Việt Nam sau Châu Âu 100 năm ánh sáng?
Thiện Giao, phóng viên đài RFA
2009-02-01
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Reading-blogs-viet-experts-in-education-on-vietnam-current-educational-system-tgiao-02012009102039.html
Tuần lễ đầu năm mới, hãy cùng nhau nói về chủ đề giáo dục và âm nhạc tại Việt Nam hiện nay.
Trong blog của tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn mà chương trình của chúng tôi đã nhiều lần trích dẫn, người trí thức nặng lòng với đất nước không chỉ nói về khoa học và giáo dục. Ông nói về nhiều đề tài khác nữa.
Chính sách quản lý âm nhạc
Trong một bài viết đăng ngày 11 tháng Giêng, tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn bàn qua về âm nhạc và chính sách quản lý âm nhạc của Việt Nam hiện nay. Ông thú nhận ngay, rằng “phải thú nhận một điều là mấy bản nhạc hip hop rất thịnh hành ngày nay không thể lọt tai” ông, đồng thời đề cập đến hiện tượng nhà nước thì tiếp tục cấm, trong khi quần chúng thì vẫn tiếp tục hát những ca khúc của các tác giả trước 1975.
“Trước 1975, âm nhạc ở trong tình hình “trăm hoa đua nở.” Bên cạnh những sáng tác “tào lao,” cũng có rất nhiều những hạt ngọc lấp lánh. Những sáng tác của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, v.v… nằm trong những “viên ngọc” đó.
Ấy thế mà một thời gian dài sau 1975 những ca khúc trữ tình đó không được phép lưu hành! Trên giấy tờ là như thế, nhưng trong quần chúng thì người dân vẫn ca những ca khúc này. Thật ra, những ngày mới sau giải phóng, tôi còn thấy bộ đội từ Bắc vào mê nhạc … Chế Linh như điếu đổ. Tôi thấy chẳng có gì sai, vì nghệ thuật là xuyên biên giới và phi chính trị mà. Ngày nay, thử vào những quán karaoke sẽ thấy “sức sống” của những ca khúc bị cấm như thế nào.”
Trong bài viết hồi đầu năm ngoái, và cũng đã được đề cập trên các chương trình của Đài chúng tôi, tờ Thanh Niên viết rằng có khoảng trên 10 ngàn bài hát được sáng tác trước 1975 trở ngược về thời điểm 1945, nhưng đến thời điểm hiện nay, chỉ mới có khoảng 1 ngàn bài được cấp giấy phép biểu diễn. Nói nôm na, cứ 10 được sáng tác thì hết 9 bài bị cấm.
Một hoạ sĩ hiện vẫn còn đang sinh sống tại Việt Nam, là ông Trịnh Cung, đã từng nói với chúng tôi, rằng người Sài Gòn “hát cho nhau nghe” đủ loại nhạc, nhưng giấy phép thì vẫn phải có … “chủ trương.”
“Bây giờ thì đã nghe được nhiều. Các phòng trà, các tụ điểm hát cho nhau nghe, người ta nghe và hát đủ loại nhạc của Sài Gòn cũ. Tuy nhiên, trên thị trường thì chưa được cho phép. Muốn cho phép thì phải đợi một chủ trương. Mà điều này thì gây khó khăn cho những nhà sản xuất băng đĩa nhạc.”
Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn nhận định trên bài viết của ông, rằng trong khi thông cảm với chính sách cấm một số ca khúc do tình hình giai đoạn hiện nay, ông không hiểu tại sao các tình khúc cũng bị cấm luôn.
“Thật ra, tôi cũng thông cảm với chính sách này, vì chắc chắn trong giai đoạn hiện nay, chính quyền không muốn những ca khúc tuyên truyền thời trước 75 (kiểu như “lòng súng nhân đạo”) lưu hành trong dân chúng. Mà, nếu những ca khúc tuyên truyền thời trước 1975 lưu hành thì chắc chắn quân đội sẽ phản đối. Có thể hiểu và thông cảm được. Nhưng còn những bài tình ca thì sao? Cần gì phải cấm đoán và phải xin phép?
Tôi không biết nước nào trên thế giới (ngoại trừ Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam) mà Nhà Nước quản lí đến từng ca khúc! Cách quản lí văn hóa của Việt Nam là cách làm của những thế kỉ đã qua. Mượn cách nói như GS Nguyễn Đăng Hưng, rằng “cách quản lí văn hóa ở nước ta và châu Âu cách nhau đến cả trăm năm ánh sáng.”
Lãnh vực giáo dục, đào tạo
“Cách quản lí văn hóa ở nước ta và châu Âu cách nhau đến cả trăm năm ánh sáng!” Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, một Việt kiều tại Bỉ, là sáng lập viên, điều phối viên chương trình liên kết đào tạo thạc sĩ Châu Âu giữa Đại Học Liege của Bỉ với một số đại học kỹ thuật tại Việt Nam, trong đó có Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh.
Chương trình của giáo sư Hưng kéo dài 15 năm, rất thành công, và đã đào tạo được hàng trăm thạc sĩ và hàng chục tiến sĩ trong ngành kỹ thuật cho Việt Nam.
Trong một bài viết đăng trên blog của ông gần đây, giáo sư Hưng cho biết ông vừa dành một cuộc trả lời phỏng vấn cho số báo xuân Kỷ Sửu của một tờ báo tại Sài Gòn.
Ông cũng cho đăng nguyên văn nội dung trả lời phỏng vấn với lời nhắc: “Bài phỏng vấn đề cập đến nhiều vấn đề thời sự khá tế nhị. Tôi không chắc nguyên văn sẽ được in tuy tôi đã cố gắng, theo thói quen, rất nhẹ nhàng trong cách phát biểu.”
GS TSKH Nguyễn Đăng Hưng. Photo courtesy of VietNamNet.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Reading-blogs-viet-experts-in-education-on-vietnam-current-educational-system-tgiao-02012009102039.html/nguyendanghung200.jpg
Bài trả lời phỏng vấn của giáo sư Hưng có đoạn:
“Tôi đã luôn luôn ý thức đến tính bấp bênh và phức tạp của việc mình thực hiện tại Việt Nam, đến tính giới hạn của nó trước những đòi hỏi cấp bách và to lớn của một quốc gia hơn 80 triệu dân đã quá lâu ngày bị khép kín và chệch hướng. Biết trước như thế nhưng vẫn lao vào công việc như là một bức bách của số phận, của hoàn cảnh, của tình thế. Chờ đợi không được nữa vì tuổi già đã vụt đến rồi. Phải có hành động cụ thể để bức xúc nguôi ngoai.
Tôi có cảm giác như dù phải yêu người tình không được trọn vẹn nhưng không thối lui được, không chối từ được. Và dĩ nhiên sau những thành quả ban đầu, mối tương quan thân thiết với đám học trò đã đem lại cho tôi vô vàn niềm vui, những bài học xã hội, những tấm tình ấm áp. Những phần thưởng này đối với tôi quý giá hơn bao nhiêu lần những bằng khen, những huân chương từ hai phía!”
Giáo sư Hưng cũng nói đến “những hạt sạn, những đố kỵ, dèm pha từ những phía không ngờ được, những người phe “bạn!”” Có kẻ vu khống ông với cơ quan chức năng, ngay cả với công an an ninh!
Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng nói với phóng viên rằng, ông “hằng mong đợi đợt đổi mới lần thứ hai nhưng có cảm tưởng việc này ngày càng lùi xa ra!” Sau đó tình trạng tham nhũng không những không giảm thiểu mà ngày càng trầm trọng, tác hại đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế … những phương tiện cần thiết để chống tham nhũng như báo chí, lại bị vô hiệu hóa một cách nhức nhối xót xa.
Và ông băn khoăn cả vấn đề quốc phòng của Việt Nam, khi viết rằng điều khiến ông lo lắng nhất “là thế đứng chiến lược; tuy đã là thành viên của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, nhưng vị thế an ninh quốc phòng Việt Nam, tương quan lực lượng vẫn còn quá chênh vênh trước những thế lực bành trướng tại biển Đông.”
Trở lại với lãnh vực giáo dục và đào tạo mà giáo sư Nguyễn Đăng Hưng đã giúp Việt Nam trong thời gian qua. Viết về thời điểm rút lui sau 15 năm làm việc, ông nói rằng ông “đã chấm dứt đúng lúc và trao lại những gì cần thiết cho các cơ quan chúc năng đôi bên. Sớm hơn thì hơi uổng, trễ hơn thì không tiện! Âu cũng là một quyết đinh khá sáng suốt!”
Ông nói thêm, một điều rất ngắn nhưng có thể khái quát được thực trạng đào tạo tại Việt Nam, là “thành lập tổ chức một cơ sở quốc tế giảng dạy tại Việt Nam sao khó thế. Còn chấm dứt thì vèo, chỉ một bức thư là xong!”
Vừa rồi là những nhận định về mặt âm nhạc, giáo dục và xã hội Việt Nam, được ghi nhận bởi 2 nhà khoa học gốc Việt nổi tiếng, là tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn và giáo sư Nguyễn Đăng Hưng. Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm, sàng lọc và gởi đến quí vị những hình thức thông tin trên Internet, trong các trang Blog cá nhân liên quan đến nhiều đề tài khác nhau và gởi đến quí vị trong các chương trình sau.
Mong quí vị đóng vai trò cầu nối giữa chúng tôi và các thông tin như vậy. Xin gởi cho chúng tôi các thông tin cùng đường liên kết đến các blog hữu ích mà quí vị đọc được, qua địa chỉ vietweb@rfa.org.
Sunday, February 1, 2009
TRUNG QUỐC BÀNH TRƯỚNG
Trung Quốc bành trướng
Đàn Chim Việt
Đăng ngày 29.01.09
http://danchimviet.com/articles/815/1/Trung-Quc-banh-trng/TrangPage1.html
LUÂN ĐÔN (AFP) - Trung quốc ngày càng có xu hướng dàn quân càng xa biên giới mình, những nhà phân tích quân sự cao cấp trong các bộ tham mưu đầu não cho biết như vậy hôm thứ Ba.
Các nhà phân tích ở Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (International Institute for Strategic Studies) cho biết quân lực Trung quốc không vì nền kinh tế suy yếu - dựa theo phê chuẩn của Ngân Hàng Thế Giới khiến họ có mức phát triển chậm nhất kể từ năm 1990 - mà lại gia giảm ngân sách quốc phòng của mình.
Nhận thấy hạm đội của Hải quân Trung quốc đang tuần dương chống hải tặc người Somali trong Vịnh Aden (Đông Phi châu và Trung Đông, giữa hai quốc gia Yemen và Somalia) để bảo vệ tàu buôn của mình đang đi lại qua đây, ông Nigel Inkster, giám đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế chuyên về những mối đe dọa và nguy cơ chính trị xuyên quốc gia, nói rằng "thế giới có thể tin cậy rằng Trung quốc sẽ có nhiều đóng góp quân sự hơn thế nữa."
"Hẳn rằng chúng ta đang ở gần cuối nếu không nói là đã đi qua giai đoạn (chủ thuyết) co cụm của Đặng Tiểu Bình," ông tuyên bố với phóng viên nhân một cuộc họp báo chí, nhắc đến nhà lãnh đạo Trung quốc trong những năm 1978 cho đến 1997.
Lực lượng tuần dương hải quân gồm có hai chiến hạm và một chiếc tàu tiếp tế, đánh dấu lần đầu tiên qua nhiều thế kỷ, Trung quốc đã có khả năng tiếp chiến ở ngoài hải phận mình.
Trong khi đó, ông Tim Huxley, nhân viên cao cấp nhất của bộ đầu não An Ninh Á châu Thái Bình Dương, gạt qua những lời bình là Trung quốc sẽ giới hạn ngân quỹ bành trướng quân sự của mình khi kinh tế đang đi xuống.
"Rõ ràng Trung quốc là một nước đang nghiêm chỉnh chú tâm vào chuyện phát triển năng lực quốc phòng của mình," ông Huxley nói.
"Trong vòng 10-15 năm vừa qua, Trung quốc đang có chiều hướng tăng trường ngân phí quân sự để củng cố sức mạnh của mình"
"Mọi chỉ dấu cho thấy, với những mục tiêu chiến lược và tư duy của một nước lớn, Trung quốc chủ trương hưởng đặc quyền đặc lợi của mình, và tiếp tục con đường bành trướng năng lực phòng thủ, đương nhiên họ sẽ gặt hái được nhiều thành quả."
Tháng Ba năm ngoái, Trung quốc tuyên bố ngân khoản quốc phòng sẽ gia tăng 17.6 phần trăm trong năm nay, đạt đến 57.2 tỉ Mỹ kim, tính theo mức hối xuất của năm 2007.
Tuy nhiên, quan ngại về chuyện minh bạch của những con số này làm ông Huxley nghĩ rằng kinh phí quân sự của Trung quốc sẽ có thể cao hơn 50 phần trăm những con số mà Trung quốc đã công bố.
Độc giả có thể đọc nguyên bản Anh ngữ tại: news.yahoo.com
© 2009 Đàn Chim Việt
Đàn Chim Việt
Đăng ngày 29.01.09
http://danchimviet.com/articles/815/1/Trung-Quc-banh-trng/TrangPage1.html
LUÂN ĐÔN (AFP) - Trung quốc ngày càng có xu hướng dàn quân càng xa biên giới mình, những nhà phân tích quân sự cao cấp trong các bộ tham mưu đầu não cho biết như vậy hôm thứ Ba.
Các nhà phân tích ở Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (International Institute for Strategic Studies) cho biết quân lực Trung quốc không vì nền kinh tế suy yếu - dựa theo phê chuẩn của Ngân Hàng Thế Giới khiến họ có mức phát triển chậm nhất kể từ năm 1990 - mà lại gia giảm ngân sách quốc phòng của mình.
Nhận thấy hạm đội của Hải quân Trung quốc đang tuần dương chống hải tặc người Somali trong Vịnh Aden (Đông Phi châu và Trung Đông, giữa hai quốc gia Yemen và Somalia) để bảo vệ tàu buôn của mình đang đi lại qua đây, ông Nigel Inkster, giám đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế chuyên về những mối đe dọa và nguy cơ chính trị xuyên quốc gia, nói rằng "thế giới có thể tin cậy rằng Trung quốc sẽ có nhiều đóng góp quân sự hơn thế nữa."
"Hẳn rằng chúng ta đang ở gần cuối nếu không nói là đã đi qua giai đoạn (chủ thuyết) co cụm của Đặng Tiểu Bình," ông tuyên bố với phóng viên nhân một cuộc họp báo chí, nhắc đến nhà lãnh đạo Trung quốc trong những năm 1978 cho đến 1997.
Lực lượng tuần dương hải quân gồm có hai chiến hạm và một chiếc tàu tiếp tế, đánh dấu lần đầu tiên qua nhiều thế kỷ, Trung quốc đã có khả năng tiếp chiến ở ngoài hải phận mình.
Trong khi đó, ông Tim Huxley, nhân viên cao cấp nhất của bộ đầu não An Ninh Á châu Thái Bình Dương, gạt qua những lời bình là Trung quốc sẽ giới hạn ngân quỹ bành trướng quân sự của mình khi kinh tế đang đi xuống.
"Rõ ràng Trung quốc là một nước đang nghiêm chỉnh chú tâm vào chuyện phát triển năng lực quốc phòng của mình," ông Huxley nói.
"Trong vòng 10-15 năm vừa qua, Trung quốc đang có chiều hướng tăng trường ngân phí quân sự để củng cố sức mạnh của mình"
"Mọi chỉ dấu cho thấy, với những mục tiêu chiến lược và tư duy của một nước lớn, Trung quốc chủ trương hưởng đặc quyền đặc lợi của mình, và tiếp tục con đường bành trướng năng lực phòng thủ, đương nhiên họ sẽ gặt hái được nhiều thành quả."
Tháng Ba năm ngoái, Trung quốc tuyên bố ngân khoản quốc phòng sẽ gia tăng 17.6 phần trăm trong năm nay, đạt đến 57.2 tỉ Mỹ kim, tính theo mức hối xuất của năm 2007.
Tuy nhiên, quan ngại về chuyện minh bạch của những con số này làm ông Huxley nghĩ rằng kinh phí quân sự của Trung quốc sẽ có thể cao hơn 50 phần trăm những con số mà Trung quốc đã công bố.
Độc giả có thể đọc nguyên bản Anh ngữ tại: news.yahoo.com
© 2009 Đàn Chim Việt
LAN SÓNG "THOÁI ĐẢNG" Ở HOA LỤC
Đại Kỷ Nguyên Thời Báo
Làn Sóng 'Thoái Đảng' ở Hoa Lục
Chủ nhật, 01 Tháng 2 2009 04:40
Xem bài và hình tại : http://vietdkn.com/v2/china/2-china/67-lan-song-thoai-ng-hoa-lc
Làn Sóng 'Thoái Đảng' ở Hoa Lục
Chủ nhật, 01 Tháng 2 2009 04:40
Xem bài và hình tại : http://vietdkn.com/v2/china/2-china/67-lan-song-thoai-ng-hoa-lc
VỪA MẤT HẲN ĐẤT NAY SẮP MẤT HẲN BIỂN
Vừa mất hẳn đất, nay sắp mất hẳn biển
Xã luận bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 68 (01-02-2009)
1- Việc hoàn tất chương trình cắm mốc cho 1400km biên giới Việt Trung vào cuối năm 2008 vừa qua, dựa theo hiệp ước phân định lãnh thổ năm 1999, đã gây ra cơn bão phẫn nộ của toàn thể đồng bào Việt Nam và sự ngỡ ngàng của nhiều chuyên gia quốc tế.
Xin bấm vào đây để tải xuống BNS TDNL số 68
Trước hết là Thư phản kháng chung, ký ngày 19-01-2009, của hơn 100 chính đảng, tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nước, chống lại việc nhượng đất nhượng biển vĩnh viễn cho Trung quốc nhân kỷ niệm 35 năm hải chiến Hoàng Sa. Bức thư chua chát viết: “Về mặt lãnh thổ, ngày 22-12-2008 vừa qua, hai thứ trưởng ngoại giao của Cộng hoà XHCN Việt Nam, ông Vũ Dũng và của Cộng hoà ND Trung Quốc, ông Vũ Đại Vỹ, đã gặp nhau ở phía Nam Hữu Nghị Quan (tức Ải Nam Quan cũ) để làm lễ cắm cột mốc số 1117 đánh dấu sự hoàn thành trong căn bản việc cắm gần 2000 cột mốc giữa hai nước... Lẽ ra “rào giậu tốt phải đem lại những quan hệ láng giềng tốt”, nhưng sự sắp xếp này giữa hai nhà cầm quyền Việt Trung, vì được thoả thuận trong bóng tối, công chúng không có tiếng nói, nên đã mang lại nhiều câu hỏi hơn là thực sự giải quyết các tranh chấp biên giới giữa đôi bên. Bằng chứng là qua 35 năm đàm phán… và hơn hai năm cật lực làm việc phân giới cắm mốc, đến cuối năm 2007 vẫn còn 15% các khu vực “hai bên có nhận thức khác nhau”… Trong khi đó, những mất mát nổi bật đã được ghi nhận ở thác Bản Giốc… Ải Nam Quan… và nhiều nơi khác (như ở Cao Bằng và khu vực Bãi Tục Lãm)”.
Trước Thư phản kháng trên mấy hôm, ngày 14-01-2009, nhiều cựu chiến binh và giáo chức khu vực Hà Đông-Hà Nội, trong nỗi niềm trăn trở về lãnh thổ lãnh hải Tổ quốc, đã cùng viết Bản Lên tiếng gởi lãnh đạo đảng CS như sau: “Nỗi đau của người Việt Nam trong nước và ngoài nước chưa một phút nguôi ngoai khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ 1974 và một phần quan trọng của quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc và nước ngoài cưỡng chiếm từ 1988… Nhiều năm qua phía Trung Quốc đã gây ra nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân Việt Nam, những ngư dân vô tội Việt Nam khai thác trên vùng biển thuộc lãnh hải từ ngàn xưa ông cha để lại đã nhiều lần bị tàu hải quân Trung quốc đuổi bắt, bắn giết dã man… (Vậy mà) ngày 02-01-2009, trả lời báo Điện tử Vietnamnet Thứ trưởng Bộ ngoại giao Vũ Dũng đã khẳng định như đinh đóng cột: “Không có chuyện Việt Nam mất đất, cắt đất cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin”…”. Rồi với con mắt của nhà giáo, quý thầy đã viết: “Vì sao rất nhiều sách giáo khoa, nhiều tài liệu và nhiều thế hệ học sinh được ghi nhận rằng: Diện tích phần đất liền của đất nước là 330.991 km2 và một phần biển có diện tích gấp nhiều lần phần đất liền (Niên giám thống kê 1996) thì lại có rất nhiều SGK in vào những năm 2006–2007 lại đưa ra con số 329.297 km2 cho diện tích phần đất liền (Niên giám thống kê 2003). Vậy diện tích 1694 km2 đến 2003 mất đi đâu?... ”
Phản ứng gần đây nhất và gây kinh ngạc nhất là giai phẩm Xuân Kỷ Sửu của Tổng cục Du lịch thuộc thuộc Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch CSVN. Bất chấp những răn đe từ Bộ Thông Tin và Truyền Thông, dù lẻ loi giữa 700 tờ báo công cụ, giai phẩm Xuân này vẫn lên tiếng ca ngợi những thanh niên, sinh viên từng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc (diễn ra từ tháng 12-2007 cho đến nay và luôn bị nhà cầm quyền ngăn chặn, đàn áp), vẫn lên tiếng khẳng định chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa là bất khả xâm phạm, lên tiếng kêu gọi bảo lãnh thổ và cảnh báo về họa ngoại xâm. Rồi để nói rõ hơn nữa lập trường của mình, Giai phẩm Xuân Du lịch còn nhiều bài viết khác nhấn mạnh Ải Nam Quan và nhiều vùng lãnh thổ, lãnh hải khác là phần không thể tách rời khỏi nước Việt. Nhóm chủ biên đã đưa cả bài thơ “Hận Nam Quan” (trong vở kịch thơ bất hủ của Hoàng Cầm) vào giai phẩm. Việc chọn đăng bài thơ bi tráng này hẳn nhằm phê phán tuyên bố của Vũ Dũng, thứ trưởng Ngoại Giao CSVN trên báo điện tử VietNamNet vào ngày 2-1-2009. Bất chấp lịch sử dân tộc và vô số chứng cứ khác, trong tuyên bố đó, Vũ Dũng đã trâng tráo bảo rằng: “Theo lịch sử, thác Bản Giốc, ải Nam Quan đã là của Trung Quốc từ đời nhà Minh, nhà Thanh”!?! Việc đăng Hận Nam Quan cũng đồng thời nhằm kết án tên đầu sỏ bán nước Hồ Chí Minh, kẻ mà trong bài “Ngọ Quá Thiên Giang” viết ngày 17-03-1950 (x. Hồ Chí Minh Toàn Tập cuốn 6, trang 22, ấn bản 2000), đã làm bốn câu ca ngợi chiến thắng của hồng quân Trung Cộng, mà câu cuối cùng là: “Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan!” (“Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan!”). Quả thật đây là cái tát tai giáng vào má các tiên nhân hào kiệt của đất nước, một bãi nước miếng nhổ vào mặt các anh hùng liệt sĩ của Tổ Quốc!
Tiến sĩ Trương Nhân Tuấn (đang sống tại Pháp), một trong những chuyên gia hàng đầu về vấn đề biên giới Trung-Việt, qua bài viết mới đây nhan đề: “Việt Nam và Trung Quốc đã hoàn tất công trình phân giới”, cũng đã viết: “Đường biên giới hai nước VN và TQ đã hiện hữu từ ngàn năm trước, công ước Pháp Thanh 1887 là chỉ thể hiện thực tế lịch sử đó mà thôi… Nhưng ngày hôm nay đảng CSVN đã làm thay đổi đường biên giới này, họ đã nhượng đất cho TQ, bất chấp sự thật lịch sử, bất chấp dư luận trong, ngoài nước. Do đó, mặc dầu với sự hỗ trợ của dàn trống kèn của trên 600 cơ quan truyền thông trong nước, ông Vũ Dũng vẫn không át được các lời tố cáo nhượng đất nhượng biển của đảng CSVN. Lời ông Vũ Dũng không thuyết phục được ai. Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm trước quốc dân và lịch sử về các hành vi nhượng đất (và biển) của mình cho TQ”.
2- Vậy là kể từ tên Nguyễn Ái Quốc (!?!), trải qua nhiều bộ chính trị đến 15 tên trong bộ chính trị hiện thời, khuôn mặt bè lũ mãi quốc cầu vinh (mà Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống chưa đáng là học trò) qua những biến cố trên ngày càng lộ rõ. Tuy nhiên, còn có một sự kiện khác vạch trần thêm tội lỗi của bọn tặc tử này. Xin nghe Lời báo động sau đây của một tổ chức người Việt yêu nước tại hải ngoại, Việt Nam Cộng Hòa Foundation:
“Ngày 13-05-2009 là thời hạn cuối cùng mà các Nước phải nộp bản đồ về lãnh hải của quốc gia mình cho Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa của Liên Hiệp Quốc. Một nguồn tin cho biết, đa số các Nước trên thế giới có liên quan đến biển đều đã nộp và hoàn tất các thủ tục, kể các các quốc gia vùng Đông Nam Á cũng đều nộp bản đồ về lãnh hải của quốc gia họ, nhưng riêng nhà Nước CHXHCN Việt Nam thì cho đến nay vẫn chưa thấy đệ nạp. Thông báo của LHQ đã có hơn 10 năm nay và ngày 13-05-2009 là thời hạn chót.
“Nếu đến thời hạn ấy mà Việt Cộng vẫn không đệ nạp thì biển Việt Nam xem như bị mất hàng triệu m2 một cách cố ý và có hệ thống. Nên nhớ rằng biển bao gồm các hải đảo, tài nguyên thiên nhiên kể cả việc sinh sống đánh cá của hàng triệu ngư dân Nước Việt. Trong khi đó Trung Cộng đã không che giấu ý đồ dùng sức mạnh xâm chiếm biển Đông, bành trướng lãnh thổ, lãnh hải, đồng hóa các Nước nhược tiểu và làm bá chủ Đông Nam Á, bất chấp các hòa ước, định ước quốc tế mà chính Trung Cộng đã ký kết, kể cả Công ước LHQ về Luật Biển đã ký với 118 quốc gia hội viên LHQ vào năm 1982.
“Việt Nam là một Nước đang bị Trung Cộng khống chế, xâm lấn một cách ngang ngược và thô bạo với sự đồng lõa của Đảng CSVN. Từ bức công hàm của Phạm Văn Đồng ký ngày 4-8-1958, Trung Cộng đã đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh chiếm Trường Sa năm 1988, đến hiệp định biên giới Việt Trung ký ngày 30-12-1999 rồi hiệp định lãnh hải Việt Trung ký ngày 25-12-2000 v.v... tất cả đều ký kết một cách bí mật mà ngay cả Quốc hội bù nhìn Việt Cộng cũng không được nghe, biết và quyết định. Từ đó VN đã mất đi ải Nam Quan, thác Bản Giốc, các địa danh và hàng ngàn cây số dọc theo biên giới. Riêng về lãnh hải, Trung Cộng lại đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi rồng từ thời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Minh Thành Tổ để nuốt trọn biển VN một cách trắng trợn.
“Thời hạn đệ nạp Bản đồ về biển đã gần kề. CSVN, kẻ đang quàng ách thống trị bạo tàn trên đất nước và dân tộc Việt Nam, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử. Nếu khiếp nhược yếu hèn không dám dùng xương máu để chống lại bọn bành trướng xâm lược Bắc Kinh thì cũng phải thực hiện những nguyên tắc mà Công ước quốc tế đã quy định cho mỗi quốc gia có chủ thể quyền lợi và tố quyền nhằm bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải một cách toàn vẹn”.
Theo lời một anh hùng Hoàng Sa, hạm trưởng kiêm học giả Vũ Hữu San (tác giả chính của Lời báo động trên), “Biển Ðông là nơi khai sinh nuôi dưỡng nền văn hóa nhuốm màu hàng hải của giống nòi Việt Tộc. Có thể nói Hoàng Sa Trường Sa là vùng mà người Việt mình sinh sống mấy chục ngàn năm trước. Rồi nước nó lên thì Tổ Tiên chúng ta mới đi vào đất liền sinh sôi nẩy nở cũng mấy chục ngàn năm. Chúng ta biết Biển Ðông là nguồn năng lượng khổng lồ. Tài nguyên dưới biển lớn lắm, người Tàu rất ham muốn! Vì vậy, chúng ta hiểu là họ cứ lấn lần lần…. Chúng tôi thấy rằng Trung Cộng không tôn trọng luật lệ quốc tế, mặc dù họ có ký… Hiện giờ, tình trạng Biển Ðông rất là nguy ngập. Mỗi lần ra tay là họ tàn sát người Việt trên Biển Ðông. Mỗi lần tàu bè của họ xuống Việt Nam là có mưu mô xâm lược. Hải quân Trung Cộng giết dân vô tội của ta nhiều lần. Người Trung Hoa chưa bao giờ quá tay trên biển như vậy với một nước lân bang, mà chỉ với người Việt của chúng ta!”
Trước hiểm họa thù trong giặc ngoài này, trông chờ CSVN nhớ lại tình tự dân tộc, đoàn kết toàn dân để chống Bắc phương chỉ là một ảo tưởng. Hơn 60 năm rồi, không thấy chúng quỵ lụy Tàu và dâng từng mảng đất Tổ cho Đại Hán sao? Toàn dân chỉ còn có cách là đuổi lũ vô tổ quốc này khỏi ghế quyền lực như một hình thức tế cờ, rồi cùng nhau đứng lên giải cứu Quê hương Đất nước khỏi cảnh mạt vận!!!
BAN BIÊN TẬP
Xã luận bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 68 (01-02-2009)
1- Việc hoàn tất chương trình cắm mốc cho 1400km biên giới Việt Trung vào cuối năm 2008 vừa qua, dựa theo hiệp ước phân định lãnh thổ năm 1999, đã gây ra cơn bão phẫn nộ của toàn thể đồng bào Việt Nam và sự ngỡ ngàng của nhiều chuyên gia quốc tế.
Xin bấm vào đây để tải xuống BNS TDNL số 68
Trước hết là Thư phản kháng chung, ký ngày 19-01-2009, của hơn 100 chính đảng, tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nước, chống lại việc nhượng đất nhượng biển vĩnh viễn cho Trung quốc nhân kỷ niệm 35 năm hải chiến Hoàng Sa. Bức thư chua chát viết: “Về mặt lãnh thổ, ngày 22-12-2008 vừa qua, hai thứ trưởng ngoại giao của Cộng hoà XHCN Việt Nam, ông Vũ Dũng và của Cộng hoà ND Trung Quốc, ông Vũ Đại Vỹ, đã gặp nhau ở phía Nam Hữu Nghị Quan (tức Ải Nam Quan cũ) để làm lễ cắm cột mốc số 1117 đánh dấu sự hoàn thành trong căn bản việc cắm gần 2000 cột mốc giữa hai nước... Lẽ ra “rào giậu tốt phải đem lại những quan hệ láng giềng tốt”, nhưng sự sắp xếp này giữa hai nhà cầm quyền Việt Trung, vì được thoả thuận trong bóng tối, công chúng không có tiếng nói, nên đã mang lại nhiều câu hỏi hơn là thực sự giải quyết các tranh chấp biên giới giữa đôi bên. Bằng chứng là qua 35 năm đàm phán… và hơn hai năm cật lực làm việc phân giới cắm mốc, đến cuối năm 2007 vẫn còn 15% các khu vực “hai bên có nhận thức khác nhau”… Trong khi đó, những mất mát nổi bật đã được ghi nhận ở thác Bản Giốc… Ải Nam Quan… và nhiều nơi khác (như ở Cao Bằng và khu vực Bãi Tục Lãm)”.
Trước Thư phản kháng trên mấy hôm, ngày 14-01-2009, nhiều cựu chiến binh và giáo chức khu vực Hà Đông-Hà Nội, trong nỗi niềm trăn trở về lãnh thổ lãnh hải Tổ quốc, đã cùng viết Bản Lên tiếng gởi lãnh đạo đảng CS như sau: “Nỗi đau của người Việt Nam trong nước và ngoài nước chưa một phút nguôi ngoai khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ 1974 và một phần quan trọng của quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc và nước ngoài cưỡng chiếm từ 1988… Nhiều năm qua phía Trung Quốc đã gây ra nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân Việt Nam, những ngư dân vô tội Việt Nam khai thác trên vùng biển thuộc lãnh hải từ ngàn xưa ông cha để lại đã nhiều lần bị tàu hải quân Trung quốc đuổi bắt, bắn giết dã man… (Vậy mà) ngày 02-01-2009, trả lời báo Điện tử Vietnamnet Thứ trưởng Bộ ngoại giao Vũ Dũng đã khẳng định như đinh đóng cột: “Không có chuyện Việt Nam mất đất, cắt đất cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin”…”. Rồi với con mắt của nhà giáo, quý thầy đã viết: “Vì sao rất nhiều sách giáo khoa, nhiều tài liệu và nhiều thế hệ học sinh được ghi nhận rằng: Diện tích phần đất liền của đất nước là 330.991 km2 và một phần biển có diện tích gấp nhiều lần phần đất liền (Niên giám thống kê 1996) thì lại có rất nhiều SGK in vào những năm 2006–2007 lại đưa ra con số 329.297 km2 cho diện tích phần đất liền (Niên giám thống kê 2003). Vậy diện tích 1694 km2 đến 2003 mất đi đâu?... ”
Phản ứng gần đây nhất và gây kinh ngạc nhất là giai phẩm Xuân Kỷ Sửu của Tổng cục Du lịch thuộc thuộc Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch CSVN. Bất chấp những răn đe từ Bộ Thông Tin và Truyền Thông, dù lẻ loi giữa 700 tờ báo công cụ, giai phẩm Xuân này vẫn lên tiếng ca ngợi những thanh niên, sinh viên từng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc (diễn ra từ tháng 12-2007 cho đến nay và luôn bị nhà cầm quyền ngăn chặn, đàn áp), vẫn lên tiếng khẳng định chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa là bất khả xâm phạm, lên tiếng kêu gọi bảo lãnh thổ và cảnh báo về họa ngoại xâm. Rồi để nói rõ hơn nữa lập trường của mình, Giai phẩm Xuân Du lịch còn nhiều bài viết khác nhấn mạnh Ải Nam Quan và nhiều vùng lãnh thổ, lãnh hải khác là phần không thể tách rời khỏi nước Việt. Nhóm chủ biên đã đưa cả bài thơ “Hận Nam Quan” (trong vở kịch thơ bất hủ của Hoàng Cầm) vào giai phẩm. Việc chọn đăng bài thơ bi tráng này hẳn nhằm phê phán tuyên bố của Vũ Dũng, thứ trưởng Ngoại Giao CSVN trên báo điện tử VietNamNet vào ngày 2-1-2009. Bất chấp lịch sử dân tộc và vô số chứng cứ khác, trong tuyên bố đó, Vũ Dũng đã trâng tráo bảo rằng: “Theo lịch sử, thác Bản Giốc, ải Nam Quan đã là của Trung Quốc từ đời nhà Minh, nhà Thanh”!?! Việc đăng Hận Nam Quan cũng đồng thời nhằm kết án tên đầu sỏ bán nước Hồ Chí Minh, kẻ mà trong bài “Ngọ Quá Thiên Giang” viết ngày 17-03-1950 (x. Hồ Chí Minh Toàn Tập cuốn 6, trang 22, ấn bản 2000), đã làm bốn câu ca ngợi chiến thắng của hồng quân Trung Cộng, mà câu cuối cùng là: “Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan!” (“Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan!”). Quả thật đây là cái tát tai giáng vào má các tiên nhân hào kiệt của đất nước, một bãi nước miếng nhổ vào mặt các anh hùng liệt sĩ của Tổ Quốc!
Tiến sĩ Trương Nhân Tuấn (đang sống tại Pháp), một trong những chuyên gia hàng đầu về vấn đề biên giới Trung-Việt, qua bài viết mới đây nhan đề: “Việt Nam và Trung Quốc đã hoàn tất công trình phân giới”, cũng đã viết: “Đường biên giới hai nước VN và TQ đã hiện hữu từ ngàn năm trước, công ước Pháp Thanh 1887 là chỉ thể hiện thực tế lịch sử đó mà thôi… Nhưng ngày hôm nay đảng CSVN đã làm thay đổi đường biên giới này, họ đã nhượng đất cho TQ, bất chấp sự thật lịch sử, bất chấp dư luận trong, ngoài nước. Do đó, mặc dầu với sự hỗ trợ của dàn trống kèn của trên 600 cơ quan truyền thông trong nước, ông Vũ Dũng vẫn không át được các lời tố cáo nhượng đất nhượng biển của đảng CSVN. Lời ông Vũ Dũng không thuyết phục được ai. Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm trước quốc dân và lịch sử về các hành vi nhượng đất (và biển) của mình cho TQ”.
2- Vậy là kể từ tên Nguyễn Ái Quốc (!?!), trải qua nhiều bộ chính trị đến 15 tên trong bộ chính trị hiện thời, khuôn mặt bè lũ mãi quốc cầu vinh (mà Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống chưa đáng là học trò) qua những biến cố trên ngày càng lộ rõ. Tuy nhiên, còn có một sự kiện khác vạch trần thêm tội lỗi của bọn tặc tử này. Xin nghe Lời báo động sau đây của một tổ chức người Việt yêu nước tại hải ngoại, Việt Nam Cộng Hòa Foundation:
“Ngày 13-05-2009 là thời hạn cuối cùng mà các Nước phải nộp bản đồ về lãnh hải của quốc gia mình cho Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa của Liên Hiệp Quốc. Một nguồn tin cho biết, đa số các Nước trên thế giới có liên quan đến biển đều đã nộp và hoàn tất các thủ tục, kể các các quốc gia vùng Đông Nam Á cũng đều nộp bản đồ về lãnh hải của quốc gia họ, nhưng riêng nhà Nước CHXHCN Việt Nam thì cho đến nay vẫn chưa thấy đệ nạp. Thông báo của LHQ đã có hơn 10 năm nay và ngày 13-05-2009 là thời hạn chót.
“Nếu đến thời hạn ấy mà Việt Cộng vẫn không đệ nạp thì biển Việt Nam xem như bị mất hàng triệu m2 một cách cố ý và có hệ thống. Nên nhớ rằng biển bao gồm các hải đảo, tài nguyên thiên nhiên kể cả việc sinh sống đánh cá của hàng triệu ngư dân Nước Việt. Trong khi đó Trung Cộng đã không che giấu ý đồ dùng sức mạnh xâm chiếm biển Đông, bành trướng lãnh thổ, lãnh hải, đồng hóa các Nước nhược tiểu và làm bá chủ Đông Nam Á, bất chấp các hòa ước, định ước quốc tế mà chính Trung Cộng đã ký kết, kể cả Công ước LHQ về Luật Biển đã ký với 118 quốc gia hội viên LHQ vào năm 1982.
“Việt Nam là một Nước đang bị Trung Cộng khống chế, xâm lấn một cách ngang ngược và thô bạo với sự đồng lõa của Đảng CSVN. Từ bức công hàm của Phạm Văn Đồng ký ngày 4-8-1958, Trung Cộng đã đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh chiếm Trường Sa năm 1988, đến hiệp định biên giới Việt Trung ký ngày 30-12-1999 rồi hiệp định lãnh hải Việt Trung ký ngày 25-12-2000 v.v... tất cả đều ký kết một cách bí mật mà ngay cả Quốc hội bù nhìn Việt Cộng cũng không được nghe, biết và quyết định. Từ đó VN đã mất đi ải Nam Quan, thác Bản Giốc, các địa danh và hàng ngàn cây số dọc theo biên giới. Riêng về lãnh hải, Trung Cộng lại đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi rồng từ thời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Minh Thành Tổ để nuốt trọn biển VN một cách trắng trợn.
“Thời hạn đệ nạp Bản đồ về biển đã gần kề. CSVN, kẻ đang quàng ách thống trị bạo tàn trên đất nước và dân tộc Việt Nam, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử. Nếu khiếp nhược yếu hèn không dám dùng xương máu để chống lại bọn bành trướng xâm lược Bắc Kinh thì cũng phải thực hiện những nguyên tắc mà Công ước quốc tế đã quy định cho mỗi quốc gia có chủ thể quyền lợi và tố quyền nhằm bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải một cách toàn vẹn”.
Theo lời một anh hùng Hoàng Sa, hạm trưởng kiêm học giả Vũ Hữu San (tác giả chính của Lời báo động trên), “Biển Ðông là nơi khai sinh nuôi dưỡng nền văn hóa nhuốm màu hàng hải của giống nòi Việt Tộc. Có thể nói Hoàng Sa Trường Sa là vùng mà người Việt mình sinh sống mấy chục ngàn năm trước. Rồi nước nó lên thì Tổ Tiên chúng ta mới đi vào đất liền sinh sôi nẩy nở cũng mấy chục ngàn năm. Chúng ta biết Biển Ðông là nguồn năng lượng khổng lồ. Tài nguyên dưới biển lớn lắm, người Tàu rất ham muốn! Vì vậy, chúng ta hiểu là họ cứ lấn lần lần…. Chúng tôi thấy rằng Trung Cộng không tôn trọng luật lệ quốc tế, mặc dù họ có ký… Hiện giờ, tình trạng Biển Ðông rất là nguy ngập. Mỗi lần ra tay là họ tàn sát người Việt trên Biển Ðông. Mỗi lần tàu bè của họ xuống Việt Nam là có mưu mô xâm lược. Hải quân Trung Cộng giết dân vô tội của ta nhiều lần. Người Trung Hoa chưa bao giờ quá tay trên biển như vậy với một nước lân bang, mà chỉ với người Việt của chúng ta!”
Trước hiểm họa thù trong giặc ngoài này, trông chờ CSVN nhớ lại tình tự dân tộc, đoàn kết toàn dân để chống Bắc phương chỉ là một ảo tưởng. Hơn 60 năm rồi, không thấy chúng quỵ lụy Tàu và dâng từng mảng đất Tổ cho Đại Hán sao? Toàn dân chỉ còn có cách là đuổi lũ vô tổ quốc này khỏi ghế quyền lực như một hình thức tế cờ, rồi cùng nhau đứng lên giải cứu Quê hương Đất nước khỏi cảnh mạt vận!!!
BAN BIÊN TẬP
KHI ĐẢNG CẦU CẠNH THẦN THÁNH
Khi Đảng cầu cạnh thần thánh
Hoàng Cúc
Đăng ngày 01/02/2009 lúc 00:00:00 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3500
Những năm giữa thế kỉ 20, làn sóng đỏ lan tràn trên thế giới. Các nhóm cộng sản đã khá nhanh nhạy chộp lấy cơ hội ngàn vàng khi thế giới đang biến động mạnh để leo lên giành quyền lãnh đạo ở nhiều nước. Với trang bị lí luận là “chủ nghĩa duy vật biện chứng” và “chủ nghĩa duy vật lịch sử”, họ đã phủ nhận triệt để quá khứ để bắt tay xây dựng thiên đường ngay trên mặt đất. Những “thắng lợi dồn dập của phong trào cách mạng thế giới” đã khiến rất nhiều người chỉ còn nhìn thấy màu hồng nơi mọi hiện tượng; nhưng với đa số các lãnh tụ, chủ nghĩa cộng sản và công cụ “chuyên chính vô sản” đơn giản chỉ là phương tiện tuyệt vời để họ trở thành những hoàng đế, những giáo chủ toàn năng của một tôn giáo mới, trong khi chính họ dường như lại rất e dè với thế giới thần thánh cũ. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin kể ra vài hiện tượng để độc giả có dịp ghé mắt nhìn qua cái gọi là vô thần trong giới lãnh đạo tại Việt Nam.
Dấm dúi với thần thánh
Người am hiểu nội tình của chế độ đều biết rằng ngay từ đầu, những lãnh tụ cao nhất của chính thể cộng sản Việt Nam đã không hề vô thần. Cứ trong khoảng một tuần từ ngày nhậm chức, các đồng chí vô thần gộc đều đến lễ bái tại đền Lý Bát Đế ở Đình Bảng, Bắc Ninh, để xin được yên vị trên ngai. Độc giả có dịp ghé qua ngôi đền này sẽ được đồng chí trông đền hướng dẫn theo phong cách rất “duy vật biện chứng”, nhưng quan trọng hơn, độc giả nên quan sát những hàng cây trước đền với biển đề danh tính, chức vụ ngày thăm viếng của tất cả các đồng chí tai to mặt lớn trong đảng và chính phủ. Với dụng cụ chuyên chính vô sản trong tay, các đồng chí vẫn chưa yên tâm nên phải tới xếp hàng xin xỏ chút ân huệ và sự che chở của thánh thần.
Cũng cần nói thêm rằng khi lớp sơn hào nhoáng của thứ thần thánh từng được gọi tên “chủ nghĩa Mác Lênin vô địch” đã hết màu xuân sắc và lớp cốt tàn tạ hiện ra nát mủn dưới ánh sáng mặt trời, đám tín đồ từng một thời tung hô lên tận trời xanh vị thánh vô địch nay chợt ú ớ những lời huênh hoang sáo rỗng. Với bản chất lưu manh chụp giật, họ tìm cách lân la với những thần thánh xa xưa theo cách ngày càng lộ liễu và trơ tráo hơn.
Vậy nên từ vài chục năm nay, hầu như mỗi đồng chí lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước đều tậu cho mình một vài thầy pháp hoặc thầy chùa riêng, thậm chí xây dựng đền chùa ngay trong khuôn viên biệt điện của gia đình để tiện bề cúng vái.
Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người
Các đồng chí vô thần mà lại chơi bài khấn xin đồng cốt thì dù sao cũng không ổn lắm. Chuyện này cần phải suy nghĩ chút xíu, nhưng với các đồng chí, đây chỉ là chuyện rất nhỏ. Bài đánh tráo khái niệm, nghĩa là gán cho những hiện tượng hay sự vật cũ một cái tên mĩ miều dễ lọt tai vốn là sở trường của các đồng chí. Và như thế, một ngày đẹp trời, “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người” xuất hiện đàng hoàng dưới ánh mặt trời chói chang của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Dĩ nhiên, trước đó, báo chí của các đồng chí đã đưa tin từ từ và rất có kế hoạch về những “nhà ngoại cảm”, những cô đồng bà cốt nơi nọ nơi kia trổ tài trước cặp mắt kinh ngạc của “nhà khoa học” kia hay vị “giáo sư tiến sĩ” nọ. Rồi những tin tức như thế cứ tuần tự xuất hiện trên mặt báo “theo định hướng” rất nhịp nhàng tự nhiên.
Đi xa hơn đôi chút, các đồng chí cho xây dựng đền thờ của ai đó khắp nơi trên đất nước, rồi phát tán một đoạn ghi hình ảnh và âm thanh chuyện đồng chí Minh râu nhập vào một cô đồng nói chất giọng đàn ông xứ Nghệ, có sự chứng kiến của một vị tướng và một vài người khác, dạy dỗ dặn dò cứ như một anh chính trị viên! Rồi một ngày đẹp trời, đồng chí Minh râu vào chùa ngồi chễm chệ sánh vai cùng Đức Phật từ bi. Sự nghiệp thần hoá đồng chí như thế kể như cũng đã gần tới đích.
Trò tráo đổi và chộp giật với cả thần thánh như thế dù sao cũng ru ngủ và lừa lọc được không ít người “nhẹ dạ cả tin”. Khoa học tâm linh trong trường hỡp này thực chất chỉ là biến tướng của những loại bói toán lên đồng, thậm chí là kiểu loè bịp của những kẻ đang cố tìm một chỗ bấu víu cho chế độ khi tất cả những lí tưởng hão huyền của một thời lần lượt vỡ vụn và sụp đổ tan tành.
Cuốc cuốc tự
Tại Bình Dương cách đây vài năm, Dũng Lò Vôi đã cho xây dựng Đại Nam Quốc Tự với qui mô đồ sộ, phong cách pha trộn đủ mọi thứ hoa hoè hoa sói. Người biết chuyện cho rằng Dũng Lò Vôi làm việc đó chính là nhằm giải hạn cho quan thầy Nguyễn Minh Triết. Rồi sau đó, Nguyễn Minh Triết cứ tai qua nạn khỏi như có phép mầu. Vậy là trên khắp nước, quan to xây đền to, quan nhỏ xây đền nhỏ, cứ y hệt như phong trào “bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng” ngày nào.
Gần đây hơn, ở ngay Ninh Bình, đường dây quan tham Nguyễn Việt Tiến đã rước thầy rước thợ xây cất ngôi chùa Bái Đính với qui mô đồ sộ nhất Việt Nam. Khi ai đó phát hiện ra rằng việc xây dựng chùa Bái Đính giống như cơ hội ngàn vàng giải hạn cho chế độ cộng sản hiện nay, cũng là lúc Nguyễn Việt Tiến ra khỏi lao lung và xuất hiện như một vị hộ pháp của đảng. Việc xây chùa Bái Đính trở thành mối bận tâm của “toàn đảng, toàn dân và toàn quân”. Dịp lễ Vesak, quan cao quan thấp cùng sư sãi lớn nhỏ kéo nhau về tạm khánh thành ngôi chùa, thầy pháp Tàu được rước về đăng đàn trai giới để yểm tâm cho ba pho tượng Phật bằng đồng lớn nhất tại Việt Nam. Ngôi chùa này nghiễm nhiên trở thành quốc tự với đảng và chính phủ. Cũng vì thế, ở khuôn viên vườn hoa phía trước ngôi chùa cổ, tức là phía sau ngôi chùa mới, các vị lãnh đạo đảng và chính phủ lại đem cây tới trồng, lại đặt biển đề danh tính, chức vụ và ngày tháng viếng thăm.
Cách chùa Bái Đính không xa, du khách có thể thăm khu di tích Cố Đô Hoa Lư, nơi ghi dấu hai triều đại Đinh – Lê. Ở phía cửa Bắc của Đền Vua Đinh, du khách có thể đọc dòng chữ Hán “Bắc môn toả thược”, giải thích một cách nôm na là lời căn dặn dành cho hậu thế người Việt rằng đối với phương Bắc nhớ phải cửa đóng then cài cho kĩ.
Một điều kì lạ là ngôi chùa Bái Đính được xây dựng theo hướng đại kị của thuật phong thuỷ. Gã thầy Tàu lấy cớ rằng ngôi chùa hướng về làng Đại Hữu, quê hương Đinh Bộ Lĩnh, nên đặt ngôi chùa ở vị trí trống trải chầu thẳng về hướng chính Bắc, cửa mở toang hoang. Những công nhân xây dựng ngôi chùa không giấu vẻ tự hào với ý nghĩ rằng chúng tôi đang làm nên lịch sử. Họ cũng không ngần ngại cho biết tất cả cách bố trí đều có thầy Tàu hướng dẫn. Mọi chi tiết từ câu đối đến trang trí đều do thầy Tàu chỉ dạy! Nếu quả thật như thế, không biết có nên gọi ngôi chùa này là “Việt Nam Vong Quốc Tự”?
Dẫu sao, vài hiện tượng như thế cũng giúp ta phần nào thấy được rằng chính quyền cai trị dân bằng nỗi sợ, rồi cũng chính nỗi sợ khiến họ trơ tráo dấm dúi với thần thánh. Khi thành trì lí luận đã tan thành mây khói, những kẻ từng một thời ra rả vô thần nay hiện nguyên hình là những gã chụp giật ngay cả với thần thánh, chạy theo đủ loại dị đoan, tin vơ thờ quấy.
Bài viết có lẽ nên dừng ở đây. Nhiều độc giả hẳn muốn tôi đưa thêm vài chứng cứ. Thực ra tôi chỉ kể ra đôi điều mình biết, phần còn lại, xin mời độc giả thân hành tới tận nơi quan sát. Vả lại, ở Việt Nam mình, những chuyện bình thường, hoàn toàn có thể đưa ra ánh sáng mặt trời như chuyện lấy vợ, sinh con, người ta còn tìm đủ mọi cách bưng bít, thì chuyện các đồng chí chịu để lộ chừng đó chân tướng thiết nghĩ là đã quá nhiều để ai cần có thể đưa ra một vài kết luận.
Hoàng Cúc
© Thông Luận 2009
Hoàng Cúc
Đăng ngày 01/02/2009 lúc 00:00:00 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3500
Những năm giữa thế kỉ 20, làn sóng đỏ lan tràn trên thế giới. Các nhóm cộng sản đã khá nhanh nhạy chộp lấy cơ hội ngàn vàng khi thế giới đang biến động mạnh để leo lên giành quyền lãnh đạo ở nhiều nước. Với trang bị lí luận là “chủ nghĩa duy vật biện chứng” và “chủ nghĩa duy vật lịch sử”, họ đã phủ nhận triệt để quá khứ để bắt tay xây dựng thiên đường ngay trên mặt đất. Những “thắng lợi dồn dập của phong trào cách mạng thế giới” đã khiến rất nhiều người chỉ còn nhìn thấy màu hồng nơi mọi hiện tượng; nhưng với đa số các lãnh tụ, chủ nghĩa cộng sản và công cụ “chuyên chính vô sản” đơn giản chỉ là phương tiện tuyệt vời để họ trở thành những hoàng đế, những giáo chủ toàn năng của một tôn giáo mới, trong khi chính họ dường như lại rất e dè với thế giới thần thánh cũ. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin kể ra vài hiện tượng để độc giả có dịp ghé mắt nhìn qua cái gọi là vô thần trong giới lãnh đạo tại Việt Nam.
Dấm dúi với thần thánh
Người am hiểu nội tình của chế độ đều biết rằng ngay từ đầu, những lãnh tụ cao nhất của chính thể cộng sản Việt Nam đã không hề vô thần. Cứ trong khoảng một tuần từ ngày nhậm chức, các đồng chí vô thần gộc đều đến lễ bái tại đền Lý Bát Đế ở Đình Bảng, Bắc Ninh, để xin được yên vị trên ngai. Độc giả có dịp ghé qua ngôi đền này sẽ được đồng chí trông đền hướng dẫn theo phong cách rất “duy vật biện chứng”, nhưng quan trọng hơn, độc giả nên quan sát những hàng cây trước đền với biển đề danh tính, chức vụ ngày thăm viếng của tất cả các đồng chí tai to mặt lớn trong đảng và chính phủ. Với dụng cụ chuyên chính vô sản trong tay, các đồng chí vẫn chưa yên tâm nên phải tới xếp hàng xin xỏ chút ân huệ và sự che chở của thánh thần.
Cũng cần nói thêm rằng khi lớp sơn hào nhoáng của thứ thần thánh từng được gọi tên “chủ nghĩa Mác Lênin vô địch” đã hết màu xuân sắc và lớp cốt tàn tạ hiện ra nát mủn dưới ánh sáng mặt trời, đám tín đồ từng một thời tung hô lên tận trời xanh vị thánh vô địch nay chợt ú ớ những lời huênh hoang sáo rỗng. Với bản chất lưu manh chụp giật, họ tìm cách lân la với những thần thánh xa xưa theo cách ngày càng lộ liễu và trơ tráo hơn.
Vậy nên từ vài chục năm nay, hầu như mỗi đồng chí lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước đều tậu cho mình một vài thầy pháp hoặc thầy chùa riêng, thậm chí xây dựng đền chùa ngay trong khuôn viên biệt điện của gia đình để tiện bề cúng vái.
Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người
Các đồng chí vô thần mà lại chơi bài khấn xin đồng cốt thì dù sao cũng không ổn lắm. Chuyện này cần phải suy nghĩ chút xíu, nhưng với các đồng chí, đây chỉ là chuyện rất nhỏ. Bài đánh tráo khái niệm, nghĩa là gán cho những hiện tượng hay sự vật cũ một cái tên mĩ miều dễ lọt tai vốn là sở trường của các đồng chí. Và như thế, một ngày đẹp trời, “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người” xuất hiện đàng hoàng dưới ánh mặt trời chói chang của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Dĩ nhiên, trước đó, báo chí của các đồng chí đã đưa tin từ từ và rất có kế hoạch về những “nhà ngoại cảm”, những cô đồng bà cốt nơi nọ nơi kia trổ tài trước cặp mắt kinh ngạc của “nhà khoa học” kia hay vị “giáo sư tiến sĩ” nọ. Rồi những tin tức như thế cứ tuần tự xuất hiện trên mặt báo “theo định hướng” rất nhịp nhàng tự nhiên.
Đi xa hơn đôi chút, các đồng chí cho xây dựng đền thờ của ai đó khắp nơi trên đất nước, rồi phát tán một đoạn ghi hình ảnh và âm thanh chuyện đồng chí Minh râu nhập vào một cô đồng nói chất giọng đàn ông xứ Nghệ, có sự chứng kiến của một vị tướng và một vài người khác, dạy dỗ dặn dò cứ như một anh chính trị viên! Rồi một ngày đẹp trời, đồng chí Minh râu vào chùa ngồi chễm chệ sánh vai cùng Đức Phật từ bi. Sự nghiệp thần hoá đồng chí như thế kể như cũng đã gần tới đích.
Trò tráo đổi và chộp giật với cả thần thánh như thế dù sao cũng ru ngủ và lừa lọc được không ít người “nhẹ dạ cả tin”. Khoa học tâm linh trong trường hỡp này thực chất chỉ là biến tướng của những loại bói toán lên đồng, thậm chí là kiểu loè bịp của những kẻ đang cố tìm một chỗ bấu víu cho chế độ khi tất cả những lí tưởng hão huyền của một thời lần lượt vỡ vụn và sụp đổ tan tành.
Cuốc cuốc tự
Tại Bình Dương cách đây vài năm, Dũng Lò Vôi đã cho xây dựng Đại Nam Quốc Tự với qui mô đồ sộ, phong cách pha trộn đủ mọi thứ hoa hoè hoa sói. Người biết chuyện cho rằng Dũng Lò Vôi làm việc đó chính là nhằm giải hạn cho quan thầy Nguyễn Minh Triết. Rồi sau đó, Nguyễn Minh Triết cứ tai qua nạn khỏi như có phép mầu. Vậy là trên khắp nước, quan to xây đền to, quan nhỏ xây đền nhỏ, cứ y hệt như phong trào “bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng” ngày nào.
Gần đây hơn, ở ngay Ninh Bình, đường dây quan tham Nguyễn Việt Tiến đã rước thầy rước thợ xây cất ngôi chùa Bái Đính với qui mô đồ sộ nhất Việt Nam. Khi ai đó phát hiện ra rằng việc xây dựng chùa Bái Đính giống như cơ hội ngàn vàng giải hạn cho chế độ cộng sản hiện nay, cũng là lúc Nguyễn Việt Tiến ra khỏi lao lung và xuất hiện như một vị hộ pháp của đảng. Việc xây chùa Bái Đính trở thành mối bận tâm của “toàn đảng, toàn dân và toàn quân”. Dịp lễ Vesak, quan cao quan thấp cùng sư sãi lớn nhỏ kéo nhau về tạm khánh thành ngôi chùa, thầy pháp Tàu được rước về đăng đàn trai giới để yểm tâm cho ba pho tượng Phật bằng đồng lớn nhất tại Việt Nam. Ngôi chùa này nghiễm nhiên trở thành quốc tự với đảng và chính phủ. Cũng vì thế, ở khuôn viên vườn hoa phía trước ngôi chùa cổ, tức là phía sau ngôi chùa mới, các vị lãnh đạo đảng và chính phủ lại đem cây tới trồng, lại đặt biển đề danh tính, chức vụ và ngày tháng viếng thăm.
Cách chùa Bái Đính không xa, du khách có thể thăm khu di tích Cố Đô Hoa Lư, nơi ghi dấu hai triều đại Đinh – Lê. Ở phía cửa Bắc của Đền Vua Đinh, du khách có thể đọc dòng chữ Hán “Bắc môn toả thược”, giải thích một cách nôm na là lời căn dặn dành cho hậu thế người Việt rằng đối với phương Bắc nhớ phải cửa đóng then cài cho kĩ.
Một điều kì lạ là ngôi chùa Bái Đính được xây dựng theo hướng đại kị của thuật phong thuỷ. Gã thầy Tàu lấy cớ rằng ngôi chùa hướng về làng Đại Hữu, quê hương Đinh Bộ Lĩnh, nên đặt ngôi chùa ở vị trí trống trải chầu thẳng về hướng chính Bắc, cửa mở toang hoang. Những công nhân xây dựng ngôi chùa không giấu vẻ tự hào với ý nghĩ rằng chúng tôi đang làm nên lịch sử. Họ cũng không ngần ngại cho biết tất cả cách bố trí đều có thầy Tàu hướng dẫn. Mọi chi tiết từ câu đối đến trang trí đều do thầy Tàu chỉ dạy! Nếu quả thật như thế, không biết có nên gọi ngôi chùa này là “Việt Nam Vong Quốc Tự”?
Dẫu sao, vài hiện tượng như thế cũng giúp ta phần nào thấy được rằng chính quyền cai trị dân bằng nỗi sợ, rồi cũng chính nỗi sợ khiến họ trơ tráo dấm dúi với thần thánh. Khi thành trì lí luận đã tan thành mây khói, những kẻ từng một thời ra rả vô thần nay hiện nguyên hình là những gã chụp giật ngay cả với thần thánh, chạy theo đủ loại dị đoan, tin vơ thờ quấy.
Bài viết có lẽ nên dừng ở đây. Nhiều độc giả hẳn muốn tôi đưa thêm vài chứng cứ. Thực ra tôi chỉ kể ra đôi điều mình biết, phần còn lại, xin mời độc giả thân hành tới tận nơi quan sát. Vả lại, ở Việt Nam mình, những chuyện bình thường, hoàn toàn có thể đưa ra ánh sáng mặt trời như chuyện lấy vợ, sinh con, người ta còn tìm đủ mọi cách bưng bít, thì chuyện các đồng chí chịu để lộ chừng đó chân tướng thiết nghĩ là đã quá nhiều để ai cần có thể đưa ra một vài kết luận.
Hoàng Cúc
© Thông Luận 2009
LỜI CUỐI GỬI ANH TRẦN VIỆT YÊN
Lời cuối gửi anh Trần Việt Yên
Anh Việt Yên quý mến,
Anh ra đi về bên kia thế giới một cách đột ngột, khiến chúng tôi, những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ ở trong nước cũng như hải ngoại, đặc biệt ban điều hành lâm thời Khối 8406, rất ngỡ ngàng.
Thi hài anh Trần Việt Yên
http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090131_01-01.jpg
Chị Thùy Dương, vợ anh bên thi hài của anh
http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090131_01-02.jpg
Chúng tôi ngỡ ngàng vì Anh là một thành viên của Khối 8406 tại hải ngoại, đang hoạt động rất tích cực cho Khối, và Khối đang rất cần những người hoạt động tích cực như Anh, cũng như rất cần những gì Anh đang làm cho Khối: nào là làm trang web cho Khối, nào là cập nhật tin tức và bài vở về cuộc đấu tranh trong nước, nào là soạn chương trình phát thanh hàng tuần cho Khối, nào là tổ chức những cuộc họp mặt đồng bào để ủng hộ Khối, phổ biến báo Tự do Ngôn luận của Khối, v.v...
Điều làm chúng tôi cảm phục Anh đó là Anh luôn tích cực yểm trợ cho cuộc đấu tranh trong nước, nhất là từ khi Khối 8406 được thành lập. Anh luôn làm việc cho Khối dù trong hoàn cảnh tương đối rất khó khăn của Anh. Anh phải một mình nuôi một gia đình 4 người, trong đó có người vợ hiền của Anh bị bệnh và hai đứa con còn nhỏ… Công việc làm ăn nuôi gia đình của Anh chiếm rất nhiều thì giờ: ngày nào Anh cũng đi làm về đến nhà khoảng 11g00 đêm, dường như Anh phải làm việc cả ngày thứ bảy và chúa nhật. Khi muốn liên lạc với Anh, tôi phải chờ đến 12g00 đêm giờ Cali, lúc Anh đi làm về, mới gọi cho Anh được. Thế mà Anh vẫn dành ra rất nhiều thì giờ để làm việc cho Khối 8406. Tôi nghe nói, sau khi đi làm về, rất nhiều hôm Anh đã làm việc đến 3,4 giờ sáng để cập nhật trang web của Khối 8406, để lo chương trình phát thanh cho Khối vốn chiếm rất nhiều thì giờ của Anh…
NCK chụp với anh chị Việt Yên đầu năm 2008
http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090131_01-03.jpg
và với vợ con anh tại nhà quàn chiều 30/1/2009
http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090131_01-04.jpg
Chắc chắn sự hăng hái làm việc của Anh cho Khối 8406 trong điều kiện khó khăn như thế đã ảnh hưởng khá nhiều đến sức khỏe của Anh, và rất có thể cũng đã góp phần tạo nên chứng tai biến mạch máu não khiến Anh đã phải từ giã cuộc đời vào đúng chiều ngày mùng một tết Quý Sửu (tức 26/1/2009). Chỉ có lòng nhiệt thành với quê hương đất nước đang lầm than dưới chế độ cộng sản, với công cuộc đấu tranh chống độc tài cộng sản trong nước, và đặc biệt với Khối 8406 mới có thể thúc đẩy Anh hoạt động hăng say và hy sinh rất nhiều như vậy.
Mới chúa nhật 18/1/2009, chúng tôi còn nghe Anh diễn giảng cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước về việc tận dụng những kỹ thuật vi tính, Internet hiện đại để đấu tranh, để truyền đạt thông tin, để liên lạc với nhau… Nên khi nghe tin Anh bị tai biến mạch máu não phải vào bệnh viện trong tình trạng hôn mê hoàn toàn vào chiều hôm sau, thứ hai, chúng tôi rất ngỡ ngàng và lo lắng. Từ lo lắng đến thất vọng khi nghe tin bác sĩ cho biết tình trạng của Anh không cứu vãn được nữa. Sự sống của Anh chỉ còn ở mức đời sống thực vật. Anh hoàn toàn mê man bất tỉnh từ chiều 19/1 cho đến khi bác sĩ rút ống cung cấp dưỡng khí cho Anh vào chiều 26/1.
Sự ra đi của Anh đem lại một sự thương tiếc rất lớn không chỉ cho vợ con Anh, mà còn cho cho chúng tôi, những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ trong và ngoài nước, những thành viên của Khối 8406, đặc biệt Ban điều hành lâm thời Khối 8406.
Sự hy sinh làm việc hăng say của Anh chắc chắn đã góp một phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước mà biết bao người dân Việt đang theo đuổi.
Nguyễn Chính Kết
San Jose, ngày 30/1/2009
MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ
Anh Trần Việt Yên ơi!
Anh đi về Cõi Bình Yên
cuối Đường Thánh Giá là triền miên xa
Anh đi mà vẫn như là
để Chị các Cháu… xót xa bao người
Anh về Bên Ấy cạnh Người
xin cho Đất Nước ngời ngời Lương Tâm
từ nay trên bước đấu tranh
tìm Anh tôi gặp… Dấu Chân dẫn đường…
Thành Kính!
Bút Trẻ
30.1.09
Anh Việt Yên quý mến,
Anh ra đi về bên kia thế giới một cách đột ngột, khiến chúng tôi, những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ ở trong nước cũng như hải ngoại, đặc biệt ban điều hành lâm thời Khối 8406, rất ngỡ ngàng.
Thi hài anh Trần Việt Yên
http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090131_01-01.jpg
Chị Thùy Dương, vợ anh bên thi hài của anh
http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090131_01-02.jpg
Chúng tôi ngỡ ngàng vì Anh là một thành viên của Khối 8406 tại hải ngoại, đang hoạt động rất tích cực cho Khối, và Khối đang rất cần những người hoạt động tích cực như Anh, cũng như rất cần những gì Anh đang làm cho Khối: nào là làm trang web cho Khối, nào là cập nhật tin tức và bài vở về cuộc đấu tranh trong nước, nào là soạn chương trình phát thanh hàng tuần cho Khối, nào là tổ chức những cuộc họp mặt đồng bào để ủng hộ Khối, phổ biến báo Tự do Ngôn luận của Khối, v.v...
Điều làm chúng tôi cảm phục Anh đó là Anh luôn tích cực yểm trợ cho cuộc đấu tranh trong nước, nhất là từ khi Khối 8406 được thành lập. Anh luôn làm việc cho Khối dù trong hoàn cảnh tương đối rất khó khăn của Anh. Anh phải một mình nuôi một gia đình 4 người, trong đó có người vợ hiền của Anh bị bệnh và hai đứa con còn nhỏ… Công việc làm ăn nuôi gia đình của Anh chiếm rất nhiều thì giờ: ngày nào Anh cũng đi làm về đến nhà khoảng 11g00 đêm, dường như Anh phải làm việc cả ngày thứ bảy và chúa nhật. Khi muốn liên lạc với Anh, tôi phải chờ đến 12g00 đêm giờ Cali, lúc Anh đi làm về, mới gọi cho Anh được. Thế mà Anh vẫn dành ra rất nhiều thì giờ để làm việc cho Khối 8406. Tôi nghe nói, sau khi đi làm về, rất nhiều hôm Anh đã làm việc đến 3,4 giờ sáng để cập nhật trang web của Khối 8406, để lo chương trình phát thanh cho Khối vốn chiếm rất nhiều thì giờ của Anh…
NCK chụp với anh chị Việt Yên đầu năm 2008
http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090131_01-03.jpg
và với vợ con anh tại nhà quàn chiều 30/1/2009
http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090131_01-04.jpg
Chắc chắn sự hăng hái làm việc của Anh cho Khối 8406 trong điều kiện khó khăn như thế đã ảnh hưởng khá nhiều đến sức khỏe của Anh, và rất có thể cũng đã góp phần tạo nên chứng tai biến mạch máu não khiến Anh đã phải từ giã cuộc đời vào đúng chiều ngày mùng một tết Quý Sửu (tức 26/1/2009). Chỉ có lòng nhiệt thành với quê hương đất nước đang lầm than dưới chế độ cộng sản, với công cuộc đấu tranh chống độc tài cộng sản trong nước, và đặc biệt với Khối 8406 mới có thể thúc đẩy Anh hoạt động hăng say và hy sinh rất nhiều như vậy.
Mới chúa nhật 18/1/2009, chúng tôi còn nghe Anh diễn giảng cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước về việc tận dụng những kỹ thuật vi tính, Internet hiện đại để đấu tranh, để truyền đạt thông tin, để liên lạc với nhau… Nên khi nghe tin Anh bị tai biến mạch máu não phải vào bệnh viện trong tình trạng hôn mê hoàn toàn vào chiều hôm sau, thứ hai, chúng tôi rất ngỡ ngàng và lo lắng. Từ lo lắng đến thất vọng khi nghe tin bác sĩ cho biết tình trạng của Anh không cứu vãn được nữa. Sự sống của Anh chỉ còn ở mức đời sống thực vật. Anh hoàn toàn mê man bất tỉnh từ chiều 19/1 cho đến khi bác sĩ rút ống cung cấp dưỡng khí cho Anh vào chiều 26/1.
Sự ra đi của Anh đem lại một sự thương tiếc rất lớn không chỉ cho vợ con Anh, mà còn cho cho chúng tôi, những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ trong và ngoài nước, những thành viên của Khối 8406, đặc biệt Ban điều hành lâm thời Khối 8406.
Sự hy sinh làm việc hăng say của Anh chắc chắn đã góp một phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước mà biết bao người dân Việt đang theo đuổi.
Nguyễn Chính Kết
San Jose, ngày 30/1/2009
MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ
Anh Trần Việt Yên ơi!
Anh đi về Cõi Bình Yên
cuối Đường Thánh Giá là triền miên xa
Anh đi mà vẫn như là
để Chị các Cháu… xót xa bao người
Anh về Bên Ấy cạnh Người
xin cho Đất Nước ngời ngời Lương Tâm
từ nay trên bước đấu tranh
tìm Anh tôi gặp… Dấu Chân dẫn đường…
Thành Kính!
Bút Trẻ
30.1.09
CUỘC CHIẾN 30 NĂM TRƯỚC
Có nên né tránh cuộc chiến 30 năm trước?
Thạch Chi Du và Nguyễn Hoài Thu
Bài viết riêng cho BBCVietnamese.com
31 Tháng 1 2009 - Cập nhật 00h48 GMT
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2009/01/090131_border_war_opinion.shtml
Trong quá trình cải cách mở cửa dựng xây đất nước, dường như vấn đề chiến tranh biên giới Việt Trung là đề tài không nên nhắc tới.
Ngược lại, quan hệ hữu nghị do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông gây dựng vào những năm 50 của thế kỉ trước thường xuyên được nhắc tới và được coi như cơ sở vững chắc trong quan hệ Việt Trung. Từ khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao vào những năm 70 có ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, tiếp sau đó hơn 20 năm quan hệ không được yên bình dường như là khoảng thời gian đang bị quên lãng.
Thế nhưng, cải cách mở cửa và quan hệ ngoại giao phải chăng là động lực tiếp tục hướng tới tương lai trong quan hệ 2 nước? Quá khứ đã ra đi và không trở lại, nói đúng hơn chỉ là 1 đoạn trong vòng tuần hoàn của lịch sử, những năm tháng cố tình lãng quên lại xuất hiện. Kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt Trung, vấn đề này đáng để cho chúng ta cùng suy ngẫm.
Nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam
Trong 10 năm trở lại đây, khi các học giả phương Tây bắt đầu thảo luận về “Trung quốc là mối đe dọa” hay “Trung Quốc nổi lên như 1 cường quốc” thì các học giả nghiên cứu Trung Quốc ở Việt nam dường như không đề cập tới vấn đề đó.
Nghiên cứu về Trung Quốc có ảnh hưởng thách thức gì đến bá quyền quốc tế hay trật tự quốc tế không phải là vấn đề mà chính phủ Việt Nam yêu cầu các chuyên gia lưu tâm đến, bởi vì đó là vấn đề của các nước lớn. Chính phủ Việt Nam cho rằng chính sách đối ngoại, ngoại thương của Trung Quốc mới là vấn đề cần quan tâm.
Việt nam cùng Trung Quốc đang cố gắng phát triển kinh tế, thực hiện chính sách cải cách mở cửa, vì vậy cái mà Việt Nam cần là kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc trong quá trình cải cách mở cửa chứ không coi Trung Quốc là mối đe dọa bên cạnh mình.
Quả thật Trung Quốc lớn mạnh là mối đe dọa lớn của các nước phương Tây.
Nhưng khi bản thân quốc lực Việt Nam chưa mạnh, thì vấn đề Trung Quốc có vai trò gì với trật tự quốc tế và có đe dọa gì với quốc tế dường như quá tầm tay của Việt Nam. Từ xưa đến nay, vương triều Trung Quốc vốn đã to lớn và có ảnh hưởng đến Việt Nam, vì vậy Trung Quốc có lớn đến đâu đi chăng nữa dường như là vấn đề mà các nước lớn khác quan tâm, chứ không nằm trong mối quan tâm của mình.
Việt Nam cũng có khát vọng trở thành con rồng nhỏ châu Á, vì vậy, Việt Nam cùng chia sẻ một ý nghĩ chung với Trung Quốc: nếu Trung Quốc có ý định biến thành cường quốc cũng có nghĩa hai nước Việt Trung đang ở cùng một giai đoạn lịch sử.
Như vậy cảm giác tương trợ giữa hai nước mạnh hơn cảm giác uy hiếp. Việt Nam bắt đầu cải cách muộn hơn Trung Quốc, vì vậy càng có ý nguyện quan sát học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc. Trung Quốc có thành công hay không sẽ là điều mà Việt Nam cần quan tâm chứ không phải đề phòng.
Xuất phát điểm của học giả Việt Nam khi nghiên cứu về Trung Quốc hoàn toàn không giống các học giả phương Tây, bởi lẽ học giả phương Tây lo lắng Trung Quốc có âm mưu tranh bá xưng vương nên nghiên cứu phán đoán từ những biến đổi về tiềm lực kinh tế quốc phòng của Trung Quốc.
Học giả phương Tây quan tâm nhiều tới tư duy chiến lược ngoại giao lớn của Trung Quốc, trong khi học giả Việt Nam chỉ quan tâm và nắm vững những sự việc cụ thể xảy ra với Trung Quốc. Họ cũng không xuất phát từ lý luận hoặc những nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, càng không có đủ nguồn lực nghiên cứu toàn diện mọi mặt về quan hệ ngoại giao của Trung Quốc.
Trọng tâm nghiên cứu chủ yếu là Trung Quốc và các nước trong khu vực châu Á, Thái Bình Dương. Có thể từ những nghiên cứu đó có thể giúp Việt Nam tìm ra con đường ngoại giao nhịp nhàng hơn trong khu vực cũng như với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.
Chưa thỏa đáng
Thế nhưng né tránh nhắc tới vấn đề chiến tranh biên giới Trung Việt dường như hiển hiện rõ là học giả Việt Nam vẫn chưa tìm được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nhìn về chiến tranh biên giới Việt Trung.
Nếu như chiến tranh biên giới 30 năm trước cần phải né tránh không nhắc tới mới có thể tiến bước về tương lai, thì có nghĩa là vẫn chưa thể thực sự vượt qua khoảng thời gian đó.
Nhìn về lịch sử, quan hệ chính trị giữa hai nước như thế nào vẫn chưa có được cách nhìn chung. Cũng vì vậy trong quá trình xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, người Việt chưa bao giờ đứng cùng chiến tuyến với Trung Quốc. Chiến tranh Trung Pháp vào cuối thế kỉ 19 là ví dụ điển hình cho điều này.
Nếu như việc tích cực phân tích nghiên cứu chiến tranh biên giới Việt Trung có khả năng gợi lại ký ức không tốt đẹp cho hai bên, thì cũng có nghĩa rằng hữu nghị trước mắt của hai bên chỉ là hiện tượng tuần hoàn mang tính tạm thời, trong khi đó sự xung đột trong suốt quá trình lịch sử giữa hai nước trong tương lai có khả năng sẽ lại chi phối quan hệ song phương.
Trong suốt khoảng thời gian dài, mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng cũng có thể dùng câu nói sông liền sông núi liền núi để miêu tả quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Trung.
Hồ chủ tịch đã từng viết trong bài thơ năm 1963 miêu tả quan hệ hai nước như sau: “Việt Trung hai nước thắm tình hữu nghị, vừa là bạn bè, vừa là đồng chí”.
Việt Nam luôn coi Trung Quốc là nước lớn. Để duy trì độc lập tự chủ và phát triển đất nước của mình, Việt Nam luôn nhắc nhở Trung Quốc nên xử lí các mối quan hệ theo phong thái của nước lớn và những đoạn trường lịch sử Việt Trung cùng trải qua trong lịch sử.
Vì vậy, làm sao đối mặt quá khứ, lý giải chiến tranh biên giới Trung Việt, để tương lai có thể xử lý hòa thuận mối quan hệ hai nước, là nhiệm vụ tư tưởng không thể thiếu được.
Ông Thạch Chi Du là Giáo sư tại Đại học Quốc gia Đài Loan. Tác phẩm gần đây của ông là Democracy (Made in Taiwan) ('Dân chủ làm tại Đài Loan', Lexington Books, 2008). Nguyễn Hoài Thu đang là Nghiên cứu sinh tiến sỹ, Đại học Trung Sơn, Cao Hùng, Đài Loan.
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Cuộc chiến Đông Dương lần ba trong mắt tôi
30 Tháng 1, 2009 Diễn đàn
Vị đắng Đông Dương
30 Tháng 1, 2009 Chuyên đề
Học giả TQ nói về cách tiếp cận biên giới
08 Tháng 1, 2009 Việt Nam
'Có hai đường biên giới'
02 Tháng 1, 2009 Việt Nam
Thạch Chi Du và Nguyễn Hoài Thu
Bài viết riêng cho BBCVietnamese.com
31 Tháng 1 2009 - Cập nhật 00h48 GMT
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2009/01/090131_border_war_opinion.shtml
Trong quá trình cải cách mở cửa dựng xây đất nước, dường như vấn đề chiến tranh biên giới Việt Trung là đề tài không nên nhắc tới.
Ngược lại, quan hệ hữu nghị do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông gây dựng vào những năm 50 của thế kỉ trước thường xuyên được nhắc tới và được coi như cơ sở vững chắc trong quan hệ Việt Trung. Từ khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao vào những năm 70 có ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, tiếp sau đó hơn 20 năm quan hệ không được yên bình dường như là khoảng thời gian đang bị quên lãng.
Thế nhưng, cải cách mở cửa và quan hệ ngoại giao phải chăng là động lực tiếp tục hướng tới tương lai trong quan hệ 2 nước? Quá khứ đã ra đi và không trở lại, nói đúng hơn chỉ là 1 đoạn trong vòng tuần hoàn của lịch sử, những năm tháng cố tình lãng quên lại xuất hiện. Kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt Trung, vấn đề này đáng để cho chúng ta cùng suy ngẫm.
Nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam
Trong 10 năm trở lại đây, khi các học giả phương Tây bắt đầu thảo luận về “Trung quốc là mối đe dọa” hay “Trung Quốc nổi lên như 1 cường quốc” thì các học giả nghiên cứu Trung Quốc ở Việt nam dường như không đề cập tới vấn đề đó.
Nghiên cứu về Trung Quốc có ảnh hưởng thách thức gì đến bá quyền quốc tế hay trật tự quốc tế không phải là vấn đề mà chính phủ Việt Nam yêu cầu các chuyên gia lưu tâm đến, bởi vì đó là vấn đề của các nước lớn. Chính phủ Việt Nam cho rằng chính sách đối ngoại, ngoại thương của Trung Quốc mới là vấn đề cần quan tâm.
Việt nam cùng Trung Quốc đang cố gắng phát triển kinh tế, thực hiện chính sách cải cách mở cửa, vì vậy cái mà Việt Nam cần là kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc trong quá trình cải cách mở cửa chứ không coi Trung Quốc là mối đe dọa bên cạnh mình.
Quả thật Trung Quốc lớn mạnh là mối đe dọa lớn của các nước phương Tây.
Nhưng khi bản thân quốc lực Việt Nam chưa mạnh, thì vấn đề Trung Quốc có vai trò gì với trật tự quốc tế và có đe dọa gì với quốc tế dường như quá tầm tay của Việt Nam. Từ xưa đến nay, vương triều Trung Quốc vốn đã to lớn và có ảnh hưởng đến Việt Nam, vì vậy Trung Quốc có lớn đến đâu đi chăng nữa dường như là vấn đề mà các nước lớn khác quan tâm, chứ không nằm trong mối quan tâm của mình.
Việt Nam cũng có khát vọng trở thành con rồng nhỏ châu Á, vì vậy, Việt Nam cùng chia sẻ một ý nghĩ chung với Trung Quốc: nếu Trung Quốc có ý định biến thành cường quốc cũng có nghĩa hai nước Việt Trung đang ở cùng một giai đoạn lịch sử.
Như vậy cảm giác tương trợ giữa hai nước mạnh hơn cảm giác uy hiếp. Việt Nam bắt đầu cải cách muộn hơn Trung Quốc, vì vậy càng có ý nguyện quan sát học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc. Trung Quốc có thành công hay không sẽ là điều mà Việt Nam cần quan tâm chứ không phải đề phòng.
Xuất phát điểm của học giả Việt Nam khi nghiên cứu về Trung Quốc hoàn toàn không giống các học giả phương Tây, bởi lẽ học giả phương Tây lo lắng Trung Quốc có âm mưu tranh bá xưng vương nên nghiên cứu phán đoán từ những biến đổi về tiềm lực kinh tế quốc phòng của Trung Quốc.
Học giả phương Tây quan tâm nhiều tới tư duy chiến lược ngoại giao lớn của Trung Quốc, trong khi học giả Việt Nam chỉ quan tâm và nắm vững những sự việc cụ thể xảy ra với Trung Quốc. Họ cũng không xuất phát từ lý luận hoặc những nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, càng không có đủ nguồn lực nghiên cứu toàn diện mọi mặt về quan hệ ngoại giao của Trung Quốc.
Trọng tâm nghiên cứu chủ yếu là Trung Quốc và các nước trong khu vực châu Á, Thái Bình Dương. Có thể từ những nghiên cứu đó có thể giúp Việt Nam tìm ra con đường ngoại giao nhịp nhàng hơn trong khu vực cũng như với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.
Chưa thỏa đáng
Thế nhưng né tránh nhắc tới vấn đề chiến tranh biên giới Trung Việt dường như hiển hiện rõ là học giả Việt Nam vẫn chưa tìm được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nhìn về chiến tranh biên giới Việt Trung.
Nếu như chiến tranh biên giới 30 năm trước cần phải né tránh không nhắc tới mới có thể tiến bước về tương lai, thì có nghĩa là vẫn chưa thể thực sự vượt qua khoảng thời gian đó.
Nhìn về lịch sử, quan hệ chính trị giữa hai nước như thế nào vẫn chưa có được cách nhìn chung. Cũng vì vậy trong quá trình xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, người Việt chưa bao giờ đứng cùng chiến tuyến với Trung Quốc. Chiến tranh Trung Pháp vào cuối thế kỉ 19 là ví dụ điển hình cho điều này.
Nếu như việc tích cực phân tích nghiên cứu chiến tranh biên giới Việt Trung có khả năng gợi lại ký ức không tốt đẹp cho hai bên, thì cũng có nghĩa rằng hữu nghị trước mắt của hai bên chỉ là hiện tượng tuần hoàn mang tính tạm thời, trong khi đó sự xung đột trong suốt quá trình lịch sử giữa hai nước trong tương lai có khả năng sẽ lại chi phối quan hệ song phương.
Trong suốt khoảng thời gian dài, mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng cũng có thể dùng câu nói sông liền sông núi liền núi để miêu tả quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Trung.
Hồ chủ tịch đã từng viết trong bài thơ năm 1963 miêu tả quan hệ hai nước như sau: “Việt Trung hai nước thắm tình hữu nghị, vừa là bạn bè, vừa là đồng chí”.
Việt Nam luôn coi Trung Quốc là nước lớn. Để duy trì độc lập tự chủ và phát triển đất nước của mình, Việt Nam luôn nhắc nhở Trung Quốc nên xử lí các mối quan hệ theo phong thái của nước lớn và những đoạn trường lịch sử Việt Trung cùng trải qua trong lịch sử.
Vì vậy, làm sao đối mặt quá khứ, lý giải chiến tranh biên giới Trung Việt, để tương lai có thể xử lý hòa thuận mối quan hệ hai nước, là nhiệm vụ tư tưởng không thể thiếu được.
Ông Thạch Chi Du là Giáo sư tại Đại học Quốc gia Đài Loan. Tác phẩm gần đây của ông là Democracy (Made in Taiwan) ('Dân chủ làm tại Đài Loan', Lexington Books, 2008). Nguyễn Hoài Thu đang là Nghiên cứu sinh tiến sỹ, Đại học Trung Sơn, Cao Hùng, Đài Loan.
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Cuộc chiến Đông Dương lần ba trong mắt tôi
30 Tháng 1, 2009 Diễn đàn
Vị đắng Đông Dương
30 Tháng 1, 2009 Chuyên đề
Học giả TQ nói về cách tiếp cận biên giới
08 Tháng 1, 2009 Việt Nam
'Có hai đường biên giới'
02 Tháng 1, 2009 Việt Nam
Subscribe to:
Posts (Atom)