GẶP BÁC TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG
hậu khảo cổ
Đăng ngày: 19:59 29-12-2009
http://vn.myblog.yahoo.com/hau-khaoco
Lần đầu tiên tôi “gặp” bác Tạ Chí Đại Trường là vào năm 1992, tại nhà thầy Trần Quốc Vượng. Năm ấy thầy mới đi Mỹ về. Tôi từ Sài Gòn ra ghé thăm thầy. Ngắm nghía những giá sách đầy chật nhà thầy, tôi nhận ra ngay những cuốn sách mới. Có một cuốn mà vừa nhìn thấy tôi đã cầm lấy xem ngay bởi cái tựa sách và cả tên tác giả đều lạ. Đó là cuốn “Thần, người và đất Việt” – cuốn sách mà cho đến giờ tôi vẫn nhớ nhầm tựa sách, luôn đảo thứ tự 3 thành phần trên như “Người, đất và thần Việt” hay “Đất, thần và người Việt”… vì tôi thấy để kiểu gì cũng hay và… có lý.
Tất nhiên sau đó tôi xin phép thầy Vượng photo lại, và nó trở thành một trong số ít những cuốn sách nghiên cứu tôi rất thích, thường đọc đi đọc lại.
Bẵng đi rất lâu, tôi cũng không biết gì thêm về tác giả Tạ Chí Đại Trường và những công trình mới của ông. Cho đến vài năm gần đây mạng Internet phát triển, nhớ đến tên tác giả “là lạ” tôi vào Google tìm kiếm. Thiệt là may, tôi đã tìm thấy nhiều bài viết của ông trên một số Website, rồi sau đó tìm thấy trang Tachidaitruong.com. Bèn copy tất cả các bài viết của ông xuống và xem… từ từ.
Năm ngòai năm kia có 2 cuốn sách của ông được xuất bản trong nước, đó là cuốn sách nói trên “Thần, người và đất Việt”, và “Lịch sử một cuộc nội chiến”. Rồi năm nay thêm một cuốn nữa “Những bài dã sử Việt”… Thế là tôi có thêm cơ hội được “gặp” ông qua các công trình nghiên cứu lịch sử rất thú vị.
Biết bác Tạ Chí Đại Trường mới về Sài Gòn, tôi đã nhờ bạn giới thiệu cho tôi được gặp bác. Bác đã tặng tôi mấy cuốn sách của bác in bên Mỹ, lại còn chỉ dẫn cẩn thận những chỗ in lỗi làm tôi thật vui và cảm động, vì tôi không phải là người nghiên cứu chuyên về lịch sử, và chỉ là 1 trong số hàng trăm độc gỉả của bác. Được gặp và nói chuyện với bác, nghe bác kể về một số công trình của bác in trong nước và nhiều công trình khác, tôi hiểu rõ hơn vì sao mình lại quan tâm và thích thú như thế khi đọc những cuốn sách của ông.
Đầu tiên là giọng văn của ông: nghiêm túc, khúc chiết nhưng không hiếm khi hóm hỉnh, có khi mỉa mai khi châm chọc, có lúc “cực đoan” thậm chí đầy vẻ định kiến khi chê/ phê một ai đó. Nhưng giọng văn ấy cũng rất “có duyên”, lôi cuốn người đọc, có khi làm cho người đọc thầm tranh luận lại. Người đọc không chán, cứ xem đến cùng, xem đi xem lại, như trò chuyện với ông nhiều lần vậy. Giọng văn ấy lôi cuốn còn vì người đọc thấy được “lập trường” khoa học của chính tác giả. Tôi nhận thấy những cuốn sách nghiên cứu lịch sử, sách giáo khoa lịch sử được viết hay, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc thì sẽ làm cho người đọc quan tâm, tìm hiểu và yêu thích lịch sử nói chung và sử học nói riêng.
Thứ hai, quan trọng hơn, đó là vấn đề tư liệu trong các công trình của ông. Ông tiếp cận các vấn đề, sự kiện lịch sử đầu tiên từ chính nguồn sử liệu vốn/ sẵn có. Và cách đơn giản nhất nhưng cũng là cơ bản và khoa học nhất là: Đọc kỹ sử liệu, không chỉ từng câu từng từ mà còn đọc trong sự liên hệ, liên kết các sự kiện, con người mà sử đã ghi chép lại. Để nhận ra, nhìn thấy những gì mà sử gia thời trước không viết ra bằng câu chữ, tức là đọc lịch sử như người cùng thời để hiểu những gì diễn ra đằng sau những câu chữ. Như ông bảo, tất cả những “phát hiện mới” của ông đều đã được ghi chép trong ĐVSKTT cũng như trong các bộ chính sử khác. Những phát hiện “tư liệu mới” của ông làm cho nhiều vấn đề, nhân vật lịch sử trở nên sáng tỏ hơn – nhất là làm ta hiểu hơn bối cảnh xã hội của sự kiện lịch sử - cái nhìn biện chứng hơn. Các vấn đề ông phát hiện, nêu ra liên quan đến những nhân vật, những triều đại lịch sử mà trước nay ta thường chỉ nhìn thấy mặt chủ đạo (ưu điểm hay hạn chế cơ bản, nổi bật, quan trọng nhất…) của nó. Nói cách khác là ông cho chúng ta một góc nhìn khác về lịch sử. Vẫn là những nhân vật sự kiện triều đại đó, nhưng gần gũi, dễ hiểu và cũng có những khiếm khuyết, hạn chế, sai lầm… rất đời thường, rất con người. Lâu nay ta hay nhìn các nhân vật lịch sử chỉ qua lăng kính chính trị. Nhưng họ còn là những con người “xã hội”, con người “gia đình”, con người “cá nhân”. Khi nhìn nhân vật lịch sử trong “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” như vậy sẽ hiểu hơn những hành động hành vi, những thành công thất bại, quan trọng hơn là hiểu nguyên nhân nào dẫn đến những sai lầm của họ. Có như vậy mới thấm thía bài học kinh nghiệm từ lịch sử.
Thứ ba: Các công trình của ông thực sự là những công trình liên ngành: tiếp cận một vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, từ nhiều ngành nhiều tư liệu khác nhau, để tìm ra bản chất vấn đề. Nếu những góc nhìn ấy đều đi đến bản chất của vấn đề thì kết quả nghiên cứu là đúng. Còn nếu như mỗi góc nhìn cho thấy những “bản chất” mâu thuẫn với nhau thì hoặc, phải kiểm tra lại tòan bộ tư liệu, hoặc cách đặt vấn đề của mình là sai! Như vậy phương pháp liên ngành đòi hỏi người nghiên cứu phải thực sự khách quan (và dũng cảm) khi sử dụng kết quả, phương pháp của các ngành khác, bởi vì nó có thể làm phá sản ý đồ nghiên cứu của mình. Có lẽ vì vậy mà lâu nay có những công trình nghiên cứu luôn ghi rằng “sử dụng phương pháp liên ngành” nhưng thường là chỉ sử dụng kết quả nghiên cứu nào phù hợp/ ủng hộ ý tưởng của tác giả mà né tránh, thậm chí lờ đi những gì ngược với suy nghĩ của mình.
Phương pháp liên ngành luôn đòi người nghiên cứu phải đặt những câu hỏi Tại sao, như thế nào với ngay những suy luận của mình… Trong nghiên cứu lịch sử biết đặt câu hỏi đúng là đã thành công được hơn một nửa? Nắm vững tư liệu lịch sử đó là chiều sâu, sử dụng tài liệu liên ngành đó là chiều rộng. Như vậy lịch sử sẽ hiện lên tòan diện hơn. Các công trình nghiên cứu lịch sử VN của bác Tạ Chí Đại Trường xuất phát từ góc nhìn rộng nhất: từ văn hóa Việt Nam, các thành tố của văn hóa như ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa dân gian, huyền thọai, truyền thuyết… đều được bác sử dụng, miễn là nó cung cấp một cái gì đó để ông có thêm cứ liệu để hiểu đúng, giải thích một cách hợp lý về một sự kiện, một con người lịch sử, trên nền tảng nguồn Sử liệu mà ông đã khảo cứu vô cùng tỉ mỉ. Lịch sử là đời sống, đặt lịch sử trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, do đó khi đọc tác giả Tạ Chí Đại Trường ta nhận thấy “sử học” và “sự thật” khá gần gũi nhau.
Lẽ dĩ nhiên không phải vấn đề nào tôi cũng đồng tình với cách hiểu của ông, nhưng đây chỉ là cảm nhận của riêng tôi và tôi thường chia sẻ với các sinh viên của mình. Bởi vì tôi nghĩ, kinh nghiệm quý báu của người đi trước trong nghiên cứu chính là cách thức tiến hành công việc, là phương pháp chứ không chỉ là việc tích lũy tri thức được bao nhiêu, nhất là hiện nay với mạng Internet tòan cầu. Tuy nhiên nếu có phương pháp đúng ta sẽ tự trang bị cho mình những kiến thức tốt, cần thiết cho công việc cũng như đáp ứng sự yêu thích của mình.
Tạp chí Da Màu
Tạ Chí Đại Trường
http://damau.org/search-results?cx=partner-pub-7234461564164212%3Avh9a91-cslu&cof=FORID%3A9&ie=UTF-8&q=T%E1%BA%A1+Ch%C3%AD+%C4%90%E1%BA%A1i+Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng&sa=Search&siteurl=damau.org%2Farchives%2Fcategory%2Fbienkhao#930
Thursday, December 31, 2009
THƯ MỜI THAM DỰ NGÀY HOÀNG SA
THƯ MỜI THAM DỰ NGÀY HOÀNG SA
31-12-2009
http://www.haingoaiphiemdam.com/tin-cong-dong/-THƯ-MOI-THAM-DU-NGAY-HOANG-SA.php
Để thể hiện tinh thần " Quyết Chiến, Chiến Đến Cùng ", Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long đã đứng ra nhận trách nhiệm tổ chức ngày Hoàng Sa tại nam California. Chúng tôi kính mong được quý vị giúp phổ biến đến quý đồng hương, quý chiến hữu, quý thân hữu, và bạn đồng khoá, tham dự đông đảo ngày Hoàng Sa.
HỘI ÁI HỮU HẢI QUÂN CỬU LONG
P.O Box 12242 WESTMINSTER , CA 92685-2242
THƯ MỜI
Kính gởi: Quý Đồng Hương; Quý Hội Đoàn; Quý Niên Trưởng; Quý Chiến Hữu QLVNCH; Quý Chiến Hữu Hải Quân.
Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long trân trọng thông báo :
Để thể hiện tinh thần " Quyết Chiến, Chiến Đến Cùng ", Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long đã đứng ra nhận trách nhiệm tổ chức ngày Hoàng Sa tại nam California. Chúng tôi kính mong được quý vị giúp phổ biến đến quý đồng hương, quý chiến hữu, quý thân hữu, và bạn đồng khoá, tham dự đông đảo ngày Hoàng Sa.
MỤC ĐÍCH
a/- Ghi ơn và tưởng niệm , Quân, Cán, Chính đã hy sinh trên đảo Hoàng Sa và đặc biệt các Quân Nhân tham dự trận hải chiến với Trung Cộng ngày 19 tháng 1 năm 1974.
b/- Vinh danh , Quân, Cán, Chính trong trận Hoàng Sa
c/- Phát huy và nêu cao tinh thần bất khuất cuả Dân, Quân, Cán, Chính VNCH nói chung và HQVNCH nói riêng trước sự tiến chiếm cuả Trung Cộng tại quần đảo Hòang Sa cho thế hệ trẻ biết đến và noi theo.
THỜI GIAN & ĐỊA ĐIỂM
Chuá nhật 17 tháng 01 năm 2010 . Từ 12:00 PM – 06:00 PM
Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ( Freedom Park )
Thành Phố Westminster. California
CHƯƠNG TRÌNH TRONG HỘI TRƯỜNG. 12:00 PM - 02:00 PM
Thuyết trình về Hoàng Sa (Các diễn giả trong cộng đồng và Hải Quân )
Chiếu phim ; triển lãm chiến hạm và chiến đỉnh Hải Quân
CHƯƠNG TRÌNH TẠI TƯỢNG ĐÀI . 02:00 PM - 06:00 PM
Nghi Thức khai mạc.
Lể Truy Điệu.
Vinh Danh các Chiến sĩ tham chiến hiện diện.
Phát biểu cuả quan khách .
Văn Nghệ chủ đề Hoàng Sa ( MC Việt Dũng và các đoàn thể )
Văn Nghệ giúp vui do các ca sĩ trung tâm ASIA và MC Việt Dũng.
THÀNH PHẦN THAM DỰ .
Quý Đồng Hương; Quý Hội Ái Hữu ; Quý Hội Đồng Hương; Các Đoàn Thể Trẻ; Tổng Hội Sinh Viên; Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH;Tập Thể Chiến Sĩ VNCH trung Tâm Tây Nam,Hội Đồng Liên Tôn ; Quan Chức Công Quyền Điạ Phương ; Quý Vị Dân Cử Mỹ ; Quý Vị Dân Cử Mỹ Gốc Việt ; Quý Tướng Lãnh Hải Quân VNCH; Quý Cựu Cố Vấn Mỹ ; Quý Hội Hải Quân San Jose ; San Diego .....v v...Quý Cơ Quan Truyền Thông
SỐ NGƯỜI THAM DỰ
Dự đoán từ 2000 người trở lên
ẨM THỰC, GIẢI KHÁT
Có giải khát cho đồng hương.
VẬT LƯU NIỆM
Áo T Shirt ( Với Logo chủ đề Hoàng Sa )
Kính thưa Quý vị.
Xin quý vị bớt chút thời giờ tham dự và kêu gọi bằng hữu cùng tham dự. Riêng quí vị QLVNCH chúng tôi rất mong quý vị tham dự với quân phục của các Quân ,Binh chủng..( nếu có thể được ).Quí Đoàn Thể, Hội Đoàn với đồng phục nếu có.
Để giúp chúng tôi hoàn thành ngày Hoàng Sa một cách tốt đẹp . Chúng tôi rất luôn mong nhận và trân quý những đóng góp cuả quý vị.
Chi phiếu xin gởi về :
Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long
P.O Box 12242 WESTMINSTER , CA 92685-2242
Điện thoại liên lạc :
714 - 548 – 5733
Kính thưa quý vị
Thay mặt cho Hội Đồng Chấp Hành Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long, chúng tôi xin kính lời cám ơn về sự hưởng ứng và đóng góp của tất cả quý vị cho việc đại nghĩa này, và kính chúc quý vị cùng quý quyến năm mới an khang và thịnh vượng
WESTMINSTER ngày 30 tháng 12 năm 2009
Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long.
T.M. Hội Đồng Chấp Hành
Hội Trưởng
Đinh Hoàng Cảnh
CHƯƠNG TRÌNH
Buổi lễ tưởng niệm các Chiến Sĩ VNCH đã vị quốc vong thân trong trận Hải Chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974 do hội Ái Hữu hải Quân Cửu Long tổ chức Tại tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ( freedom park ) từ 12:00 tới 6:00 Chiều ngày 17thng 1 năm 2010 .Với sự dự trù tham dự của các Hội Đoàn Đầu tranh ,phong trào chính trị trong cộng đồng Người Việt tị nạn Cộng Sản miền nam California ( dự trù khoảng từ 3 tới 5 ngàn người tham dự )
Chương trình tổng quát gồm có :
1/ Diễn hành : Đoàn xe motor của VHOG có Cảnh sát dẫn đường Cùng với khoảng 10 chiếc xe jeep quân đội của các quân binh chủng .VNCH - kéo biểu ngữ sẽ diễn hành qua các phố chính của khu Tiểu Sài Gòn
2/Từ 12:00 /2:00 Chiều tại Hội trường thành phố Westminster là buổi thuyết trình về 2 đề tài :
a/ Trận hải chiến Hoàng sa 1974
b/ VIỆT NAM Chủ quyền Hoàng Sa
Cả hai đề tài trên đều có những hình ảnh sách vở dẫn chứng , ngoài ra còn có trưng bày mô hình các chiến hạm thuộc HQVNCH
3/ từ 2:00-6:00 chiều : Tại tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ
a/ Lễ Truy Điệu các anh hùng đã vị quốc vong thân
b/ Lễ vinh danh các anh hùng từng tham chiến trong trận Hải chiến năm 1974
c/ Văn Nghệ đấu tranh do các ban văn nghệ thuộc các hội cựu quân nhân cùng các ca sĩ của trung tâm Asia đảm trách với sự điều khiển chương trình của ca nhạc sĩ VIỆT DŨNG
31-12-2009
http://www.haingoaiphiemdam.com/tin-cong-dong/-THƯ-MOI-THAM-DU-NGAY-HOANG-SA.php
Để thể hiện tinh thần " Quyết Chiến, Chiến Đến Cùng ", Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long đã đứng ra nhận trách nhiệm tổ chức ngày Hoàng Sa tại nam California. Chúng tôi kính mong được quý vị giúp phổ biến đến quý đồng hương, quý chiến hữu, quý thân hữu, và bạn đồng khoá, tham dự đông đảo ngày Hoàng Sa.
HỘI ÁI HỮU HẢI QUÂN CỬU LONG
P.O Box 12242 WESTMINSTER , CA 92685-2242
THƯ MỜI
Kính gởi: Quý Đồng Hương; Quý Hội Đoàn; Quý Niên Trưởng; Quý Chiến Hữu QLVNCH; Quý Chiến Hữu Hải Quân.
Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long trân trọng thông báo :
Để thể hiện tinh thần " Quyết Chiến, Chiến Đến Cùng ", Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long đã đứng ra nhận trách nhiệm tổ chức ngày Hoàng Sa tại nam California. Chúng tôi kính mong được quý vị giúp phổ biến đến quý đồng hương, quý chiến hữu, quý thân hữu, và bạn đồng khoá, tham dự đông đảo ngày Hoàng Sa.
MỤC ĐÍCH
a/- Ghi ơn và tưởng niệm , Quân, Cán, Chính đã hy sinh trên đảo Hoàng Sa và đặc biệt các Quân Nhân tham dự trận hải chiến với Trung Cộng ngày 19 tháng 1 năm 1974.
b/- Vinh danh , Quân, Cán, Chính trong trận Hoàng Sa
c/- Phát huy và nêu cao tinh thần bất khuất cuả Dân, Quân, Cán, Chính VNCH nói chung và HQVNCH nói riêng trước sự tiến chiếm cuả Trung Cộng tại quần đảo Hòang Sa cho thế hệ trẻ biết đến và noi theo.
THỜI GIAN & ĐỊA ĐIỂM
Chuá nhật 17 tháng 01 năm 2010 . Từ 12:00 PM – 06:00 PM
Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ( Freedom Park )
Thành Phố Westminster. California
CHƯƠNG TRÌNH TRONG HỘI TRƯỜNG. 12:00 PM - 02:00 PM
Thuyết trình về Hoàng Sa (Các diễn giả trong cộng đồng và Hải Quân )
Chiếu phim ; triển lãm chiến hạm và chiến đỉnh Hải Quân
CHƯƠNG TRÌNH TẠI TƯỢNG ĐÀI . 02:00 PM - 06:00 PM
Nghi Thức khai mạc.
Lể Truy Điệu.
Vinh Danh các Chiến sĩ tham chiến hiện diện.
Phát biểu cuả quan khách .
Văn Nghệ chủ đề Hoàng Sa ( MC Việt Dũng và các đoàn thể )
Văn Nghệ giúp vui do các ca sĩ trung tâm ASIA và MC Việt Dũng.
THÀNH PHẦN THAM DỰ .
Quý Đồng Hương; Quý Hội Ái Hữu ; Quý Hội Đồng Hương; Các Đoàn Thể Trẻ; Tổng Hội Sinh Viên; Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH;Tập Thể Chiến Sĩ VNCH trung Tâm Tây Nam,Hội Đồng Liên Tôn ; Quan Chức Công Quyền Điạ Phương ; Quý Vị Dân Cử Mỹ ; Quý Vị Dân Cử Mỹ Gốc Việt ; Quý Tướng Lãnh Hải Quân VNCH; Quý Cựu Cố Vấn Mỹ ; Quý Hội Hải Quân San Jose ; San Diego .....v v...Quý Cơ Quan Truyền Thông
SỐ NGƯỜI THAM DỰ
Dự đoán từ 2000 người trở lên
ẨM THỰC, GIẢI KHÁT
Có giải khát cho đồng hương.
VẬT LƯU NIỆM
Áo T Shirt ( Với Logo chủ đề Hoàng Sa )
Kính thưa Quý vị.
Xin quý vị bớt chút thời giờ tham dự và kêu gọi bằng hữu cùng tham dự. Riêng quí vị QLVNCH chúng tôi rất mong quý vị tham dự với quân phục của các Quân ,Binh chủng..( nếu có thể được ).Quí Đoàn Thể, Hội Đoàn với đồng phục nếu có.
Để giúp chúng tôi hoàn thành ngày Hoàng Sa một cách tốt đẹp . Chúng tôi rất luôn mong nhận và trân quý những đóng góp cuả quý vị.
Chi phiếu xin gởi về :
Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long
P.O Box 12242 WESTMINSTER , CA 92685-2242
Điện thoại liên lạc :
714 - 548 – 5733
Kính thưa quý vị
Thay mặt cho Hội Đồng Chấp Hành Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long, chúng tôi xin kính lời cám ơn về sự hưởng ứng và đóng góp của tất cả quý vị cho việc đại nghĩa này, và kính chúc quý vị cùng quý quyến năm mới an khang và thịnh vượng
WESTMINSTER ngày 30 tháng 12 năm 2009
Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long.
T.M. Hội Đồng Chấp Hành
Hội Trưởng
Đinh Hoàng Cảnh
CHƯƠNG TRÌNH
Buổi lễ tưởng niệm các Chiến Sĩ VNCH đã vị quốc vong thân trong trận Hải Chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974 do hội Ái Hữu hải Quân Cửu Long tổ chức Tại tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ( freedom park ) từ 12:00 tới 6:00 Chiều ngày 17thng 1 năm 2010 .Với sự dự trù tham dự của các Hội Đoàn Đầu tranh ,phong trào chính trị trong cộng đồng Người Việt tị nạn Cộng Sản miền nam California ( dự trù khoảng từ 3 tới 5 ngàn người tham dự )
Chương trình tổng quát gồm có :
1/ Diễn hành : Đoàn xe motor của VHOG có Cảnh sát dẫn đường Cùng với khoảng 10 chiếc xe jeep quân đội của các quân binh chủng .VNCH - kéo biểu ngữ sẽ diễn hành qua các phố chính của khu Tiểu Sài Gòn
2/Từ 12:00 /2:00 Chiều tại Hội trường thành phố Westminster là buổi thuyết trình về 2 đề tài :
a/ Trận hải chiến Hoàng sa 1974
b/ VIỆT NAM Chủ quyền Hoàng Sa
Cả hai đề tài trên đều có những hình ảnh sách vở dẫn chứng , ngoài ra còn có trưng bày mô hình các chiến hạm thuộc HQVNCH
3/ từ 2:00-6:00 chiều : Tại tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ
a/ Lễ Truy Điệu các anh hùng đã vị quốc vong thân
b/ Lễ vinh danh các anh hùng từng tham chiến trong trận Hải chiến năm 1974
c/ Văn Nghệ đấu tranh do các ban văn nghệ thuộc các hội cựu quân nhân cùng các ca sĩ của trung tâm Asia đảm trách với sự điều khiển chương trình của ca nhạc sĩ VIỆT DŨNG
Về BẢN ÁN KẾT TỘI ÔNG TRẦN ANH KIM
Bản án kết tội Trần Anh Kim: Món quà chúc mừng năm mới của Đảng
Kami
Thứ Năm, 31/12/2009
http://danluan.org/node/3790
Sau nhiều ngày tháng chờ đợi với nhiều đồn đoán và đánh giá cho án phạt cho những nhà hoạt động dân chủ bị bắt hồi tháng 6-7/2009 như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thanh Long và ông Trần Anh Kim sau khi bị sửa đổi tội danh từ điều 88 "Tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCN Việt nam" sang tội danh phạm tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Bộ Luật Hình sự.
Ngày 28/12/2009 Tòa án tỉnh Thái Bình đã xét xử và tuyên phạt ông Trần Anh Kim, một nhà tranh đấu cho dân chủ Việt Nam, nguyên trung tá quân đội nhân dân Việt nam đã từng công tác và chiến đấu tại các đơn vị thuộc Sư đoàn III, Quân khu I và Sư đoàn III, Quân Khu V và cuối cùng đã được đề bạt giữ cương vị Chỉ huy Phó chính trị - Ban Quân sự thị xã Thái Bình tháng 4/1989.
Theo tường thuật của VNNet thì "xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Anh Kim, Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia. Hoạt động phạm tội của bị cáo không chỉ mang tính chất cá nhân mà có sự cấu kết chặt chẽ giữa các cá nhân và tổ chức chống đối, có sự móc nối với bọn phản động người Việt lưu vong thù địch ở nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận Trần Anh Kim phạm tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Bộ Luật Hình sự. Hội đồng xét xử đã tuyên phạt Trần Anh Kim 5 năm 6 tháng tù giam và phạt quản chế 3 năm tại địa phương."
Với án phạt 5 năm rưỡi tù ở và 3 năm quản chế về tội âm mưu lật đổ nhà nước trong một phiên tòa nhợt nhạt, nhanh chóng khoảng bốn tiếng đồng hồ. Tại phiên tòa này, một phiên tòa được đánh giá cho đây là một phiên xử chiếu lệ và thiếu công minh, nhưng trước tòa ông Trần Anh Kim đã phủ nhận mọi cáo buộc của Viện kiểm sát và chính ông Kim đã tuyên bố trước tòa rằng ông không hề phạm tội gì.
Điều này khác hoàn toàn với băng video thú tội của bốn nhân vật bất đồng chính kiến Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt trong tháng 6-7/2009 và đã được trình chiếu rộng rãi trên VTV mấy tháng trước, với nội dung ông Trần Anh Kim thừa nhận hành vi nhận tiền của bọn phản động nước ngoài chống phá Nhà nước khi thú nhận: "Trong quá trình như vậy tôi cũng có nhận tiền của một số người ở nước ngoài cũng như những người ở trong nước mua các phương tiện thông tin giúp mình tiện liên lạc đồng thời có cho một số người tiền bạc để họ vào tổ chức của chúng tôi, và quá trình làm việc như vậy sau khi tôi suy nghĩ lại thì tôi thấy những việc làm của tôi đã vi phạm pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, và tôi mong được Nhà nước CHXHCN Việt Nam xét và cho tôi hưởng khoan hồng". Ngược lại ông Trần Anh Kim đã khẳng định tại tòa "Tôi tham gia Đảng Dân chủ Việt Nam và Khối 8406 để đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền thông qua đối thoại hòa bình và hình thức bất bạo động".
Tội "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền" là một trọng tội ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, không chỉ riêng Việt nam mà án cao nhất sẽ là tử hình nhằm răn đe những kẻ muốn dùng bạo lực vũ trang hoặc những hình thức khác nhau nhằm lật đổ chính quyền hợp Hiến theo quy định của Hiến pháp quốc gia đó. Bên cạnh đó ở các quốc gia dân chủ ủng hộ và tạo điều kiện tối đa cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia hoạt động chính trị hợp pháp tại:
1. Trong Quốc hội: bằng các quyền ứng cử, đề cử tự do trong một cuộc bầu cử hợp pháp trung thực, bình đẳng và công bằng để bầu ra các đại biểu của mình thay mặt nhân dân trong cơ quan Lập pháp.
2. Ngoài Quốc hội: đó là quyền tự do ngôn luận, quyền thể hiện các suy nghĩ nguyện vọng của cá nhân, quyền tự do biểu tình mà quen gọi là chính trị gia trên đường phố.
Chính do sự tôn trọng và đề cao quyền con người tạo điều kiện cho mọi tầng lớp tham gia sinh hoạt chính trị trong khuôn khổ của pháp luật đã giảm thiểu sự hỗn loạn xã hội do hoạt động lật đổ không đáng có của một số ít phần tử cực đoan, vì ai quan tâm tới chính trị đề có thể tham gia theo khả năng của cá nhân mình
Điều đáng bàn ở đây, với tội danh bị truy tố tội danh phạm tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Bộ Luật Hình sự thì hình phạt mà ông Trần Anh Kim với vai trò là người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái bình phải đối mặt ở mức cao nhất sẽ là tử hình.
Chiểu theo điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam /Chương XI-Điều 79 ghi rõ:
"Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm."
Nhưng ngược lại bản án dành cho ông Trần Anh Kim chỉ là 5 năm 6 tháng tù giam và 3 năm quản chế tại địa phương, tương đương với vai trò người đồng phạm quy định tại khoản 2, trái hoàn toàn với những điều ghi trong bản Cáo trạng của Viện KS nhân dân Tỉnh Thái bình và án phạt cho tội danh "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" tại điều 79 chương XI của Bộ luật Hình sự Việt nam. Điều này phần nào thể hiện sự lúng túng và thiếu kiên quyết của các cơ quan bảo vệ pháp luật và cấp trên của họ trong các vụ án chính trị mang tính nhạy cảm như vụ án này. Vì sao quyền trong tay , luật trong tay mà họ không dám xét xử đúng luật pháp quy định? Phải chăng truy tố không đúng người chưa đúng tội hay chứng cứ còn quá non tay?
Bằng chứng là khi họ chuyển đổi tội danh từ điều 88 "Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" với mức án cao nhất là 20 năm sang tội danh điều 79 "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" với mức án cao nhất là tử hình" là nhằm mục đích răn đe, nhưng án phạt mà Tòa án tuyên bố lại quá nhẹ so với những cái họ muốn đối với các nhân vật bất đồng chính kiến này. Đây là một điều khó hiểu.
Nếu xem xét vụ án này và so sánh với một bản án của Tòa án Nhân dân Huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng ngày 10/8/2009 đã tuyên phạt Trương Ngọc Quyền năm năm tù, Vy Hoàng Bảo Hưng và Vy Kim Long mỗi người bốn năm tù về tội cướp hai con Vịt làm mồi nhậu thì thấy mức độ hình phạt không khác nhau là mấy. Thật buồn cười với tội danh "Hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân", mà ông Trần Anh Kim với vai trò của người tổ chức và hoạt động tích cực nhằm thay thế chính quyền nhân dân bằng một chính quyền khác, có khả năng đe dọa tới tính mạng, quyền lợi của những người lãnh đạo bộ máy Đảng và Nhà nước hiện nay mà chỉ xử ngang với vụ cướp hai con Vịt ở Lâm đồng. Không có lẽ cái giá của Chính quyền nhân dân mà Đảng và Nhà nước ta vẫn nhân danh lại có giá trị rẻ ngang với giá 2 con Vịt bị giết làm mồi nhậu hay sao?
Nếu đánh giá thật khách quan thì bản án sơ thẩm của Tòa án Nhân dân Tỉnh Thái bình tuyên phạt cho ông Trần Anh Kim là quá nhẹ so với tội danh "tày trời" đã được truy tố. Mặc dù là án nhẹ, nhưng bản án đó chỉ là một bản án bất công nhằm cách ly ông Trần Anh Kim ra khỏi xã hội vì một mối đe dọa do những người lãnh đạo đảng và chính quyền tự tưởng tượng. Nhưng quan trọng hơn bản án này chính là lời giải đáp cho vụ án Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thanh Long trong một vụ án với tội danh tương tự sẽ diễn ra trong hai ngày 20-21/1/2010 sẽ diễn ra tại Sài gòn, mà trước đó dư luận xã hội đã cho rằng sẽ có ít nhất hai bản án tử hình dành cho bốn bị can chính.
Vào những ngày cuối năm 2009, không hiểu là tình cờ hay có chủ ý, mà bản án dành cho ông Trần Anh Kim lại giải tỏa nỗi băn khoăn, lo lắng của nhiều người quan tâm và ủng hộ phong trào đấu tranh, vận động vì sự tự do và dân chủ ở Việt nam. Trước vụ án của ông Trần Anh Kim đã được họ đánh giá rằng việc chuyển tội danh từ điều 88 sang điều 79 với khung hình phạt cao nhất là tử hình, nhằm hòng tê liệt ý chí đấu tranh của các nhân vật bất đồng chính kiến trong nước. Tuy nhiên điều đó đã không trở thành sự thực như những người lãnh đạo đảng và chính quyền mong muốn, mà nó còn phản ảnh tâm trạng bối rối ít nhiều mang sự sợ sệt buộc họ phải chùn tay so với những cái họ đã dám làm trước đây. Cũng có thể đây là một động thái của chính quyền nhằm thăm dò dư luận quốc tế và trong nước trước khi định sẵn bản án cho các vụ tiếp theo, nhưng dù sao cũng là những tín hiệu đáng lạc quan.
Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa năm 2009 sẽ qua đi, năm mới 2010 sẽ đến với một mùa xuân mới với bao hy vọng mới cho công cuộc vận động cho một Nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự đầy triển vọng. Bên thềm của năm mới, những người đấu tranh cho dân chủ và mọi người ủng hộ cho phong trào này, chúng ta gửi lời chào và chúc mừng năm mới cho ông Trần Anh Kim còn trong lao tù, đồng thời hãy cảm ơn bản án mà chính quyền dành cho ông Trần Anh Kim tuy phần nào vô lý nhưng cũng có thể coi là một món quà mừng xuân đầy ý nghĩa của đảng CSVN và chính quyền trao tặng cho phong trào đấu tranh cho dân chủ. Đây có thể coi chính là bằng chứng của sự tôn trọng sự thật và lẽ phải của họ, hành động này đã góp phần cổ vũ lòng tin tưởng cho mọi người chúng ta trong năm 2010.
Đó chính là sự lùi bước của Đảng và Chính quyền nhà nước Việt nam trước những hy sinh của những cá nhân có trách nhiệm với đất nước và dân tộc bất chấp bạo tàn như Trần Anh Kim, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức v.v.. và rất nhiều những người khác đang lớp lớp tiến lên.
Chúng ta hãy xiết chặt tay nhau, triệu người như một vững bước tiến lên bất chấp bạo tàn, vì tương lai của một nước Việt nam độc lập, thống nhất dân chủ và giàu mạnh, trên cơ sở một nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân một cách thực sự.
Đó là sự chính nghĩa, phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thời đại và là giải pháp duy nhất mà những quốc gia đi trước đã chứng minh hiệu quả và tính tiến bộ của nó.
Nhân dịp năm mới và là bài viết cuối cùng của năm cũ, xin chúc tất cả mọi người Việt nam trên toàn thế giới một năm mới an khang và hạnh phúc.
Hãy vững tin và hẹn gặp lại trong năm 2010.
Ngày cuối năm 31/12/2009
© 2009 Kami
Kami
Thứ Năm, 31/12/2009
http://danluan.org/node/3790
Sau nhiều ngày tháng chờ đợi với nhiều đồn đoán và đánh giá cho án phạt cho những nhà hoạt động dân chủ bị bắt hồi tháng 6-7/2009 như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thanh Long và ông Trần Anh Kim sau khi bị sửa đổi tội danh từ điều 88 "Tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCN Việt nam" sang tội danh phạm tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Bộ Luật Hình sự.
Ngày 28/12/2009 Tòa án tỉnh Thái Bình đã xét xử và tuyên phạt ông Trần Anh Kim, một nhà tranh đấu cho dân chủ Việt Nam, nguyên trung tá quân đội nhân dân Việt nam đã từng công tác và chiến đấu tại các đơn vị thuộc Sư đoàn III, Quân khu I và Sư đoàn III, Quân Khu V và cuối cùng đã được đề bạt giữ cương vị Chỉ huy Phó chính trị - Ban Quân sự thị xã Thái Bình tháng 4/1989.
Theo tường thuật của VNNet thì "xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Anh Kim, Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia. Hoạt động phạm tội của bị cáo không chỉ mang tính chất cá nhân mà có sự cấu kết chặt chẽ giữa các cá nhân và tổ chức chống đối, có sự móc nối với bọn phản động người Việt lưu vong thù địch ở nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận Trần Anh Kim phạm tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Bộ Luật Hình sự. Hội đồng xét xử đã tuyên phạt Trần Anh Kim 5 năm 6 tháng tù giam và phạt quản chế 3 năm tại địa phương."
Với án phạt 5 năm rưỡi tù ở và 3 năm quản chế về tội âm mưu lật đổ nhà nước trong một phiên tòa nhợt nhạt, nhanh chóng khoảng bốn tiếng đồng hồ. Tại phiên tòa này, một phiên tòa được đánh giá cho đây là một phiên xử chiếu lệ và thiếu công minh, nhưng trước tòa ông Trần Anh Kim đã phủ nhận mọi cáo buộc của Viện kiểm sát và chính ông Kim đã tuyên bố trước tòa rằng ông không hề phạm tội gì.
Điều này khác hoàn toàn với băng video thú tội của bốn nhân vật bất đồng chính kiến Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt trong tháng 6-7/2009 và đã được trình chiếu rộng rãi trên VTV mấy tháng trước, với nội dung ông Trần Anh Kim thừa nhận hành vi nhận tiền của bọn phản động nước ngoài chống phá Nhà nước khi thú nhận: "Trong quá trình như vậy tôi cũng có nhận tiền của một số người ở nước ngoài cũng như những người ở trong nước mua các phương tiện thông tin giúp mình tiện liên lạc đồng thời có cho một số người tiền bạc để họ vào tổ chức của chúng tôi, và quá trình làm việc như vậy sau khi tôi suy nghĩ lại thì tôi thấy những việc làm của tôi đã vi phạm pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, và tôi mong được Nhà nước CHXHCN Việt Nam xét và cho tôi hưởng khoan hồng". Ngược lại ông Trần Anh Kim đã khẳng định tại tòa "Tôi tham gia Đảng Dân chủ Việt Nam và Khối 8406 để đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền thông qua đối thoại hòa bình và hình thức bất bạo động".
Tội "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền" là một trọng tội ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, không chỉ riêng Việt nam mà án cao nhất sẽ là tử hình nhằm răn đe những kẻ muốn dùng bạo lực vũ trang hoặc những hình thức khác nhau nhằm lật đổ chính quyền hợp Hiến theo quy định của Hiến pháp quốc gia đó. Bên cạnh đó ở các quốc gia dân chủ ủng hộ và tạo điều kiện tối đa cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia hoạt động chính trị hợp pháp tại:
1. Trong Quốc hội: bằng các quyền ứng cử, đề cử tự do trong một cuộc bầu cử hợp pháp trung thực, bình đẳng và công bằng để bầu ra các đại biểu của mình thay mặt nhân dân trong cơ quan Lập pháp.
2. Ngoài Quốc hội: đó là quyền tự do ngôn luận, quyền thể hiện các suy nghĩ nguyện vọng của cá nhân, quyền tự do biểu tình mà quen gọi là chính trị gia trên đường phố.
Chính do sự tôn trọng và đề cao quyền con người tạo điều kiện cho mọi tầng lớp tham gia sinh hoạt chính trị trong khuôn khổ của pháp luật đã giảm thiểu sự hỗn loạn xã hội do hoạt động lật đổ không đáng có của một số ít phần tử cực đoan, vì ai quan tâm tới chính trị đề có thể tham gia theo khả năng của cá nhân mình
Điều đáng bàn ở đây, với tội danh bị truy tố tội danh phạm tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Bộ Luật Hình sự thì hình phạt mà ông Trần Anh Kim với vai trò là người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái bình phải đối mặt ở mức cao nhất sẽ là tử hình.
Chiểu theo điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam /Chương XI-Điều 79 ghi rõ:
"Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm."
Nhưng ngược lại bản án dành cho ông Trần Anh Kim chỉ là 5 năm 6 tháng tù giam và 3 năm quản chế tại địa phương, tương đương với vai trò người đồng phạm quy định tại khoản 2, trái hoàn toàn với những điều ghi trong bản Cáo trạng của Viện KS nhân dân Tỉnh Thái bình và án phạt cho tội danh "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" tại điều 79 chương XI của Bộ luật Hình sự Việt nam. Điều này phần nào thể hiện sự lúng túng và thiếu kiên quyết của các cơ quan bảo vệ pháp luật và cấp trên của họ trong các vụ án chính trị mang tính nhạy cảm như vụ án này. Vì sao quyền trong tay , luật trong tay mà họ không dám xét xử đúng luật pháp quy định? Phải chăng truy tố không đúng người chưa đúng tội hay chứng cứ còn quá non tay?
Bằng chứng là khi họ chuyển đổi tội danh từ điều 88 "Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" với mức án cao nhất là 20 năm sang tội danh điều 79 "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" với mức án cao nhất là tử hình" là nhằm mục đích răn đe, nhưng án phạt mà Tòa án tuyên bố lại quá nhẹ so với những cái họ muốn đối với các nhân vật bất đồng chính kiến này. Đây là một điều khó hiểu.
Nếu xem xét vụ án này và so sánh với một bản án của Tòa án Nhân dân Huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng ngày 10/8/2009 đã tuyên phạt Trương Ngọc Quyền năm năm tù, Vy Hoàng Bảo Hưng và Vy Kim Long mỗi người bốn năm tù về tội cướp hai con Vịt làm mồi nhậu thì thấy mức độ hình phạt không khác nhau là mấy. Thật buồn cười với tội danh "Hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân", mà ông Trần Anh Kim với vai trò của người tổ chức và hoạt động tích cực nhằm thay thế chính quyền nhân dân bằng một chính quyền khác, có khả năng đe dọa tới tính mạng, quyền lợi của những người lãnh đạo bộ máy Đảng và Nhà nước hiện nay mà chỉ xử ngang với vụ cướp hai con Vịt ở Lâm đồng. Không có lẽ cái giá của Chính quyền nhân dân mà Đảng và Nhà nước ta vẫn nhân danh lại có giá trị rẻ ngang với giá 2 con Vịt bị giết làm mồi nhậu hay sao?
Nếu đánh giá thật khách quan thì bản án sơ thẩm của Tòa án Nhân dân Tỉnh Thái bình tuyên phạt cho ông Trần Anh Kim là quá nhẹ so với tội danh "tày trời" đã được truy tố. Mặc dù là án nhẹ, nhưng bản án đó chỉ là một bản án bất công nhằm cách ly ông Trần Anh Kim ra khỏi xã hội vì một mối đe dọa do những người lãnh đạo đảng và chính quyền tự tưởng tượng. Nhưng quan trọng hơn bản án này chính là lời giải đáp cho vụ án Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thanh Long trong một vụ án với tội danh tương tự sẽ diễn ra trong hai ngày 20-21/1/2010 sẽ diễn ra tại Sài gòn, mà trước đó dư luận xã hội đã cho rằng sẽ có ít nhất hai bản án tử hình dành cho bốn bị can chính.
Vào những ngày cuối năm 2009, không hiểu là tình cờ hay có chủ ý, mà bản án dành cho ông Trần Anh Kim lại giải tỏa nỗi băn khoăn, lo lắng của nhiều người quan tâm và ủng hộ phong trào đấu tranh, vận động vì sự tự do và dân chủ ở Việt nam. Trước vụ án của ông Trần Anh Kim đã được họ đánh giá rằng việc chuyển tội danh từ điều 88 sang điều 79 với khung hình phạt cao nhất là tử hình, nhằm hòng tê liệt ý chí đấu tranh của các nhân vật bất đồng chính kiến trong nước. Tuy nhiên điều đó đã không trở thành sự thực như những người lãnh đạo đảng và chính quyền mong muốn, mà nó còn phản ảnh tâm trạng bối rối ít nhiều mang sự sợ sệt buộc họ phải chùn tay so với những cái họ đã dám làm trước đây. Cũng có thể đây là một động thái của chính quyền nhằm thăm dò dư luận quốc tế và trong nước trước khi định sẵn bản án cho các vụ tiếp theo, nhưng dù sao cũng là những tín hiệu đáng lạc quan.
Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa năm 2009 sẽ qua đi, năm mới 2010 sẽ đến với một mùa xuân mới với bao hy vọng mới cho công cuộc vận động cho một Nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự đầy triển vọng. Bên thềm của năm mới, những người đấu tranh cho dân chủ và mọi người ủng hộ cho phong trào này, chúng ta gửi lời chào và chúc mừng năm mới cho ông Trần Anh Kim còn trong lao tù, đồng thời hãy cảm ơn bản án mà chính quyền dành cho ông Trần Anh Kim tuy phần nào vô lý nhưng cũng có thể coi là một món quà mừng xuân đầy ý nghĩa của đảng CSVN và chính quyền trao tặng cho phong trào đấu tranh cho dân chủ. Đây có thể coi chính là bằng chứng của sự tôn trọng sự thật và lẽ phải của họ, hành động này đã góp phần cổ vũ lòng tin tưởng cho mọi người chúng ta trong năm 2010.
Đó chính là sự lùi bước của Đảng và Chính quyền nhà nước Việt nam trước những hy sinh của những cá nhân có trách nhiệm với đất nước và dân tộc bất chấp bạo tàn như Trần Anh Kim, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức v.v.. và rất nhiều những người khác đang lớp lớp tiến lên.
Chúng ta hãy xiết chặt tay nhau, triệu người như một vững bước tiến lên bất chấp bạo tàn, vì tương lai của một nước Việt nam độc lập, thống nhất dân chủ và giàu mạnh, trên cơ sở một nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân một cách thực sự.
Đó là sự chính nghĩa, phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thời đại và là giải pháp duy nhất mà những quốc gia đi trước đã chứng minh hiệu quả và tính tiến bộ của nó.
Nhân dịp năm mới và là bài viết cuối cùng của năm cũ, xin chúc tất cả mọi người Việt nam trên toàn thế giới một năm mới an khang và hạnh phúc.
Hãy vững tin và hẹn gặp lại trong năm 2010.
Ngày cuối năm 31/12/2009
© 2009 Kami
NHÂN ĐỌC BÀI "TIẾNG NƯỚC TÔI"
Nhân đọc bài "Tiếng nước tôi"
Nguyễn Ngọc
31/12/2009
http://danluan.org/node/3791
"Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời" - câu hát mở đầu thuộc nhạc phẩm "Tình Ca" của nhạc sĩ Phạm Duy đã sống nhiều năm trong lòng dân Việt - nghe sao giản dị, dễ hiểu mà lại không kém phần sâu sắc, lắng đọng; sang trọng mà lại không cầu kỳ. Nghe để nhớ và nghe để thấm thía mà buồn cho chữ nghĩa tiếng Việt đang có vẻ ngày càng "xanh xao" và "hao mòn" như đang diễn ra trong xã hội hàng ngày mà các tác giả viết về đề tài "Tiếng nước tôi" đã dẫn chứng và phân tích trong mấy ngày qua (báo Tuổi Trẻ).
Tôi - một công dân đã sống nhiều năm qua hai chế độ - cũng xin góp một vài ý đến các nhà ngôn ngữ học, các nhà văn, các nhà giáo, nhạc sĩ, các nhân vật nổi tiếng hoặc các nhân vật của công chúng cũng như các cơ quan có trách nhiệm (trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong việc giữ gìn tiếng Việt trong sáng.
Trong các chương trình giải trí, các cuộc thi cho sinh viên, học sinh v.v... hiện nay, người dẫn chương trình (Master of Ceremony) sử dụng tiếng Việt không chuẩn khi giới thiệu, ví dụ "Hoa hậu A ĐẾN TỪ tỉnh (thành phố)...", "bạn B (là học sinh, sinh viên ) ĐẾN TỪ trường... tỉnh (thành phố)...", và còn khá nhiều "ĐẾN TỪ" được nhắc đi nhắc lại qua hết người này đến người khác trong phần giới thiệu các nhân vật tham gia trong chương trình,. Phải chăng "ĐÊN TỪ" được xuất phát từ "to come from" trong tiếng Anh(?), tôi e rằng vậy.
Cụm từ "ĐẾN TỪ" hiện nay rất phổ biến trong các chương trình truyên hình từ giải trí cho đến các hội nghị lớn nhỏ, cách dùng này theo tôi nhớ thời chúng tôi khi học tiếng Việt chưa bao giờ "bị" thầy cô dạy nói hoặc viết như thế. Điều này còn thể hiện cách hành văn nghèo nàn, lặp đi lặp lại ngoài việc là "tiếng lai", tiếng không thuần Việt.
Bên cạnh đó, người dẫn chương trình hay dùng cụm từ " Kính thưa (Thưa) các cô chú, các anh chị và các bạn" hoặc rút gọn "Kính thưa (Thưa) các anh chị và các bạn", cách dùng này cũng không chuẩn chút nào, nếu gặp một khán thính giả hỏi: "Vậy còn các bác, các cậu, các mợ, các dì v.v... sao không thưa hết cho đủ?" thì chúng ta sẽ trả lời ra sao? Trước đây tiếng Việt chỉ cần dùng "Kính thưa quý vị khán thính giả" hoặc ngắn gọn hơn "Kính thưa quý vị" (vì Quý vị đang ngồi trước mặt tôi (trong một chương trình nào đó đã là khán , thính giả rồi do đó có thể rút gọn mà không thiếu hoặc sai nghĩa) thế là đủ. Cách dùng ngắn gọn này còn thể hiện tính chất công chúng phổ quát của một chương trình và thể hiện sự tôn trọng tất cả những người tham dự bất kể nam, phụ, lão, ấu. Ngoài ra cách nói này còn tránh được suy nghĩ cho cả phía tham dự lẫn phía tổ chức một không khí "gia đình" không cần thiết và là điều cần tránh trong những chương trình mang tính chất đại chúng.
Cụm từ "ĐƯỢC TÀI TRỢ BỞI" "ĐƯỢC PHÁT TRIỂN BỞI" "ĐƯỢC XÂY DỰNG BỞI", cũng làm nghe đọc, người nghe khá chối tai và buộc chúng ta lại phải liên hệ đến những "sponsored by", "developed by", "buit by" mà ai đó đã "dịch sát sàn sạt" tiếng Anh sang tiếng Việt (những cụm từ này được các chủ đầu tư dự án xây dựng cao ốc tại Sàigòn viết rất nhiều, chỉ cần bạn đi ngang qua các chung cư đang và chuẩn bị xây dựng là sẽ thấy) vì thế vô tình làm mất cái hay cái đẹp của tiếng Việt.
Nếu Trịnh Công Sơn đưa hình tượng "nợ bạc đầu" vào nhạc phẩm "Xin trả nợ người" tinh tế, sang trọng, giản dị bao nhiêu thì hình tượng "gói mì tôm" trong nhạc phẩm "Bạn tôi" thô, xấu, trơ bấy nhiêu, mặc dù tôi biết rõ gói mì tôm rất thiết thực trong đời sống sinh viên nghèo. Tôi không có ý định so sánh hai nhạc phẩm này, nhưng tôi mong lớp nhạc sĩ trẻ nên cân nhắc khi dùng từ ngữ tiếng Việt. Nói đến từ "MONG" , nếu chúng ta dùng từ "MONG ƯỚC" sẽ có mức độ khác biệt về sắc thái so với 'MONG MỎI" và còn nhiều sắc thái "MONG" khác nữa.
Tiếng Việt của dân tộc ta có thể nói là hay, độc đáo và khó không thua kém bất cứ tiếng dân tộc nào. Có những ví dụ khá thú vị và không thể giải thích được mà chỉ có hiểu rõ và dùng đúng, ví dụ chúng ta nói với con mình "Ba luôn DÕI THEO bước đường con đi", tuy nhiên nếu ta thay "DÕI THEO" bằng "THEO DÕI" thì ngữ nghĩa đang từ trạng thái quan tâm yêu thương lo lắng sẽ chuyển ngay qua trạng thái rình mò, dòm ngó, không tin tưởng và vô hình chung làm cho con mình dễ hiểu lầm ý tốt của cha mẹ, hoặc chúng ta nói: "Món quà này thật vô giá!" và nếu chỉ cần thêm một chữ "TRỊ" thôi, tất cả ngữ nghĩa của hai câu nói hoàn toàn khác hẳn..
Ngay trong các văn bản Nhà nước ban hành cũng không chuẩn, ví dụ cụm từ "công bố công khai" (QĐ 97). Khi chúng ta công bố một điều nào đó (hoặc một văn bản pháp luật, một đề tài nghiên cứu khoa học v.v...) nghĩa là thông tin đó được đưa ra công luận rộng rãi, minh bạch thì "công khai" không cần phải "ăn theo" như thế, thí dụ Trường A công bố điểm chuẩn vào lớp 10 năm nay là..., Công ty Z họp báo công bố tình hình tài chính năm... v.v... mà không cần kèm "công khai", hoặc cụm từ "phát sinh thêm" hiện nay cũng khá phổ biến trong các văn bản, báo cáo của các công ty, xí nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước, thay vì chỉ dùng "phát sinh" là đủ. Cách dùng này phải chăng do tâm lý của người biên soạn văn bản muốn nhấn mạnh (!) hoặc sợ người khác không hiểu ý mình(?).
Các khẩu hiệu, biểu ngữ căng đầy đường (mà một số tác giả đã phân tích trong loạt bài "Tiếng nước tôi") mà người dân nhặt ra hàng loạt "hạt sạn" thậm chí là "hòn đá" trong tiếng Việt là điều mà mọi người - trước hết là những người và các cơ quan có trách nhiệm - cần phải suy ngẫm để không làm xấu xí và ngây ngô trong việc sử dụng tiếng Việt để không chỉ cho dân Việt mà còn cho người nước ngoài đang học tiếng Việt sử dụng sao cho trước hết phải chuẩn, giản dị và sau đó là đẹp, sâu sắc.
Hiều, dùng tiếng Việt chuẩn, trong sáng, đẹp là điều mà các cá nhân và các cơ quan hữu trách phải thực hiện ngay để nhanh chóng giúp cho giới trẻ tránh việc sử dụng mà có vẻ đang ngày một sai lệch. Việc chịu trách nhiệm về những văn bản ban hành đã có trong quy định pháp luật chỉ còn thiếu việc thực hiện nghiêm túc - biện pháp chế tài cụ thể - mà Nhà nước phải áp dụng ngay.
Có những việc ngày hôm nay chúng ta thấy bình thường và dễ cho qua nhưng ngày mai khi hậu quả đã trở nên nghiêm trọng thì có hối cũng đã muộn. Cần phải nhanh chóng lập lại chuẩn tiếng Việt cho hôm nay và mai sau.
Nguyễn Ngọc
Tin liên quan:
Tiếng nước tôi (Tuổi Trẻ)
Nguyễn Ngọc
31/12/2009
http://danluan.org/node/3791
"Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời" - câu hát mở đầu thuộc nhạc phẩm "Tình Ca" của nhạc sĩ Phạm Duy đã sống nhiều năm trong lòng dân Việt - nghe sao giản dị, dễ hiểu mà lại không kém phần sâu sắc, lắng đọng; sang trọng mà lại không cầu kỳ. Nghe để nhớ và nghe để thấm thía mà buồn cho chữ nghĩa tiếng Việt đang có vẻ ngày càng "xanh xao" và "hao mòn" như đang diễn ra trong xã hội hàng ngày mà các tác giả viết về đề tài "Tiếng nước tôi" đã dẫn chứng và phân tích trong mấy ngày qua (báo Tuổi Trẻ).
Tôi - một công dân đã sống nhiều năm qua hai chế độ - cũng xin góp một vài ý đến các nhà ngôn ngữ học, các nhà văn, các nhà giáo, nhạc sĩ, các nhân vật nổi tiếng hoặc các nhân vật của công chúng cũng như các cơ quan có trách nhiệm (trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong việc giữ gìn tiếng Việt trong sáng.
Trong các chương trình giải trí, các cuộc thi cho sinh viên, học sinh v.v... hiện nay, người dẫn chương trình (Master of Ceremony) sử dụng tiếng Việt không chuẩn khi giới thiệu, ví dụ "Hoa hậu A ĐẾN TỪ tỉnh (thành phố)...", "bạn B (là học sinh, sinh viên ) ĐẾN TỪ trường... tỉnh (thành phố)...", và còn khá nhiều "ĐẾN TỪ" được nhắc đi nhắc lại qua hết người này đến người khác trong phần giới thiệu các nhân vật tham gia trong chương trình,. Phải chăng "ĐÊN TỪ" được xuất phát từ "to come from" trong tiếng Anh(?), tôi e rằng vậy.
Cụm từ "ĐẾN TỪ" hiện nay rất phổ biến trong các chương trình truyên hình từ giải trí cho đến các hội nghị lớn nhỏ, cách dùng này theo tôi nhớ thời chúng tôi khi học tiếng Việt chưa bao giờ "bị" thầy cô dạy nói hoặc viết như thế. Điều này còn thể hiện cách hành văn nghèo nàn, lặp đi lặp lại ngoài việc là "tiếng lai", tiếng không thuần Việt.
Bên cạnh đó, người dẫn chương trình hay dùng cụm từ " Kính thưa (Thưa) các cô chú, các anh chị và các bạn" hoặc rút gọn "Kính thưa (Thưa) các anh chị và các bạn", cách dùng này cũng không chuẩn chút nào, nếu gặp một khán thính giả hỏi: "Vậy còn các bác, các cậu, các mợ, các dì v.v... sao không thưa hết cho đủ?" thì chúng ta sẽ trả lời ra sao? Trước đây tiếng Việt chỉ cần dùng "Kính thưa quý vị khán thính giả" hoặc ngắn gọn hơn "Kính thưa quý vị" (vì Quý vị đang ngồi trước mặt tôi (trong một chương trình nào đó đã là khán , thính giả rồi do đó có thể rút gọn mà không thiếu hoặc sai nghĩa) thế là đủ. Cách dùng ngắn gọn này còn thể hiện tính chất công chúng phổ quát của một chương trình và thể hiện sự tôn trọng tất cả những người tham dự bất kể nam, phụ, lão, ấu. Ngoài ra cách nói này còn tránh được suy nghĩ cho cả phía tham dự lẫn phía tổ chức một không khí "gia đình" không cần thiết và là điều cần tránh trong những chương trình mang tính chất đại chúng.
Cụm từ "ĐƯỢC TÀI TRỢ BỞI" "ĐƯỢC PHÁT TRIỂN BỞI" "ĐƯỢC XÂY DỰNG BỞI", cũng làm nghe đọc, người nghe khá chối tai và buộc chúng ta lại phải liên hệ đến những "sponsored by", "developed by", "buit by" mà ai đó đã "dịch sát sàn sạt" tiếng Anh sang tiếng Việt (những cụm từ này được các chủ đầu tư dự án xây dựng cao ốc tại Sàigòn viết rất nhiều, chỉ cần bạn đi ngang qua các chung cư đang và chuẩn bị xây dựng là sẽ thấy) vì thế vô tình làm mất cái hay cái đẹp của tiếng Việt.
Nếu Trịnh Công Sơn đưa hình tượng "nợ bạc đầu" vào nhạc phẩm "Xin trả nợ người" tinh tế, sang trọng, giản dị bao nhiêu thì hình tượng "gói mì tôm" trong nhạc phẩm "Bạn tôi" thô, xấu, trơ bấy nhiêu, mặc dù tôi biết rõ gói mì tôm rất thiết thực trong đời sống sinh viên nghèo. Tôi không có ý định so sánh hai nhạc phẩm này, nhưng tôi mong lớp nhạc sĩ trẻ nên cân nhắc khi dùng từ ngữ tiếng Việt. Nói đến từ "MONG" , nếu chúng ta dùng từ "MONG ƯỚC" sẽ có mức độ khác biệt về sắc thái so với 'MONG MỎI" và còn nhiều sắc thái "MONG" khác nữa.
Tiếng Việt của dân tộc ta có thể nói là hay, độc đáo và khó không thua kém bất cứ tiếng dân tộc nào. Có những ví dụ khá thú vị và không thể giải thích được mà chỉ có hiểu rõ và dùng đúng, ví dụ chúng ta nói với con mình "Ba luôn DÕI THEO bước đường con đi", tuy nhiên nếu ta thay "DÕI THEO" bằng "THEO DÕI" thì ngữ nghĩa đang từ trạng thái quan tâm yêu thương lo lắng sẽ chuyển ngay qua trạng thái rình mò, dòm ngó, không tin tưởng và vô hình chung làm cho con mình dễ hiểu lầm ý tốt của cha mẹ, hoặc chúng ta nói: "Món quà này thật vô giá!" và nếu chỉ cần thêm một chữ "TRỊ" thôi, tất cả ngữ nghĩa của hai câu nói hoàn toàn khác hẳn..
Ngay trong các văn bản Nhà nước ban hành cũng không chuẩn, ví dụ cụm từ "công bố công khai" (QĐ 97). Khi chúng ta công bố một điều nào đó (hoặc một văn bản pháp luật, một đề tài nghiên cứu khoa học v.v...) nghĩa là thông tin đó được đưa ra công luận rộng rãi, minh bạch thì "công khai" không cần phải "ăn theo" như thế, thí dụ Trường A công bố điểm chuẩn vào lớp 10 năm nay là..., Công ty Z họp báo công bố tình hình tài chính năm... v.v... mà không cần kèm "công khai", hoặc cụm từ "phát sinh thêm" hiện nay cũng khá phổ biến trong các văn bản, báo cáo của các công ty, xí nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước, thay vì chỉ dùng "phát sinh" là đủ. Cách dùng này phải chăng do tâm lý của người biên soạn văn bản muốn nhấn mạnh (!) hoặc sợ người khác không hiểu ý mình(?).
Các khẩu hiệu, biểu ngữ căng đầy đường (mà một số tác giả đã phân tích trong loạt bài "Tiếng nước tôi") mà người dân nhặt ra hàng loạt "hạt sạn" thậm chí là "hòn đá" trong tiếng Việt là điều mà mọi người - trước hết là những người và các cơ quan có trách nhiệm - cần phải suy ngẫm để không làm xấu xí và ngây ngô trong việc sử dụng tiếng Việt để không chỉ cho dân Việt mà còn cho người nước ngoài đang học tiếng Việt sử dụng sao cho trước hết phải chuẩn, giản dị và sau đó là đẹp, sâu sắc.
Hiều, dùng tiếng Việt chuẩn, trong sáng, đẹp là điều mà các cá nhân và các cơ quan hữu trách phải thực hiện ngay để nhanh chóng giúp cho giới trẻ tránh việc sử dụng mà có vẻ đang ngày một sai lệch. Việc chịu trách nhiệm về những văn bản ban hành đã có trong quy định pháp luật chỉ còn thiếu việc thực hiện nghiêm túc - biện pháp chế tài cụ thể - mà Nhà nước phải áp dụng ngay.
Có những việc ngày hôm nay chúng ta thấy bình thường và dễ cho qua nhưng ngày mai khi hậu quả đã trở nên nghiêm trọng thì có hối cũng đã muộn. Cần phải nhanh chóng lập lại chuẩn tiếng Việt cho hôm nay và mai sau.
Nguyễn Ngọc
Tin liên quan:
Tiếng nước tôi (Tuổi Trẻ)
ĐỘC QUYỀN CỘT ĐIỆN
Độc quyền cột điện,Văn hóa la làng và cái bánh vẽ Thành phố không dây
Đào Tuấn
Đăng ngày: 14:37 28-12-2009
http://vn.myblog.yahoo.com/tuanddk/article?mid=968
Trong những ngày cuối cùng của năm, tranh cãi giữa hai "đại gia" EVN và VNPT đã lên đến đỉnh điểm khi tại hàng loạt các tỉnh, TP: Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Tiền Giang, Kiên Giang, Cà Mau, đặc biệt là tại TP HCM... nhân viên EVN tiến hành chiến dịch cắt bỏ hàng loạt các loại dây nhợ đang "treo chùa" lên cột điện của họ. VNPT thì tới tấp gửi công văn kêu cứu. Bộ Công thương buộc phải yêu cầu EVN tạm ngừng chiến dịch để "ngồi lại với nhau" bàn về chuyện giá thuê cái cột điện. Rất có thể hai ông lớn này sẽ đạt được một cái gì đó, một thỏa thuận để có thể "chung sống hòa bình". Nhưng chính "cái gì đó" sẽ lại làm nặng nề thêm hơn những mối dây nhợ "như búi tóc người điên" trên những cây cột vốn từ hàng chục năm nay đã đè nặng lên đời sống, và cả sinh mạng của những người dân. "Những thỏa thuận" đó sẽ càng làm cho việc hạ ngầm cáp điện, như chỉ đạo của Thủ tướng trở thành "nhiệm vụ bất khả thi" và chủ trương "Thành phố không dây" ở HN trở thành cái bánh vẽ không hơn không kém.
Cách đây vài tháng, khi EVN chính thức thông báo tăng giá thuê cột điện lên 4-8 lần, một quyết định đơn phương của một ngành có cái thế "độc quyền cột điện", thì việc vô vọng trong việc "ngầm hóa rác trời" đã được nhắc đến. “Cùng số tiền thuê cột nhưng có doanh nghiệp mắc 100 sợi cáp, có doanh nghiệp mắc cả ngàn sợi cũng không thể biết được. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp mắc cáp “ké” mà không phải trả tiền... không chỉ vài năm nữa mà ngay cả… 100 năm nữa, hệ thống dây điện của TP.HCM vẫn không thể ngầm hóa” - Ông Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM khi đó đã chua chát bình luận.
Trong số hơn 1 triệu cột điện thì 92 ngàn cột ở Hà Nội và 191 ngàn cột ở TP HCM, những vùng được gọi là "vùng đỏ" mà muốn đụng đến cây cột hay một ô vuông lòng, hè đường phải có dăm loại giấy phép, chục thứ phiền toái, thể hiện rõ nhất cái thế "độc quyền cột điện" của EVN. Cho nên, dù giá cột điện và giá bê tông móng từ năm 2003 đến nay đã tăng từ 3,3 đến 4,4 lần như lý do mà EVN đưa ra, hoặc lập luận "Mức giá cũ đã quá lạc hậu và chỉ mang tính tượng trưng" thì việc tăng giá thuê cao nhất lên đến 8 lần thực chất là cái giá trên trời, mang tính bắt bí và chỉ thể hiện việc lạm dụng sự độc quyền của chủ sở hữu duy nhất những cái cột này.
Nhưng VNPT cũng không vừa. Là "khách hàng" lớn nhất của "Những cái cột điện", VNPT bấy giờ đã "la làng" với lý do cái giá này quá cắt cổ với lập luận việc sử dụng chung cơ sở hạ tầng, tránh lãng phí tài sản quốc gia, không đầu tư chồng chéo giữa các đơn vị, doanh nghiệp, đảm bảo mỹ quan đô thị... Liên tục sau đó là những lời kêu ca về tình trạng mất liên lạc, mù thông tin của khách hàng của VNPT. Đó là tình trạng mạng Internet của hàng loạt khu vực bị tê liệt. Máy bay bị hoãn, hủy chuyến bị không có "mạng". "Vũ khí khách hàng" đã gây ra sự căng thẳng và sức ép tới mức Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân, Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về Công nghệ thông tin đã phải yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Công thương để tìm hướng giải quyết dứt điểm về việc thu phí cột điện.
"Văn hóa la làng" của VNPT thể hiện rõ qua ý kiến của Phó Vụ trưởng Vụ Năng lượng (Bộ Công Thương), ông Nguyễn Văn Thành: "Trong tất cả các doanh nghiệp thuê cột của EVN để treo cáp thông tin thì chỉ có VNPT là chưa ký hợp đồng với EVN theo giá mới. Bởi vậy, việc tranh chấp xung quanh cây cột điện mấy ngày qua, thực ra chỉ là chuyện giữa EVN và VNPT".
Cũng theo ông Thành, Nghị định 75 quy định việc tổ chức hiệp thương giá được thực hiện với các “Hàng hoá, dịch vụ quan trọng được sản xuất, cung ứng trong điều kiện đặc thù, có tính chất độc quyền mua, độc quyền bán và các bên mua, bán phụ thuộc lẫn nhau không thể thay thế được, thị trường cạnh tranh hạn chế”. Bởi vậy, việc cho thuê cột điện không thuộc đối tượng hiệp thương giá.
Những tranh cãi liên miên cũng như việc "cắt nhầm" cáp thông tin đang thể hiện rằng EVN hầu như đã buông lỏng quản lý trong việc cho thuê cột. Theo tính toán, một cột điện hạ thế chỉ chịu tải trọng tối đa là 360 kg nhưng thực tế, sự quá tải có thể nhìn thấy ngay bằng mắt thường ở hầu hết các cột điện. Rồi thì cũng là "cho thuê" nhưng EVN không thể quản lý được, không thể phân biệt được đâu là cáp của đơn vị đã có hợp đồng, đâu là 30% cáp vô chủ. Bởi vậy, có câu chuyện "Cắt bỏ 10 sợi cáp nhưng không thấy đơn vị nào kêu ca" nhưng cũng lại có chuyện Jestar Pacific kêu ca không thể truy cập lịch trình bay vì cáp internet đã bị cắt nhầm, hoặc 1300 thuê bao của Kỳ Hòa bị "mất Nét" vì chuyện cắt nhầm.
Nhưng câu chuyện "cột điện" chỉ là chuyện nhỏ, bởi với tư duy, hoạch định kiểu "hàng tôm hàng cá" này chỉ thể hiện là chuyện lớn, chuyện "hạ ngầm", xóa "rác trời", dù đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, cũng không phải chỉ 100 năm mà sẽ chẳng bao giờ có thể thực hiện được.
Theo số liệu của Hà Nội, thì để thực hiện 5 dự án "hạ ngầm", sẽ phải tốn một khoản kinh phí là 213,2 tỷ đồng. Như vậy, mỗi km hạ ngầm sẽ tốn không dưới 10 tỷ đồng. Chuyện tốn kém là cái giá phải trả cho sự buông lỏng trong quản lý của những người chỉ muốn thu ngày càng nhiều lợi nhuận hơn và của cả những người chỉ muốn bán được nhiều sản phẩm mà không muốn phải bỏ một đồng để đầu tư hạ tầng. Hà Nội đã có 5 năm, kể từ khi Thủ tướng Chính phủ có quyết định hạ ngầm tất cả các tuyến cáp, đường dây ở Hà Nội, theo thống kê lên tới 144.000 km dây nhợ các loại, trước năm 2010. Nhưng trong ngày cuối cùng của năm 2009, có thể thấy đây quả thực là "Nhiệm vụ bất khả thi" và chủ trương "Thành phố không dây" vào dịp tròn 1000 năm tuổi quả đúng là chuyện bánh vẽ.
Đào Tuấn
Đăng ngày: 14:37 28-12-2009
http://vn.myblog.yahoo.com/tuanddk/article?mid=968
Trong những ngày cuối cùng của năm, tranh cãi giữa hai "đại gia" EVN và VNPT đã lên đến đỉnh điểm khi tại hàng loạt các tỉnh, TP: Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Tiền Giang, Kiên Giang, Cà Mau, đặc biệt là tại TP HCM... nhân viên EVN tiến hành chiến dịch cắt bỏ hàng loạt các loại dây nhợ đang "treo chùa" lên cột điện của họ. VNPT thì tới tấp gửi công văn kêu cứu. Bộ Công thương buộc phải yêu cầu EVN tạm ngừng chiến dịch để "ngồi lại với nhau" bàn về chuyện giá thuê cái cột điện. Rất có thể hai ông lớn này sẽ đạt được một cái gì đó, một thỏa thuận để có thể "chung sống hòa bình". Nhưng chính "cái gì đó" sẽ lại làm nặng nề thêm hơn những mối dây nhợ "như búi tóc người điên" trên những cây cột vốn từ hàng chục năm nay đã đè nặng lên đời sống, và cả sinh mạng của những người dân. "Những thỏa thuận" đó sẽ càng làm cho việc hạ ngầm cáp điện, như chỉ đạo của Thủ tướng trở thành "nhiệm vụ bất khả thi" và chủ trương "Thành phố không dây" ở HN trở thành cái bánh vẽ không hơn không kém.
Cách đây vài tháng, khi EVN chính thức thông báo tăng giá thuê cột điện lên 4-8 lần, một quyết định đơn phương của một ngành có cái thế "độc quyền cột điện", thì việc vô vọng trong việc "ngầm hóa rác trời" đã được nhắc đến. “Cùng số tiền thuê cột nhưng có doanh nghiệp mắc 100 sợi cáp, có doanh nghiệp mắc cả ngàn sợi cũng không thể biết được. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp mắc cáp “ké” mà không phải trả tiền... không chỉ vài năm nữa mà ngay cả… 100 năm nữa, hệ thống dây điện của TP.HCM vẫn không thể ngầm hóa” - Ông Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM khi đó đã chua chát bình luận.
Trong số hơn 1 triệu cột điện thì 92 ngàn cột ở Hà Nội và 191 ngàn cột ở TP HCM, những vùng được gọi là "vùng đỏ" mà muốn đụng đến cây cột hay một ô vuông lòng, hè đường phải có dăm loại giấy phép, chục thứ phiền toái, thể hiện rõ nhất cái thế "độc quyền cột điện" của EVN. Cho nên, dù giá cột điện và giá bê tông móng từ năm 2003 đến nay đã tăng từ 3,3 đến 4,4 lần như lý do mà EVN đưa ra, hoặc lập luận "Mức giá cũ đã quá lạc hậu và chỉ mang tính tượng trưng" thì việc tăng giá thuê cao nhất lên đến 8 lần thực chất là cái giá trên trời, mang tính bắt bí và chỉ thể hiện việc lạm dụng sự độc quyền của chủ sở hữu duy nhất những cái cột này.
Nhưng VNPT cũng không vừa. Là "khách hàng" lớn nhất của "Những cái cột điện", VNPT bấy giờ đã "la làng" với lý do cái giá này quá cắt cổ với lập luận việc sử dụng chung cơ sở hạ tầng, tránh lãng phí tài sản quốc gia, không đầu tư chồng chéo giữa các đơn vị, doanh nghiệp, đảm bảo mỹ quan đô thị... Liên tục sau đó là những lời kêu ca về tình trạng mất liên lạc, mù thông tin của khách hàng của VNPT. Đó là tình trạng mạng Internet của hàng loạt khu vực bị tê liệt. Máy bay bị hoãn, hủy chuyến bị không có "mạng". "Vũ khí khách hàng" đã gây ra sự căng thẳng và sức ép tới mức Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân, Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về Công nghệ thông tin đã phải yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Công thương để tìm hướng giải quyết dứt điểm về việc thu phí cột điện.
"Văn hóa la làng" của VNPT thể hiện rõ qua ý kiến của Phó Vụ trưởng Vụ Năng lượng (Bộ Công Thương), ông Nguyễn Văn Thành: "Trong tất cả các doanh nghiệp thuê cột của EVN để treo cáp thông tin thì chỉ có VNPT là chưa ký hợp đồng với EVN theo giá mới. Bởi vậy, việc tranh chấp xung quanh cây cột điện mấy ngày qua, thực ra chỉ là chuyện giữa EVN và VNPT".
Cũng theo ông Thành, Nghị định 75 quy định việc tổ chức hiệp thương giá được thực hiện với các “Hàng hoá, dịch vụ quan trọng được sản xuất, cung ứng trong điều kiện đặc thù, có tính chất độc quyền mua, độc quyền bán và các bên mua, bán phụ thuộc lẫn nhau không thể thay thế được, thị trường cạnh tranh hạn chế”. Bởi vậy, việc cho thuê cột điện không thuộc đối tượng hiệp thương giá.
Những tranh cãi liên miên cũng như việc "cắt nhầm" cáp thông tin đang thể hiện rằng EVN hầu như đã buông lỏng quản lý trong việc cho thuê cột. Theo tính toán, một cột điện hạ thế chỉ chịu tải trọng tối đa là 360 kg nhưng thực tế, sự quá tải có thể nhìn thấy ngay bằng mắt thường ở hầu hết các cột điện. Rồi thì cũng là "cho thuê" nhưng EVN không thể quản lý được, không thể phân biệt được đâu là cáp của đơn vị đã có hợp đồng, đâu là 30% cáp vô chủ. Bởi vậy, có câu chuyện "Cắt bỏ 10 sợi cáp nhưng không thấy đơn vị nào kêu ca" nhưng cũng lại có chuyện Jestar Pacific kêu ca không thể truy cập lịch trình bay vì cáp internet đã bị cắt nhầm, hoặc 1300 thuê bao của Kỳ Hòa bị "mất Nét" vì chuyện cắt nhầm.
Nhưng câu chuyện "cột điện" chỉ là chuyện nhỏ, bởi với tư duy, hoạch định kiểu "hàng tôm hàng cá" này chỉ thể hiện là chuyện lớn, chuyện "hạ ngầm", xóa "rác trời", dù đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, cũng không phải chỉ 100 năm mà sẽ chẳng bao giờ có thể thực hiện được.
Theo số liệu của Hà Nội, thì để thực hiện 5 dự án "hạ ngầm", sẽ phải tốn một khoản kinh phí là 213,2 tỷ đồng. Như vậy, mỗi km hạ ngầm sẽ tốn không dưới 10 tỷ đồng. Chuyện tốn kém là cái giá phải trả cho sự buông lỏng trong quản lý của những người chỉ muốn thu ngày càng nhiều lợi nhuận hơn và của cả những người chỉ muốn bán được nhiều sản phẩm mà không muốn phải bỏ một đồng để đầu tư hạ tầng. Hà Nội đã có 5 năm, kể từ khi Thủ tướng Chính phủ có quyết định hạ ngầm tất cả các tuyến cáp, đường dây ở Hà Nội, theo thống kê lên tới 144.000 km dây nhợ các loại, trước năm 2010. Nhưng trong ngày cuối cùng của năm 2009, có thể thấy đây quả thực là "Nhiệm vụ bất khả thi" và chủ trương "Thành phố không dây" vào dịp tròn 1000 năm tuổi quả đúng là chuyện bánh vẽ.
DÂN CHỦ HOÁ hay NỘI CHIẾN ?
Dân chủ hóa hay nội chiến, sự thực khả thi hay tiên đoán mơ hồ?
Phạm Thiên Thơ
Đăng ngày 31-12-2009
http://danchimviet.com/articles/1870/1/Dan-ch-hoa-hay-ni-chin-s-thc-kh-thi-hay-tien-oan-m-h/Page1.html
Đất nước hiện tại đang trong sự cai trị độc quyền của đảng CS, mặc dù được tiếng là thống nhất, nhưng chỉ phần nào về mặt lãnh thổ địa lý, trong thực tế thì bị nhiều vấn đề chia cách từ tâm thức người dân, cho đến cuộc sống chênh lệch giàu nghèo, an sinh xã hội không có cho giới nghèo khó, nếp sống thành thị và thôn quê như hai thái cực đầy dẫy những hố sâu ngăn cách giàu có, nghèo hèn, trí thức và quê mùa. Đây là nói về mặt nội tình đất nước, còn mặt ngoài thì đang bị nước láng giềng Trung Hoa khống chế, đe dọa lấn chiếm nhiều mặt.
Đối với tình hình Việt Nam hiện tại, sở dĩ đảng CSVN không thể nào thực thi được việc dân chủ hóa là bởi 3 nguyên do chính yếu sau đây:
1. Lòng người tan hoang chia rẽ
Mang tiếng là thống nhất, nhưng đảng CSVN đã gây ra cuộc chiến tranh tương tàn, đã thế còn không muốn hàn gắn lại vết thương của dân tộc sau trên 3 thập niên đã kết thúc chiến tranh.
Hòa bình, thịnh vượng không thể xây dựng bằng bạo lực, súng đạn và chiến tranh. CSVN thống nhất đất nước chỉ ở bề mặt hình thức, còn thực chất nhân tâm băng hoại, ly tán hơn cả thời kỳ 1954 trước chiến tranh. Bằng chứng là đảng CS ngày hôm nay nhìn đâu cũng vẫn còn thấy “các thế lực thù địch!“ thì làm sao dám trao trả chủ quyền lại cho người dân để mọi người thực sự có được quyền tự do, bình đẳng trong việc thực thi dân chủ? Trao trả chủ quyền cho toàn dân như Nguyễn Minh Triết đã nói đến việc bải bỏ điều 4 Hiến pháp có nghĩa là đảng CS sẽ “tự sát!“. Như vậy là CS chỉ vì quyền lợi phe nhốm, đảng phái mình chớ nào nghĩ đến quyền lợi chung của dân tộc?
Đa đảng chính là sự hàn gắng những tan hoang chia rẽ, hàn gắn lại vết thương của dân tộc sau bao nhiêu tàn phá của chiến tranh.
2. Cơ chế chính trị do đảng CSVN thiết lập, không xây dựng trên nền tảng Dân chủ
Việt Nam sẽ không bao giờ dân chủ hóa được khi chưa có đa đảng, chưa có tự do bầu cử, chưa có một Quốc hội của dân, do dân và vì dân đúng nghĩa, ban hành Hiến pháp mới (Quốc hội lập hiến) để có được một thể chế chính trị xây dựng từ nền tảng tự do dân chủ thực sự.
Hai nhận định chính yếu trên là những yếu tố nội tại kềm hãm chiều hướng phát triển của dân tộc. Thêm nhận định thứ 3 dưới đây là yếu tố ngoại tại có thêm tác động cản trở tiến trình phát triển, dân chủ hóa đất nước.
3. Yếu tố ngoại tại: Bắc Kinh kềm chế
“Diễn biến hòa bình“ hay “sức mạnh của nhân dân“, các điều này hiện tại CSVN đều không muốn thấy xãy ra. Lý do là vì muốn giữ sự sống còn cho riêng đảng thì phải dựa thế và đi theo mô hình cai trị độc tài, độc đảng như Bắc Kinh, vô hình chung đã coi Tàu như “kim chỉ nam“ để chịu làm học trò yếu thế, thần phục và rơi vào qũy đạo kềm tỏa của Bắc Kinh. Mất thế chủ động nên mọi mọi việc xây dựng phát triển, Việt Nam luôn ở vào tư thế tuột hậu, yếu kém hơn so với Trung Quốc, và tiến trình dân chủ hóa Việt Nam coi như bế tắt!...Một nước Việt Nam ở trong tình trạng nghèo hèn, tuột hậu là môi trường tốt cho dã tâm bành trướng của Đại Hán, mà bằng chứng cụ thể là vấn đề biên giới, Biển Đông, bauxite, uranium… rồi việc văn hóa phẩm và hàng hóa Tàu tràn ngập thị trường Việt Nam.
Lịch sử đã chứng minh, từ thời nhà Lý đến nhà Trần, 2 triều đại vẫn được xem là huy hoàng nhất trong lịch sử dựng nước của dân tộc, đã tạo cho nước Đại Việt trở nên cường quốc, uy thế lừng lẫy trong suốt nhiều thế kỷ là nhờ phần vào triết lý chính trị, thấm đẫm tinh thần Phật giáo đầy khai phóng (phá chấp, dung hợp được cả Phật, Lão, Khổng), tách rời đường hướng trị quốc ra khỏi hệ tư tưởng chính trị Khổng giáo độc tôn chỉ nhằm có lợi cho việc cai trị của nhà Hán muốn bành trướng, đồng hóa tất cả dân tộc Bách Việt trên khắp miền Hoa Nam. Chính nhờ tinh thần Phật giáo gốp phần khai phóng mà Đại Việt thoát ly được quỹ đạo Hán hóa của Trung Hoa. Phật giáo chính là một hệ tư tưởng rất mới mẻ vào thời đó. Người mang đầy tâm huyết, dũng lược, dám đứng lên vận dụng triệt để sức mạnh tinh thần để đẩy lùi cả bóng đêm đem tối còn kéo dài ảnh hưởng suốt lịch sử cả ngàn năm bị Hán hóa đó chính là Thiền sư Vạn-Hạnh, cố vấn quân sư cho triều Lý, khởi công đầu đặt nền móng, mở ra được sinh lộ mới cho dân tộc.
Cái mới trên là thời đại Lý, Trần. Còn ngày hôm nay chúng ta sẽ tìm được cái mới nào? Có phải lý tưởng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền được phản ảnh đầy đủ nơi bản Tuyên ngôn và Công ước Quốc tế về Nhân quyền của LHQ, là sản phẩm trí tụê chung của cả nhân loại? Nếu đúng thế, thì con đường thuận hảo thế giới đã sẵn chọn, có lý do gì mà người Việt Nam chúng ta từ chối, không lấy làm sách lược dựng nước trong thời đại mới này?
Tách rời qũy đạo kềm chế của Bắc Kinh là điều trước tiên đòi hỏi những người yêu nước phải làm. Thời kỳ bắc thuộc cả ngàn năn, nếu không có Ngô Quyền bày trận tại Bạch Đằng Giang tiêu diệt quân Nam Hán thì đất nước dân tộc không thể có thời kỳ tự chủ, mặc dù sau đó xãy ra cuộc nội chiến, mà cao điểm nhất là thời Đinh Bộ Lĩnh với 12 sứ quân. Công cuộc dựng nước đã kết thúc hẵn giai đọn ngoại xâm của Hán tộc để chỉ còn thu hẹp vào việc nội trị nước ta thời đó tiến dần đến thống nhất nhân tâm (nhân hòa), mở ra con đường xây dựng phát triển đất nước cho các triều đại Lê, Lý, Trần… về sau, vẫn hơn hẳn sống trong cảnh bắc thuộc, nô lệ, lầm than, tiếp tục bị Hán hóa để rồi dần đi đến mất nước!
Đảng CSVN trong thực tế cũng đầy dẫy phe cánh tranh giành quyền lực, quyền lợi, dù nội chiến chỉ mới từ các cơ cấu quyền lực trung ương cung đình lan ra ngoài xã hội như các vụ án Tổng cục 2, Năm Châu, Sáu Sứ, Năm Cam, PMU18 v.v… chưa lan ra ngoài chiến trường nhưng không có nghĩa là không thể xãy ra trong tương lai! Khi chế độ đầy dẫy những tham quan kết bè, hống hách, nhũng lạm khắp nơi thì các căn bệnh bất trị này chắc chắn là những đầu mối có khả năng dẫn đến nội chiến còn thảm khốc cho Việt Nam nhiều lần hơn những lo ngại về một chế độ dân chủ đa đảng, có tam quyền phân lập, có hiến định chế tài mọi đảng phái, cá nhân đi ngược lại quyền lợi của quốc gia dân tộc.
Giải pháp nào để đưa dân tộc sớm thoát khỏi vòng đen tối? Có phải cứ giữ mãi chế độ khuyết tật CS hiện tại để luôn bị Bắc Kinh kềm chế, Hán hóa, sang đoạt dần chủ quyền đất nước một cách từ từ, để rồi…mất nước? Hay phải can đảm viết lại trang sử mới trên con đường dân chủ phát triển, khi cả dân tộc cùng đồng lòng (hay ít ra cũng đa số như hiện nay) đòi hỏi đảng CS phải trao trả chủ quyền lại cho toàn dân? Giải tỏa được 3 vấn nạn kể trên thì trở ngại cũng đã san bằng đi nhiều, mở được lối đi thênh thang nhiều hứa hẹn cho Việt Nam tốt đẹp hơn, hội nhập vào trào lưu văn minh tiến bộ cùng thế giới tự do dân chủ. Xóa tan xong mọi đe dọa ngoại xâm, mọi tham vọng bành trướng của Hán tộc thì xung lực yêu nước, đoàn kết của dân tộc Việt Nam chúng ta mới càng được mảnh mẻ gắng bó và cũng cố hơn. Tinh thần độc lập, tự do, thống nhất nhân tâm sẽ có được môi trường thuận lợi, thích hợp để phát huy triệt để, khi tiến trình dân chủ được người dân đồng lòng thực thi trên tất cả mọi bình diện, thì mọi mầm móng nội chiến không còn cơ hội để nẩy nở nữa! Hơn nữa những lo ngại về nội chiến chỉ là “điểm“ phòng xa, dự đoán để thấy rõ một số mâu thuẩn tao loạn lúc đầu trong buổi giao thời thôi. Với sách lược trường kỳ xây dựng tiến trình dân chủ phát triển “toàn diện“ thì nội chiến không thể lũng đoạn được, mà ngược lại, chắc chắn sẽ bị xóa sổ theo thời gian.
Phạm Thiên Thơ
Đăng ngày 31-12-2009
http://danchimviet.com/articles/1870/1/Dan-ch-hoa-hay-ni-chin-s-thc-kh-thi-hay-tien-oan-m-h/Page1.html
Đất nước hiện tại đang trong sự cai trị độc quyền của đảng CS, mặc dù được tiếng là thống nhất, nhưng chỉ phần nào về mặt lãnh thổ địa lý, trong thực tế thì bị nhiều vấn đề chia cách từ tâm thức người dân, cho đến cuộc sống chênh lệch giàu nghèo, an sinh xã hội không có cho giới nghèo khó, nếp sống thành thị và thôn quê như hai thái cực đầy dẫy những hố sâu ngăn cách giàu có, nghèo hèn, trí thức và quê mùa. Đây là nói về mặt nội tình đất nước, còn mặt ngoài thì đang bị nước láng giềng Trung Hoa khống chế, đe dọa lấn chiếm nhiều mặt.
Đối với tình hình Việt Nam hiện tại, sở dĩ đảng CSVN không thể nào thực thi được việc dân chủ hóa là bởi 3 nguyên do chính yếu sau đây:
1. Lòng người tan hoang chia rẽ
Mang tiếng là thống nhất, nhưng đảng CSVN đã gây ra cuộc chiến tranh tương tàn, đã thế còn không muốn hàn gắn lại vết thương của dân tộc sau trên 3 thập niên đã kết thúc chiến tranh.
Hòa bình, thịnh vượng không thể xây dựng bằng bạo lực, súng đạn và chiến tranh. CSVN thống nhất đất nước chỉ ở bề mặt hình thức, còn thực chất nhân tâm băng hoại, ly tán hơn cả thời kỳ 1954 trước chiến tranh. Bằng chứng là đảng CS ngày hôm nay nhìn đâu cũng vẫn còn thấy “các thế lực thù địch!“ thì làm sao dám trao trả chủ quyền lại cho người dân để mọi người thực sự có được quyền tự do, bình đẳng trong việc thực thi dân chủ? Trao trả chủ quyền cho toàn dân như Nguyễn Minh Triết đã nói đến việc bải bỏ điều 4 Hiến pháp có nghĩa là đảng CS sẽ “tự sát!“. Như vậy là CS chỉ vì quyền lợi phe nhốm, đảng phái mình chớ nào nghĩ đến quyền lợi chung của dân tộc?
Đa đảng chính là sự hàn gắng những tan hoang chia rẽ, hàn gắn lại vết thương của dân tộc sau bao nhiêu tàn phá của chiến tranh.
2. Cơ chế chính trị do đảng CSVN thiết lập, không xây dựng trên nền tảng Dân chủ
Việt Nam sẽ không bao giờ dân chủ hóa được khi chưa có đa đảng, chưa có tự do bầu cử, chưa có một Quốc hội của dân, do dân và vì dân đúng nghĩa, ban hành Hiến pháp mới (Quốc hội lập hiến) để có được một thể chế chính trị xây dựng từ nền tảng tự do dân chủ thực sự.
Hai nhận định chính yếu trên là những yếu tố nội tại kềm hãm chiều hướng phát triển của dân tộc. Thêm nhận định thứ 3 dưới đây là yếu tố ngoại tại có thêm tác động cản trở tiến trình phát triển, dân chủ hóa đất nước.
3. Yếu tố ngoại tại: Bắc Kinh kềm chế
“Diễn biến hòa bình“ hay “sức mạnh của nhân dân“, các điều này hiện tại CSVN đều không muốn thấy xãy ra. Lý do là vì muốn giữ sự sống còn cho riêng đảng thì phải dựa thế và đi theo mô hình cai trị độc tài, độc đảng như Bắc Kinh, vô hình chung đã coi Tàu như “kim chỉ nam“ để chịu làm học trò yếu thế, thần phục và rơi vào qũy đạo kềm tỏa của Bắc Kinh. Mất thế chủ động nên mọi mọi việc xây dựng phát triển, Việt Nam luôn ở vào tư thế tuột hậu, yếu kém hơn so với Trung Quốc, và tiến trình dân chủ hóa Việt Nam coi như bế tắt!...Một nước Việt Nam ở trong tình trạng nghèo hèn, tuột hậu là môi trường tốt cho dã tâm bành trướng của Đại Hán, mà bằng chứng cụ thể là vấn đề biên giới, Biển Đông, bauxite, uranium… rồi việc văn hóa phẩm và hàng hóa Tàu tràn ngập thị trường Việt Nam.
Lịch sử đã chứng minh, từ thời nhà Lý đến nhà Trần, 2 triều đại vẫn được xem là huy hoàng nhất trong lịch sử dựng nước của dân tộc, đã tạo cho nước Đại Việt trở nên cường quốc, uy thế lừng lẫy trong suốt nhiều thế kỷ là nhờ phần vào triết lý chính trị, thấm đẫm tinh thần Phật giáo đầy khai phóng (phá chấp, dung hợp được cả Phật, Lão, Khổng), tách rời đường hướng trị quốc ra khỏi hệ tư tưởng chính trị Khổng giáo độc tôn chỉ nhằm có lợi cho việc cai trị của nhà Hán muốn bành trướng, đồng hóa tất cả dân tộc Bách Việt trên khắp miền Hoa Nam. Chính nhờ tinh thần Phật giáo gốp phần khai phóng mà Đại Việt thoát ly được quỹ đạo Hán hóa của Trung Hoa. Phật giáo chính là một hệ tư tưởng rất mới mẻ vào thời đó. Người mang đầy tâm huyết, dũng lược, dám đứng lên vận dụng triệt để sức mạnh tinh thần để đẩy lùi cả bóng đêm đem tối còn kéo dài ảnh hưởng suốt lịch sử cả ngàn năm bị Hán hóa đó chính là Thiền sư Vạn-Hạnh, cố vấn quân sư cho triều Lý, khởi công đầu đặt nền móng, mở ra được sinh lộ mới cho dân tộc.
Cái mới trên là thời đại Lý, Trần. Còn ngày hôm nay chúng ta sẽ tìm được cái mới nào? Có phải lý tưởng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền được phản ảnh đầy đủ nơi bản Tuyên ngôn và Công ước Quốc tế về Nhân quyền của LHQ, là sản phẩm trí tụê chung của cả nhân loại? Nếu đúng thế, thì con đường thuận hảo thế giới đã sẵn chọn, có lý do gì mà người Việt Nam chúng ta từ chối, không lấy làm sách lược dựng nước trong thời đại mới này?
Tách rời qũy đạo kềm chế của Bắc Kinh là điều trước tiên đòi hỏi những người yêu nước phải làm. Thời kỳ bắc thuộc cả ngàn năn, nếu không có Ngô Quyền bày trận tại Bạch Đằng Giang tiêu diệt quân Nam Hán thì đất nước dân tộc không thể có thời kỳ tự chủ, mặc dù sau đó xãy ra cuộc nội chiến, mà cao điểm nhất là thời Đinh Bộ Lĩnh với 12 sứ quân. Công cuộc dựng nước đã kết thúc hẵn giai đọn ngoại xâm của Hán tộc để chỉ còn thu hẹp vào việc nội trị nước ta thời đó tiến dần đến thống nhất nhân tâm (nhân hòa), mở ra con đường xây dựng phát triển đất nước cho các triều đại Lê, Lý, Trần… về sau, vẫn hơn hẳn sống trong cảnh bắc thuộc, nô lệ, lầm than, tiếp tục bị Hán hóa để rồi dần đi đến mất nước!
Đảng CSVN trong thực tế cũng đầy dẫy phe cánh tranh giành quyền lực, quyền lợi, dù nội chiến chỉ mới từ các cơ cấu quyền lực trung ương cung đình lan ra ngoài xã hội như các vụ án Tổng cục 2, Năm Châu, Sáu Sứ, Năm Cam, PMU18 v.v… chưa lan ra ngoài chiến trường nhưng không có nghĩa là không thể xãy ra trong tương lai! Khi chế độ đầy dẫy những tham quan kết bè, hống hách, nhũng lạm khắp nơi thì các căn bệnh bất trị này chắc chắn là những đầu mối có khả năng dẫn đến nội chiến còn thảm khốc cho Việt Nam nhiều lần hơn những lo ngại về một chế độ dân chủ đa đảng, có tam quyền phân lập, có hiến định chế tài mọi đảng phái, cá nhân đi ngược lại quyền lợi của quốc gia dân tộc.
Giải pháp nào để đưa dân tộc sớm thoát khỏi vòng đen tối? Có phải cứ giữ mãi chế độ khuyết tật CS hiện tại để luôn bị Bắc Kinh kềm chế, Hán hóa, sang đoạt dần chủ quyền đất nước một cách từ từ, để rồi…mất nước? Hay phải can đảm viết lại trang sử mới trên con đường dân chủ phát triển, khi cả dân tộc cùng đồng lòng (hay ít ra cũng đa số như hiện nay) đòi hỏi đảng CS phải trao trả chủ quyền lại cho toàn dân? Giải tỏa được 3 vấn nạn kể trên thì trở ngại cũng đã san bằng đi nhiều, mở được lối đi thênh thang nhiều hứa hẹn cho Việt Nam tốt đẹp hơn, hội nhập vào trào lưu văn minh tiến bộ cùng thế giới tự do dân chủ. Xóa tan xong mọi đe dọa ngoại xâm, mọi tham vọng bành trướng của Hán tộc thì xung lực yêu nước, đoàn kết của dân tộc Việt Nam chúng ta mới càng được mảnh mẻ gắng bó và cũng cố hơn. Tinh thần độc lập, tự do, thống nhất nhân tâm sẽ có được môi trường thuận lợi, thích hợp để phát huy triệt để, khi tiến trình dân chủ được người dân đồng lòng thực thi trên tất cả mọi bình diện, thì mọi mầm móng nội chiến không còn cơ hội để nẩy nở nữa! Hơn nữa những lo ngại về nội chiến chỉ là “điểm“ phòng xa, dự đoán để thấy rõ một số mâu thuẩn tao loạn lúc đầu trong buổi giao thời thôi. Với sách lược trường kỳ xây dựng tiến trình dân chủ phát triển “toàn diện“ thì nội chiến không thể lũng đoạn được, mà ngược lại, chắc chắn sẽ bị xóa sổ theo thời gian.
TÌNH TRẠNG NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM NĂM 2009
Tình trạng Nhân quyền tại Việt Nam năm 2009
Gia Minh, phóng viên RFA
2009-12-30
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/International-society-for-human-rights-on-recent-relating-situations-in-vietnam-GMinh-12302009223012.html
Bán án 5 năm rười tù giam đối với cựu trung tá Trần Anh Kim khép lại một năm 2009 với hàng loạt các vụ bắt bớ, bố ráp, tù tội đối với những người lên tiếng tranh đấu cho Dân chủ Nhân quyền tại Việt Nam.
Và chiến dịch đàn áp sẽ còn tiếp tục kéo dài sang năm tới, khi vào tháng giêng 2010 một số nhân vật bất đồng chính kiến khác cũng sẽ bị đem ra xét xử.
Các tổ chức theo dõi nhân quyền cho rằng việc đàn áp tiếng nói đối lập của chính quyền Hà Nội là không tuân thủ những công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Hiệp hội Nhân quyền Quốc Tế ISHR, trụ sở tại Frankfurt Đức, là một trong những tổ chức đó.
Tổng thư ký ISHR, đặc trách Châu Á, ông Vũ Quốc Dụng, có những đánh giá về tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm qua. Trước hết về phiên xử mới nhất đối với một trong những nhà bất đồng chính kiến là cựu trung tá Trần Anh Kim thì ông có nhận định:
Tội trạng?
Ông Vũ Quốc Dụng: Trước hết tôi không có ý kiến về mức án vì tôi cho ông Trần Anh Kim vô tội. Những điều gì mà ông Kim nhận, và những bằng chứng mà Tòa nêu lên thì không thể dùng để kết tội ông Kim được. Đơn cử như những bài viết trên Interner, việc treo bảng hiệu của tổ chức, việc nhận chức vụ của tổ chức, việc mua sắm máy móc, việc thiết lập các tổ chức của dân oan… do phía công tố nêu lên không phải là hành vi phạm tội.
Hiến pháp Việt Nam và công pháp quốc tế công nhận các quyền tự do ngôn luận và lập hội. các quyền tự do này bao gồm cả quyền tự do phát biểu và quyền tự do tham gia các hoạt động đảng phái. Không có quyền bày tỏ và thể hiện các suy nghĩ và lập trường của mình ra bên ngoài thì nhân quyền không còn ý nghĩa trên thực tế nữa.
Vì thế tôi cho rằng ông Kim có quyền làm những việc mà ông đã làm. Tôi nhấn mạnh lại rằng ngay cả việc đòi hỏi, thay đổi một chính quyền bằng các phương pháp ôn hòa và bất bạo động, ví dụ như bằng đối thoại, bằng tranh luận hay bằng bài viết như ông Kim đã thực hiện cũng được bảo vệ bởi Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị của Liên hiệp quốc. Đây là văn kiện mà Việt Nam đã ký kết và cam kết sẽ tham gia. Không thấy ông Kim làm điều gì đe dọa nghiêm trọng đến nền an ninh quốc gia cả.
Ở đây cần phải dùng ngôn ngữ cho đúng: “Việt Nam hiện đang ở trong thời bình và không có những cuộc xung đột ảnh hưởng đến nền an ninh của cả nước.” An ninh quốc gia bị đe dọa khi có nội loạn hay ngoại xâm; ngay cả trong những trường hợp vừa nói thì luật quốc tế về nhân quyền cũng có những qui định rõ ràng và chặt chẽ; chứ không thể chấp nhận những tuyên bố mơ hồ để giới hạn nhân quyền được.
Ông Kim chỉ dùng lời, dùng bút thì làm sao có thể đe dọa nền an ninh quốc gia. Nếu ông Kim có chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam thì không thể xem việc đó là có đe dọa đến an ninh quốc gia, an ninh của cả nước được.
Tôi có nhận xét cuối cùng là ông luật sư Đặng Ngọc Phúc đã không cãi cho ông Kim theo hướng vô tội; trong khi ông Kim không nhận có tội.
Theo tôi dù ông LS Đặng Ngọc Phúc có được Nhà nước chỉ định trong vụ này thì ông Phúc cũng phải cãi theo ý thân chủ và cãi tốt nhất cho thân chủ; chứ không thể cãi theo ý của ông ta và còn yêu cầu ông Kim nhận tội và yêu cầu tòa khoan hồng nữa.
Tôi nghi ngờ về sự thành tâm của ông luật sư này, vì lúc đầu ông ta không nhận bào chữa cho ông Kim sau đó lại nói nhận nếu có sự chỉ định.
Công lý
Gia Minh: Sắp đến đây còn có một số phiên xử các nhà bất đồng chính kiến khác nữa, vậy theo hiệp hội thì những phiên xử đó và những phiên xử trong thời gian qua thì như thế nào?
Ông Vũ Quốc Dụng: Phiên xử ông Trần Anh Kim vừa rồi cho thấy việc xử những người thuộc Đảng Dân chủ Việt Nam có rất nhiều vấn đề. Trước hết việc ông Kim phản cung trước tòa cho thấy những thước phim “thú tội” trước đây vô giá trị và phản tác dụng.
Trước Tòa ông Kim hỏi Tòa khi ông tham gia tổ chức “Khối 8406” và Đảng Dân chủ từ 3 năm bảy tháng mà không bị truy tố, sao bây giờ lại đưa ông ra truy tố thì Tòa không trả lời được. Ông Kim cũng nói ông hoạt động ôn hòa nên không có tội.
Vấn đề thứ hai là việc thay đổi tội danh. Đây là vấn đề dư luận rất quan tâm. Sau khi bắt năm người thuộc Đảng Dân chủ, chính quyền Việt Nam tiến hành một chiến dịch rầm rộ tuyên truyền về hành vi phạm tội, với mục đính buộc họ vào tội “tuyên truyền chống Nhà nước XHCN” theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.
Bây giờ chuyển sang tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” với mức án nặng nhất là tử hình, nhưng không đưa ra được lý do thuyết phục nào. Việc thay đổi tội danh là điều khó hiểu, đặc biệt khi thay đổi từ một tội nhẹ sang một tội nặng hơn với mức án tử hình mà lại là trong một vụ án chính trị nổi tiếng nữa.
Vụ án của ông Trần Anh Kim làm cho giới quan sát thiếu tin tưởng vào nền công lý Việt Nam. Tôi tìm cách lý giải sự việc này: có thể Tòa sợ Luật sư Lê Công Định trước phiên xử có nhiều đại diện quốc tế đến tham dự sẽ vững lý hơn phe công tố viên trong một vụ án “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN VN” bởi vì LS Định từng cãi trong các phiên tòa cho LS Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân. Lúc đó LS Định dựa trên công pháp quốc tế để cãi.
Thứ hai nữa là quốc tế đang chú ý nhiều đến Việt Nam trong việc sử dụng tội danh tuyên truyền chống Nhà nước XHCN VN để đàn áp những người bất đồng chính kiến. Theo tôi biết thì Liên hiệp quốc hiện nhận được rất nhiều đơn khiếu nại về vấn đề vừa nói.
Chuẩn mực Nhân quyền
Gia Minh: Căn cứ vào các chuẩn mực quốc tế, thì Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế còn thấy có những vụ việc nào không theo đúng những chuẩn mực đó tại Việt Nam?
Ông Vũ Quốc Dụng: Có hai vụ việc cần phải quan tâm.Thứ nhất là vụ cô Phạm Thanh Nghiên và thứ hai là vụ các tăng sinh Bát Nhã.
Vụ Cô Phạm Thanh Nghiên là người phụ nữ duy nhất trong nhóm bị bắt hồi tháng 9 năm 2008. Tất cả đều được đưa ra tòa, chỉ riêng cô ta đến giờ phút này đã trên 15 tháng vẫn chưa được đưa ra tòa.
Một điểm nữa là cô ta bị giam 15 tháng mà không cho cô ta gặp thân nhân. Cô ta cũng không được gặp luật sư trong thời kỳ tạm giam, điều tra. Như thế có liên quan đến vấn đề nhân đạo và vấn đề đối xử công bằng đối với những người tù dù đó là tù chính trị hay không.
Chúng tôi quan tâm đến cô Phạm Thanh Nghiên là việc cô bị bắt khi căng biểu ngữ ngồi trong nhà. Như vậy là quyền có quan điểm chính trị riêng và quyền bày tỏ quan điểm chính trị tại nhà riêng cũng bị chính quyền Việt Nam xem là tội.
Nếu Việt Nam không cho cô Phạm Thanh Nghiên bày tỏ quan điểm chính trị tại nhà và không cho viết bài trên Internet thì Việt Nam phải giải thích quan điểm về quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí theo điều 69 Hiến pháp Việt Nam có những nội hàm thế nào; và quan niệm của Việt Nam như thế có phù hợp với những công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hay không.
Vấn đề tăng sinh Làng Mai tại Bát Nhã thì họ là những người Việt Nam, xuất gia tại Việt Nam, họ trực thuộc giáo hội Phật giáo Việt Nam.Phật giáo Việt Nam là tổ chức được chính quyền Việt Nam công nhận từ năm 1981 cho đến nay.
Như thế đàn áp họ là đàn áp Giáo hội. Việc các tăng sĩ cao cấp trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã lên tiếng bày tỏ bất mãn trước sự kiện đánh đuổi các tăng sinh vô cùng ôn hòa đó.
Chúng ta thấy đáng lẽ chính quyền có thể cho số tăng sinh đó ở lại Bát Nhã vì họ bỏ tiền ra xây, cũng có thể đổi cho họ một khu đất khác để họ đến, hoặc cho họ dung thân tại những ngôi chùa như Phước Huệ.
Thế nhưng chính quyền nhất định phân tán họ, như thế chính quyền muốn giải tán cả tu viện. Như thế là đàn áp tôn giáo.
Chúng tôi thấy chính quyền cho rằng những người đàn áp các tăng ni là người dân nổi giận, thì chính quyền đã không có khả năng bảo vệ được những người công dân đang sống trên đất nước của mình, đã không làm tròn nhiệm vụ bảo vệ nhân quyền.
Chúng tôi có những bằng chứng cho thấy chính quyền trung ương Việt Nam có những chỉ thị giải tán tu viện Bát Nhã, và đó là không tôn trọng nhân quyền. Đây là những điều được ghi rõ trong văn bản Luật Quốc tế về Nhân quyền.
Gia Minh: Trong năm qua cũng có những vụ việc như các blogger bị chính quyền triệu tập đến và yêu cầu không cho viết blog nữa, và vấn đề quần chúng tự phát tại những nơi khác?
Ông Vũ Quốc Dụng: Trong quyền tự do phát biểu, quyền tự do ngôn luận thì có quyền phát biểu bằng mọi phương tiện, và vượt qua mọi biên giới. Tức là có quyền dùng bút ghi trên giấy hay dùng nhạc, dùng những bài viết phổ biến trên Internet để phổ biến suy nghĩ một cách ôn hòa. Tất cả những quyền này được qui định trong Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã ký từ năm 1982.
Việc dùng quần chúng nổi loạn để đàn áp dân oan thì đây là một hiện tượng rất đáng ngại vì khi chính quyền không trực tiếp ra tay đàn áp mà mượn tay quần chúng để đàn áp nhằm tránh tiếng vi phạm nhân quyền thì điều đó bị lên án mạnh mẽ hơn bình thường.
Chính quyền phải có luật pháp, tuân thủ luật pháp để giữ giềng mối quốc gia. Trong trường hợp những nhóm quần chúng tự phát vượt khuôn khổ luật pháp quốc gia, xâm phạm quyền tự do, và cả an toàn thân thể của người khác thì đó chính quyền không hoàn thàn bổn phận bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam.
Gia Minh: Cám ơn Ông về những nhận định vừa rồi.
---------------------------------
Trên đây là nhận định của ông Vũ Quốc Dụng, tổng thư ký Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế, về những hành xử của chính quyền Việt Nam đối với các tiếng nói đối kháng, cũng như đối quyền tự do tín ngưỡng và bày tỏ ý kiến của người dân. Mời Quý vị đón theo dõi tiếp trình bày của ông Vũ Quốc Dụng về việc chính quyền Hà Nội phản ứng trước những góp ý của quốc tế về thành tích nhân quyền của Việt Nam.
Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.
Tình trạng Nhân quyền tại Việt Nam năm 2009(phần 2)
Gia Minh, phóng viên RFA
2009-12-31
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/International-society-for-human-rights-on-recent-relating-situations-in-vietnam-part-2-12312009072404.html
Trong bài trước, ông Vũ Quốc Dụng, tổng thư ký Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế, phụ trách khu vực Châu Á, đưa ra những nhận định về các hành xử của chính quyền Việt Nam đối với các tiếng nói đối kháng, cũng như đối quyền tự do tín ngưỡng và bày tỏ ý kiến của người dân.
Bài kỳ này là phần trình bày của ông Vũ Quốc Dụng về việc chính quyền Hà Nội phản ứng trước những góp ý của quốc tế về thành tích nhân quyền của Việt Nam.
Không chấp nhận ý kiến xây dựng
Gia Minh: Trong thời đại hội nhập hiện nay, các vị nguyên thủ Việt Nam đi đến nhiều nơi trên thế giới, và được báo giới nêu ra câu hỏi về tình hình vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, vấn đề tù nhân lương tâm.Trước những câu hỏi đó thì các vị lãnh đạo chính quyền Hà Nội đều cho rằng Việt Nam có những chuẩn mực, luật lệ riêng và những người vi phạm đều bị trừng phạt, vậy ông có ý kiến ra sao trước những lập luận đó?
Ông Vũ Quốc Dụng: Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế quan niệm tù nhân chính trị là những người thực hiện nhân quyền của họ một cách bất bạo động mà bị tù tội. Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế hoạt động dựa trên Bản tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên hiệp quốc, và chúng tôi công nhận tất cả các công ước quốc tế. Như vậy chúng tôi công nhận những người hoạt động trên tinh thần của công pháp quốc tế như vậy. Chúng tôi xem nhân quyền, nhân phẩm gắn liền với tính chất làm người. Một khi đã tôn trọng nhân phẩm thì phải tôn trọng những điều rất riêng của người khác cho dù mình không đồng ý với những cái riêng đó. Do đó chúng tôi gọi những người tù nhân chính trị là tù nhân lương tâm; họ làm theo tiếng gọi lương tâm cho dù biết rằng vì thế có thể họ phải bị đưa vào tù.
Một cách khác để nhận biết ai là tù nhân chính trị: đó là những người bị bắt bỏ tù chỉ vì chính kiến của họ khác với chính kiến của đảng cầm quyền trong một nước, và đảng đó đã dùng mọi thủ đoạn kể cả thủ đoạn phi pháp để bắt giam họ, họ không được hưởng quyền được đối xử bình đẳng.Các phiên tòa đối với họ cũng không công bằng như đối với các công dân khác. Trong tù họ cũng bị phân biệt đối xử. Theo cái nhìn đó thì tại Việt Nam có rất nhiều tù nhân chính trị. Không biết vì sao mà Việt Nam nhất định ‘cãi cùn’ là tại Việt Nam không có tù nhân chính trị, mặc dù trên thực tế chúng ta thấy rõ ràng có tù chính trị tại Việt Nam: các tòa án và báo chí Việt nam vẫn gọi là ‘án chính trị’; trong trại giam vẫn tách tù chính trị ra riêng; người tù chính trị bị đối xử theo qui chế khác tù thường phạm. Đơn cử, tù chính trị bị cáo buộc với bất cứ tội gì vẫn không được gặp thân nhân, luật sư trong thời gian bị tạm giam điều tra, tù chính trị bị đưa đi giam xa nhà, thư từ bị khám xét, không được gọi điện thoại về nhà …
Chúng tôi có danh sách khoảng 300 tù nhân chính trị tại Việt Nam, trong đó có 200 người Thượng.
Gia Minh: Khi đưa ra những bằng chứng như thế thì Việt Nam có thừa nhận không?
Ông Vũ Quốc Dụng: Tôi có cảm tưởng là Việt Nam đang ‘cải cùn’ về vấn đề tù chính trị; thì đó chỉ là vấn đề sỉ diện, vấn đề ngôn từ thôi. Vấn đề chính là quan điểm về nhân quyền của chính quyền Hà Nội. Việt Nam đang theo đuổi quan điểm nhân quyền hai mặt: mặt ngoài thì ra vẻ chấp nhận; nhưng mặt bên trong thì đang tấn công ngầm vào những quan điểm nhân quyền của thế giới. Việt Nam không chấp nhận những thuộc tính căn bản của nhân quyền, ví dụ như tính phổ quát. Phổ quát có nghĩa là bất cứ con người ở nơi nào cũng có những quyền như nhau không phân biệt người đó thuộc chủng tộc, màu da, nam hay nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quan niệm, nguồn gốc, dân tộc, xã hội, tài sản, nguồn gốc, dòng dõi…Việt Nam không chấp nhận tính chất nhân quyền đó mà đòi thực hiện nhân quyền tùy theo điều kiện xã hội, kinh tế, lịch sử và chính trị. Việt Nam không chấp nhận thuộc tính bất khả phân chia của nhân quyền; tức không được phân chia ra những quyền nào muốn cho người dân được hưởng; ví dụ cho phép dân có quyền có niềm tin tôn giáo mà lại giới hạn quyền thực hiện niềm tin đó; hoặc nói dân có quyền tự do tư tưởng nhưng lại bắt bớ những người viết bài trên Internet..
Việt Nam cần phải xét lại quan niệm về nhân quyền mà chính quyền hiện dùng, xe có đúng với Công pháp quốc tế hay không, hay những quan niện mà các quốc gia khác trên thế giới thường dùng. Nếu không giải quyết vấn đề căn bản đó thì vẫn tiếp tục xảy ra chuyện Việt Nam nói không vi phạm nhân quyền, nhưng không ai trên thế giới có thể thông cảm cho Việt Nam được.
Tiến bộ trong kinh tế và tôn giáo
Gia Minh: Vậy việc đấu tranh cho những chuẩn chung đó giữa phía Việt Nam và các quốc gia cổ xúy cho nhân quyền cũng như các tổ chức như của ông thì ra sao?
Ông Vũ Quốc Dụng: Việt Nam trong những năm vừa qua cũng có một số tiến bộ, đặc biệt là quyền trong lĩnh vực kinh tế. Mặt này được quốc tế đánh giá nhiều lần là khá tốt. Trong lĩnh vực tự do tôn giáo thì Việt nam cũng có một số cải thiện, đặc biệt với Đạo Tin Lành. Những cải thiện này được đánh giá là sự hợp tác hiếm có giữa chính quyền Việt Nam và chính quyền các quốc gia khác, với các tổ chức Tin Lành, các tổ chức chuyên lo về quyền tự do tôn giáo ở ngoại quốc. Mặc dù còn có nhiều khó khăn nhưng hiện không còn bị đàn áp một cách dã man, tràn lan như xưa nữa. Những văn bản có giọng điệu thù nghịch với Đạo Tin Lành nay cũng bớt đi nhiều. Điều này cho thấy lo ngại trước đây của Việt Nam khi cho rằng Tin Lành là đạo của Mỹ, một phương tiện của diễn biến hòa bình, một đe dọa cho an ninh quốc gia là những điều không thực tế. Trong thực tế điều đó gây trở ngại hơn là giúp cho Việt Nam hội nhập vào thế giới.
Tuy vậy nhìn lại, thì vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề: Việt Nam không giải quyết êm đẹp vấn đề tranh chấp tài sản với Giáo hội Công giáo, bất chấp sự có mặt của phái đoàn Liên hiệp Âu Châu trong việc hành hung các tăng ni tại Chùa Phước Huệ hồi giữa tháng 12 này.
Nhân quyền không đe dọa an ninh quốc gia
Hồi tháng 5 vừa qua nhân phiên họp báo cáo định kỳ của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc, Việt Nam đã bác bỏ 46 trong số 150 khuyến nghị của các quốc gia trên thế giới. Đa số liên quan đến các quyền dân sự và chính trị; cũng như liên quan đến việc xây dựng một chế độ thượng tôn pháp luật tại Việt Nam. Hà Nội cũng từ chối mời những quốc gia về nhân quyền của Liên hiệp quốc được thường trực đến khảo sát tình hình nhân quyền tại Việt Nam.
Trong năm qua hợp tác với quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền có giảm bớt đi; đồng thời chính sách đàn áp lại cứng rắn hơn đối với những người trong nước. Đây là lĩnh vực mà trong năm tới quốc tế phải đối thoại với Việt Nam mạnh mẽ hơn nữa.
Gia Minh: Ngoài những biện pháp đã làm, thì những biện pháp mạnh mẽ đó cần phải làm như thế nào?
Ông Vũ Quốc Dụng: Chúng tôi chỉ xin phép nêu quan niện của Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế, một số đề nghị mà chúng tôi muốn đề nghị phía Việt Nam thực hiện. Trước hết Việt Nam cần xét lại toàn bộ hệ thống về quan niệm nhân quyền của Việt Nam, điều chỉnh cho phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Muốn làm việc đó, chính quyền Việt Nam cần từ bỏ tư thế phòng thủ đối với các vấn đề nhân quyền, phải ngưng xem nhân quyền là cớ cho việc xâm phạm chủ quyền, hay là can thiệp vào nội bộ của nước tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, phi chính trị hóa vấn đề nhân quyền, không xem vấn đề nhân quyền là an ninh quốc gia nữa. Ngược lại cần phải xem những đóng góp về nhân quyền như là những đề nghị xây dựng.
Tôi đã đi đến nhiều nước có trình độ phát triển kinh tế kém hơn Việt Nam,nhưng chính quyền ở đó có thái độ rất trân trọng đối với các phái đoàn nhân quyền. Họ tiếp thu và thực thi các góp ý về vấn đề nhân quyền, từ đó tiến rất nhanh vì gây được thiện cảm với cộng đồng thế giới. Nếu Việt Nam càng để có các phái đoàn nhân quyền thuộc Liên hiệp quốc, Liên hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, các tổ chức quốc tế đến thăm viếng, giám sát tình hình nhân quyền thì Việt Nam sẽ nhận được nhiều sự trợ giúp để cải thiện vấn đề nhân quyền hơn.
Một đề nghị cuối cùng của chúng tôi: Việt Nam cần nhanh chóng thay đổi các bộ luật trong nước cho phù hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia để tránh mâu thuẫn với luật quốc tế, đồng thời thúc đẩy cho việc tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam theo đúng các chuẩn mực quốc tế. Như thế sẽ giúp cho Việt Nam dễ hội nhập vào thế giới trong lĩnh vực nhân quyền hơn.
Gia Minh: Cám ơn Ông Vũ Quốc Dụng đã có những trình bày liên quan tình hình nhân quyền Việt Nam trong năm qua.
Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.
Gia Minh, phóng viên RFA
2009-12-30
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/International-society-for-human-rights-on-recent-relating-situations-in-vietnam-GMinh-12302009223012.html
Bán án 5 năm rười tù giam đối với cựu trung tá Trần Anh Kim khép lại một năm 2009 với hàng loạt các vụ bắt bớ, bố ráp, tù tội đối với những người lên tiếng tranh đấu cho Dân chủ Nhân quyền tại Việt Nam.
Và chiến dịch đàn áp sẽ còn tiếp tục kéo dài sang năm tới, khi vào tháng giêng 2010 một số nhân vật bất đồng chính kiến khác cũng sẽ bị đem ra xét xử.
Các tổ chức theo dõi nhân quyền cho rằng việc đàn áp tiếng nói đối lập của chính quyền Hà Nội là không tuân thủ những công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Hiệp hội Nhân quyền Quốc Tế ISHR, trụ sở tại Frankfurt Đức, là một trong những tổ chức đó.
Tổng thư ký ISHR, đặc trách Châu Á, ông Vũ Quốc Dụng, có những đánh giá về tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm qua. Trước hết về phiên xử mới nhất đối với một trong những nhà bất đồng chính kiến là cựu trung tá Trần Anh Kim thì ông có nhận định:
Tội trạng?
Ông Vũ Quốc Dụng: Trước hết tôi không có ý kiến về mức án vì tôi cho ông Trần Anh Kim vô tội. Những điều gì mà ông Kim nhận, và những bằng chứng mà Tòa nêu lên thì không thể dùng để kết tội ông Kim được. Đơn cử như những bài viết trên Interner, việc treo bảng hiệu của tổ chức, việc nhận chức vụ của tổ chức, việc mua sắm máy móc, việc thiết lập các tổ chức của dân oan… do phía công tố nêu lên không phải là hành vi phạm tội.
Hiến pháp Việt Nam và công pháp quốc tế công nhận các quyền tự do ngôn luận và lập hội. các quyền tự do này bao gồm cả quyền tự do phát biểu và quyền tự do tham gia các hoạt động đảng phái. Không có quyền bày tỏ và thể hiện các suy nghĩ và lập trường của mình ra bên ngoài thì nhân quyền không còn ý nghĩa trên thực tế nữa.
Vì thế tôi cho rằng ông Kim có quyền làm những việc mà ông đã làm. Tôi nhấn mạnh lại rằng ngay cả việc đòi hỏi, thay đổi một chính quyền bằng các phương pháp ôn hòa và bất bạo động, ví dụ như bằng đối thoại, bằng tranh luận hay bằng bài viết như ông Kim đã thực hiện cũng được bảo vệ bởi Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị của Liên hiệp quốc. Đây là văn kiện mà Việt Nam đã ký kết và cam kết sẽ tham gia. Không thấy ông Kim làm điều gì đe dọa nghiêm trọng đến nền an ninh quốc gia cả.
Ở đây cần phải dùng ngôn ngữ cho đúng: “Việt Nam hiện đang ở trong thời bình và không có những cuộc xung đột ảnh hưởng đến nền an ninh của cả nước.” An ninh quốc gia bị đe dọa khi có nội loạn hay ngoại xâm; ngay cả trong những trường hợp vừa nói thì luật quốc tế về nhân quyền cũng có những qui định rõ ràng và chặt chẽ; chứ không thể chấp nhận những tuyên bố mơ hồ để giới hạn nhân quyền được.
Ông Kim chỉ dùng lời, dùng bút thì làm sao có thể đe dọa nền an ninh quốc gia. Nếu ông Kim có chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam thì không thể xem việc đó là có đe dọa đến an ninh quốc gia, an ninh của cả nước được.
Tôi có nhận xét cuối cùng là ông luật sư Đặng Ngọc Phúc đã không cãi cho ông Kim theo hướng vô tội; trong khi ông Kim không nhận có tội.
Theo tôi dù ông LS Đặng Ngọc Phúc có được Nhà nước chỉ định trong vụ này thì ông Phúc cũng phải cãi theo ý thân chủ và cãi tốt nhất cho thân chủ; chứ không thể cãi theo ý của ông ta và còn yêu cầu ông Kim nhận tội và yêu cầu tòa khoan hồng nữa.
Tôi nghi ngờ về sự thành tâm của ông luật sư này, vì lúc đầu ông ta không nhận bào chữa cho ông Kim sau đó lại nói nhận nếu có sự chỉ định.
Công lý
Gia Minh: Sắp đến đây còn có một số phiên xử các nhà bất đồng chính kiến khác nữa, vậy theo hiệp hội thì những phiên xử đó và những phiên xử trong thời gian qua thì như thế nào?
Ông Vũ Quốc Dụng: Phiên xử ông Trần Anh Kim vừa rồi cho thấy việc xử những người thuộc Đảng Dân chủ Việt Nam có rất nhiều vấn đề. Trước hết việc ông Kim phản cung trước tòa cho thấy những thước phim “thú tội” trước đây vô giá trị và phản tác dụng.
Trước Tòa ông Kim hỏi Tòa khi ông tham gia tổ chức “Khối 8406” và Đảng Dân chủ từ 3 năm bảy tháng mà không bị truy tố, sao bây giờ lại đưa ông ra truy tố thì Tòa không trả lời được. Ông Kim cũng nói ông hoạt động ôn hòa nên không có tội.
Vấn đề thứ hai là việc thay đổi tội danh. Đây là vấn đề dư luận rất quan tâm. Sau khi bắt năm người thuộc Đảng Dân chủ, chính quyền Việt Nam tiến hành một chiến dịch rầm rộ tuyên truyền về hành vi phạm tội, với mục đính buộc họ vào tội “tuyên truyền chống Nhà nước XHCN” theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.
Bây giờ chuyển sang tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” với mức án nặng nhất là tử hình, nhưng không đưa ra được lý do thuyết phục nào. Việc thay đổi tội danh là điều khó hiểu, đặc biệt khi thay đổi từ một tội nhẹ sang một tội nặng hơn với mức án tử hình mà lại là trong một vụ án chính trị nổi tiếng nữa.
Vụ án của ông Trần Anh Kim làm cho giới quan sát thiếu tin tưởng vào nền công lý Việt Nam. Tôi tìm cách lý giải sự việc này: có thể Tòa sợ Luật sư Lê Công Định trước phiên xử có nhiều đại diện quốc tế đến tham dự sẽ vững lý hơn phe công tố viên trong một vụ án “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN VN” bởi vì LS Định từng cãi trong các phiên tòa cho LS Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân. Lúc đó LS Định dựa trên công pháp quốc tế để cãi.
Thứ hai nữa là quốc tế đang chú ý nhiều đến Việt Nam trong việc sử dụng tội danh tuyên truyền chống Nhà nước XHCN VN để đàn áp những người bất đồng chính kiến. Theo tôi biết thì Liên hiệp quốc hiện nhận được rất nhiều đơn khiếu nại về vấn đề vừa nói.
Chuẩn mực Nhân quyền
Gia Minh: Căn cứ vào các chuẩn mực quốc tế, thì Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế còn thấy có những vụ việc nào không theo đúng những chuẩn mực đó tại Việt Nam?
Ông Vũ Quốc Dụng: Có hai vụ việc cần phải quan tâm.Thứ nhất là vụ cô Phạm Thanh Nghiên và thứ hai là vụ các tăng sinh Bát Nhã.
Vụ Cô Phạm Thanh Nghiên là người phụ nữ duy nhất trong nhóm bị bắt hồi tháng 9 năm 2008. Tất cả đều được đưa ra tòa, chỉ riêng cô ta đến giờ phút này đã trên 15 tháng vẫn chưa được đưa ra tòa.
Một điểm nữa là cô ta bị giam 15 tháng mà không cho cô ta gặp thân nhân. Cô ta cũng không được gặp luật sư trong thời kỳ tạm giam, điều tra. Như thế có liên quan đến vấn đề nhân đạo và vấn đề đối xử công bằng đối với những người tù dù đó là tù chính trị hay không.
Chúng tôi quan tâm đến cô Phạm Thanh Nghiên là việc cô bị bắt khi căng biểu ngữ ngồi trong nhà. Như vậy là quyền có quan điểm chính trị riêng và quyền bày tỏ quan điểm chính trị tại nhà riêng cũng bị chính quyền Việt Nam xem là tội.
Nếu Việt Nam không cho cô Phạm Thanh Nghiên bày tỏ quan điểm chính trị tại nhà và không cho viết bài trên Internet thì Việt Nam phải giải thích quan điểm về quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí theo điều 69 Hiến pháp Việt Nam có những nội hàm thế nào; và quan niệm của Việt Nam như thế có phù hợp với những công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hay không.
Vấn đề tăng sinh Làng Mai tại Bát Nhã thì họ là những người Việt Nam, xuất gia tại Việt Nam, họ trực thuộc giáo hội Phật giáo Việt Nam.Phật giáo Việt Nam là tổ chức được chính quyền Việt Nam công nhận từ năm 1981 cho đến nay.
Như thế đàn áp họ là đàn áp Giáo hội. Việc các tăng sĩ cao cấp trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã lên tiếng bày tỏ bất mãn trước sự kiện đánh đuổi các tăng sinh vô cùng ôn hòa đó.
Chúng ta thấy đáng lẽ chính quyền có thể cho số tăng sinh đó ở lại Bát Nhã vì họ bỏ tiền ra xây, cũng có thể đổi cho họ một khu đất khác để họ đến, hoặc cho họ dung thân tại những ngôi chùa như Phước Huệ.
Thế nhưng chính quyền nhất định phân tán họ, như thế chính quyền muốn giải tán cả tu viện. Như thế là đàn áp tôn giáo.
Chúng tôi thấy chính quyền cho rằng những người đàn áp các tăng ni là người dân nổi giận, thì chính quyền đã không có khả năng bảo vệ được những người công dân đang sống trên đất nước của mình, đã không làm tròn nhiệm vụ bảo vệ nhân quyền.
Chúng tôi có những bằng chứng cho thấy chính quyền trung ương Việt Nam có những chỉ thị giải tán tu viện Bát Nhã, và đó là không tôn trọng nhân quyền. Đây là những điều được ghi rõ trong văn bản Luật Quốc tế về Nhân quyền.
Gia Minh: Trong năm qua cũng có những vụ việc như các blogger bị chính quyền triệu tập đến và yêu cầu không cho viết blog nữa, và vấn đề quần chúng tự phát tại những nơi khác?
Ông Vũ Quốc Dụng: Trong quyền tự do phát biểu, quyền tự do ngôn luận thì có quyền phát biểu bằng mọi phương tiện, và vượt qua mọi biên giới. Tức là có quyền dùng bút ghi trên giấy hay dùng nhạc, dùng những bài viết phổ biến trên Internet để phổ biến suy nghĩ một cách ôn hòa. Tất cả những quyền này được qui định trong Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã ký từ năm 1982.
Việc dùng quần chúng nổi loạn để đàn áp dân oan thì đây là một hiện tượng rất đáng ngại vì khi chính quyền không trực tiếp ra tay đàn áp mà mượn tay quần chúng để đàn áp nhằm tránh tiếng vi phạm nhân quyền thì điều đó bị lên án mạnh mẽ hơn bình thường.
Chính quyền phải có luật pháp, tuân thủ luật pháp để giữ giềng mối quốc gia. Trong trường hợp những nhóm quần chúng tự phát vượt khuôn khổ luật pháp quốc gia, xâm phạm quyền tự do, và cả an toàn thân thể của người khác thì đó chính quyền không hoàn thàn bổn phận bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam.
Gia Minh: Cám ơn Ông về những nhận định vừa rồi.
---------------------------------
Trên đây là nhận định của ông Vũ Quốc Dụng, tổng thư ký Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế, về những hành xử của chính quyền Việt Nam đối với các tiếng nói đối kháng, cũng như đối quyền tự do tín ngưỡng và bày tỏ ý kiến của người dân. Mời Quý vị đón theo dõi tiếp trình bày của ông Vũ Quốc Dụng về việc chính quyền Hà Nội phản ứng trước những góp ý của quốc tế về thành tích nhân quyền của Việt Nam.
Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.
Tình trạng Nhân quyền tại Việt Nam năm 2009(phần 2)
Gia Minh, phóng viên RFA
2009-12-31
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/International-society-for-human-rights-on-recent-relating-situations-in-vietnam-part-2-12312009072404.html
Trong bài trước, ông Vũ Quốc Dụng, tổng thư ký Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế, phụ trách khu vực Châu Á, đưa ra những nhận định về các hành xử của chính quyền Việt Nam đối với các tiếng nói đối kháng, cũng như đối quyền tự do tín ngưỡng và bày tỏ ý kiến của người dân.
Bài kỳ này là phần trình bày của ông Vũ Quốc Dụng về việc chính quyền Hà Nội phản ứng trước những góp ý của quốc tế về thành tích nhân quyền của Việt Nam.
Không chấp nhận ý kiến xây dựng
Gia Minh: Trong thời đại hội nhập hiện nay, các vị nguyên thủ Việt Nam đi đến nhiều nơi trên thế giới, và được báo giới nêu ra câu hỏi về tình hình vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, vấn đề tù nhân lương tâm.Trước những câu hỏi đó thì các vị lãnh đạo chính quyền Hà Nội đều cho rằng Việt Nam có những chuẩn mực, luật lệ riêng và những người vi phạm đều bị trừng phạt, vậy ông có ý kiến ra sao trước những lập luận đó?
Ông Vũ Quốc Dụng: Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế quan niệm tù nhân chính trị là những người thực hiện nhân quyền của họ một cách bất bạo động mà bị tù tội. Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế hoạt động dựa trên Bản tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên hiệp quốc, và chúng tôi công nhận tất cả các công ước quốc tế. Như vậy chúng tôi công nhận những người hoạt động trên tinh thần của công pháp quốc tế như vậy. Chúng tôi xem nhân quyền, nhân phẩm gắn liền với tính chất làm người. Một khi đã tôn trọng nhân phẩm thì phải tôn trọng những điều rất riêng của người khác cho dù mình không đồng ý với những cái riêng đó. Do đó chúng tôi gọi những người tù nhân chính trị là tù nhân lương tâm; họ làm theo tiếng gọi lương tâm cho dù biết rằng vì thế có thể họ phải bị đưa vào tù.
Một cách khác để nhận biết ai là tù nhân chính trị: đó là những người bị bắt bỏ tù chỉ vì chính kiến của họ khác với chính kiến của đảng cầm quyền trong một nước, và đảng đó đã dùng mọi thủ đoạn kể cả thủ đoạn phi pháp để bắt giam họ, họ không được hưởng quyền được đối xử bình đẳng.Các phiên tòa đối với họ cũng không công bằng như đối với các công dân khác. Trong tù họ cũng bị phân biệt đối xử. Theo cái nhìn đó thì tại Việt Nam có rất nhiều tù nhân chính trị. Không biết vì sao mà Việt Nam nhất định ‘cãi cùn’ là tại Việt Nam không có tù nhân chính trị, mặc dù trên thực tế chúng ta thấy rõ ràng có tù chính trị tại Việt Nam: các tòa án và báo chí Việt nam vẫn gọi là ‘án chính trị’; trong trại giam vẫn tách tù chính trị ra riêng; người tù chính trị bị đối xử theo qui chế khác tù thường phạm. Đơn cử, tù chính trị bị cáo buộc với bất cứ tội gì vẫn không được gặp thân nhân, luật sư trong thời gian bị tạm giam điều tra, tù chính trị bị đưa đi giam xa nhà, thư từ bị khám xét, không được gọi điện thoại về nhà …
Chúng tôi có danh sách khoảng 300 tù nhân chính trị tại Việt Nam, trong đó có 200 người Thượng.
Gia Minh: Khi đưa ra những bằng chứng như thế thì Việt Nam có thừa nhận không?
Ông Vũ Quốc Dụng: Tôi có cảm tưởng là Việt Nam đang ‘cải cùn’ về vấn đề tù chính trị; thì đó chỉ là vấn đề sỉ diện, vấn đề ngôn từ thôi. Vấn đề chính là quan điểm về nhân quyền của chính quyền Hà Nội. Việt Nam đang theo đuổi quan điểm nhân quyền hai mặt: mặt ngoài thì ra vẻ chấp nhận; nhưng mặt bên trong thì đang tấn công ngầm vào những quan điểm nhân quyền của thế giới. Việt Nam không chấp nhận những thuộc tính căn bản của nhân quyền, ví dụ như tính phổ quát. Phổ quát có nghĩa là bất cứ con người ở nơi nào cũng có những quyền như nhau không phân biệt người đó thuộc chủng tộc, màu da, nam hay nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quan niệm, nguồn gốc, dân tộc, xã hội, tài sản, nguồn gốc, dòng dõi…Việt Nam không chấp nhận tính chất nhân quyền đó mà đòi thực hiện nhân quyền tùy theo điều kiện xã hội, kinh tế, lịch sử và chính trị. Việt Nam không chấp nhận thuộc tính bất khả phân chia của nhân quyền; tức không được phân chia ra những quyền nào muốn cho người dân được hưởng; ví dụ cho phép dân có quyền có niềm tin tôn giáo mà lại giới hạn quyền thực hiện niềm tin đó; hoặc nói dân có quyền tự do tư tưởng nhưng lại bắt bớ những người viết bài trên Internet..
Việt Nam cần phải xét lại quan niệm về nhân quyền mà chính quyền hiện dùng, xe có đúng với Công pháp quốc tế hay không, hay những quan niện mà các quốc gia khác trên thế giới thường dùng. Nếu không giải quyết vấn đề căn bản đó thì vẫn tiếp tục xảy ra chuyện Việt Nam nói không vi phạm nhân quyền, nhưng không ai trên thế giới có thể thông cảm cho Việt Nam được.
Tiến bộ trong kinh tế và tôn giáo
Gia Minh: Vậy việc đấu tranh cho những chuẩn chung đó giữa phía Việt Nam và các quốc gia cổ xúy cho nhân quyền cũng như các tổ chức như của ông thì ra sao?
Ông Vũ Quốc Dụng: Việt Nam trong những năm vừa qua cũng có một số tiến bộ, đặc biệt là quyền trong lĩnh vực kinh tế. Mặt này được quốc tế đánh giá nhiều lần là khá tốt. Trong lĩnh vực tự do tôn giáo thì Việt nam cũng có một số cải thiện, đặc biệt với Đạo Tin Lành. Những cải thiện này được đánh giá là sự hợp tác hiếm có giữa chính quyền Việt Nam và chính quyền các quốc gia khác, với các tổ chức Tin Lành, các tổ chức chuyên lo về quyền tự do tôn giáo ở ngoại quốc. Mặc dù còn có nhiều khó khăn nhưng hiện không còn bị đàn áp một cách dã man, tràn lan như xưa nữa. Những văn bản có giọng điệu thù nghịch với Đạo Tin Lành nay cũng bớt đi nhiều. Điều này cho thấy lo ngại trước đây của Việt Nam khi cho rằng Tin Lành là đạo của Mỹ, một phương tiện của diễn biến hòa bình, một đe dọa cho an ninh quốc gia là những điều không thực tế. Trong thực tế điều đó gây trở ngại hơn là giúp cho Việt Nam hội nhập vào thế giới.
Tuy vậy nhìn lại, thì vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề: Việt Nam không giải quyết êm đẹp vấn đề tranh chấp tài sản với Giáo hội Công giáo, bất chấp sự có mặt của phái đoàn Liên hiệp Âu Châu trong việc hành hung các tăng ni tại Chùa Phước Huệ hồi giữa tháng 12 này.
Nhân quyền không đe dọa an ninh quốc gia
Hồi tháng 5 vừa qua nhân phiên họp báo cáo định kỳ của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc, Việt Nam đã bác bỏ 46 trong số 150 khuyến nghị của các quốc gia trên thế giới. Đa số liên quan đến các quyền dân sự và chính trị; cũng như liên quan đến việc xây dựng một chế độ thượng tôn pháp luật tại Việt Nam. Hà Nội cũng từ chối mời những quốc gia về nhân quyền của Liên hiệp quốc được thường trực đến khảo sát tình hình nhân quyền tại Việt Nam.
Trong năm qua hợp tác với quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền có giảm bớt đi; đồng thời chính sách đàn áp lại cứng rắn hơn đối với những người trong nước. Đây là lĩnh vực mà trong năm tới quốc tế phải đối thoại với Việt Nam mạnh mẽ hơn nữa.
Gia Minh: Ngoài những biện pháp đã làm, thì những biện pháp mạnh mẽ đó cần phải làm như thế nào?
Ông Vũ Quốc Dụng: Chúng tôi chỉ xin phép nêu quan niện của Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế, một số đề nghị mà chúng tôi muốn đề nghị phía Việt Nam thực hiện. Trước hết Việt Nam cần xét lại toàn bộ hệ thống về quan niệm nhân quyền của Việt Nam, điều chỉnh cho phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Muốn làm việc đó, chính quyền Việt Nam cần từ bỏ tư thế phòng thủ đối với các vấn đề nhân quyền, phải ngưng xem nhân quyền là cớ cho việc xâm phạm chủ quyền, hay là can thiệp vào nội bộ của nước tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, phi chính trị hóa vấn đề nhân quyền, không xem vấn đề nhân quyền là an ninh quốc gia nữa. Ngược lại cần phải xem những đóng góp về nhân quyền như là những đề nghị xây dựng.
Tôi đã đi đến nhiều nước có trình độ phát triển kinh tế kém hơn Việt Nam,nhưng chính quyền ở đó có thái độ rất trân trọng đối với các phái đoàn nhân quyền. Họ tiếp thu và thực thi các góp ý về vấn đề nhân quyền, từ đó tiến rất nhanh vì gây được thiện cảm với cộng đồng thế giới. Nếu Việt Nam càng để có các phái đoàn nhân quyền thuộc Liên hiệp quốc, Liên hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, các tổ chức quốc tế đến thăm viếng, giám sát tình hình nhân quyền thì Việt Nam sẽ nhận được nhiều sự trợ giúp để cải thiện vấn đề nhân quyền hơn.
Một đề nghị cuối cùng của chúng tôi: Việt Nam cần nhanh chóng thay đổi các bộ luật trong nước cho phù hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia để tránh mâu thuẫn với luật quốc tế, đồng thời thúc đẩy cho việc tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam theo đúng các chuẩn mực quốc tế. Như thế sẽ giúp cho Việt Nam dễ hội nhập vào thế giới trong lĩnh vực nhân quyền hơn.
Gia Minh: Cám ơn Ông Vũ Quốc Dụng đã có những trình bày liên quan tình hình nhân quyền Việt Nam trong năm qua.
Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.
Subscribe to:
Posts (Atom)