Xung
đột eo biển Hormuz : Hàng loạt câu hỏi về sức mạnh hàng hải và chiến lược
hải quân
Đăng
ngày: 18/05/2026 - 14:05
Chiến
tranh Trung Đông và việc phong tỏa eo biển chiến lược Hormuz một lần nữa cho thấy
tầm quan trọng sống còn của biển. Trong một nền kinh tế toàn cầu hóa và liên kết
chặt chẽ, hơn 90% trao đổi thương mại thế giới, tính theo trọng lượng, được thực
hiện qua đường biển. Do đó, bất kỳ sự gián đoạn nào của hệ thống vận tải hàng hải
đều có thể gây ra các hiệu ứng dây chuyền, ảnh hưởng đến tất cả mọi người.
HÌNH
:
Hàng
không mẫu hạm Mỹ, USS Dwight D. Eisenhower, tại eo biển Hormuz ngày 26/11/2023.
AP - Information Technician Second Class Ruskin Naval
Việc
Iran đóng cửa eo biển Hormuz đã có tác động ngay lập tức đến giá nhiên liệu và
giao thương phân bón hóa học. Trước cuộc khủng hoảng, khoảng 25% dầu mỏ và 30%
phân bón được trao đổi trên toàn cầu đi qua eo biển này. Từ tháng 03/2026, chỉ
một số ít tàu có thể đi qua tuyến đường này, trong khi trước đây trung bình có
129 tàu mỗi ngày. Tác động về kinh tế và đối với con người được dự báo là rất lớn.
Việc
đóng cửa hoàn toàn Hormuz đã có thể dự đoán trước, vậy mà hải quân Mỹ - lực lượng
thống trị các đại dương từ sau Đệ nhị Thế chiến - không thể mở lại một eo biển
do một đối thủ kiểm soát, dù hải quân và không quân của đối thủ Iran phần lớn
đã bị phá hủy. Đối với sử gia Ian Speller, thành viên của hội học thuật lịch sử
Royal Historical Society, cũng là giám đốc Trung tâm Lịch sử Quân sự và Nghiên
cứu Chiến lược tại Maynooth University của Ireland, thực trạng này đặt ra hàng
loạt câu hỏi. Và cuộc
khủng hoảng Hormuz đã minh họa rất rõ câu châm ngôn « trước khi hành động
phải có chiến lược ».
Sức
mạnh hàng hải có giá trị thế nào đối với các nước ?
Sử
gia Ian Speller nhắc lại là có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chiến
lược hàng hải, vốn được xem là thuộc lĩnh vực chiến lược quốc gia, nghiên cứu
những nguyên tắc áp dụng trong các tình huống mà biển đóng vai trò quyết định.
Dù
mỗi nhà bình luận có cách tiếp cận khác nhau, nhưng tất cả đều đồng thuận rằng
trong lịch sử, quyền thống trị trên biển là nền tảng không thể thiếu của sức mạnh
quốc gia : biển có chức năng kép, vừa là một phương tiện thiết yếu của
thương mại quốc tế, vừa là không gian nơi các lực lượng quân sự di chuyển trong
các chiến dịch.
Khả
năng sử dụng không gian, tức là kiểm soát biển, và tước đoạt quyền sử dụng đó của
kẻ thù, tức là ngăn chặn đối thủ tiếp cận biển, từ hàng ngàn năm nay đã là một
bộ phận cấu thành chiến lược quân sự hoàn chỉnh. Ví dụ, nhờ sức mạnh hàng hải
và khả năng triển khai lực lượng hướng tới bờ biển của một quốc gia khác mà
Vương quốc Anh đồng thời có thể làm giàu thông qua thương mại và làm nghèo các
đối thủ bằng các cuộc phong tỏa. Nói cách khác lực lượng hải quân Anh tấn công
các bờ biển ấy, đồng thời ngăn cản đối phương làm điều tương tự với mình.
Nhưng
sẽ là vô ích nếu lao vào một cuộc đối đầu hải quân với một kẻ thù mà mình không
thể đánh bại ?
Đúng
như vậy. Cũng vì thế mà các nước thường nỗ lực làm suy yếu đối phương bằng cách
nhắm vào một điểm yếu mang tính phổ quát : sự phụ thuộc vào thương mại hàng hải.
Những cuộc tấn công đơn lẻ nhằm vào hạm đội thương mại là cách tiếp cận được
Pháp, Hoa Kỳ rồi Đức ưu tiên áp dụng trong các cuộc chiến chống lại Vương quốc
Anh vào các thế kỷ 18-20. Nhưng kết quả, thường là Anh giành chiến thắng, khiến
các nhà chiến lược hàng hải truyền thống cho rằng giải pháp phong tỏa sẽ phù hợp
hơn khi phải đối đầu hải quân với một kẻ thù mạnh hơn.
Tuy
nhiên, chuyên gia Ian Speller nhấn mạnh là khi đối phó với một cường quốc hàng
hải thống trị, phong tỏa cũng là lựa chọn phi thực tế. Vì vậy, mới xuất hiện chiến lược làm gián đoạn thương mại
hàng hải,
kể cả với hoạt động thương mại của các nước trung lập và không tham chiến. Chiến
lược làm gián đoạn thương mại hàng hải đã được sử dụng suốt nhiều thế kỷ và đã
chứng tỏ là một phương tiện chắc chắn gây tổn hại cho kẻ thù.
Nói
một cách khái quát, theo sử gia Ian Speller, các quốc gia sở hữu lực lượng hải
quân yếu thường có xu hướng tập trung vào phòng thủ ven biển nhằm giữ các đối
thủ mạnh ở cách xa bờ biển của mình. Điều này đòi hỏi phải kết hợp các thành phần
thuộc lực lượng hải quân với lực lượng trên bộ (pháo binh, pháo đài, lực lượng
dự bị cơ động). Sự phát triển của thủy lôi và ngư lôi vào thế kỷ XIX, rồi đến
máy bay và sau này là tên lửa chống hạm trong thế kỷ XX, đã tạo cho các lực lượng
hải quân quy mô nhỏ một khả năng gây thiệt hại đáng kể, đặc biệt tại các vùng
biển ven bờ.
Ví
dụ tiêu biểu là Thổ Nhĩ Kỳ đã bảo vệ thành công eo biển Dardanelles năm 1915
khi đối mặt với hạm đội Anh-Pháp. Gần đây hơn, Ukraina đã cho thấy khả năng gây
ra những tổn thất đáng kể cho hạm đội Nga ở Hắc Hải, thậm chí đã gần như vô hiệu
hóa đối phương, bằng cách sử dụng tên lửa và drone có thiết bị dẫn đường nhờ
thông tin tình báo. Trong cả hai trường hợp nói trên, lực lượng hải quân Anh -
Pháp - Nga, đều được xem là hùng mạnh, đã bị các đối thủ yếu hơn, là Thổ Nhĩ Kỳ
và Ukraina, đánh bại với đòn đáp trả bất đối xứng.
Trở
lại trường hợp eo biển Hormuz, do tàu thuyền không có tuyến đường biển nào khác
đi vòng, Iran càng có cơ hội tấn công quyền tự do lưu thông hàng hải ?
Theo
tác giả bài viết, có nhiều khả năng Iran sẽ lấy cảm hứng từ những tư tưởng của
Liên Xô trong các thập niên 1920 - 1930, hoặc của hải quân Trung Quốc những năm
1950 - 1960, xây dựng chiến lược dựa trên việc phát triển một hệ thống phòng thủ
nhiều tầng, chìa khóa để bảo vệ bờ biển đối phó với các lực lượng hải quân mạnh
hơn. Teheran cũng sẽ khai thác yếu tố địa lý địa phương, vốn cho phép Iran
phong tỏa một eo biển chiến lược bằng cách sử dụng tập hợp các phương tiện quân
sự hàng hải phi truyền thống.
Nói
cách khác, đối với những quốc gia có lực lượng hải quân khiêm tốn, việc kiểm
soát cục bộ trên biển là lựa chọn hợp lý nhất khi phải đối mặt với các đối thủ
mạnh hơn. Và nếu họ nằm gần một nút thắt hàng hải chiến lược, thì các lựa chọn
gần như đã quá rõ ràng. Tính dễ tổn thương của thương mại toàn cầu do các quyết
định của Iran trong khu vực này có thể giải thích tại sao các chính quyền Mỹ
trước đây dè dặt trong việc dấn thân vào những cuộc phiêu lưu quân sự không cần
thiết chống lại một đối thủ như Iran.
Chiến
lược phản phong tỏa dưới thời Trump ra sao ?
Hoàn
toàn có thể hiểu sự dè dặt của Hoa Kỳ trong việc triển khai phương tiện hải
quân tại eo biển Hormuz, trong khi các lực lượng thù địch kiểm soát bờ phía bắc.
Sự thận trọng của các đồng minh của Mỹ khi phải can thiệp và làm điều mà chính
Hoa Kỳ còn từ chối thực hiện cũng rất dễ hiểu. Phương án đổ bộ lực lượng mặt đất
để bảo đảm an ninh cho eo biển từ phía bờ biển Iran là một lựa chọn hoàn toàn
khó chấp nhận, xét đến quy mô lực lượng cần thiết, khả năng vấp phải sự kháng cự
trên bộ của Iran, cũng như thái độ ác cảm công khai của tổng thống Donald Trump
về việc khởi động một « cuộc chiến dài bất tận » mới ở Trung Đông.
Trong
thập niên 1980, phản ứng đối với việc Iran rải thủy lôi trong khu vực này là
huy động tàu chiến Mỹ, châu Âu và Liên Xô để hộ tống các tàu hàng, đồng thời
triển khai một chiến dịch quốc tế quy mô lớn để rà phá thủy lôi, đi kèm với các
đòn không kích trừng phạt của Mỹ nhằm mục đích răn đe. Chuyên gia Ian Speller
nhận định cách tiếp cận đó phù hợp với bối cảnh thời bấy giờ, tức bối cảnh « vùng
xám », thì ngày nay trong bối cảnh chiến tranh công khai với
Iran, nó ít còn phù hợp. Iran đã cho thấy rằng hiện nay họ có rất ít lý do để
phải tỏ ra thận trọng, và giới lãnh đạo Teheran đã chứng minh quyết tâm chấp nhận
cái giá của các cuộc oanh kích quy mô lớn.
Theo
hướng đó, một cuộc phong tỏa của Mỹ, nhằm buộc Iran phải chia sẻ gánh nặng từ sự
gián đoạn thương mại quốc tế này, có thể trở thành một nước cờ hiệu quả. Lựa chọn
chiến lược này thực sự cho phép tránh đặt các tài sản chiến lược quan trọng vào
tình thế nguy hiểm, bởi các con tàu có thể bị chặn bắt ở bất kỳ giai đoạn nào
trên hành trình đến hoặc rời khỏi Iran. Tuy nhiên, vẫn còn phải chờ xem liệu sức
ép đó có đủ để buộc Teheran phải nhượng bộ hay không, bởi vì giới lãnh đạo Iran
có thể cho rằng họ đang nắm giữ lợi thế đàm phán lớn hơn để đối phó với Hoa Kỳ,
do cuộc phong tỏa lẫn nhau gây ra những tác động rộng lớn hơn đối với kinh tế
toàn cầu.
Sức
mạnh hải quân của Hoa Kỳ đã tạo điều kiện cho một cuộc tấn công quy mô lớn nhằm
vào Iran và cho phép thiết lập một cuộc phong tỏa có thể thực sự gây tác động mạnh
đến nền kinh tế Iran trong những tuần và tháng sắp tới. Tuy nhiên, bất chấp sự
tàn phá do chiến dịch không kích mà Mỹ - Israel gây ra, việc Iran đóng cửa eo
biển Hormuz vẫn là điều vừa dễ dự đoán vừa có sức gây rối loạn cực kỳ lớn.
Chính vì vậy, đối với chuyên gia Ian Speller, thật đáng ngạc nhiên khi Hoa Kỳ
dường như đã không chuẩn bị cho kịch bản này.
Cuộc
tấn công của Mỹ và Israel đã biến chiến dịch quân sự thành một cuộc đối đầu trước
hết là về hải quân, trong khi ban đầu chủ yếu xoay quanh các cuộc không kích.
Biến chuyển của cuộc xung đột đã mang lại cho Washington một bài học cay đắng.
Việc không thể giành được chiến thắng nhanh chóng đã phơi bày những giới hạn của
sức mạnh Mỹ, và hiện nay Lầu Năm Góc vẫn đang phải đối mặt với một thách thức
chưa có lời giải đáp.
Dù
còn quá sớm để dự đoán kết cục thực sự của cuộc xung đột, nhưng ngay từ bây giờ
chúng ta đã có thể rút ra một số bài học ?
Bài
học đầu tiên và hiển nhiên nhất, đối với sử gia Ian Speller, là sự cần thiết của
việc phải có một kế hoạch xác đáng trước khi sử dụng vũ lực. Quyền bá chủ trên
biển và trên không chỉ có giá trị nếu nó cho phép đạt được một lợi thế bền vững
sau khi chiến sự kết thúc.
Thứ
hai, như các cuộc đối đầu gần đây cho thấy, một nước hoàn toàn có thể thua một
cuộc chiến trên biển ngay cả khi hạm đội đối phương đã bị tiêu diệt trong một
chiến dịch cực kỳ bất đối xứng : đối thủ đó có thể có trong tay những phương tiện
khác để gây sức ép hoặc vô hiệu hóa ưu thế của đối phương. Điều này có nghĩa là
Iran hoàn toàn có thể trở thành bên chiến thắng trong cuộc chiến hải quân này.
Và
cuối cùng, tự do hàng hải vẫn giữ một tầm quan trọng mang tính nền tảng để hiểu
được chiến lược hàng hải. Đó là một quyền tự do có thể sẽ bị thách thức và có
thể sẽ cần được bảo vệ. Vì thế, hải quân sẽ tiếp tục đóng vai trò quyết định
trong các lực lượng tác chiến liên quân, nhưng các lực lượng đó chỉ thực sự hiệu
quả nếu được triển khai để phục vụ một chiến lược phù hợp và thực tế.
--------------------------
Các
nội dung liên quan
Hộ
tống tàu dầu qua eo biển Hormuz: Nhiệm vụ đầy rủi ro của Hải quân Mỹ
PHÂN
TÍCH
Thủy
lôi : Tai họa muôn thuở cho hải quân và thương mại !
THEO
DÒNG THỜI SỰ
Iran
thả thủy lôi ở Hormuz : Cơn ác mộng cho hải quân Mỹ và vận tải đường biển
PHÂN
TÍCH
No comments:
Post a Comment