Tuesday, May 19, 2026

XUNG ĐỘT EO BIỂN HORMUZ : HÀNG LOẠT CÂU HỎI VỀ SỨC MẠNH HÀNG HẢI & CHIẾN LƯỢC HẢI QUÂN (Thùy Dương / RFI)

 



Xung đột eo biển Hormuz : Hàng loạt câu hỏi về sức mạnh hàng hải và chiến lược hải quân  

Thùy Dương   -   RFI

Đăng ngày: 18/05/2026 - 14:05

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20260518-xung-%C4%91%E1%BB%99t-eo-bi%E1%BB%83n-hormuz-h%C3%A0ng-lo%E1%BA%A1t-c%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-v%E1%BB%81-s%E1%BB%A9c-m%E1%BA%A1nh-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i-v%C3%A0-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-h%E1%BA%A3i-qu%C3%A2n

 

Chiến tranh Trung Đông và việc phong tỏa eo biển chiến lược Hormuz một lần nữa cho thấy tầm quan trọng sống còn của biển. Trong một nền kinh tế toàn cầu hóa và liên kết chặt chẽ, hơn 90% trao đổi thương mại thế giới, tính theo trọng lượng, được thực hiện qua đường biển. Do đó, bất kỳ sự gián đoạn nào của hệ thống vận tải hàng hải đều có thể gây ra các hiệu ứng dây chuyền, ảnh hưởng đến tất cả mọi người.

 

HÌNH :

Hàng không mẫu hạm Mỹ, USS Dwight D. Eisenhower, tại eo biển Hormuz ngày 26/11/2023. AP - Information Technician Second Class Ruskin Naval

 

Việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz đã có tác động ngay lập tức đến giá nhiên liệu và giao thương phân bón hóa học. Trước cuộc khủng hoảng, khoảng 25% dầu mỏ và 30% phân bón được trao đổi trên toàn cầu đi qua eo biển này. Từ tháng 03/2026, chỉ một số ít tàu có thể đi qua tuyến đường này, trong khi trước đây trung bình có 129 tàu mỗi ngày. Tác động về kinh tế và đối với con người được dự báo là rất lớn.

 

Việc đóng cửa hoàn toàn Hormuz đã có thể dự đoán trước, vậy mà hải quân Mỹ - lực lượng thống trị các đại dương từ sau Đệ nhị Thế chiến - không thể mở lại một eo biển do một đối thủ kiểm soát, dù hải quân và không quân của đối thủ Iran phần lớn đã bị phá hủy. Đối với sử gia Ian Speller, thành viên của hội học thuật lịch sử Royal Historical Society, cũng là giám đốc Trung tâm Lịch sử Quân sự và Nghiên cứu Chiến lược tại Maynooth University của Ireland, thực trạng này đặt ra hàng loạt câu hỏi. Và cuộc khủng hoảng Hormuz đã minh họa rất rõ câu châm ngôn « trước khi hành động phải có chiến lược ».

 

Sức mạnh hàng hải có giá trị thế nào đối với các nước ?

Sử gia Ian Speller nhắc lại là có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chiến lược hàng hải, vốn được xem là thuộc lĩnh vực chiến lược quốc gia, nghiên cứu những nguyên tắc áp dụng trong các tình huống mà biển đóng vai trò quyết định.

 

Dù mỗi nhà bình luận có cách tiếp cận khác nhau, nhưng tất cả đều đồng thuận rằng trong lịch sử, quyền thống trị trên biển là nền tảng không thể thiếu của sức mạnh quốc gia : biển có chức năng kép, vừa là một phương tiện thiết yếu của thương mại quốc tế, vừa là không gian nơi các lực lượng quân sự di chuyển trong các chiến dịch.

 

Khả năng sử dụng không gian, tức là kiểm soát biển, và tước đoạt quyền sử dụng đó của kẻ thù, tức là ngăn chặn đối thủ tiếp cận biển, từ hàng ngàn năm nay đã là một bộ phận cấu thành chiến lược quân sự hoàn chỉnh. Ví dụ, nhờ sức mạnh hàng hải và khả năng triển khai lực lượng hướng tới bờ biển của một quốc gia khác mà Vương quốc Anh đồng thời có thể làm giàu thông qua thương mại và làm nghèo các đối thủ bằng các cuộc phong tỏa. Nói cách khác lực lượng hải quân Anh tấn công các bờ biển ấy, đồng thời ngăn cản đối phương làm điều tương tự với mình.

 

Nhưng sẽ là vô ích nếu lao vào một cuộc đối đầu hải quân với một kẻ thù mà mình không thể đánh bại ?

Đúng như vậy. Cũng vì thế mà các nước thường nỗ lực làm suy yếu đối phương bằng cách nhắm vào một điểm yếu mang tính phổ quát : sự phụ thuộc vào thương mại hàng hải. Những cuộc tấn công đơn lẻ nhằm vào hạm đội thương mại là cách tiếp cận được Pháp, Hoa Kỳ rồi Đức ưu tiên áp dụng trong các cuộc chiến chống lại Vương quốc Anh vào các thế kỷ 18-20. Nhưng kết quả, thường là Anh giành chiến thắng, khiến các nhà chiến lược hàng hải truyền thống cho rằng giải pháp phong tỏa sẽ phù hợp hơn khi phải đối đầu hải quân với một kẻ thù mạnh hơn.

 

Tuy nhiên, chuyên gia Ian Speller nhấn mạnh là khi đối phó với một cường quốc hàng hải thống trị, phong tỏa cũng là lựa chọn phi thực tế. Vì vậy, mới xuất hiện chiến lược làm gián đoạn thương mại hàng hải, kể cả với hoạt động thương mại của các nước trung lập và không tham chiến. Chiến lược làm gián đoạn thương mại hàng hải đã được sử dụng suốt nhiều thế kỷ và đã chứng tỏ là một phương tiện chắc chắn gây tổn hại cho kẻ thù.

 

Nói một cách khái quát, theo sử gia Ian Speller, các quốc gia sở hữu lực lượng hải quân yếu thường có xu hướng tập trung vào phòng thủ ven biển nhằm giữ các đối thủ mạnh ở cách xa bờ biển của mình. Điều này đòi hỏi phải kết hợp các thành phần thuộc lực lượng hải quân với lực lượng trên bộ (pháo binh, pháo đài, lực lượng dự bị cơ động). Sự phát triển của thủy lôi và ngư lôi vào thế kỷ XIX, rồi đến máy bay và sau này là tên lửa chống hạm trong thế kỷ XX, đã tạo cho các lực lượng hải quân quy mô nhỏ một khả năng gây thiệt hại đáng kể, đặc biệt tại các vùng biển ven bờ.

 

Ví dụ tiêu biểu là Thổ Nhĩ Kỳ đã bảo vệ thành công eo biển Dardanelles năm 1915 khi đối mặt với hạm đội Anh-Pháp. Gần đây hơn, Ukraina đã cho thấy khả năng gây ra những tổn thất đáng kể cho hạm đội Nga ở Hắc Hải, thậm chí đã gần như vô hiệu hóa đối phương, bằng cách sử dụng tên lửa và drone có thiết bị dẫn đường nhờ thông tin tình báo. Trong cả hai trường hợp nói trên, lực lượng hải quân Anh - Pháp - Nga, đều được xem là hùng mạnh, đã bị các đối thủ yếu hơn, là Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraina, đánh bại với đòn đáp trả bất đối xứng.

 

 

Trở lại trường hợp eo biển Hormuz, do tàu thuyền không có tuyến đường biển nào khác đi vòng, Iran càng có cơ hội tấn công quyền tự do lưu thông hàng hải ?

 

Theo tác giả bài viết, có nhiều khả năng Iran sẽ lấy cảm hứng từ những tư tưởng của Liên Xô trong các thập niên 1920 - 1930, hoặc của hải quân Trung Quốc những năm 1950 - 1960, xây dựng chiến lược dựa trên việc phát triển một hệ thống phòng thủ nhiều tầng, chìa khóa để bảo vệ bờ biển đối phó với các lực lượng hải quân mạnh hơn. Teheran cũng sẽ khai thác yếu tố địa lý địa phương, vốn cho phép Iran phong tỏa một eo biển chiến lược bằng cách sử dụng tập hợp các phương tiện quân sự hàng hải phi truyền thống.

 

Nói cách khác, đối với những quốc gia có lực lượng hải quân khiêm tốn, việc kiểm soát cục bộ trên biển là lựa chọn hợp lý nhất khi phải đối mặt với các đối thủ mạnh hơn. Và nếu họ nằm gần một nút thắt hàng hải chiến lược, thì các lựa chọn gần như đã quá rõ ràng. Tính dễ tổn thương của thương mại toàn cầu do các quyết định của Iran trong khu vực này có thể giải thích tại sao các chính quyền Mỹ trước đây dè dặt trong việc dấn thân vào những cuộc phiêu lưu quân sự không cần thiết chống lại một đối thủ như Iran.

 

 

Chiến lược phản phong tỏa dưới thời Trump ra sao ?

 

Hoàn toàn có thể hiểu sự dè dặt của Hoa Kỳ trong việc triển khai phương tiện hải quân tại eo biển Hormuz, trong khi các lực lượng thù địch kiểm soát bờ phía bắc. Sự thận trọng của các đồng minh của Mỹ khi phải can thiệp và làm điều mà chính Hoa Kỳ còn từ chối thực hiện cũng rất dễ hiểu. Phương án đổ bộ lực lượng mặt đất để bảo đảm an ninh cho eo biển từ phía bờ biển Iran là một lựa chọn hoàn toàn khó chấp nhận, xét đến quy mô lực lượng cần thiết, khả năng vấp phải sự kháng cự trên bộ của Iran, cũng như thái độ ác cảm công khai của tổng thống Donald Trump về việc khởi động một « cuộc chiến dài bất tận » mới ở Trung Đông.

 

Trong thập niên 1980, phản ứng đối với việc Iran rải thủy lôi trong khu vực này là huy động tàu chiến Mỹ, châu Âu và Liên Xô để hộ tống các tàu hàng, đồng thời triển khai một chiến dịch quốc tế quy mô lớn để rà phá thủy lôi, đi kèm với các đòn không kích trừng phạt của Mỹ nhằm mục đích răn đe. Chuyên gia Ian Speller nhận định cách tiếp cận đó phù hợp với bối cảnh thời bấy giờ, tức bối cảnh « vùng xám », thì ngày nay trong bối cảnh chiến tranh công khai với Iran, nó ít còn phù hợp. Iran đã cho thấy rằng hiện nay họ có rất ít lý do để phải tỏ ra thận trọng, và giới lãnh đạo Teheran đã chứng minh quyết tâm chấp nhận cái giá của các cuộc oanh kích quy mô lớn.

 

Theo hướng đó, một cuộc phong tỏa của Mỹ, nhằm buộc Iran phải chia sẻ gánh nặng từ sự gián đoạn thương mại quốc tế này, có thể trở thành một nước cờ hiệu quả. Lựa chọn chiến lược này thực sự cho phép tránh đặt các tài sản chiến lược quan trọng vào tình thế nguy hiểm, bởi các con tàu có thể bị chặn bắt ở bất kỳ giai đoạn nào trên hành trình đến hoặc rời khỏi Iran. Tuy nhiên, vẫn còn phải chờ xem liệu sức ép đó có đủ để buộc Teheran phải nhượng bộ hay không, bởi vì giới lãnh đạo Iran có thể cho rằng họ đang nắm giữ lợi thế đàm phán lớn hơn để đối phó với Hoa Kỳ, do cuộc phong tỏa lẫn nhau gây ra những tác động rộng lớn hơn đối với kinh tế toàn cầu.

 

Sức mạnh hải quân của Hoa Kỳ đã tạo điều kiện cho một cuộc tấn công quy mô lớn nhằm vào Iran và cho phép thiết lập một cuộc phong tỏa có thể thực sự gây tác động mạnh đến nền kinh tế Iran trong những tuần và tháng sắp tới. Tuy nhiên, bất chấp sự tàn phá do chiến dịch không kích mà Mỹ - Israel gây ra, việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz vẫn là điều vừa dễ dự đoán vừa có sức gây rối loạn cực kỳ lớn. Chính vì vậy, đối với chuyên gia Ian Speller, thật đáng ngạc nhiên khi Hoa Kỳ dường như đã không chuẩn bị cho kịch bản này.

 

Cuộc tấn công của Mỹ và Israel đã biến chiến dịch quân sự thành một cuộc đối đầu trước hết là về hải quân, trong khi ban đầu chủ yếu xoay quanh các cuộc không kích. Biến chuyển của cuộc xung đột đã mang lại cho Washington một bài học cay đắng. Việc không thể giành được chiến thắng nhanh chóng đã phơi bày những giới hạn của sức mạnh Mỹ, và hiện nay Lầu Năm Góc vẫn đang phải đối mặt với một thách thức chưa có lời giải đáp.

 

 

Dù còn quá sớm để dự đoán kết cục thực sự của cuộc xung đột, nhưng ngay từ bây giờ chúng ta đã có thể rút ra một số bài học ?

 

Bài học đầu tiên và hiển nhiên nhất, đối với sử gia Ian Speller, là sự cần thiết của việc phải có một kế hoạch xác đáng trước khi sử dụng vũ lực. Quyền bá chủ trên biển và trên không chỉ có giá trị nếu nó cho phép đạt được một lợi thế bền vững sau khi chiến sự kết thúc.

 

Thứ hai, như các cuộc đối đầu gần đây cho thấy, một nước hoàn toàn có thể thua một cuộc chiến trên biển ngay cả khi hạm đội đối phương đã bị tiêu diệt trong một chiến dịch cực kỳ bất đối xứng : đối thủ đó có thể có trong tay những phương tiện khác để gây sức ép hoặc vô hiệu hóa ưu thế của đối phương. Điều này có nghĩa là Iran hoàn toàn có thể trở thành bên chiến thắng trong cuộc chiến hải quân này.

 

Và cuối cùng, tự do hàng hải vẫn giữ một tầm quan trọng mang tính nền tảng để hiểu được chiến lược hàng hải. Đó là một quyền tự do có thể sẽ bị thách thức và có thể sẽ cần được bảo vệ. Vì thế, hải quân sẽ tiếp tục đóng vai trò quyết định trong các lực lượng tác chiến liên quân, nhưng các lực lượng đó chỉ thực sự hiệu quả nếu được triển khai để phục vụ một chiến lược phù hợp và thực tế.

 

--------------------------

Các nội dung liên quan

Hộ tống tàu dầu qua eo biển Hormuz: Nhiệm vụ đầy rủi ro của Hải quân Mỹ

PHÂN TÍCH

Thủy lôi : Tai họa muôn thuở cho hải quân và thương mại !

THEO DÒNG THỜI SỰ

Iran thả thủy lôi ở Hormuz : Cơn ác mộng cho hải quân Mỹ và vận tải đường biển

PHÂN TÍCH

 

 



No comments: