Thursday, August 31, 2017

THÀNH NGỮ MỚI : PHỒN VINH GIẢ TẠO (Nguyễn Thông)




Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

Hôm rồi, dư luận ồn ào quanh chuyện một nhóm nhà sử học viết bộ sử mới đã không dùng những từ “ngụy, ngụy quân, ngụy quyền, chính quyền ngụy” để gọi chính thể Việt Nam cộng hòa như lâu nay nhà cầm quyền vẫn kết án. Có người bảo đó là cuộc cách mạng về tư tưởng tư duy, báo hiệu một sự thay đổi căn bản. Có người khác bảo họ chỉ làm màu thế chứ thực tâm chả thay đổi gì đâu. Lại có người nói rằng sự thay đổi chỉ cốt lợi dụng tên gọi chính quyền cũ để sử dụng hợp pháp những tài liệu văn bản của Sài Gòn trước năm 1975 về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thôi, nhằm mục đích đấu tranh đòi biển đảo thôi. Lại có ông tướng về hưu hung hăng đòi truy tố mấy nhà viết sử bởi theo ông ngụy muôn đời vẫn là ngụy… Mỗi vị một phách, chả biết thế nào. Cứ sư nói sư phải, vãi nói vãi hay, dân đen ngoảnh qua ngoảnh lại theo ý các ông các bà ấy chắc gãy mẹ nó cổ.

Tôi định không có ý kiến gì, nhưng đọc thử một vài trang, thấy nhóm biên soạn có “tư duy mới” khi viết về quốc hội của chính thể Việt Nam cộng hòa vẫn lặp đi lặp lại cụm từ “quốc hội bù nhìn”, thì lòng thầm nghĩ họ chả thay đổi gì đâu. Ngấm vào máu rồi, dễ chi thay đổi được. Phải mất vài thế hệ nữa may ra mới có thể “xóa vết thương nội chiến”.

Nhân vụ sử nói trên, lại nhớ hồi viết về cụm từ “bơ thừa sữa cặn” mà tôi tạm gọi là “thành ngữ mới”, một ông bạn chơi với nhau từ hồi cởi trần đánh dậm liền nhắn bảo còn nhiều từ ấn tượng ghê gớm lắm, mày viết nữa đi. Tôi ậm ừ nhưng chưa viết bởi bây giờ tuy không bận đi đánh dậm nữa nhưng còn mải nhặt bạc cắc sống qua ngày. Bữa ni hơi rảnh liền thực hiện lời hứa, nói dăm ba điều về “phồn vinh giả tạo”.

Trước hết cần sơ sơ về từ vựng. Trong tiếng Việt, “phồn vinh” là tính từ, chỉ sự giàu có, sung túc, thịnh vượng, no đủ, đầy đủ về vật chất. Theo nghĩa Hán Việt, “phồn” là nhiều, “vinh” là vinh hoa, giàu sang, thịnh vượng. “Phồn vinh” là đầy đủ giàu sang. Ta thường nói cuộc sống phồn vinh, đất nước phồn vinh, xã hội phồn vinh. Còn “giả tạo” cũng rất dễ hiểu, xuất phát từ chữ “giả” có nghĩa không thật, giả tạo là cố ý làm ra cái không có thật. Phồn vinh giả tạo là nhìn bề ngoài có vẻ giàu có, no đủ, sung túc nhưng thực chất là thiếu thốn, nghèo đói, đau khổ; chỉ có màu mè bên ngoài thế thôi, chứ bên trong chả có gì.

Đương nhiên từ “phồn”, từ “vinh” hoặc từ “giả tạo” đều đã có từ rất lâu trong buổi sơ khai tiếng Việt, nhưng cụm từ “phồn vinh giả tạo” giống như một thứ thành ngữ mới thì chỉ mãi về sau này mới có. Người giữ bản quyền cụm từ ấy không phải ai khác, chính là mấy vị cộng sản cầm quyền ở miền Bắc thời những năm 1960-1970. Đám chúng tôi hồi đó còn bé nhưng thường được nghe cán bộ bảo rằng miền Nam dưới ách áp bức tàn bạo của Mỹ ngụy dân chúng cực khổ lắm, không những phải chịu chiến tranh, bom đạn mà chúng reo rắc, còn chịu cuộc sống ô nhục nô lệ, bơ thừa sữa cặn. Những nhà cửa, xe cộ, lúa gạo vải vóc… đầy tràn chỉ là vẻ ngoài phồn vinh giả tạo thôi. Vì vậy phải giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cứu 14 triệu đồng bào ruột thịt thoát ra khỏi cuộc sống phồn vinh giả tạo.

Những ai sống ở miền Bắc những năm từ nửa cuối thập niên 1950 đến nửa cuối thập niên 1970 chắc còn nhớ những gì đã xảy ra trong đời sống quanh mình. Nhiều thứ khó quên bởi dường như nó bám chặt vào óc mất rồi.

Suốt mấy chục năm, do hoàn cảnh chiến tranh bom đạn, đất nước bị chia cắt, thông tin đã nghèo nàn lại còn bị cấm đoán triệt để nên lứa chúng tôi chỉ biết cuộc sống diễn ra theo sự tuyên truyền của nhà nước. Đại loại là miền Bắc đã được giải phóng, cuộc sống tự do hạnh phúc, đang ngày càng cơm no áo ấm, “đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”. Ngày ấy thường được nghe cụm từ “thay da đổi thịt”, một năm là cả bốn mùa xuân. Báo chí, đài phát thanh (hồi đó chưa có truyền hình) viết về, nói về không khí náo nức tươi vui, phấn khởi, về “đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi”, “gương mặt người ai cũng sáng long lanh”… Cứ như những gì chúng tôi được nghe thì thiên đường đã tới thật rồi. Chỉ có điều, bởi nghèo đói là cái có thực đang hiện diện khó giấu nên cán bộ sau khi say sưa ca ngợi thì bao giờ cũng khuyên bà con ráng chịu đựng khó khăn gian khổ thiếu thốn, khi nào chủ nghĩa xã hội thành công tha hồ mà sung sướng.

Để tăng thêm sức nặng tuyên truyền, cán bộ luôn vẽ lên bức tranh u ám về miền Nam đang rên xiết dưới chế độ Mỹ ngụy. Đó là cảnh chiến tranh chết chóc, là luật 10/59 tàn bạo, đồng bào bị kìm kẹp ngạt thở, sản xuất bị đình đốn chỉ thoi thóp nhờ cậy vào viện trợ của bọn đế quốc Mỹ. Ấp chiến lược dây thép gai dựng khắp nơi, đô thị đèn màu ăn chơi trụy lạc, công nghiệp nghèo nàn chủ yếu phục vụ cho chiến tranh xâm lược, nông dân tha phương cầu thực bỏ cả quê hương bản quán, công nhân đình công đòi tăng lương giảm giờ làm, hầu như không ngày nào không xảy ra học sinh bãi khóa, tiểu thương bãi thị, phật tử xuống đường đòi tự do… Đó là một bức tranh cực kỳ u ám chết chóc, bên bờ vực thẳm. Những tuyên truyền của bộ máy “nhà nước bù nhìn” về sự tự do, sung túc, ổn định, phát triển, giàu có, về phố xá, xe cộ, tivi, tủ lạnh, về no đủ, ăn ngon mặc đẹp, hàng hóa dư thừa…, tất cả chỉ là giả dối, là thứ phồn vinh giả tạo thôi, bà con ạ. Cuối buổi nói chuyện, cán bộ chốt lại rằng, dù chúng ta có còn chút nghèo đói, thiếu thốn nhưng cũng còn sướng hơn gấp nghìn lần thứ phồn vinh giả tạo của miền Nam, thứ phồn vinh chỉ có bọn quan chức, tướng tá và địa chủ, tư sản được hưởng, chứ 14 triệu đồng bào thân yêu chả được chút gì. Cái thứ phồn vinh ấy phải trả bằng máu và ô nhục đó chúng ta không cần, phải không các bạn. Thế là cả sân hợp tác vỗ tay rầm rầm, hô không cần, không cần. Tôi còn nhớ chính tôi hồi đó cũng hăng lắm, tự hào về cuộc sống nghèo đói của mình lắm. Thương đồng bào miền Nam vô cùng.

Phải nói sự tuyên truyền của những người cầm quyền ở miền Bắc thật hiệu quả. Họ áp dụng rất thành công phương pháp của trùm Goebel (Đức quốc xã) là những gì giả dối cứ nói đi nói lại mãi cũng sẽ có người tin. Cán bộ miền Bắc giỏi hơn Goebel bởi dân chúng phần đông đều tin điều họ nó. Chỉ đến khi có điều kiện thực tế kiểm chứng thì mới tá hỏa bấy lâu mình bị lừa.

Đầu năm 1977 tôi vào Sài Gòn theo sự phân công của nhà nước. Mắt thấy tai nghe, tôi dần hiểu thực chất của cái gọi là “phồn vinh giả tạo”. Nhìn những chuyến tàu lửa, xe ô tô chở ùn ùn hàng hóa ra Bắc, ngay bản thân mỗi lần về phép đã nhặt nhạnh từng tí đem ra, hiểu rằng sự phồn vinh ấy chẳng giả tạo tí nào (số hàng này chủ yếu là hàng còn tồn đọng sau “giải phóng” chứ hầu hết nhà máy đang sống dở chết dở dưới chế độ mới, nhất là sau cuộc cải tạo công thương nghiệp). Nếu bảo sự giàu có do bọn Mỹ mỗi năm rót cả tỉ đô la viện trợ thì nay Mỹ nó cút về rồi, phải nghèo khổ trở lại chứ. Miền Nam có một nền công nghiệp cực kỳ phát triển, hầu như không thiếu mặt hàng sinh hoạt thiết yếu nào. Nếu miền Bắc chỉ có vài nhà máy dệt Nam Định, 8 tháng 3, Cự Doanh không đủ vải cho dân lành may tấm áo manh quần, cả năm chỉ được tiêu chuẩn 3 mét/người, thì miền Nam có cả rừng nhà máy dệt, đủ loại vải vóc, chưa bao giờ phải phân phối. Tôi từng đến thăm nhà máy dệt Tái Thành ở Thủ Đức, nhìn dàn máy tự động của nó mà khiếp, so với nhà máy dệt Nam Định mà tôi từng về thực tập sưu tầm văn học dân gian thì thấy một trời một vực (sau này Tái Thành bị quốc hữu hóa, đổi tên là Thành Công). Nhà máy sản xuất đường, sữa, mì ăn liền, xà phòng, bột giặt, quạt máy, xe đạp, máy khâu, máy nông nghiệp, giấy, sành sứ, xay xát gạo… của các nhà tư sản trong nước cùng ngành nghề cạnh tranh nhau hầu như đáp ứng dư thừa cho đời sống vật chất sinh hoạt. Ngày trước không có cảnh dân chúng xếp hàng mua từng mét vải, từng chục ký gạo, vài hộp sữa, mấy cân đường… bởi hàng hóa không bao giờ thiếu. Không có những cái bát ăn cơm đến tay người tiêu dùng vẫn còn nguyên mảnh mẻ dính chặt vào mà vẫn phải mua phải dùng, không có cục xà phòng cứng như đá… bởi nếu làm ra thứ hàng như thế sẽ chả bán được cho ai. Nông dân đi làm đồng cũng chạy xe đạp ra bỏ ở đầu bờ. Chiếc xuồng bé tí cũng gắn máy Kohler nổ phành phạch băng băng trên rạch. Không có ao ước thèm đường thèm sữa. Một đồng nghiệp, thầy Nguyễn Hữu Pha dạy môn hóa cùng trường với tôi kể rằng anh chỉ dạy 2 tháng là tiết kiệm mua được chiếc xe máy Honda Dame 50 của Nhật mới cứng. Thầy khác, thầy Võ Thanh Long (lý) nói thêm thời thầy còn sinh viên trường đại học Khoa học, chỉ dạy kèm học trò mà thầy đưa được cả mấy đứa em từ Quảng Ngãi vô Sài Gòn ăn học. Anh vợ tôi kể nhà ở dưới quê nên chả bao giờ quan tâm đến gạo, còn cá lóc, cá rô trong khạp lúc nào cũng đầy, muốn ăn thò tay vào bắt vài con bởi cá mú quá rẻ, lại dễ kiếm, rộng sẵn vào khạp để đỡ phải ra chợ. Xe đò của hàng chục hãng đi lại như mắc cửi, giá vé rẻ rề, chủ xe chiều khách như chiều vong…

Tất cả sự “phồn vinh giả tạo” ấy bị chấm dứt kể từ tháng 4.1975. Những điều nói trên tôi chỉ được nghe kể, còn cái nghèo đói thực thì chính mắt tôi chứng kiến. Tôi từng đi trên những chuyến tàu hỏa hành trình bắc nam mất 72 tiếng đồng hồ, trên đó chất đầy xe đạp, khung xe đạp, vải vóc, đường sữa, gạo, giấy… chuyển từ nam ra bắc. Những chuyến hàng thực chứ hoàn toàn không giả tạo chút nào đổ về nơi từng được coi là hạnh phúc. Nhiều người vỡ lẽ, lắc đầu ngao ngán. Thời ấy người ta truyền tai nhau câu văn vần “Hoan hô Hồ Chí Minh, mua cái đinh cũng phải giấy. Đả đảo Thiệu Kỳ, muốn cái gì cũng có”. Sự thất vọng ê chề. Nhưng buộc phải chấp nhận, không còn cách nào khác.

Những năm từ 1976 đến đầu những năm 80, trường DBĐH TP.HCM mà tôi dạy có mời nhiều thầy cô từ Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội vào dạy một số học phần do thiếu giảng viên. Tôi còn nhớ môn văn có mời các thầy Nguyễn Lộc, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân (đều là các giáo sư) vào dạy. Các thầy ở cư xá Thanh Quan trên đường Võ Thị Sáu (Hiền Vương cũ), mỗi chuyến về Bắc đều lụ khụ hành lý tinh những xà phòng cây (loại xà phòng gia công khối vuông dài hơn gang tay, rẻ tiền), vải vóc, quần áo thun… bởi ngoài Bắc những thứ ấy bấy giờ rất thiếu. Càng nhớ đến càng thương các thầy.

Đều dễ nhận ra là không phải mọi gia đình, mọi con người ở miền Nam trước năm 1975 đều đầy đủ, sung túc. Nhưng nếu tính theo tỷ lệ về sự nghèo đói của chính người dân thì có lẽ nơi đây (miền Nam) chỉ bằng một phần nhỏ của miền Bắc nghèo đói đại trà, kéo dài. Cái gọi là “phồn vinh giả tạo” có lẽ phải đặt lại, ngược chiều thì mới đúng. Chả cần hỏi ai đâu xa, những người đã sống ở miền Nam trước và sau 1975 sẽ có nhận xét trung thực nhất. Còn chúng tôi, chỉ dám nói về cái nghèo đói thực mà thôi.

Nguyễn Thông
Được đăng bởi Nguyễn Thông vào lúc 20:34:00 






DƯỚI THỜI TRUMP, LIỆU DÂN CHỦ TOÀN CẦU CÓ THÔI SUY THOÁI ? (Minh Anh - Luật Khoa)




Posted on 31/08/2017

Tổng thống Donald Trump đang phải đối mặt với một thế giới nơi các thế lực độc tài ngày càng mạnh hơn, trong khi dân chủ ngày càng bất ổn hơn lúc nào hết trong suốt mấy thập kỷ qua. Ông sẽ phải làm gì? – Đây chính là một trong những thách thức lớn nhất đối với ngài tổng thống.

·         Phỏng dịch từ Larry Diamond, Visions of DemocracyHoover Institution, 27/1/2017.

Trong khoa học chính trị, các nhà nghiên cứu cho rằng dân chủ hóa xảy ra theo làn sóng. Làn sóng lớn nhất và cũng xảy ra gần đây nhất chính là “làn sóng thứ ba” dân chủ hóa, bắt đầu vào giữa những năm 1970 và lên đến đỉnh điểm vào những năm 1990, sau đó bắt đầu suy giảm vào năm 2005. Kể từ đó, tự do và tham dự chính trị ngày càng suy giảm. Đáng kể nhất là trong cỡ một hai năm qua, vài diễn biến đã làm người ta thêm lo lắng cho tương lai của nền dân chủ toàn cầu.

Xu hướng độc tài đang lên
Thứ nhất là xu hướng độc tài đã xuất hiện trong một số nền dân chủ mới nổi, tiêu biểu như Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan và Philippines trong mấy năm vừa qua.

Thổ Nhĩ Kỳ mới trải qua tình trạng báo động kể từ cuộc đảo chính quân sự thất bại vào tháng bảy năm ngoái. Tổng thống Recep Tayyip Erdogan đã bắt giữ khoảng 32 nghìn người được cho là có liên quan đến đảo chính và hơn 100 nhà báo. Ông cũng thanh lọc hàng chục nghìn công chức, nhân viên quân sự và cảnh sát ra khỏi chính phủ.

Tới tháng tám cũng năm 2016, quân đội Thái Lan đã đưa ra một hiến pháp mới – trong đó cấm phe đối lập vận động phản đối – điều này làm đe dọa nền dân chủ khi trao quyền lực quá lớn cho quân đội.

Nghiêm trọng hơn, kể từ Rodrigo Duterte nhậm chức tổng thống  Philippines hồi tháng sáu cùng năm, hàng nghìn người tình nghi buôn ma túy đã bị giết mà không thông qua xét xử. Duterte cũng đàn áp những người phản đối trong nước. Trước những chỉ trích của quốc tế, Duterte thậm chí còn so sánh mình với Hitler, nói rằng trong khi nhà độc tài nước Đức đã “giết chết ba triệu người Do Thái”, thì ông “vinh hạnh khi giết chết” ba triệu người nghiện ma tuý của Philippines.

Người biểu tình tại Philippines đòi công lý cho các nạn nhân của chiến dịch chống ma túy. Ảnh: WSJ

Thêm nữa, trong khi các nền dân chủ đang rơi vào khó khăn, thì các chế độ độc tài lại thêm gây hấn khi đưa các chuẩn mực phản dân chủ lên sân khấu quốc tế, đồng thời bóp nghẹt đa nguyên chính trị bên trong quốc gia.

Trong chuyện này thì Nga là nguy hiểm nhất: Nga biết sử dụng các biện pháp truyền thông xã hội phức tạp để tạo ra những hỗn loạn, chia rẽ, và nghi ngờ trong các cộng đồng dân chủ, và khiến người ta phải hoài nghi dân chủ. Đồng thời, hai cường quốc độc tài là Nga lẫn Trung Quốc đã và đang dùng tới sức mạnh vũ lực để can thiệp vào các vấn đề quân sự, kinh tế và địa chính trị.

“Thành phố chiếu sáng trên đỉnh đồi”…

Tuy nhiên, có lẽ xu hướng đáng lo ngại nhất chính là những vấn đề ngày càng thể hiện rõ trong nền dân chủ Mỹ và các quốc gia phát triển khác ở châu Âu.

Trước kia, nhân tố quyết định trong thành công của làn sóng dân chủ hóa thứ ba là sức mạnh vô song của mô hình dân chủ Mỹ – mà tổng thống Reagan, phỏng theo lời thống đốc Mỹ John Winthrop, đã gọi là “thành phố chiếu sáng trên đỉnh đồi” – thứ đã truyền cảm hứng cho lòng ngưỡng mộ và noi gương trên toàn thế giới.

Tất nhiên, dân chủ ở Mỹ luôn có nhiều điều chưa hoàn hảo. Nhưng trong những năm 1980 và 1990, cả thế giới đã chứng kiến nước Mỹ với một nền kinh tế năng động, một nền chính trị vận hành trơn tru, lại thêm sự tự tin về mặt đạo đức và siêu cường về mặt quân sự. Và rồi, bức tường Berlin sụp đổ còn Liên Xô tan rã, tất cả đã khiến Mỹ trở thành siêu cường duy nhất vào thời điểm các đồng minh dân chủ ở Liên minh châu Âu đang cố gắng thống nhất lục địa này thành một thị trường chung dựa trên các giá trị và thể chế tự do.

Trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, các giá trị dân chủ trở nên phổ quát – tức là chúng đã thu hút được phần lớn nhân loại ở hầu như mọi khu vực trên thế giới – trong khi tất cả các ý thức hệ đối địch dần rút lui, hoặc bị giới hạn về mặt địa lý (như ở Iran).

Nhờ nguồn hỗ trợ tài chính và chính trị từ châu Âu và Mỹ trong suốt hai thập kỷ, tự do đã nảy nở, thị trường mở rộng, xã hội dân sự gia tăng, các thiết chế đại diện được củng cố. Và lần đầu tiên trong lịch sử loài người, nền dân chủ đã trở thành hình thức chính phủ phổ biến nhất trên thế giới.

Trong “làn sóng thứ ba” này, dân chủ đã có được chỗ đứng vững chắc ở châu Phi, châu Á, và hiện diện rộng khắp ở châu Mỹ Latin. Nhưng chính chất lượng và sự ổn định của nó ở phương Tây mới là nền tảng cho thành công toàn cầu của nó.

Châu Âu và Mỹ đã trở thành biểu tượng mà các nền dân chủ mới nổi hướng đến, và các cường quốc dân chủ ở hai xứ này cũng là lực lượng hỗ trợ để giúp các nền dân chủ non trẻ vươn lên. Do đó, người ta đã mường tượng rằng thời điểm bước ngoặt của thiên niên kỷ chính là bình minh của một thế kỷ dân chủ mới.

… đã chìm vào bóng tối?

Giờ đây, cái viễn cảnh ấy đã bắt đầu trở nên rõ ràng hơn. Dẫu mọi người không hẳn đồng thuận về những gì họ đang chứng kiến, nhưng thật chẳng có gì phải tranh cãi về tình trạng chủ nghĩa dân túy và các khuynh hướng phi tự do đang nổi lên ở phương Tây.

Các sự kiện gần đây ở châu Âu quả rất đáng lo ngại – trên toàn lục địa, các đảng dân túy tìm cách huy động “nhân dân” chống lại tầng lớp tinh hoa bị cho là tham nhũng. Ở Hungary và Ba Lan, các chính phủ dân túy cánh hữu đã tiến hành phá hoại tính độc lập của ngành tư pháp, dịch vụ dân sự và truyền thông. Các đảng chống dân chủ đã giành được nhiều phiếu bầu ở Hungary và Cộng hòa Séc, trong khi các đảng chống tự do, chống nhập cư, chẳng hạn như Mặt trận Quốc gia của Pháp và Alternative für Deutschland của Đức, đã đạt được những thành tựu bầu cử ấn tượng.

Hình minh họa Brexit. Ảnh: BBC

Tháng sáu năm ngoái, Brexit đã gây ra một cú sốc nữa – ấy là cuộc trưng cầu dân ý của Anh quốc về việc rời khỏi Liên minh châu Âu với gần 52% cử tri Anh bỏ phiếu thuận. Đối với những người Anh theo chủ trương quốc tế, cũng như đối với phần lớn người châu Âu từ lục địa, thì Brexit là một bước ngoặt khiến cho cái viễn cảnh về một châu Âu dân chủ tự do, hợp nhất, và toàn diện bỗng trở nên xa vời.

Vào ngày 8 tháng 11, các cử tri ở Mỹ còn gây choáng váng hơn khi bầu Donald Trump trở thành tổng thống.

Trong thực tế, các nhóm cử tri cốt lõi bỏ phiếu ủng hộ Brexit và Trump khá tương đồng với nhau: họ là những cử tri da trắng thuộc tầng lớp lao động với kỹ năng nghề nghiệp và điều kiện giáo dục hạn chế, những người cảm thấy bị lấn lướt về văn hóa và bị đe doạ về kinh tế bởi các yếu tố như nhập cư, toàn cầu hóa, sự đa dạng về chủng tộc và văn hoá.

Cả hai cuộc bỏ phiếu đã phô ra mối xung đột giữa một bên là các thành phố đa dạng văn hoá, bên kia là các khu vực nông thôn nơi có phần đa dân cư là người da trắng. Cả hai đã khiến các quốc gia của chúng phân cực hơn trước. Và cả hai đã khoét sâu thêm nỗi lo lắng về tương lai của trật tự dân chủ tự do.

Quan điểm thực dụng về thế giới

Đứng trước bức màn u ám ấy, liệu chính quyền mới của Trump có khả năng đối đầu với một cuộc khủng hoảng toàn cầu về dân chủ? Hay là một làn sóng sụp đổ mới sẽ quét đi những thành tựu dân chủ của hàng thập kỷ vừa qua?

Còn tùy.

Nếu Trump có thể mang những mưu chước của mình tới Đồi Capitol để tạo ra sự đồng thuận lưỡng đảng, từ đó giải quyết những thách thức lớn như sự trì trệ kinh tế, bất bình đẳng về thu nhập và nhập cư, thì thế giới sẽ được chứng kiến nền dân chủ Mỹ vận hành trở lại – ngay cả khi nhiều chính sách của Trump gặp phải phản đối trong và ngoài nước.

Thật vậy, nếu tân Tổng thống theo đuổi các đề xuất ít được chú ý nhưng tiến bộ về cải cách vận động hành lang (lobby), thì các cựu quan chức Nhà Trắng và Quốc hội khó có thể sử dụng tầm ảnh hưởng của họ để làm lợi cho các tập đoàn, đặc biệt là làm lợi cho các chính phủ nước ngoài. Nhờ đó, chất lượng của nền dân chủ Mỹ có thể cải thiện. Và nếu tính thực dụng của Trump trong chính sách đối ngoại khiến ông nhận ra giá trị của việc hỗ trợ các đồng minh dân chủ, thì chính quyền của ông có thể giữ cho nền dân chủ khỏi bị thụt lùi.
Tuy nhiên người ta vẫn còn cảm thấy hoài nghi: trong suốt chiến dịch của mình, Trump đã nói rõ rằng ông sẽ thực thi một chính sách đối ngoại thực dụng, trong đó đặt lợi ích của Mỹ lên đầu – chứ không phải là các can thiệp để lan tỏa giá trị dân chủ.

Các nhà lãnh đạo độc tài như Tổng thống Ai Cập Abdel Fatah el-Sisi giờ đây có thể cho rằng dưới thời Trump, áp lực dân chủ hóa như dưới chính quyền Obama sẽ biến mất. Duterte, người đã chào mừng Trump nồng nhiệt sau đợt bầu cử, rõ ràng đang cảm thấy bớt căng thẳng khi thoát khỏi Obama, người mà ông gọi là “con của một con điếm” sau khi các quan chức Mỹ bày tỏ mối quan tâm về các vụ giết người không thông qua xét xử ở Philippines. Sự im lặng của chính quyền Trump khi đối mặt với những vi phạm nhân quyền như vậy sẽ làm giảm đáng kể triển vọng dân chủ toàn cầu.

Tuy nhiên, ta vẫn có thể hy vọng. Mỹ đã trở thành một đất nước vĩ đại có phần nhờ vào địa vị quốc tế của nó: một nền dân chủ dẫn dắt thế giới. Ronald Reagan hiểu rằng người Mỹ không thể làm cho nước Mỹ vĩ đại một lần nữa, nếu họ không chịu bảo vệ và phát triển các nguyên tắc của chính họ trên trường quốc tế. Liệu Trump có hiểu rằng đây chính là một trong những thử thách quan trọng nhất đối với chính sách đối ngoại của mình?