Friday, July 24, 2026

CÔNG LAO CỦA VUA BẢO ĐẠI và HOÀNG HẬU NAM PHƯƠNG (Trương Nhân Tuấn / Báo Tiếng Dân)

 



Công lao của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương

Trương Nhân Tuấn

23/07/2026

https://baotiengdan.com/2026/07/23/cong-lao-cua-vua-bao-dai-va-hoang-hau-nam-phuong/

 

Khi nói về “công lao” của một vị vua, chúa ngày xưa hay một nhân vật chính trị thời nay, người ta thường đánh giá theo tiêu chuẩn: Vị vua, tổng thống, chủ tịch, hoàng hậu hay công chúa ấy đã làm được điều gì có ích cho đất nước và dân tộc?

 

Lịch sử Việt Nam từ trước đến nay phần lớn được viết trên nền tảng ấy. Theo đó, công lao lớn nhứt của một người thường được xem là bảo vệ biên cương lãnh thổ, hoặc mở rộng bờ cõi của quốc gia. Sau đó mới đến công lao của các vị võ tướng, những người có công chống giặc ngoại xâm.

 

Tiếp theo là các bậc văn nhân, những người đóng góp cho kho tàng văn hóa dân tộc. Những vị quan trung liệt, thà chết chứ không đầu hàng giặc, cũng được sử sách ghi danh. Trong khi đó, những vị quan thương dân, hết lòng bảo vệ dân chúng lại ít khi được sử sách nhắc đến. Nếu họ còn được hậu thế nhớ tên thì phần nhiều là nhờ lòng biết ơn của nhân dân, được dân lập đền miếu để thờ phụng. Sau cùng mới nói đến tài năng “kinh bang tế thế”.

 

Tình hình là vụ “đấu tố” vua Bảo Đại nay đã “vượt biên giới mạng” và đã lên báo lớn “trang nhứt cột một”.

 

Cá nhân tôi đã nhiều lần viết bài phê phán di sản chính trị của Bảo Đại. Tôi cũng từng viết về những đóng góp của ông đối với đất nước Việt Nam. Đặc biệt, tôi cho rằng Bảo Đại có công rất lớn đối với Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo quan điểm của tôi, nếu Bảo Đại có ý chí chính trị như Quốc vương Sihanouk của Campuchia thì không bao giờ ông Hồ “cướp” được chánh quyền thành công và sẽ không bao giờ có ngày “Độc lập 2-9-1945”.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/07/1-69.jpg

Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương. Ảnh chụp màn hình từ Mạnh Hải Flickr

 

Trong bài viết này, tôi muốn đề cập thêm vai trò của Bảo Đại đối với vấn đề lãnh thổ. Theo tôi, công lao lớn nhứt của ông là góp phần đưa Nam Kỳ trở lại lãnh thổ Việt Nam sau khi vùng đất này đã bị nhượng cho Pháp theo Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862 và sau đó địa vị thuộc địa tiếp tục được củng cố trong Hiệp ước [Patenôtre] năm 1884. Công lao khác của Bảo Đại là việc sáp nhập Hoàng triều cương thổ vào lãnh thổ Quốc gia Việt Nam.

 

Công cuộc vận động đưa Nam Kỳ trở lại Việt Nam kéo dài từ năm 1945 đến năm 1949. Nam Kỳ (Cochinchine) là thuộc địa của Pháp sau Hòa ước Nhâm Tuất (1862) và Giáp Thân (1884). Trong khi Bắc Kỳ và Trung Kỳ là các xứ bảo hộ, Nam Kỳ chịu chế độ thuộc địa trực tiếp. Vì vậy, việc thống nhứt Nam Kỳ với phần còn lại của Việt Nam là một bài toán ngoại giao vô cùng gian nan. (Gian nan kiểu Đức phải bó tay nhượng vĩnh viễn cho Pháp vùng Alsace-Lorraine).

 

Sau cuộc đảo chính Pháp của Nhật ngày 9-3-1945, Bảo Đại ban hành Tuyên ngôn Độc lập ngày 11-3-1945, tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ với Pháp. Sau đó, ông bổ nhiệm Chính phủ Trần Trọng Kim và liên tục yêu cầu phía Nhật trao trả Nam Kỳ cùng ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng vốn nằm dưới chế độ nhượng địa của Pháp.

 

Đến ngày 14-8-1945, chỉ một ngày trước khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Nhật đồng ý trao trả Nam Kỳ cho Chính phủ Đế quốc Việt Nam. Khâm sai Nam Bộ Nguyễn Văn Xuân được cử vào Sài Gòn để tiếp nhận việc chuyển giao. Về mặt danh nghĩa, đây là lần đầu tiên sau hơn 80 năm, Nam Kỳ được đặt trở lại dưới chính quyền Việt Nam.

 

Một đóng góp khác của Bảo Đại đối với Hồ Chí Minh là việc ông thoái vị ngày 30-8-1945, trao ấn kiếm cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chấp nhận trở thành “một công dân của một nước độc lập”. Tuy nhiên, tình hình nhanh chóng thay đổi khi quân Đồng minh giải giáp quân Nhật và Pháp từng bước quay trở lại Đông Dương.

 

Để xây dựng một chính quyền có tính chính danh đối trọng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Pháp ký Thỏa ước Hạ Long năm 1948 và mời Bảo Đại đứng đầu Quốc gia Việt Nam với cương vị Quốc trưởng. Trong vai trò này, Bảo Đại kiên trì yêu cầu Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam và trao trả Nam Kỳ.

 

Ngày 8-3-1949, Hiệp định Élysée được ký kết. Tiếp đó, Quốc hội Pháp thông qua đạo luật chấm dứt quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, tạo cơ sở pháp lý để sáp nhập vùng đất này vào Quốc gia Việt Nam.

 

Ngày 4-6-1949, Pháp chính thức chuyển giao Nam Kỳ cho Quốc gia Việt Nam. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hình thành một quốc gia Việt Nam thống nhất về mặt pháp lý dưới chính thể Quốc gia Việt Nam.

 

Năm 1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu đại diện Quốc gia Việt Nam tham dự Hội nghị Hòa bình San Francisco với tư cách một quốc gia tham chiến chống Nhật. Tại hội nghị, ông tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuyên bố này không gặp sự phản đối trực tiếp nào từ các đoàn đại biểu tham dự hội nghị.

 

Tóm lại, trong bối cảnh quốc tế vô cùng phức tạp sau Thế chiến II, việc vận động để chấm dứt quy chế thuộc địa của Nam Kỳ và thống nhất lãnh thổ Việt Nam là một tiến trình ngoại giao đầy khó khăn. Theo quan điểm của tôi, đây là một trong những đóng góp quan trọng của Bảo Đại. Nếu không có tiến trình ấy, Nam Kỳ hoàn toàn có thể tiếp tục tồn tại như một thuộc địa của Pháp hoặc phát triển thành một thực thể chính trị riêng biệt dưới ảnh hưởng của Pháp.

 

(Xem tiếp bài sau về đất Hoàng triều Cương thổ và công lao của hoàng hậu Nam phương)

_______

Ghi chú: Bài viết trên đã được BTV Tiếng Dân kiểm chứng (fact check) một số chi tiết và biên tập lại cho rõ nghĩa hơn. 

 





No comments: