng ta thấy trong thái độ nhu nhược của giới lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội trước chính quyền Bắc Kinh trong vụ Hoàng Sa.
Bài viết của Bùi Minh Quốc nhắc tới “hồi ký” của Hoàng Tùng, một cựu cán bộ cao cấp và một đảng viên lâu năm đã từng theo sát các lãnh tụ cộng sản. Thực ra ông Hoàng Tùng không viết hồi ký, tài liệu được truyền bá trên Internet chỉ là những “lời tự thuật” của ông, được ghi lại và hiệu đính. Nội dung nhắm nhiều nhất vào những điều ông biết về Hồ Chí Minh, ông kể lại với chủ ý bênh vực cho ông Hồ. Riêng trong phạm vi này, ông Hoàng Tùng đã vô tình cho thấy “công cuộc diễn biến hòa bình” của Trung Cộng đã thành công từ thời 1950, khi các cố vấn đầu tiên của Trung Cộng sang chỉ huy quân đội cộng sản Việt Nam.
Trong một bài trước, mục này đã nhắc tới ý kiến của các cố vấn Trung Cộng là khai trừ các thành phần “không phải vô sản và bần cố nông” trong quân đội Việt Nam. Một người phụ tá của Văn Tiến Dũng đã lập một danh sách những sĩ quan nên khai trừ, nộp cho các cố vấn. Nhưng Hồ Chí Minh đã ngăn việc thanh lọc này vì sợ thiếu người. Mà quả thực, trong quân đội Việt Nam lúc đó thành phần thực sự vô sản và bần cố nông không có ai đáng làm sĩ quan.
Nhưng bài tự thuật của Hoàng Tùng cũng cho thấy sự thật về ảnh hưởng của các cố vấn Trung Quốc, bao trùm lên cả quân sự lẫn chính trị từ năm 1950. Theo Hoàng Tùng thì Hồ không thích rất nhiều chính sách của Trung Cộng. Hoặc Hoàng Tùng nói ông Hồ không phục Stalin và Mao Trạch Ðông mà ông ta còn hận vì bị hai người đó ép buộc. Các đảng viên cộng sản bây giờ hay nêu ra những chi tiết đó để chữa tội cho ông Hồ, có vẻ như muốn chứng minh ông ta không phải là cộng sản thứ thật, chỉ là cộng sản bất đắc dĩ mà thôi!
Nhưng đối với tất cả mọi người Việt Nam khác thì vấn đề không phải là ông Hồ phục Stalin hay không, không phải là trong thâm tâm ông ta đồng ý hay không thích những chính sách nào của Mao Trạch Ðông. Câu hỏi chính là: Cuối cùng ông Hồ đã làm gì và hậu quả ra sao?
Chúng ta thấy ông Hồ cuối cùng vẫn phải cúi đầu chấp thuận ý kiến của các cố vấn Trung Cộng. Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6 và 7, suốt những năm từ sau năm 1950 ông Hồ mỗi lần viết đều nhất thiết suy tôn “Ðại Nguyên Soái Xtalin,” hoặc Chủ Tịch Mao Trạch Ðông vĩ đại.
Hoàng Tùng kể rằng trong thời gian đó cố vấn quân sự của Trung Cộng “Vi Quốc Thanh chuẩn bị (chiến dịch Biên Giới) mọi việc nhất nhất đều xin ý kiến của Mao.” Trước khi chiến dịch đó bắt đầu vào đầu năm 1950, Hoàng Tùng kể rằng Võ Nguyễn Giáp chủ trương đánh Cao Bằng nhưng Tướng cố vấn Trung Cộng Trần Canh bảo phải đánh vào Ðông Khê. Sau phải đánh Ðông Khê.
Hoàng Tùng kết luận, “Ðúng là Trung Quốc có công giúp ta trong trận Biên Giới.” Cái giá phải trả cho công “giúp” đó là, “Sau thắng lợi mới, tổng kết chiến dịch và sau đó là tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, thay đổi lại tổ chức quân đội.” Những chữ “chỉnh huấn, chỉnh quân” không phải là những khẩu hiệu suông mà là những cuộc tranh đấu nội bộ trong quân đội, theo mẫu đã thực hành ở Trung Quốc, với mục đích tiêu diệt những thành phần “chưa giác ngộ quyền lợi giai cấp vô sản.” Cho nên Hoàng Tùng nói tiếp, “Thế là năm 1950-51, đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội.”
Trong bài tổng kết về chiến dịch này, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, “Trung Quốc có câu Quân Lệnh Như Sơn,” tức là lệnh trong quân vững chắc như núi, không thể thay đổi được. Rõ ràng lối nói trên cũng nhắm để khi dịch bản tổng kết này ra tiếng Trung Hoa thì các cố vấn phải khen Hồ là một học trò giỏi của Mao Chủ Tịch.
Ðó là một bước đầu của “diễn biến hòa bình” mà Bùi Minh Quốc tố cáo. Từ đó, các cố vấn Trung Cộng còn tiến thêm nhiều bước nữa.
Trong thời gian đó Hồ Chí Minh chỉ đóng vai như một bù nhìn, bảo Võ Nguyên Giáp thi hành các lệnh hành quân của Tướng Trần Canh. Hồ Chí Minh cũng đóng vai cán bộ tuyên truyền, viết những lá thư gửi ra mặt trận hô hào các chiến sĩ Việt Nam hãy liều chết hy sinh. Trong lá thư đề ngày 8 tháng 10 năm 1950 Hồ còn hứa sẽ “khao các chiến sĩ một bữa thịt bò.” Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6, bản in năm 2000, in lá thư thịt bò này ở trang 103, nhưng trước đó 2 trang còn in một bài thơ của Hồ Chí Minh tặng Tướng Trần Canh, cố vấn mặt trận. Bài này bắt chước gần nguyên văn bài Lương Châu Từ đời Ðường, trong câu đầu Hồ Chí Minh chỉ thay tên rượu “Bồ Ðào mỹ tửu” bằng tên một thứ rượu mới: “Hương Tân mỹ tửu dạ quang bôi.” Theo chú thích của nhà xuất bản thì “Hương Tân” ở đây là rượu champagne. Thế mới biết, trong thời gian kháng chiến gian khổ của toàn dân Việt Nam, các cố vấn Trung Quốc vẫn được trọng đãi!
Hoàng Tùng lại kể rằng tại đại hội đảng Lao Ðộng năm 1951, La Quý Ba là đại biểu ngoại quốc duy nhất (ngoài Lào và Cam Pu Chia) tới dự, ông cố vấn đã giảng về thuế nông nghiệp. Và, “Sau đó (Việt Minh) bắt đầu đánh thuế. Họ (Trung Cộng) đem các nề nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau đại hội ta không nói gì đến cải cách ruộng đất. Vì thế nên Mùa Hè năm 1952 Mao Trạch Ðông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải thực hiện cải cách ruộng đất.”
Vâng lệnh đó, năm 1953 Hồ Chí Minh phát động chính sách cải cách ruộng đất trong Hội Nghị Trung Ương kỳ thứ tư, khóa 2. Bài diễn văn báo cáo của ông, đọc ngày 25 Tháng Giêng năm 1953, đăng trong Toàn Tập 7, đã ca ngợi công cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Ông Hồ kể Trung Quốc đã “chia ruộng cho 500 triệu nông dân” thành công rộng và lớn! Con số 500 triệu này là do các cố vấn cung cấp, vì lúc đó Bắc Kinh khoe nước họ đã có 582 triệu dân. Ðó là bước nhẩy vọt trong cuộc đời lệ thuộc Trung Cộng của Hồ Chí Minh.
Cuộc cải cách ruộng đất làm chết hàng trăm ngàn người Việt Nam, trong đó có những người đã theo kháng chiến chống Pháp từ đầu. Nhưng vụ giết người thê thảm nhất là vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, còn gọi là bà Cát Thanh Long. Bà là người đã ủng hộ chính phủ kháng chiến hàng trăm lạng vàng, các con theo kháng chiến trong quân đội, các cán bộ cao cấp cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Ðức Thọ đã được bà nuôi. Ðó là những chi tiết mà Hoàng Tùng kể lại, trước khi ông tiết lộ có người Việt Nam đã mách cho các cố vấn Trung Cộng biết về bà Nguyễn Thị Năm để họ chọn làm “thí điểm,” đấu tố trước hết để làm gương. Hồ Chí Minh chống lại, nhưng sau cùng lại phải gật đầu đồng ý.
Theo nhận xét của Hoàng Tùng thì vụ “cải cách ruộng đất” chỉ là một cái cớ. Mục đích của các cố vấn Trung Cộng là thay đổi toàn thể cơ cấu đảng Cộng Sản Việt Nam. Hoàng Tùng viết về mưu đồ của Trung Cộng: “Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Ðảng ta... họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể... họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Ðảng ta.”
Thế Hồ Chí Minh làm gì trong lúc đó? Ngoài việc vâng theo lệnh các cố vấn Trung Cộng ra, ông chỉ còn phải lo viết những bài ca tụng các chính sách mà các cố vấn chỉ bảo, ra lệnh các cán bộ, đảng viên thi hành tốt các chính sách đó. Ngoài ra, ông còn để thời giờ làm thơ nữa, nhất là thơ bằng chữ Hán mà các cố vấn có thể đọc được. Trong một bài “Ngọ Quá Thiên Giang” viết ngày 17 Tháng Ba năm 1950, in trong Toàn Tập cuốn 6, trang 22, ấn bản năm 2000, Hồ Chí Minh đã viết bốn câu ca ngợi hồng quân Trung Hoa. Ðây là một trong những bài thơ Hồ Chí Minh viết trong chuyến đi Trung Quốc năm đó, ngẫu hứng viết về cảnh Bắc Kinh, Hồ Bắc, Trường Sa (ở Hồ Nam). Hai câu chót trong bài Ngọ Quá Thiên Giang ca ngợi chiến thắng của đạo quân Mao Trạch Ðông tại Thiên Giang, câu chót có khí thế rất hùng hồn, oanh liệt:
“Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan!”
Phan Văn Các dịch là “Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan!”
Nếu các nhà báo trong Tổng cục Du lịch ở Việt Nam bây giờ mà đăng bài thơ Hận Nam Quan, họ nên nhớ, xin đừng quên, rằng trước đây 59 năm, hồi Tháng Ba năm 1950 Hồ Chí Minh đã hào hứng hoan nghênh đoàn quân của Mao “trực đáo Trấn Nam Quan” rồi!
Ngô Nhân Dụng
Thursday, January 29, 2009
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=90167&z=7
Tờ báo Xuân Kỷ Sửu của Tổng Cục Du Lịch trong chính quyền cộng sản trong nước đã đăng lại bài thơ Hận Nam Quan trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm.
Trong số báo Xuân trên cũng đăng bài của thi sĩ Bùi Minh Quốc, một người mà mục này đã nhắc tới khi ông viết bài tố cáo “Âm mưu diễn biến hòa bình” của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhà thơ thấy Cộng Sản Trung Hoa đã tìm cách chiếm đoạt chủ quyền của Việt Nam bằng cách chiếm dần dần quyền lãnh đạo trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Âm mưu đó đã thành công một phần, như chúng ta thấy trong thái độ nhu nhược của giới lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội trước chính quyền Bắc Kinh trong vụ Hoàng Sa.
Bài viết của Bùi Minh Quốc nhắc tới “hồi ký” của Hoàng Tùng, một cựu cán bộ cao cấp và một đảng viên lâu năm đã từng theo sát các lãnh tụ cộng sản. Thực ra ông Hoàng Tùng không viết hồi ký, tài liệu được truyền bá trên Internet chỉ là những “lời tự thuật” của ông, được ghi lại và hiệu đính. Nội dung nhắm nhiều nhất vào những điều ông biết về Hồ Chí Minh, ông kể lại với chủ ý bênh vực cho ông Hồ. Riêng trong phạm vi này, ông Hoàng Tùng đã vô tình cho thấy “công cuộc diễn biến hòa bình” của Trung Cộng đã thành công từ thời 1950, khi các cố vấn đầu tiên của Trung Cộng sang chỉ huy quân đội cộng sản Việt Nam.
Trong một bài trước, mục này đã nhắc tới ý kiến của các cố vấn Trung Cộng là khai trừ các thành phần “không phải vô sản và bần cố nông” trong quân đội Việt Nam. Một người phụ tá của Văn Tiến Dũng đã lập một danh sách những sĩ quan nên khai trừ, nộp cho các cố vấn. Nhưng Hồ Chí Minh đã ngăn việc thanh lọc này vì sợ thiếu người. Mà quả thực, trong quân đội Việt Nam lúc đó thành phần thực sự vô sản và bần cố nông không có ai đáng làm sĩ quan.
Nhưng bài tự thuật của Hoàng Tùng cũng cho thấy sự thật về ảnh hưởng của các cố vấn Trung Quốc, bao trùm lên cả quân sự lẫn chính trị từ năm 1950. Theo Hoàng Tùng thì Hồ không thích rất nhiều chính sách của Trung Cộng. Hoặc Hoàng Tùng nói ông Hồ không phục Stalin và Mao Trạch Ðông mà ông ta còn hận vì bị hai người đó ép buộc. Các đảng viên cộng sản bây giờ hay nêu ra những chi tiết đó để chữa tội cho ông Hồ, có vẻ như muốn chứng minh ông ta không phải là cộng sản thứ thật, chỉ là cộng sản bất đắc dĩ mà thôi!
Nhưng đối với tất cả mọi người Việt Nam khác thì vấn đề không phải là ông Hồ phục Stalin hay không, không phải là trong thâm tâm ông ta đồng ý hay không thích những chính sách nào của Mao Trạch Ðông. Câu hỏi chính là: Cuối cùng ông Hồ đã làm gì và hậu quả ra sao?
Chúng ta thấy ông Hồ cuối cùng vẫn phải cúi đầu chấp thuận ý kiến của các cố vấn Trung Cộng. Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6 và 7, suốt những năm từ sau năm 1950 ông Hồ mỗi lần viết đều nhất thiết suy tôn “Ðại Nguyên Soái Xtalin,” hoặc Chủ Tịch Mao Trạch Ðông vĩ đại.
Hoàng Tùng kể rằng trong thời gian đó cố vấn quân sự của Trung Cộng “Vi Quốc Thanh chuẩn bị (chiến dịch Biên Giới) mọi việc nhất nhất đều xin ý kiến của Mao.” Trước khi chiến dịch đó bắt đầu vào đầu năm 1950, Hoàng Tùng kể rằng Võ Nguyễn Giáp chủ trương đánh Cao Bằng nhưng Tướng cố vấn Trung Cộng Trần Canh bảo phải đánh vào Ðông Khê. Sau phải đánh Ðông Khê.
Hoàng Tùng kết luận, “Ðúng là Trung Quốc có công giúp ta trong trận Biên Giới.” Cái giá phải trả cho công “giúp” đó là, “Sau thắng lợi mới, tổng kết chiến dịch và sau đó là tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, thay đổi lại tổ chức quân đội.” Những chữ “chỉnh huấn, chỉnh quân” không phải là những khẩu hiệu suông mà là những cuộc tranh đấu nội bộ trong quân đội, theo mẫu đã thực hành ở Trung Quốc, với mục đích tiêu diệt những thành phần “chưa giác ngộ quyền lợi giai cấp vô sản.” Cho nên Hoàng Tùng nói tiếp, “Thế là năm 1950-51, đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội.”
Trong bài tổng kết về chiến dịch này, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, “Trung Quốc có câu Quân Lệnh Như Sơn,” tức là lệnh trong quân vững chắc như núi, không thể thay đổi được. Rõ ràng lối nói trên cũng nhắm để khi dịch bản tổng kết này ra tiếng Trung Hoa thì các cố vấn phải khen Hồ là một học trò giỏi của Mao Chủ Tịch.
Ðó là một bước đầu của “diễn biến hòa bình” mà Bùi Minh Quốc tố cáo. Từ đó, các cố vấn Trung Cộng còn tiến thêm nhiều bước nữa.
Trong thời gian đó Hồ Chí Minh chỉ đóng vai như một bù nhìn, bảo Võ Nguyên Giáp thi hành các lệnh hành quân của Tướng Trần Canh. Hồ Chí Minh cũng đóng vai cán bộ tuyên truyền, viết những lá thư gửi ra mặt trận hô hào các chiến sĩ Việt Nam hãy liều chết hy sinh. Trong lá thư đề ngày 8 tháng 10 năm 1950 Hồ còn hứa sẽ “khao các chiến sĩ một bữa thịt bò.” Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6, bản in năm 2000, in lá thư thịt bò này ở trang 103, nhưng trước đó 2 trang còn in một bài thơ của Hồ Chí Minh tặng Tướng Trần Canh, cố vấn mặt trận. Bài này bắt chước gần nguyên văn bài Lương Châu Từ đời Ðường, trong câu đầu Hồ Chí Minh chỉ thay tên rượu “Bồ Ðào mỹ tửu” bằng tên một thứ rượu mới: “Hương Tân mỹ tửu dạ quang bôi.” Theo chú thích của nhà xuất bản thì “Hương Tân” ở đây là rượu champagne. Thế mới biết, trong thời gian kháng chiến gian khổ của toàn dân Việt Nam, các cố vấn Trung Quốc vẫn được trọng đãi!
Hoàng Tùng lại kể rằng tại đại hội đảng Lao Ðộng năm 1951, La Quý Ba là đại biểu ngoại quốc duy nhất (ngoài Lào và Cam Pu Chia) tới dự, ông cố vấn đã giảng về thuế nông nghiệp. Và, “Sau đó (Việt Minh) bắt đầu đánh thuế. Họ (Trung Cộng) đem các nề nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau đại hội ta không nói gì đến cải cách ruộng đất. Vì thế nên Mùa Hè năm 1952 Mao Trạch Ðông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải thực hiện cải cách ruộng đất.”
Vâng lệnh đó, năm 1953 Hồ Chí Minh phát động chính sách cải cách ruộng đất trong Hội Nghị Trung Ương kỳ thứ tư, khóa 2. Bài diễn văn báo cáo của ông, đọc ngày 25 Tháng Giêng năm 1953, đăng trong Toàn Tập 7, đã ca ngợi công cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Ông Hồ kể Trung Quốc đã “chia ruộng cho 500 triệu nông dân” thành công rộng và lớn! Con số 500 triệu này là do các cố vấn cung cấp, vì lúc đó Bắc Kinh khoe nước họ đã có 582 triệu dân. Ðó là bước nhẩy vọt trong cuộc đời lệ thuộc Trung Cộng của Hồ Chí Minh.
Cuộc cải cách ruộng đất làm chết hàng trăm ngàn người Việt Nam, trong đó có những người đã theo kháng chiến chống Pháp từ đầu. Nhưng vụ giết người thê thảm nhất là vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, còn gọi là bà Cát Thanh Long. Bà là người đã ủng hộ chính phủ kháng chiến hàng trăm lạng vàng, các con theo kháng chiến trong quân đội, các cán bộ cao cấp cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Ðức Thọ đã được bà nuôi. Ðó là những chi tiết mà Hoàng Tùng kể lại, trước khi ông tiết lộ có người Việt Nam đã mách cho các cố vấn Trung Cộng biết về bà Nguyễn Thị Năm để họ chọn làm “thí điểm,” đấu tố trước hết để làm gương. Hồ Chí Minh chống lại, nhưng sau cùng lại phải gật đầu đồng ý.
Theo nhận xét của Hoàng Tùng thì vụ “cải cách ruộng đất” chỉ là một cái cớ. Mục đích của các cố vấn Trung Cộng là thay đổi toàn thể cơ cấu đảng Cộng Sản Việt Nam. Hoàng Tùng viết về mưu đồ của Trung Cộng: “Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Ðảng ta... họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể... họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Ðảng ta.”
Thế Hồ Chí Minh làm gì trong lúc đó? Ngoài việc vâng theo lệnh các cố vấn Trung Cộng ra, ông chỉ còn phải lo viết những bài ca tụng các chính sách mà các cố vấn chỉ bảo, ra lệnh các cán bộ, đảng viên thi hành tốt các chính sách đó. Ngoài ra, ông còn để thời giờ làm thơ nữa, nhất là thơ bằng chữ Hán mà các cố vấn có thể đọc được. Trong một bài “Ngọ Quá Thiên Giang” viết ngày 17 Tháng Ba năm 1950, in trong Toàn Tập cuốn 6, trang 22, ấn bản năm 2000, Hồ Chí Minh đã viết bốn câu ca ngợi hồng quân Trung Hoa. Ðây là một trong những bài thơ Hồ Chí Minh viết trong chuyến đi Trung Quốc năm đó, ngẫu hứng viết về cảnh Bắc Kinh, Hồ Bắc, Trường Sa (ở Hồ Nam). Hai câu chót trong bài Ngọ Quá Thiên Giang ca ngợi chiến thắng của đạo quân Mao Trạch Ðông tại Thiên Giang, câu chót có khí thế rất hùng hồn, oanh liệt:
“Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan!”
Phan Văn Các dịch là “Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan!”
Nếu các nhà báo trong Tổng cục Du lịch ở Việt Nam bây giờ mà đăng bài thơ Hận Nam Quan, họ nên nhớ, xin đừng quên, rằng trước đây 59 năm, hồi Tháng Ba năm 1950 Hồ Chí Minh đã hào hứng hoan nghênh đoàn quân của Mao “trực đáo Trấn Nam Quan” rồi!
TÌNH TRẠNG HIỆN NAY CỦA THẦY GIÁO VŨ HÙNG
TÌNH TRẠNG HIỆN NAY CỦA THẦY GIÁO VŨ HÙNG
HÃY ĐỘNG LÒNG TRẮC ẨN!
http://www.doi-thoai.com/baimoi0109_364.html
Trước và sau tết truyền thống kỷ sửu 2009 của dân tộc, cư dân mạng xôn xao trước những tin tức không vui về tình trạng của thầy giáo Vũ Hùng. Tôi được biết, tháng 9/2008 thầy Hùng bị cơ quan an ninh bắt giữ vì đã căng biểu ngữ ở thành cầu Nam Thăng Long với những nội dung :
- Tham nhũng là hút máu dân.
- Lạm phát, tăng giá là giết dân.
- Mất đất, biển, đảo là có tội với tổ tiên.
- Đề nghị thực thi đa nguyên đa đảng.
Không như các vụ treo biểu ngữ khác diễn ra cùng lúc ở Hải Phòng, Hải Dương và Nam Định, các vụ này cơ quan an ninh đã bắt giữ toàn bộ những người đã tham gia. Vụ treo biểu ngữ ở cầu Nam Thăng Long, thày Vũ Hùng trước sau chỉ khai nhận trách nhiệm thuộc về một mình thày. Lời khai này làm khó chịu tột cùng cho cơ quan an ninh vì những bức ảnh xuất hiện trên các trang mạng cho thấy còn ít nhất từ hai đến ba người khác. Sự kiên định một lời khai nhận lãnh về mình tất cả trong bối cảnh đó không chỉ gây khó chịu cho cơ quan an ninh.
Lời khai đó cùng với tuyên bố: “Đi tù cũng là một cống hiến cho phong trào dân chủ” mà thày Hùng đã trả lời cho các quan chức cao cấp của ngành an ninh đã như một thách thức không thể tha thứ được đối với guồng máy công quyền.
Chính vì vậy theo những thông tin đã và đang rò rỉ, thày Hùng đã gặp phải những điều khắc nghiệt tột cùng đến từ phía công quyền. Qua thông tin từ những người bạn tù hình sự cùng phòng với thày Hùng được trả tự do dịp tết vừa qua, qua lời kể của người vợ thày Hùng, chúng tôi được biết: để phản đối lại những điều khắc nghiệt đến với mình, thày Hùng đã chọn cách phản ứng của một kẻ bị dồn đuổi vào chân tường, chọn biện pháp phản kháng cuối cùng của một kẻ sĩ lúc thất thế sa cơ là tuyệt thực.
Được biết thày Hùng đã tuyệt thực cả tháng trời trước sự canh chừng của cơ quan an ninh, của nhân viên y tế, của bạn tù cùng phòng. Vì sức cạn lực kiệt, thày Hùng không dưới hai lần phải đi cấp cứu ở bệnh viện công an. Hai tháng nay, tình trạng thày Hùng ra sao, đang bị giam giữ ở nơi nào… gia đình và bạn bè của thày Hùng không một ai được biết.
Đứng trước nỗi đau của thày Hùng và gia đình vợ con thày Hùng:
- Là một người chủ trong một gia đình, tôi xin được nhắc nhở tới tình máu mủ của một gia đình, của một dòng họ trước nỗi bất hạnh với một thân tộc của mình.
- Là một công dân đứng trước nỗi đau của một công dân, một người đồng bào đứng trước nỗi đau của người đồng bào khác, tôi xin được nhắc lại lời dạy bảo của tổ tiên về tình dân tộc nghĩa đồng bào:
“Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”
“Khôn ngoan đối đáp với ngoại bang, với bá quyền
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
- Là một đồng nghiệp với một đồng nghiệp, tôi xin nhắc lại khẩu hiệu như một lời nguyền thường dán ở nơi học đường: “GIÁO DỤC - KỈ CƯƠNG – TÌNH THƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM”
- Là một người đã từng có nhiều bài viết bênh vực thày Hùng, tôi cầu mong những người bạn viết khác cũng có những dòng chữ để thày Hùng và gia đình vợ con thày bớt đi những đau khổ, người đọc trong và ngoài nước vơi đi được những ưu phiền.
- Là người tán thành tiến trình dân chủ cho nhân dân Việt Nam, tôi kêu gọi các nhà dân chủ hãy gác lại những tị hiềm nhỏ nhen đang ồn ã để xiển dương mục đích tranh đấu của mình trước một người bạn đang lọt vòng lao lý hoạn nạn.
- Là người khát khao lẽ công bằng và dấn thân tranh đấu cho quyền được sống trong danh dự, tôi kiến nghị các cơ quan công quyền, các cơ quan lập pháp và hành phápViệt nam sớm động lòng trắc ẩn mà có một chút hoằng dương những điều hiến định đã ghi rành rành trong hiến pháp và luật pháp của mình để 85 triệu con dân Đất Viêt thực sự được hiểu, được biết, được sống, được che chở, được bảo vệ như những gì mà các dân tộc văn minh đã được hưởng./.
Người viết
Nguyễn Thượng Long
(Thôn Văn La – Phú La – Hà Đông – Hà Nội
Nhà riêng: 0433521066
Di động: 0953298198
Email: nguyenthuonglong571@gmail.com)
HÃY ĐỘNG LÒNG TRẮC ẨN!
http://www.doi-thoai.com/baimoi0109_364.html
Trước và sau tết truyền thống kỷ sửu 2009 của dân tộc, cư dân mạng xôn xao trước những tin tức không vui về tình trạng của thầy giáo Vũ Hùng. Tôi được biết, tháng 9/2008 thầy Hùng bị cơ quan an ninh bắt giữ vì đã căng biểu ngữ ở thành cầu Nam Thăng Long với những nội dung :
- Tham nhũng là hút máu dân.
- Lạm phát, tăng giá là giết dân.
- Mất đất, biển, đảo là có tội với tổ tiên.
- Đề nghị thực thi đa nguyên đa đảng.
Không như các vụ treo biểu ngữ khác diễn ra cùng lúc ở Hải Phòng, Hải Dương và Nam Định, các vụ này cơ quan an ninh đã bắt giữ toàn bộ những người đã tham gia. Vụ treo biểu ngữ ở cầu Nam Thăng Long, thày Vũ Hùng trước sau chỉ khai nhận trách nhiệm thuộc về một mình thày. Lời khai này làm khó chịu tột cùng cho cơ quan an ninh vì những bức ảnh xuất hiện trên các trang mạng cho thấy còn ít nhất từ hai đến ba người khác. Sự kiên định một lời khai nhận lãnh về mình tất cả trong bối cảnh đó không chỉ gây khó chịu cho cơ quan an ninh.
Lời khai đó cùng với tuyên bố: “Đi tù cũng là một cống hiến cho phong trào dân chủ” mà thày Hùng đã trả lời cho các quan chức cao cấp của ngành an ninh đã như một thách thức không thể tha thứ được đối với guồng máy công quyền.
Chính vì vậy theo những thông tin đã và đang rò rỉ, thày Hùng đã gặp phải những điều khắc nghiệt tột cùng đến từ phía công quyền. Qua thông tin từ những người bạn tù hình sự cùng phòng với thày Hùng được trả tự do dịp tết vừa qua, qua lời kể của người vợ thày Hùng, chúng tôi được biết: để phản đối lại những điều khắc nghiệt đến với mình, thày Hùng đã chọn cách phản ứng của một kẻ bị dồn đuổi vào chân tường, chọn biện pháp phản kháng cuối cùng của một kẻ sĩ lúc thất thế sa cơ là tuyệt thực.
Được biết thày Hùng đã tuyệt thực cả tháng trời trước sự canh chừng của cơ quan an ninh, của nhân viên y tế, của bạn tù cùng phòng. Vì sức cạn lực kiệt, thày Hùng không dưới hai lần phải đi cấp cứu ở bệnh viện công an. Hai tháng nay, tình trạng thày Hùng ra sao, đang bị giam giữ ở nơi nào… gia đình và bạn bè của thày Hùng không một ai được biết.
Đứng trước nỗi đau của thày Hùng và gia đình vợ con thày Hùng:
- Là một người chủ trong một gia đình, tôi xin được nhắc nhở tới tình máu mủ của một gia đình, của một dòng họ trước nỗi bất hạnh với một thân tộc của mình.
- Là một công dân đứng trước nỗi đau của một công dân, một người đồng bào đứng trước nỗi đau của người đồng bào khác, tôi xin được nhắc lại lời dạy bảo của tổ tiên về tình dân tộc nghĩa đồng bào:
“Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”
“Khôn ngoan đối đáp với ngoại bang, với bá quyền
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
- Là một đồng nghiệp với một đồng nghiệp, tôi xin nhắc lại khẩu hiệu như một lời nguyền thường dán ở nơi học đường: “GIÁO DỤC - KỈ CƯƠNG – TÌNH THƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM”
- Là một người đã từng có nhiều bài viết bênh vực thày Hùng, tôi cầu mong những người bạn viết khác cũng có những dòng chữ để thày Hùng và gia đình vợ con thày bớt đi những đau khổ, người đọc trong và ngoài nước vơi đi được những ưu phiền.
- Là người tán thành tiến trình dân chủ cho nhân dân Việt Nam, tôi kêu gọi các nhà dân chủ hãy gác lại những tị hiềm nhỏ nhen đang ồn ã để xiển dương mục đích tranh đấu của mình trước một người bạn đang lọt vòng lao lý hoạn nạn.
- Là người khát khao lẽ công bằng và dấn thân tranh đấu cho quyền được sống trong danh dự, tôi kiến nghị các cơ quan công quyền, các cơ quan lập pháp và hành phápViệt nam sớm động lòng trắc ẩn mà có một chút hoằng dương những điều hiến định đã ghi rành rành trong hiến pháp và luật pháp của mình để 85 triệu con dân Đất Viêt thực sự được hiểu, được biết, được sống, được che chở, được bảo vệ như những gì mà các dân tộc văn minh đã được hưởng./.
Người viết
Nguyễn Thượng Long
(Thôn Văn La – Phú La – Hà Đông – Hà Nội
Nhà riêng: 0433521066
Di động: 0953298198
Email: nguyenthuonglong571@gmail.com)
Subscribe to:
Posts (Atom)