Wednesday, January 1, 2025

'ĐÓ LÀ ĐỊNH MỆNH' : JIMMY CARTER ĐÓN NHẬN TRUNG QUỐC, THAY ĐỔI LỊCH SỬ (Tessa Wong / BBC News)

 



 

'Đó là định mệnh': Jimmy Carter đón nhận Trung Quốc, thay đổi lịch sử

Tessa Wong

Phóng viên Kỹ thuật số châu Á, BBC News

31 tháng 12 2024

https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cx2vxgl35qpo

 

Một buổi sáng trong lành vào tháng 1/1979, Tổng thống Mỹ Jimmy Carter tiếp một vị khách đặc biệt tại Washington: Đặng Tiểu Bình, nhân vật đã cởi trói nền kinh tế Trung Quốc.

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/fd67/live/0a2af200-c75c-11ef-94cb-5f844ceb9e30.jpg.webp

Đặng Tiểu Bình vồn vã chào đón Jimmy Carter vào năm 1987 ở Bắc Kinh

 

Họ Đặng, lãnh đạo Trung Quốc Cộng sản đầu tiên tới thăm Mỹ, đã đến từ tối hôm trước, giữa lúc tuyết rơi nhẹ và được phó tổng thống, ngoại trưởng và phu nhân của họ đón tiếp.

 

Đây là khởi đầu của một mối quan hệ ngoại giao sẽ thay đổi thế giới vĩnh viễn, mở đường cho sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc, và về sau là thế kèn cựa của quốc gia châu Á đối với Mỹ.

 

Trong một nhiệm kỳ tổng thống sóng gió, việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc là một trong số những di sản đáng chú ý của ông Carter.

 

Sinh vào ngày 1/10, trùng ngày thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, "[nên] ông ấy thích nói rằng số phận đã đưa mình và Trung Quốc lại với nhau," ông Lưu Á Vĩ, bạn thân ông Carter, nói.

 

Ngay cả sau khi đã rời nhiệm sở, ông Carter vẫn cần mẫn chăm chút một mối quan hệ gắn bó với người dân Trung Quốc – nhưng điều đó đã bị ảnh hưởng khi quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh trở nên lạnh nhạt.

 

Dầu vậy, ông vẫn thuộc số ít lãnh đạo Mỹ mà Bắc Kinh trân trọng do đã giúp đưa Trung Quốc Cộng sản ra khỏi vòng cô lập vào thập niên 70.

 

Khi ông Carter qua đời, Bắc Kinh đã gửi lời chia buồn, nói rằng ông là "động lực chính" của thỏa thuận thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào năm 1979.

 

Cộng đồng mạng Trung Quốc còn hơn vậy. Họ gọi ông Carter là "Meirenzong" (Mỹ nhân tông), hay "người Mỹ nhân đức", một danh xưng vốn từng dành riêng cho các bậc đế vương.

 

Ve vãn Bắc Kinh

 

Ông Carter lần đầu tiếp xúc với Trung Quốc vào năm 1949, khi quốc gia này đang trải qua những biến động cuối cùng của cuộc nội chiến đẫm máu đã kéo dài hàng thập kỷ.

 

Khi ấy, ông Carter là một sĩ quan hải quân Mỹ trẻ tuổi.

 

Đơn vị tàu ngầm của ông đã được điều động tới thành phố Thanh Đảo ở miền đông Trung Quốc, với nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Quốc Dân Đảng chống lại cuộc vây hãm của Cộng quân Mao Trạch Đông.

 

Chỉ cách chiến tuyến vài cây số là vị chỉ huy Trung Quốc tên Đặng Tiểu Bình.

 

Tới lúc trực tiếp chạm mặt nhau vài thập kỷ sau đó, hai người đã là lãnh đạo quốc gia.

 

Chính tổng thống Mỹ tiền nhiệm, ông Richard Nixon, và Ngoại trưởng Henry Kissinger đã đặt nền móng cho việc gạ gẫm Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông.

 

Chứng kiến thế kèn cựa giữa Bắc Kinh và Moscow, hai người họ đã nhìn ra cơ hội để lôi kéo một đồng minh của Liên Xô.

 

Tuy nhiên, những nỗ lực này chỉ thực sự được đẩy mạnh dưới thời Carter và Đặng. Họ đã thúc đẩy một mối quan hệ sâu sắc hơn.

 

Trong suốt nhiều tháng, vị tổng thống Mỹ đã cử các nhà đàm phán tin cẩn đến Bắc Kinh để tiến hành các cuộc thảo luận mật.

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/8996/live/11d67240-c75c-11ef-87df-d575b9a434a4.jpg.webp

Đặng Tiểu Bình (Trái) và Jimmy Carter ký một thỏa thuận khi ông Đặng tới thăm Mỹ vào tháng 1/1979, sau khi quan hệ chính thức giữa hai nước đã được thiết lập

 

Bước đột phá đã xuất hiện vào năm 1978.

 

Vào giữa tháng 12/1978, Mỹ và Trung Quốc đã thông báo sẽ "công nhận lẫn nhau và thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 1/1/1979".

 

Thế giới ngỡ ngàng, Bắc Kinh hân hoan, còn hòn đảo Đài Loan, vốn từ lâu đã dựa vào sự ủng hộ của Mỹ để chống lại yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, bị sốc.

 

Tới tận bây giờ, ông Carter vẫn là một nhân vật gây tranh cãi ở Đài Loan.

 

Trước đó, Mỹ chỉ công nhận chính phủ Đài Loan – hòn đảo mà Trung Quốc coi là một tỉnh phản loạn.

 

Trong nhiều năm, sự ủng hộ Mỹ dành cho Đài Loan là vật cản trong các cuộc đàm phán.

 

Việc quay sang công nhận Bắc Kinh đồng nghĩa với việc Mỹ rốt cuộc đã chấp nhận lập trường của Trung Quốc – rằng chỉ có một chính phủ Trung Quốc và chính phủ ấy ở Bắc Kinh.

 

Đây là chính sách Một Trung Quốc, hiện vẫn là nền tảng của quan hệ Mỹ-Trung.

 

Bước ngoặt này dấy lên câu hỏi tất yếu về cam kết của Mỹ với các đồng minh.

 

Không hài lòng với quyết định của ông Carter, Quốc hội Mỹ cuối cùng đã thông qua một đạo luật cho phép Mỹ cung cấp vũ khí phòng thủ cho Đài Loan, từ đó tạo ra một mâu thuẫn dai dẳng trong chính sách đối ngoại của Mỹ.

 

Dù vậy, các sử gia đồng ý rằng nhiều bước đi ngoạn mục đã được thực hiện vào năm 1979, khiến cục diện quyền lực toàn cầu thay đổi: không chỉ khiến Mỹ và Trung Quốc đồng lòng chống lại Liên Xô, mà còn mở đường cho hòa bình và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở Đông Á.

 

Tình bạn 'độc nhất vô nhị'

 

Carter có lẽ đã không thể làm được những điều nói trên nếu không có mối quan hệ đặc biệt với Đặng Tiểu Bình.

 

"Thương lượng với ông ấy là một điều vui thú," ông Carter viết trong nhật ký của mình sau khi dành một ngày với ông Đặng khi vị lãnh đạo Trung Quốc tới Washington vào tháng 1/1979, theo ông Ezra Vogel, người viết tiểu sử ông Đặng.

 

"Hai người đều tuân theo lẽ thường, thực ra tính cách thẳng thắn của họ rất tương đồng," ông Dương Đại Lợi, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Chicago (Mỹ), đánh giá.

 

"Có một điều gì đó rất độc đáo trong cách hai người đàn ông này đặt niềm tin vào nhau."

 

Đặng Tiểu Bình đã sống sót qua ba cuộc thanh trừng chính trị dưới thời Mao Trạch Đông, rồi vươn lên trở thành một trong những nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng nhất Trung Quốc.

 

Các nhà sử học cho rằng tầm nhìn, sự tự tin, tính cách thẳng thắn và trí tuệ sắc bén của Đặng đã góp một phần không nhỏ cho thành tựu ngoại giao nói trên.

 

Đặng nhận thấy cơ hội Carter mang lại, Vogel viết – để vừa ngăn chặn thế lực Liên Xô và khởi động quá trình hiện đại hóa đã diễn ra trước đó ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Ông ta biết rằng Trung Quốc sẽ thất bại nếu không có sự giúp sức của Mỹ.

 

Chuyến đi tới Mỹ của Đặng mở đầu với một cuộc gặp nồng ấm đầu tiên tại Nhà Trắng. Ở đó, ông ta đã khúc khích cười khi tiết lộ mối dây liên hệ của mình với Carter ở Thanh Đảo, theo tin tức Trung Quốc.

 

Ở Vườn Hồng, Đặng phấn khởi khi nắm tay Carter. Ông ta nói trước ống kính máy quay: "Giờ đây, người dân hai nước chúng ta đang bắt tay."

 

Trong vài ngày sau đó, Đặng đã thực hiện một chiến dịch quyến rũ dân Mỹ nồng nhiệt khi đi thăm một số bang cùng Carter.

 

Trong một bức ảnh nổi tiếng chụp tại một lễ hội rodeo (một trò biểu diễn cưỡi ngựa) ở Texas, Đặng cười rất tươi, trên đầu đội một chiếc mũ cao bồi.

 

"Đặng né chính trị, đúng kiểu Texas," một tờ báo địa phương giật tít.

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/0eef/live/15da2030-c75c-11ef-9fd6-0be88a764111.jpg.webp

Đặng Tiểu Bình vui vẻ đội thử một chiếc mũ cao bồi tại một lễ hội rodeo ở Texas

 

Ông Carter mô tả ông Đặng là người "thông minh, cứng rắn, trí tuệ, thẳng thắn, dũng cảm, dễ mến, tự tin, thân thiện," theo Vogel.

 

Sau này, Carter đã viết trong nhật ký rằng chuyến đi là "một trong những trải nghiệm tuyệt vời nhất của tôi trên cương vị tổng thống… đối với tôi, mọi thứ đều suôn sẻ, và vị lãnh đạo Trung Quốc có vẻ cũng hài lòng không kém."

 

"Carter thực sự là một chất xúc tác cho thứ còn hơn cả một sự giảng hòa ngoại giao - đó là một thời khắc mang tính biểu tượng đáng chú ý," ông Orville Schell, Giám đốc Trung tâm Quan hệ Mỹ - Trung thuộc Hội châu Á, nhận định. Ông Schell từng là phóng viên tường thuật chuyến thăm của Đặng năm 1979.

 

"Ông ấy [Carter] giới thiệu Đặng với nước Mỹ và thực chất là với cả thế giới. Điều đó biến một mối quan hệ vốn căng thẳng trở nên rất gần gũi. Cách Carter và Đặng tương tác là chỉ dấu nói rằng hai dân tộc có thể gác quá khứ sang một bên và gây dựng một mối quan hệ mới."

 

Dưới thời Carter, Trung Quốc được cấp quy chế "tối huệ quốc", giúp thúc đẩy kinh tế và tạo việc làm. Trong vòng một năm, thương mại song phương Mỹ-Trung đã tăng gấp đôi.

 

Trong suốt thập kỷ tiếp theo, Trung Quốc trở thành một đối tác thương mại quan trọng không chỉ đối với Mỹ mà còn với cả thế giới, điều "tối quan trọng" cho sự tăng trưởng của Trung Quốc, Giáo sư Dương nêu.

 

Gắn kết trọn đời

 

Mối dây liên hệ giữa Carter với Trung Quốc vẫn tồn tại rất lâu sau khi ông rời nhiệm sở.

 

Vào thập niên 90, tổ chức phi lợi nhuận của ông, Trung tâm Carter, đóng vai trò quan trọng trong nền dân chủ cơ sở mới nổi ở Trung Quốc.

 

Tổ chức này, theo lời mời của chính phủ Trung Quốc, quan sát các cuộc bầu cử cấp xã, đồng thời thực hiện công tác đào tạo cán bộ và giáo dục cử tri.

 

Khác với nhiều cựu tổng thống Mỹ khác, Carter đã có nhiều chuyến thăm cá nhân tới Trung Quốc. Trong một chuyến đi, ông và phu nhân Rosalynn đã giúp xây dựng chỗ ở tạm cho những người bị ảnh hưởng trong trận động đất Tứ Xuyên năm 2008.

 

Lòng tận tụy dành cho công tác nhân đạo, xuất thân khiêm tốn - con trai của một nông dân trồng đậu phộng - và "phong cách dân dã" trái ngược với hình ảnh công chúng trang trọng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã giúp Carter được nhiều người Trung Quốc yêu mến, theo Giáo sư Dương.

 

"Ông ấy sẽ được coi như hình mẫu cho một nhà lãnh đạo tận tụy, không chỉ qua lời nói mà còn bằng hành động."

 

"Tất cả những nơi ông ấy đã tới ở Trung Quốc, người dân đều bày tỏ tình cảm nồng ấm… Người Trung Quốc thực sự rất thích ông ấy vì lòng dũng cảm và sự trung thực của ông," Tiến sĩ Lưu, cố vấn cấp cao ở Trung tâm Carter, nói.

 

Ông Lưu từng đồng hành với ông Carter trong nhiều chuyến đi, bao gồm cả chuyến công tác năm 2014, khi ông được quan chức địa phương và lãnh đạo các trường đại học đón tiếp nồng nhiệt.

 

Thanh Đảo từng tổ chức màn bắn pháo hoa bất ngờ vào dịp sinh nhật lần thứ 90 của ông Carter.

 

Ở Bắc Kinh, con gái ông Đặng đã chủ trì một bữa tiệc và tặng Carter món quà là bản sao trang nhất tờ Nhân dân Nhật báo về Thông cáo chung Mỹ-Trung 1979.

 

"Cả hai đều xúc động đến rơi nước mắt," ông Lưu nói.

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/ac7e/live/18d9cba0-c75c-11ef-94cb-5f844ceb9e30.jpg.webp

Gia đình ông Carter ở tỉnh Tứ Xuyên. Họ đã giúp xây dựng chỗ ở tạm cho những người bị ảnh hưởng trong trận động đất Tứ Xuyên năm 2008.

 

Đó là chuyến thăm Trung Quốc cuối cùng của Carter.

 

Khi quan hệ Mỹ-Trung trở nên căng thẳng hơn, quan hệ giữa Carter với giới lãnh đạo Trung Quốc cũng vậy, đặc biệt là sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền.

 

Vào đêm trước chuyến thăm năm 2014, quan chức chính phủ cấp cao Trung Quốc đã chỉ đạo các trường đại học không đài thọ cho các sự kiện của ông, khiến việc đổi địa điểm phải diễn ra gấp rút vào phút chót, theo chia sẻ của Carter.

 

Một bữa tối cấp nhà nước được tổ chức cho Carter tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh đã có rất ít người tham dự, ông Schell nhớ lại.

 

Đáng chú ý, người chủ trì là Lý Nguyên Triều, khi đó là phó chủ tịch nước, còn ông Tập Cận Bình được cho là đang tiếp đón một vị khách quý khác ở nơi khác cũng trong khu nhà này.

 

"Ông ta [Tập] thậm chí còn không tới chào Carter. Điều đó thực sự cho thấy tình trạng của mối quan hệ," ông Schell nói.

 

"Carter thực sự rất tức giận. Hai phụ tá của ông ấy nói với tôi rằng ông ấy thậm chí còn muốn về sớm vì cảm thấy bị xúc phạm."

 

Các hoạt động của Trung tâm Carter ở Trung Quốc rốt cuộc đã bị hạn chế. Một trang web họ duy trì để ghi chép các cuộc bầu cử cấp xã đã dừng hoạt động.

 

Không có lời giải thích rõ ràng nào được đưa ra vào thời điểm đó, nhưng Tiến sĩ Lưu cho rằng điều này là do Trung Quốc ngày càng nghi ngờ những tổ chức nước ngoài sau khi Mùa xuân Ả Rập nổ ra vào năm 2010.

 

Mặc dù Carter ít khi nói về sự coi thường nói trên một cách công khai, nhưng nó cũng không giúp xoa dịu nỗi đau, xét tới những nỗ lực bền bỉ mà ông đã bỏ ra để thúc đẩy sự gắn kết giữa hai quốc gia.

 

Điều này cũng đặt ra câu hỏi liệu cách tiếp cận của Carter về vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc - ông mô tả là "kiên nhẫn" nhưng những người khác chỉ trích nó mềm yếu – cuối cùng có được nhìn nhận là hợp lý không.

 

Carter thường "cố gắng hết sức ... để không chọc giận Trung Quốc về vấn đề nhân quyền," ông Schell nói.

 

"Ông ấy vẫn tiết chế bản thân ngay cả khi đã rời khỏi nhiệm sở, vì Trung tâm Carter có thể gặp khó khăn ở Trung Quốc."

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/6209/live/1d6e9600-c75c-11ef-87df-d575b9a434a4.jpg.webp

Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương nâng ly với cựu Tổng thống Jimmy Carter và cựu Đệ nhất phu nhân Rosalynn tại Bắc Kinh năm 1987

 

Một số người cho rằng quyết định của ông trong việc thiết lập quan hệ với Trung Quốc Cộng sản xuất phát từ sự chân thành của người Mỹ thời ấy.

 

Sau những hỗn loạn bạo lực của Cách mạng Văn hóa, "nhiều người Mỹ bàng hoàng - làm sao người Trung Quốc có thể sống trong sự cô lập đầy phẫn nộ như vậy?" Giáo sư Dương nêu.

 

"Một số nhà lãnh đạo Mỹ thực tâm muốn giúp."

 

Một số người khác cho rằng khi nỗ lực quy tụ sự ủng hộ nhằm chống lại Liên Xô, Mỹ đã vạch đường cho sự trỗi dậy của Trung Quốc và rốt cuộc đã tạo nên một trong những đối thủ lớn nhất cho bản thân.

 

Nhưng những hành động này cũng mang lại lợi ích cho hàng triệu người Trung Quốc, giúp họ thoát khỏi đói nghèo và - trong một khoảng thời gian – gia tăng tự do chính trị ở cấp địa phương.

 

"Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta từ thế hệ đó đều là tác phẩm của sự gắn kết," ông Schell nói.

 

"Chúng tôi đã hy vọng Carter sẽ tìm ra một phương thức mà sẽ dần dần đưa Trung Quốc vào một mối quan hệ thoải mái với Mỹ và phần còn lại của thế giới."

 

Vào cuối đời, Carter ngày càng lo ngại về sự ngờ vực mà Mỹ và Trung Quốc dành cho nhau, và thường xuyên cảnh báo khả năng diễn ra một cuộc "Chiến tranh Lạnh thời hiện đại".

 

"Năm 1979, ông Đặng Tiểu Bình và tôi biết rằng chúng tôi đang thúc đẩy lý tưởng hòa bình. Dù các lãnh đạo ngày nay phải đối mặt với một thế giới khác, thì lý tưởng hòa bình vẫn giữ nguyên tầm quan trọng," Carter viết nhân kỷ niệm 40 năm bình thường hóa quan hệ.

 

"[Các nhà lãnh đạo] phải đón nhận niềm tin của chúng tôi rằng Mỹ và Trung Quốc cần xây dựng tương lai cùng nhau, vì lợi ích của hai nước nói riêng và của nhân loại nói chung."

 

------------------

Tin liên quan

·         

Jimmy Carter: Từ nông dân trồng đậu đến tổng thống Mỹ và Nobel Hòa bình

30 tháng 12 năm 2024

·         

Cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter: Cuộc đời qua ảnh

30 tháng 12 năm 2024

·         

Tổng thống Jimmy Carter: Đại ân nhân của thuyền nhân vượt biển

30 tháng 12 năm 2024

·         

Tòa Thái Lan tuyên 'trả tự do', Y Quynh Bđăp vẫn ngồi tù và đối mặt nguy cơ dẫn độ

28 tháng 12 năm 2024

·         

Công nghiệp quốc phòng Việt Nam: mức độ tự chủ và tiềm năng xuất khẩu

31 tháng 12 năm 2024

·         

Vì sao chính quyền Việt Nam bỏ tù chín nhà sư và phật tử Khmer?

27 tháng 12 năm 2024

 

 

 

 


NHỮNG VỤ TAI NẠN HÀNG KHÔNG THẢM KHỐC NHẤT NĂM 2024 (BBC News Tiếng Việt)

 



 

 

Những vụ tai nạn hàng không thảm khốc nhất năm 2024

BBC News Tiếng Việt

31 tháng 12 2024

https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cp9nl1k92g3o

 

Vụ tai nạn của máy bay Boeing 737-800 của hãng Jeju Air vào hôm 29/12 đã khiến 179 người thiệt mạng, trở thành vụ tai nạn hàng không thảm khốc nhất từng xảy ra trên lãnh thổ Hàn Quốc.

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/8101/live/650ef090-c725-11ef-94cb-5f844ceb9e30.jpg.webp

Hiện trường vụ tai nạn máy bay ở Sân bay Quốc tế Muan, Hàn Quốc

 

Dưới đây là một số vụ tai nạn hàng không nghiêm trọng nhất năm 2024.

 

Hàn Quốc

Chuyến bay mang số hiệu 7C2216 của hãng Jeju Air khởi hành từ Bangkok, Thái Lan đã gặp tai nạn ở Sân bay Quốc tế Muan, Hàn Quốc khiến toàn bộ 175 hành khách và bốn trong sáu thành viên phi hành đoàn thiệt mạng.

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/8101/live/650ef090-c725-11ef-94cb-5f844ceb9e30.jpg.webp

Hiện trường vụ tai nạn máy bay ở Sân bay Quốc tế Muan, Hàn Quốc

 

 

Brazil

Chuyến bay của hãng Voepass mang số hiệu 2283, một chiếc máy bay ATR-72 động cơ tua bin cánh quạt khởi hành từ thành phố Cascavel hướng đến thành phố Sao Paulo đã gặp nạn vào ngày 9/8 tại thành phố Vinhedo, khiến tất cả 62 người trên máy bay thiệt mạng.

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/8f81/live/81330b00-c728-11ef-9fd6-0be88a764111.jpg.webp

Hiện trường vụ tai nạn máy bay ở Vinhedo

 

Trong một tai nạn khác, một chiếc máy bay nhỏ loại Piper PA-42-1000 chở 10 người đã đâm vào các cửa tiệm ở trung tâm thành phố du lịch Gramado, miền nam Brazil vào ngày 22/12, khiến tất cả người trên máy bay thiệt mạng và làm bị thương 17 người dưới mặt đất.

 

 

Kazakhstan

Chuyến bay quốc tế J2-8243 của Azerbaijan Airlines, một máy bay Embraer E190 khởi hành từ thành phố Baku, Azerbaijan và hướng đến thành phố Grozny, Nga, đã gặp nạn và rơi gần thành phố Aktau, Kazakhstan vào ngày 25/12, khiến ít nhất 38 người thiệt mạng.

 

Ba ngày sau đó, Tổng thống Nga Vladimir Putin gửi lời xin lỗi đến Tổng thống nước láng giềng Azerbaijan về vụ việc trên.

 

Ông Putin nói rằng "thảm kịch" xảy ra khi phòng không Nga đang cố gắng ngăn chặn máy bay không người lái của Ukraine. Tuy vậy, ông Putin không thừa nhận máy bay rơi do phía Nga bắn trúng. Phát biểu của ông Putin đã khiến Tổng thống Ukraine Volodymr Zelensky kêu gọi phía Nga có lời "giải thích rõ ràng và ngừng chia sẻ thông tin sai lệch."

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/0ef7/live/cb06a960-c72a-11ef-94cb-5f844ceb9e30.jpg.webp

Vụ tai nạn máy bay ở Kazakhstan

 

 

Nepal

Vào ngày 24 /7, một chiếc máy bay chở khách nhỏ loại CRJ-200 thuộc hãng hàng không Saurya Airlines của Nepal đã gặp nạn và bốc cháy khi cất cánh từ thành phố Kathmandu tới thành phố Pokhara khiến 18 người thiệt mạng. Cơ trưởng là người duy nhất sống sót.

 

 

Malawi

Phó Tổng thống Malawi Saulos Klaus Chilima và chín người khác, bao gồm cựu Đệ nhất Phu nhân Shanil Dzimbiri, đã thiệt mạng vào ngày 10/6 trên đường từ Lilongwe đến Mzuzu khi chiếc máy bay quân sự chở họ bị rơi.

 

 

Thái Lan

Chuyến bay nội địa TFT209, một chiếc phi cơ mang dòng Cessna Caravan C208B khởi hành từ Bangkok đến tỉnh Trat, đã rơi cách thủ đô Thái Lan 100 km về hướng đông nam vào ngày 23/8. Vụ tai nạn khiến tất cả chín người trên máy bay thiệt mạng.

 

 

Iran

Tổng thống Iran Ebrahim Raisi, Ngoại trưởng Hossein Amir-Abdollahian cùng năm người khác đã thiệt mạng trong trong vụ rớt trực thăng vào ngày 19/5 tại vùng núi ở khu vực Varzeqan, gần biên giới với Azerbaijan.

 

Phương tiện gặp nạn là chiếc trực thăng Bell 212 do Mỹ sản xuất.

 

https://ichef.bbci.co.uk/ace/ws/800/cpsprodpb/02fd/live/6260c6e0-c72d-11ef-94cb-5f844ceb9e30.jpg.webp

Đội cứu hộ tại khu vực chiếc trực thăng chở ông Raisi gặp nạn

 

 

Canada

Sáu người đã thiệt mạng sau khi một máy bay của hãng hàng không Northwestern Air chở công nhân từ công ty khai thác mỏ Rio Tinto gặp nạn gần thị trấn Fort Smith ở vùng lãnh thổ Tây Bắc Canada (NWT) vào ngày 23/1.

Bốn hành khách và hai thành viên phi hành đoàn đã thiệt mạng trong vụ tai nạn. Chỉ một hành khách sống sót.

 

 

Nhật Bản

Một chiếc máy bay của hãng hàng không Japan Airlines đã va chạm với một máy bay tuần duyên nhỏ hơn trên đường băng của sân bay Haneda ở Tokyo vào ngày 2/1.

 

Tất cả 379 người trên máy bay của Japan Airlines đã thoát khỏi chiếc máy bay đang bốc cháy. Trong khi đó, năm trong số sáu thành viên phi hành đoàn trên chiếc máy bay nhỏ hơn đã thiệt mạng.

 

 

Singapore

Một hành khách đã tử vong có thể do đau tim và 30 người bị thương sau khi một chiếc máy bay Boeing 777-300ER của Singapore Airlines từ London đến Singapore gặp phải nhiễu động mạnh vào ngày 21/5.

 

Sự cố khiến hành khách và phi hành đoàn bị hất tung trong khoang và buộc máy bay phải hạ cánh khẩn cấp tại Bangkok.

 

----------------

Tin liên quan

·         

Vụ Singapore Airlines: 'Từ nay tôi sẽ luôn thắt dây an toàn'

22 tháng 5 năm 2024

·         

Vụ tai nạn máy bay Hàn Quốc: 'Chỉ chút nữa thôi là con gái tôi về tới nhà'

30 tháng 12 năm 2024

·         

Boeing: Tiết lộ động trời về quy trình an toàn của gã khổng lồ nước Mỹ

18 tháng 3 năm 2024





NHÀ VĂN, HỌA SĨ, NHÀ BÁO KHÁNH TRƯỜNG GIÃ TỪ CÕI TẠM (SGN)

 



Nhà văn, họa sĩ, nhà báo Khánh Trường giã từ cõi tạm

SGN

31 tháng 12, 2024

https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/nha-van-hoa-si-nha-bao-khanh-truong-da-tu-coi-tam/

 

Giới văn nghệ người Việt tự do cùng đón nhận tin buồn: Họa sĩ, nhà văn, nhà báo, nhà thơ Khánh Trường, đã đã lên đường rong chơi cõi khác vào ngày 29 Tháng Mười Hai năm 2024, tại miền Nam California. Ông là người để lại ấn tượng sâu sắc trong cộng động người Việt sau 1975, sáng tạo và gìn giữ nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa.

 

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2024/12/111A-1024x591.jpg

Khánh Trường, 1948-2024

 

Khánh Trường yêu cuộc đời tha thiết, đến mức nằm nhiều ngày ở bệnh viện UCI Health – Fountain Valley, khi bác sĩ xác nhận không còn khả năng trở lại, gia đình quyết định rút ống thở, vậy mà nhịp tim và huyết áp của ông vẫn ổn định đến 7 tiếng sau mới ngưng. Ông quả muốn níu kéo một cuộc đời ở trần gian đến vậy, dẫu đã làm muôn việc, so với bao người khác.

 

Tưởng nhớ văn nhân – nghệ sĩ Khánh Trường, mời quý vị đọc bài viết “Khánh Trường – Chuyện chưa hồi kết của nhà phê bình Đỗ Trường, bài điểm lại như một lời chia tay thương tiếc và thâm trầm.

 

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2024/12/41843218_10205361022143040_4466210983576076288_n.jpg

(Facebook tác giả)

 

Chuyện chưa hồi kết

 

Dường như, mỗi người thường có một thói quen, đặc điểm riêng nào đấy, khi đọc, hay nghiền ngẫm. Và tôi cũng vậy, đôi khi đang đọc người này, bất chợt liên tưởng đến văn của người khác. Sự so sánh, liên tưởng ấy, quả thực đẻ ra cho tôi những điều thú vị, nhất là ở các nhà văn đã từng là lính chiến, viết sau 1975 ở hải ngoại. Do vậy, khi đọc Khánh Trường, tôi nghĩ ngay đến Cao Xuân Huy, Tưởng Năng Tiến, và đọc Tưởng Năng Tiến hình ảnh Cao Xuân Huy, Khánh Trường từ đâu lù lù mò đến. Không hẳn giọng văn, mà bởi ba bác nhà văn này đào xới cái mặt trái của chiến tranh, của con người, xã hội, một cách rất tận tình. Sự thẳng tưng ruột ngựa này, gây ác cảm, ít nhiều động chạm đến đồng đội cũ, dẫn đến nhiều phiền toái, song ngòi bút, sự can đảm của họ vẫn đi đến tận cùng.

 

Thật ra, tôi đã đọc nhiều Cao Xuân Huy và Tưởng Năng Tiến, còn Khánh Trường dường như mới chỉ đọc vài, ba bài thơ, truyện ngắn của ông mà thôi. Tuy nhiên, tài năng hội họa, cũng như lòng can đảm, sự tự tin, dám đi giữa hai làn đạn, với mấy mươi năm chủ biên, dẫn dắt Tạp chí Hợp Lưu làm cho tôi cảm phục, mến yêu ông. Mấy hôm trước, nhà thơ Luân Hoán từ Canada gửi tặng tôi cuốn: Truyện Ngắn Khánh Trường Tập1. Nhận sách, tôi đọc ngay, và quất một mạch ngay trong ngày. Có thể nói, đây là một trong những tập truyện hay, lạ nhất tôi đã được đọc trong thời gian gần đây. Lạ, bởi vẫn những người lính, thân phận ấy, nhưng Khánh Trường đi sâu vào khai thác mặt trái của họ, trong và sau chiến tranh. Một mảng đề tài tôi nghĩ, bị bỏ ngỏ từ trước đến nay. Và cùng những khẩu ngữ dân dã, hè phố mang tính giang hồ đã làm nên một giọng văn độc đáo Khánh Trường. Có một điều đặc biệt nữa, cũng như cuộc đời (người lính) nhà văn Khánh Trường, những thân phận nhân vật trong truyện của ông đều bỏ ngỏ, không hồi kết. Vâng, đó là những cái kết mở, buộc người đọc phải suy nghĩ, hoặc như viết tiếp cùng tác giả vậy.

 

Nhà văn, họa sĩ Khánh Trường sinh năm 1948 tại Quảng Nam. Ngay từ tuổi thơ ông đã phải lăn lộn chốn giang hồ. Chuỗi ngày nhiều đắng cay, ít ngọt ngào ấy, như chất liệu sống để cho ông viết nên những tác phẩm hiện thực, sinh động sau này. Và khi bước được ra khỏi vũng bùn đó, bằng nghị sống, bằng đam mê, Khánh Trường tự học, tự mày mò để trở thành (các loại nhà) họa sĩ, nhà văn, nhà thơ, và nhà báo tên tuổi, tài hoa như ngày nay. Cũng như bạn bè cùng thế hệ, cuộc đời Khánh Trường đi qua chiến tranh, gắn chặt với thân phận đất nước. Do vậy, năm 1968 ông phải vào lính. Sau biến cố 1975 một thời gian khá dài, ông mới vượt biển và định cư tại Cali-Hoa kỳ. Những năm gần đây, bệnh tật tưởng chừng nhiều lần đã quật ngã ông, nhưng bằng nghị lực sống Khánh Trường vẫn miệt mài vẽ, và viết.

 

Là một tác giả viết, vẽ đủ các thể loại và làm báo đã rất lâu rồi, nhưng không hiểu sao những tác phẩm của Khánh Trường phổ biến trên (mạng) internet rất ít. Và dù có cố gắng tìm tòi, tôi cũng chỉ đọc được một tập: Truyện ngắn Khánh Trường tập 1. Tập truyện này, ông đã chọc vào cái ung nhọt, với nhiều khía cạnh của cuộc sống, con người. Tuy nhiên, bài viết này, tôi chỉ đi sâu vào chân dung người lính, và hồn vía tư tưởng, bút pháp Khánh Trường trong khuôn khổ tập truyện này, qua góc nhìn chủ quan của tôi mà thôi.

 

Sống trong giới du đãng giang hồ, rồi lăn lộn nơi chiến trường, cho nên hình ảnh, thân phận con người, nhất là người lính đậm nét và xuyên suốt trang văn Khánh Trường. Đọc ông, ta không chỉ thấy cái bi thương, hay sự kệch cỡm, ti tiện của con người, mà còn bắt gặp những lời mỉa mai một cách sâu cay đến tầng lớp thượng tầng, chóp bu, thông qua hình ảnh so sánh, với nghệ thuật hồi tưởng đan xen, làm cho người đọc phải bật ra tiếng cười trong sự đớn đau.

 

 

Sự tàn khốc, tâm trạng của người lính nơi chiến trường

 

Nếu ta đã đọc Phạm Tín An Ninh, Song Vũ, hay Trạch Gầm, thì hình ảnh người lính dưới bom rơi đạn nổ ấy, khác hẳn với người lính trong những trang văn Khánh Trường. Sự bi quan, khiếp đảm của người lính dưới ngòi bút Khánh Trường có lẽ chỉ là cá biệt, song phần nào đấy, bật lên hết cái sự tàn nhẫn của chiến tranh, cũng như tâm trạng thực của họ. Em có yêu anh không, là một truyện ngắn như vậy của Khánh Trường. Không biết, hình ảnh sợ sệt, yếu đuối của người sĩ quan trẻ đó có phải là hiện thân của Khánh Trường hay không? Nhưng những hình ảnh tang thương và sinh động này, tôi nghĩ, chưa trải qua, Khánh Trường khó có thể tưởng tượng và viết được như vậy:

 

“Tôi chạy lúp xúp sau Kh, một thằng lính vượt qua mặt tôi, nó hét: Chuẩn úy cúi thấp cái đầu xuống, coi chừng không có chỗ đội nón… Tôi chưa kịp nhìn xem thằng lính là ai thì hắn bỗng bật ngửa ra sau, giãy đành đạch, cái nón sắt văng khỏi đầu, lăn long lóc vào đám cỏ cao, cánh tay trái của hắn bung lên, đập vào ngực tôi, rơi xuống chân, co giật liên hồi. Tôi điếng người, vội nhủi vào một gốc cây, úp mặt sau lớp vỏ sần sùi.“ (Em Có Yêu Anh Không)

 

Và người lính trẻ Khánh Trường đã nhận ra: Chiến tranh, chỉ là một trò chơi của những dã thú đội lốt người. Và chiến tranh với mục đích, hay nhân danh chủ nghĩa, lý tưởng nào đi chăng nữa cũng ngập ngụa máu tanh, hận thù. Do vậy, ngòi bút ông như một chiếc cần, đưa mức độ tàn sát, dã man của cả hai bên chiến tuyến lên bàn để cân đong đo đếm. Với thủ pháp so sánh mang tính điện ảnh, kịch trường sân khấu, Khánh Trường đã bóc trần bộ mặt thật của chiến tranh một cách trần trụi, sinh động hơn. Và thủ pháp này, góp phần làm nên truyện ngắn Bàn Tay Trái đặc sắc của Khánh Trường. Đọc nó, làm cho tôi liên tưởng đến cái cách giết người dã man của những người lính ở hai bên chiến tuyến Bắc – Nam trong Tiểu Thuyết Vô Đề của nhà văn Dương Thu Hương. Thật vậy, nếu ai chưa đọc Tiểu Thuyết Vô Đề, mà bắt gặp ngay kiểu giết người thời trung cổ của lính phương Bắc dưới ngòi bút Khánh Trường, tôi nghĩ, sẽ bị ám ảnh, dẫn đến chứng mất ngủ lâu dài là cái chắc:

 

“Đó là xác của một binh sĩ đơn vị bạn bị địch quân bắt. Sau khi khai thác anh lính đến tơi tả – những vết nứt ngang dọc trên thân thể trần truồng chứng minh điều đó – họ chặt đầu anh. Thủ cấp được cắm trên cọc tre, ngay dưới gốc cây, hai con mắt lồi ra ngoài, miệng há hốc, những chiếc răng cửa bật gốc ngả nghiêng, máu khô quánh hai bên khóe, mảng tóc ngắn bết máu không che kín được vầng trán cày sâu vết dao nhọn vạch thành chữ ngụy, lũ kiến đỏ vẽ trên da mặt những đường nứt ngoằn ngoèo ngang dọc. Địch quân đã treo xác lên cây, xiên đầu qua cọc nhọn cắm giữa lối đi, như một lời cảnh cáo, uy hiếp tinh thần đơn vị đến sau…“

 

Và ngòi bút Khánh Trường quẳng lên bàn cân cái hành động giết người của người lính Nam cũng không khác gì lục lâm thảo khấu. Vâng, dường như cán cân man rợ ấy, giữa lính Bắc và lính Nam trở về mức thăng bằng chăng:

 

“ Hắn nằm nghiêng, cong queo bất động,chỉ có tiếng rên nhỏ, thật nhỏ phát ra ri rỉ như tiếng muỗi vo ve. Một người lính dùng mũi súng lật ngửa gã cán binh, hắn cố mở lớn hai con mắt đã lạc thần, nhìn. Thanh niên có cảm tưởng trong hai hố mắt sâu hoắm ấy một tia hy vọng vừa lóe sáng. Người lính quay hỏi viên trung sĩ tiểu đội trưởng: “Mình đưa hắn đi gặp Bác chứ?” Viên trung sĩ gật đầu. Lập tức, khóa an toàn bật kêu, và tiếp theo, một chuỗi tiếng nổ dòn tan. Gã cán binh nẩy ngược vài cái, đôi mắt trắng dã, đứng tròng. Không kịp đợi cái xác nằm im, người lính cúi xuống, rất bình thản tuột chiếc khâu vàng trên ngón tay đeo nhẫn của gã cán binh, bỏ túi, đứng dậy quay lui, không thèm nhìn lại lần thứ hai cái xác do chính anh vừa giải phóng.“ (Bàn Tay Trái)

 

Và đi sâu vào đọc văn học thời chiến, ta có thể thấy, nếu những người lính ở hai bên chiến tuyến trên trang văn Trần Hoài Thư, Lữ Quỳnh, hay Thảo Trường vẫn còn lại cái tình đồng loại, sự cảm thông cho nhau, thì với Khánh Trường, chiến tranh đã giết chết cái tình người còn sót lại ấy. Và chính nó đã biến những con người trong sáng, lương thiện trở thành ác nhân. Không phải là tất cả, song quả thực người lính nơi chiến trường, giữa sống và chết còn có hành động, khuôn mặt đen ngòm như vậy nữa. Từ khía cạnh, góc nhìn đó, Khánh Trường đã khai thác, đặt lên trang viết của mình. Tuy nhiên, ông không những vấp phải sự phản ứng của đồng đội, mà còn cả của những người lính bên kia chiến tuyến. Có thể nói, viết được những trang văn này, cần lắm sự dũng cảm của nhà văn Khánh Trường.

 

Và chiến tranh càng khốc liệt, càng đánh mạnh vào tâm lý người lính. Sự giao động tinh thần dẫn đến cái bi quan, chán chường ấy, đã được Khánh Trường miêu tả rất sâu sắc và chân thực. Có thể nói, ông là nhà văn có tài đi sâu vào miêu tả, so sánh, phân tích diễn biến nội tâm nhân vật:

 

“Suốt nửa tháng sau ngày chứng kiến cảnh ấy, thanh niên đêm ngủ thường giật mình choàng tỉnh, khắp người lạnh toát, van tim chừng như bị ai bóp nghẹt. Chỉ một năm, thanh niên chứng kiến bao nhiêu thảm kịch. Người chết, đủ kiểu đủ cách. Người bị truy lùng, vây bắt, tra tấn, cũng đủ kiểu đủ cách…Trên khắp mọi nẻo đường thanh niên đã đi qua, trùm phủ một màu xám, bao la, hun hút. Màu xám tối ám như bầu trời mùa đông sụt sùi mưa bão thanh niên sẽ phải chịu đựng những ngày sắp tới.“ (Bàn Tay Trái)

 

Không dừng lại ở bi quan, mà sự khiếp đảm dẫn đến những hành vi tiêu cực của người lính. Thật ra, hành động tự hủy hoại một phần thân thể để rời chiến trường, hoặc khỏi phải đi lính, không phải chỉ có ở một số lính tráng, thanh niên miền Nam, mà thanh niên miền Bắc lúc đó cũng vậy. Vâng, và vẫn truyện ngắn Bàn Tay Trái. Nó tiêu biểu nhất ở đề tài này của Khánh Trường. Đọc nó, chợt nhớ lại, khoảng năm 1969-1970 lúc đó tôi còn rất nhỏ. Một lần đi học về, vô tình nhìn thấy anh hàng xóm kê tay lên bậu cửa, dùng dao thái chuối, băm bèo cho lợn, tự chặt đứt phăng hai ngón tay của mình, để khỏi phải đi bộ đội. Cảnh tượng ấy làm tôi bị ám ảnh suốt tuổi thơ. Và cho đến nay, tóc đã bạc nửa mái đầu, mỗi lần nghĩ đến tôi vẫn chờn chờn, rờn rợn. Không rõ cuộc sống anh hàng xóm hiện nay ra sao. Ngày đó, quả thực anh không phải đi bộ đội, nhưng bị trói lại, dong đi khắp nơi, với tấm biển treo trước ngực: Thanh niên như tôi là mất nước, trong tiếng trống, tiếng phèng la… Và ta hãy đọc lại trích dưới đây, để thấy rõ, từ diễn biến tâm lý ấy, dẫn đến hành động tiêu cực của người lính, tuổi trẻ miền Nam (nói riêng, và cả hai miền nói chung) dưới ngòi bút rất chân thực Khánh Trường:

 

“Trong tích tắc, ý nghĩ bật thành quyết định, thanh niên không kịp đắn đo, anh vội vã kê cánh tay trái lên gò mốì, tay còn lại nâng cây súng, chĩa mũi vào lòng bàn tay, nhắm mắt, nghiến răng, bóp cò. Thanh niên dội bật ra sau, có cảm tưởng một nhát búa tạ vừa đập xuống giữa lòng bàn tay, anh hét lớn, cây súng rơi xuống chân. Thanh niên ngã vật ra, máu bắn tung tóe khắp mặt mũi quần áo, anh muốn ngất đi…” (Bàn Tay Trái)

 

Nếu đọc Khánh Trường, ta chỉ cảm được một thứ bạo lực dục tình, nảy sinh từ sự tàn khốc của chiến tranh, thì quả thực mới thấy được cái vỏ. Mượn những hình ảnh đó để giễu nhại sự hèn nhát của tướng lĩnh, hay những kẻ quyền thế lưu manh mới là cái cốt lõi ông muốn dẫn dắt, truyền tải đến người đọc. Ngay từ ngày đầu cầm bút ta đã thấy được thủ pháp nghệ thuật so sánh, hoán dụ này ở truyện ngắn: Có Yêu Em Không của ông. Với giọng điệu kinh bạc, lời văn dân dã, Khánh Trường đan xen tình tiết, mang tính phim ảnh kịch trường, những hình ảnh cưỡng tình, lợi dụng lòng tin ấy, đã bóc trần bộ mặt thật của những kẻ hại nước lừa dân. Một đoạn văn rờn rợn, trong tiếng mõ kinh cầu cho người lính tử trận, lồng vào những pha cưỡng dục, lừa tình như vậy dưới đây, sẽ làm sáng tỏ những đặc điểm này trong truyện ngắn Khánh Trường:

 

“Dưới nhà, tiếng kinh tụng của hai vị sư bắt đầu hòa cùng nhịp chuông mõ. Tôi nhìn xuống những ngọn đèn cầy trên nắp áo quan lao chao sáng. Ánh sáng hắt lên căn gác mù mù… Tôi gác chân đè nghiến hai đùi con nhỏ, bàn tay còn lại mò tìm cái khuy quần…Cả đời, tôi thù ghét thậm tệ những cái khuy cái móc kể cả những cái khuy cái móc vô hình trừu tượng, đại loại kiểu nói năng ba que xỏ lá móc hầu móc họng làm cho con người ta nghe xong tức ói máu trào đờm. Con nhỏ vội chụp bàn tay tôi lại. “Em lạy anh… đừng anh… anh… anh… đừng…” Không thể đừng được nữa rồi. Đã bước lên diễn đàn, đã hiệu triệu quốc dân, ai quăng súng cuốn cờ bỏ của chạy lấy người, mặc bố chúng nó, đồ hèn nhát Việt gian bán nước! Chúng ta phải sát cánh cùng nhân dân chiến đâu đến giọt máu cuối cùng! Không thể đừng được nữa rồi. Tôi thì thào bên tai con nhỏ…” (Có Yêu Em Không)

 

Viết về sau biến cố tháng 4-1975, giọng văn Khánh Trường càng trần trụi, cay nghiệt, và thâm thúy hơn. Ông viết về Sex, phơi bày tình dục, trong truyện ngắn Đêm mưa, song tôi không thấy cái cái nhục dục, nhầy nhụa ở đó, mà chỉ thấy sự nhầy nhụa hiện lên từ (lời) ông tổng thống trong ngày Saigon hấp hối. Thật vậy, vẫn biện pháp hoán dụ, Khánh Trường mượn nhà thổ, đĩ điếm để phơi bày bản chất ươn hèn của giới cầm quyền, làm cho người đọc phải bật ra tiếng cười chua chát. Và từ đó ta có thể thấy, Khánh Trường là nhà văn có trí tưởng tượng và sự liên tưởng thật phong phú:

 

“Riêng tôi, sáng ba mươi tháng Tư đơn vị tan hàng, tôi cởi bỏ bộ quân phục, nhủi vào động nằm với con đĩ. Lúc ông tân tổng thống lên đài ra lệnh cho binh sĩ bỏ súng quy hàng, tôi đang hùng hục mê tơi trên bụng con đĩ, sau khi đã nốc nửa lít rượu đế cộng với ngổn ngang rựa mận chả chìa lá mơ củ riềng cùng với đám chiến hữu ở một quán thịt cầy gần khu nhà thổ. Chẳng hiểu tại cái lệnh đầu hàng chó chết nó làm tư tưởng tôi phân tán hay tại nửa lít rượu mà cuốn băng ghi âm những lời vàng ngọc của ông tân tổng thống được phát lại đến lần thứ tư tôi vẫn chưa ra. Con đĩ càu nhàu: Uống cho cố vào, lâu như quỷ. Tôi cười hềnh hệch” (Đêm Mưa)

 

Có thể nói, văn thơ Khánh Trường đi sâu được vào lòng người đọc như vậy, bởi ông đã mở ra một con đường đi riêng cho mình. Ngoài khai thác đề tài khó nhằn, dễ va chạm, ít có người dám thử bút, Khánh Trường còn là nhà văn có tài sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ, liên tưởng so sánh, với lời văn rất mộc mạc, dân dã. Văn ông không kén người đọc. Từ ông giáo sư cho đến người lao công vẫn có thể bật ra tiếng cười sảng khoái, hay mỉa mai như nhau, khi đọc Khánh Trường. Do vậy, khi nghiên cứu, hay đánh giá Văn học Việt trước và sau chiến tranh, những trang văn độc đáo này của Khánh Trường không thể, không nhắc đến.

 

 

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2024/12/391652335_6500182066770744_4947053570196080516_n-780x505.jpg

(Tranh Khánh Trường)

 

 

Thân phận người lính sau chiến tranh

 

Sau 1975, khi các nhà văn ở hải ngoại, hay còn ở trong nước thường hồi tưởng về chiến tranh, hoặc viết về những năm tháng cải tạo tù đày, thì Khánh Trường đi sâu vào khai thác cái tráo trở, bạc bẽo của con người. Có một điều gây cho tôi những cảm xúc đặc biệt, khi cùng viết về tình người sau chiến tranh đối với người lính thất trận: Nếu trong truyện ngắn Trả Tiền, Cao Xuân Huy để tình người còn sót lại ở trong cô gái điếm, thì đến Đêm Mưa của Khánh Trường dường như, cái tình đồng loại ấy hoàn toàn không còn nữa. Sự cạn tàu ráo máng đó, như một bức tranh hiện thực nhớp nhơ, với nỗi bần cùng, ô nhục của người lính thất trận, mà Khánh Trường đã vẽ nên.

 

Vâng, đọc Đêm Mưa của Khánh Trường, tôi không chỉ nhớ đến Trả tiền của Cao Xuân Huy, mà còn nhớ đến cả tiếng chửi ngoa ngoắt trong truyện Những Đứa Trẻ Đầu Thai Giữa Hàng Rào của Thảo Trường. Thật vậy, với tôi, truyện ngắn Đêm Mưa, hay và điển hình về đề tài này của Khánh Trường. Và đoạn văn, hay những câu liên hoàn chửi dưới đây, Khánh Trường cho ta thấy, nhân phẩm của con người bị chà đạp như thế nào, dưới cái đạo đức, tình người đã bị đảo lộn tùng phèo ấy:

 

“Con đĩ tru tréo: Đụ má tao tởm mày lắm rồi. Bắt đầu từ bây giờ, mạnh đứa nào đứa đó tự lo lấy thân, mày đừng báo cô tao nữa, hãy để cho tao yên. Đụ má, một năm nay vì mày mà tao thân tàn ma dại, mày thấy không?…Tôi cố nuốt cơn giận cho trôi tuột xuống bụng. Mặc mẹ nó, nhịn một chút chẳng chết ai…Đây đâu phải lần đầu tiên con đĩ giở giọng với tôi! Con đĩ giở giọng kể từ lúc nó biết tôi đã hết thời. Phải, quả thật tôi đã hết thời. Ngày trước tôi thuộc hạng có máu mặt, tuy chẳng lon lá chức phận, nhưng bộ đồ rằn ri cũng tạo được cho tôi cái uy tín đáng kể với bọn du đãng cao bồi đâm cha giết chú quanh vùng này.” (Đêm Mưa)

 

Trốn được địa ngục trần gian nơi nhà tù cải tạo, nhưng cuộc sống của người lính ấy ở tận đáy của xã hội. Không chỉ có nhân phẩm, mà thể xác cũng bị đọa đày. Không thể làm phép so sánh, song dưới ngòi bút trần trụi này của Khánh Trường, thì có lẽ nhiều người sẽ chọn nơi cải tạo tù đày chăng:

 

“…giáp với cánh đồng rộng trồng rau cải nực nồng mùi phân người. Căn chòi trước kia có lẽ là một cái chuồng trâu bỏ hoang. Sau ngày biến động, khu nhà thổ bị ruồng bố, bọn tôi dẫn nhau ra đây, góp nhặt được mấy tấm tôn cũ, mớ ván thùng cùng ít tre trúc, gỗ tạp sửa sang lại…phía sau dựa lưng bãi tha ma…Mùa đông, côn trùng, muỗi mòng, giun dế, dơi chuột, ếch nhái, và dĩ nhiên cả rắn rít bò vào chòi tìm chỗ trú” (Đêm Mưa).

 

Tuy bi thương và cùng cực là vậy, song những ước mơ, khát vọng (của con người nói chung và) của người lính nói riêng vẫn mãnh liệt. Có thể nói, văn thơ Khánh Trường không chỉ đan xen tình tiết hiện tại, với những ký ức đã xa vời vợi, mà còn có lời văn dân dã, trần trụi lồng vào những hình ảnh, lời văn gợi cảm, mượt mà. Đoạn trích có những hình ảnh, ước mơ và khát vọng rất đẹp dưới đây sẽ cho ta thấy rõ điều đó:

 

“Thung lũng mở ra bát ngát. Vành trăng lặn từ lúc nào tôi không hay. Về phía đông, chân trời đã rạng, và rất nhanh, khối lửa đỏ ối, to như một cái nong trồi lên, nhuộm đỏ khúc sông trước mặt. Chúng tôi dừng lại bên này bờ, nước sông dâng cao, sóng nhỏ lăn tăn tràn lên bãi cát lấp lánh lân tinh. Từ bụi ô rô cách chỗ chúng tôi đứng mươi bước, đàn vịt trời chợt vỗ cánh bay lên, tiếng cánh đập lạch phạch đồng loạt phá tan bầu khí tĩnh lặng của buổi bình minh. Mặt nước xao động, màu máu đỏ lềnh vỡ ra, lung linh huyền ảo. Huệ nói: Mình về nhà nhé! Tôi gật đầu”. (Đêm Mưa)

 

Tuy mang tính chân thực, song đôi khi ta bắt gặp những trang văn, hình ảnh tưởng tượng quá mức của Khánh Trường. Đành rằng tiểu thuyết, truyện ngắn văn học phải có hư cấu, song cái sự hư cấu ấy, người đọc có thể chấp nhận được. Tôi sinh sau đẻ muộn, không phải trải qua những năm tháng đẫm máu này, và hoàn toàn chỉ hiểu chiến trường qua sách báo. Tuy nhiên, khi đọc đoạn văn Khánh Trường miêu tả sự trả thù của người lính với viên đại úy ở nơi chiến trường một cách bẩn thỉu, hạ cấp, nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi. Đêm Mưa là một truyện ngắn rất hay, và gây cho tôi nhiều cảm xúc, song đọc đến đoạn văn này đã cắt ngang dòng cảm xúc ấy của tôi:

 

“Bạn bè đồng đội nhìn tôi khinh bỉ, dưới mắt chúng nó, tôi là tên nịnh bợ hèn hạ mất hết nhân cách làm người. Chúng nó tránh tôi như tránh hủi. Mặc kệ, tôi bất cần, tự an ủi, cứu cánh biện minh cho phương tiện. Làm sao chúng biết được niềm sung sướng hả hê tôi đang có được? Quả vậy, còn sung sướng nào hơn khi mỗi ngày hai bữa cơm, do chính tay tôi nấu nướng hầu hạ, tên đại úy đã táp ngon lành phần ăn thơm tho béo bổ, phần ăn đã được tôi trộn thêm vào mỗi lần một ít cứt của chính tôi?” (Đêm Mưa)

 

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2024/12/472074386_1132173788262334_7218518130096043478_n-scaled.jpg

(Facebook tác giả)

 

 

Nỗi buồn nơi đất khách

 

Và người lính ấy cũng đến được nơi phải đến. Nhưng nỗi đau về tinh thần dường như cứ đeo bám mãi không thôi. Nếu người đàn bà mở lòng đón nhận người phế binh cụt chân là cái kết của thiên truyện Chung Cuộc, thì ở Chắp Vá vẫn người phụ nữ ấy đã ruồng bỏ người chồng, một cựu trung đoàn trưởng. Vâng, có thể nói, ngòi bút Khánh Trường đã chọc vào mọi ngõ ngách của cuộc sống. Với khẩu ngữ, lời văn sắc lạnh, cùng hình ảnh so sánh mang tính miệt thị, làm người đọc có sự đồng cảm hơn với nỗi đau, cái khốn cùng của người sĩ quan lỡ vận, trước lòng tham, sự tráo trở của người đàn bà bao năm chăn gối: “Cậu A ngày trước chỉ là trung sĩ dưới quyền anh xa lắc, bây giờ cũng kỹ sư như ai, anh không đáng xách dép cho nó…Thằng B chí thú tiến thân, bây giờ nếu lấy tiền của nó đem mà đốt thì cỡ mười thằng như anh cũng thành tro…Bộ anh không biết nhục sao?” (Chắp Vá)

 

Vẫn mượn thiên truyện Chắp Vá, Khánh Trường không chỉ gắn trách nhiệm của từng cá nhân, mỗi con người với thất bại, nỗi đau quá khứ, mà còn bóc trần tính cách giả dối, sĩ hão, với những hội đoàn người Việt bát nháo hiện nay. Bởi, nó đang lặp lại hình ảnh, sự ham muốn danh tiếng, uy quyền, y chang ngày tháng cũ nơi quê nhà vậy. Có thể nói, viết truyện Chắp Vá là sự dũng cảm, dám đi giữa hai làn đạn Cộng Hòa và CS của nhà văn Khánh Trường. Bởi, đang lúc hừng hừng nước sôi lửa bỏng như vậy, ông đã dám chọc thẳng vào cái tổ ong vò vẽ đó:

 

“Lỗi là lỗi của các anh, không chịu biết người biết ta, không thấy được cái u mê của mình, bao nhiêu năm rồi còn khư khư ôm chặt cái dĩ vãng vàng son, rồi phẫn nộ chửi trời chửi đất, chửi Cộng Sản, chửi chế độ, chửi cấp chỉ huy, chửi lãnh đạo, làm như mọi tội lỗi đều do thiên hạ, bởi thiên hạ, còn mình tiết sạch giá trong. Lại còn trò lập bang lập hội, chia bè kết nhóm, nay ra thông cáo, mai đăng nghị quyết, mốt đọc kiến nghị. Làm được quái quỷ gì chẳng thấy, chỉ thấy tốn rượu tốn thịt, chỉ thấy thằng này chửi thằng kia, hội này tố hội nọ, bôi bùn trét cứt vào mặt nhau, thua cả phường đá cá lăn dưa Chợ Cầu Ông Lãnh.”(Chắp Vá)

 

Có thể nói, giễu nhại, châm biếm là những thủ pháp nghệ thuật góp phần làm nên trang văn Khánh Trường. Đây là thủ pháp nghệ thuật truyền thống, đã được nhiều nhà văn sử dụng trước đây. Tuy nhiên, không phải ai cũng thành công. Không hề có ý so sánh, song đọc truyện ngắn Mr Trần của Khánh Trường chợt làm tôi nhớ đến cái món chọc ngoáy (châm biếm) của những Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố hay Tam Lang, Hoàng Đạo. Cười đấy, nhưng mà đau. Ở hải ngoại với tôi hiện nay, có lẽ, Tưởng Năng Tiến và Khánh Trường là hai cây bút viết khá sâu cay ở thể loại này? Có thể nói, Mr Trần là truyện ngắn hay, và tiêu biểu nhất về thủ pháp nghệ thuật này trong Truyện ngắn Khánh Trường tập 1. Thật vậy, chỉ đôi mươi dòng kể, với từ ngữ đậm nét dân gian cuộc đời người đàn bà lăng loan hiện lên một cách sinh động, gây cho người đọc tiếng cười hài ước, và chua chát:

 

“chị muốn trở về nguồn…thỉnh thoảng lai rai cắn trộm vài quả ái ân với các đấng mày râu đồng chủng. Hại thay, tai vách mạch rừng, anh G.I. chịu không thấu, đành lôi chị ra tòa ca bài tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi. Với chức năng làm mẹ rất đỗi cao quý, chị được tòa xử cho quản lý hai ba bất động sản và một trương mục khá bề bộn, để tiếp tục nuôi hai nhỏ con tạp chủng, chứng tích hùng hồn nhất của tình hữu nghị Mỹ Việt một thời keo sơn. Trở lại với cội nguồn, chị ban đầu hơi bơ vơ, thứ nhất chữ không hay cày không giỏi, thứ hai đồng hương có vẻ không happy với hành động qui hồi cao quí của chị. Nhưng…loay hoay thế nào chị lại trở thành chủ báo. Dù chữ nghĩa hết sức ăn đong, có khi viết một câu ba dòng đã trật năm bảy lỗi chính tả, nhưng chị vẫn thành công vượt bực trong ngành báo.”(Mr. Trần)

 

Vẫn mang đậm nét khẩu ngữ dân gian, với lối miêu tả, so sánh trực diện, không chỉ kẻ háo danh, cơ hội như M. Trần, mà từ dáng hình người đàn bà ấy bật ra nhân cách con người, trong cái sân khấu hề chèo nơi hải ngoại. Tuy không phải là tất cả, nhưng đọc truyện ngắn Mr. Trần ta thấy được phần nào cái mặt sau nhem nhuốc của cộng đồng người Việt. Phải nói, đây là tài năng liên tưởng, sử dụng từ ngữ, và lối quan sát tỉ mỉ của nhà văn Khánh Trường:

 

“Mr. Trần thấy hoàn cảnh cô quả lẻ bóng của chị, rất lấy làm thương xót. Chim chóc còn có cặp có đôi, gà vịt còn có trống có mái, ngay cả hoa còn có hoa đực hoa cái, huống hồ người. Bèn mon men làm quen. Trai tài gái sắc gặp nhau, như rồng mây gặp hội. Dù ngay tình mà nói, tuổi tác chị cũng đã xế chiều, lại bị bơ sữa đế quốc làm cho cái body tăng trưởng một cách rất hỗn hào về chiều ngang, bất chấp chiều cao khiêm nhường một thước năm mươi, nên trông chị lúc nào cũng ủn ỉn lạch bạch thấy mà thương.” (Mr. Trần)

 

Có thể nói, chỉ thông qua một tập truyện ngắn để viết chân dung một tác giả đa tài, và dày công sáng tạo như Khánh Trường, thì quả thực khó khăn. Do vậy, trong khuôn khổ bài viết này, tôi nghĩ, có thể còn nhiều thiếu sót, và những chi tiết chưa thực đúng. Song với giọng văn đặc biệt, cùng những truyện kể bỏ ngỏ, chưa có hồi kết, tôi tin, văn thơ cũng như cuộc đời Khánh Trường vẫn còn phải nghiên cứu và viết tiếp…

 

Leipzig

Đỗ Trường

 



TƯỞNG NHỚ NHÀ VĂN, HỌA SĨ TÀI HOA KHÁNH TRƯỜNG (Nguyễn Tấn Cứ / Saigon Nhỏ News)

 



Tưởng nhớ nhà văn, họa sĩ tài hoa Khánh Trường

Nguyễn Tấn Cứ

31 tháng 12, 2024

https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/tuong-nho-nha-van-hoa-si-tai-hoa-khanh-truong/

 

HÌNH : https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2024/12/21558597-1318041498318186-4820371625156763122-n-1.jpg

(Hợp Lưu)

 

Không nhớ vào khoảng thời gian nào, lúc đó tôi đang ăn nhậu bù khú với bạn bè ở 81 Trần Quốc Thảo.

 

Trong khói thuốc bia rượu mù trời, khi cơn say bốc lên, bỗng có bàn tay khều khều phía sau, một tiếng nói như “truyền âm nhập mật“ trong tai. “Nguyễn Tấn Cứ, mầy có người từ bên kia về hỏi thăm kia”. “Ai vậy?“. Quay lại thì ra là thi sĩ Nguyễn Tôn Nhan, ổng có vẻ bí ẩn “Khánh Trường, chủ biên Hợp Lưu đang nhậu bên kia“.

 

Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, đó là lần đầu tiên tôi biết đến cái “ông nội khét tiếng“ từ nước trong ra nước ngoài nầy.

 

Đó là một người cao lớn cột tóc đuôi ngựa, râu ria bặm trợn, áo hở ngực đang hút thuốc phèo phèo uống bia như nước, quây quần với chiến hữu như Cung Tích Biền, Nguyễn Tôn Nhan, Phạm Chu Sa, Lê Thánh Thư, Phù Hư … Đó cũng là lần đầu tiên tôi “đụng trận chạm mặt“ với ông chủ bút lừng danh, vì địch ta máu mặt nhân văn nhân bản nào ổng cũng chơi không sót tên tuổi nào.

 

Rồi thời gian trôi đi dài theo năm tháng. Kể từ khi anh Khánh Trường bị tai biến, tờ Hợp Lưu cũng thay dòng, khi tay giang hồ hảo hớn Khánh Trường phải ngồi một chỗ. Mọi thứ gần như thành kỷ niệm đẹp của một thời văn chương Hợp Lưu bất khuất cũng phải im nằm …

 

Cách đây hơn 10 năm nhà văn Ngụy Ngữ hú “Khánh Trường về Sài Gòn rồi, có hỏi thăm Nguyễn Tấn Cứ, chiều nay mầy tới quán Ruốc của Mường Mán uống rượu“. Lần nầy thì có phu nhân của Khánh Trường đi theo để hộ giá, vì anh đã ngồi xe lăn. Lần nầy thì Khánh Trường không đứng lên mà phải ngồi xuống để uống cùng “chiến hữu“ như Đoàn Thạch Biền, Ngụy Ngữ , Phạm Chu Sa … và tôi cái thằng “hậu sanh khả úy“ nầy

 

Với chỉ hai lần họp mặt ở Sài Gòn, cùng với hai ba lần góp mặt trên văn đàn Hợp Lưu, với một ông chủ bút sừng sỏ, tôi đã xuất hiện như một nhà thơ “ngoài luồng“ không biết bằng cách nào đã “vượt biên” qua Mỹ, lúc Việt Nam còn chưa biết Internet Facebook Email là quái gì. Lúc mà thế giới còn mù căm sau bức màn đen kịt, thì tạp chí Hợp Lưu và Khánh Trường đã là cầu nối văn chương trong cõi âm u mù mịt chập chùng.

 

Viết lại những giòng nầy như một lời tri ân đến nhà văn họa sĩ Khánh Trường. Vì nghe đâu anh đã lên đường, đã rời xa cõi đời sương khói. Anh đã hạnh phúc, rong chơi, đau khổ văn chương và giờ đây anh lại tiếp tục rớt hột phiêu bồng …

 

 

Tạm biệt anh, nhà văn họa sĩ Khánh Trường.

 

HÌNH : https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2024/12/Hop-luu-1.jpg

 

Hoạ sĩ Khánh Trường tên thật là Nguyễn Khánh Trường, sinh năm 1948, ở Quảng Nam, gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1968, giải ngũ năm 1972 vì bị thương. Khánh Trường vượt biên đến Thái Lan năm 1987, định cư tại Hoa Kỳ năm 1988. Sự đóng góp của anh vào văn học Việt Nam hải ngoại không nhỏ vì ngoài vẽ tranh, triển lãm tranh, anh cũng là một nhà văn tên tuổi, viết với vài bút hiệu khác như Kim Thi, Nguyễn Thị Giáng Châu. Khánh Trường đã xuất bản nhiều tác phẩm và từng là chủ biên của tạp chí Hợp Lưu, Hoa Kỳ, từ 1990 đến 2005.

 

Họa sĩ Khánh Trường là một trong những nghệ sĩ tài năng và nổi bật trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đặc biệt trong lĩnh vực hội họa và văn học. Ông không chỉ được biết đến như một họa sĩ xuất sắc với phong cách độc đáo, mà còn là một nhà văn và nhà biên tập, nhà báo uy tín.

 

Tiểu sử và sự nghiệp

 

Khánh Trường sinh ra tại Việt Nam, từng sống và hoạt động nghệ thuật trong nước trước khi di cư sang Mỹ sau biến cố năm 1975.

 

Tại hải ngoại, ông tiếp tục phát triển sự nghiệp hội họa và để lại dấu ấn qua nhiều tác phẩm mang phong cách hiện đại, trừu tượng, và biểu cảm. Những tác phẩm của ông thường chứa đựng chiều sâu tư tưởng, gợi lên những cảm xúc mãnh liệt và phản ánh cuộc sống của con người, đặc biệt là trải nghiệm của người Việt nơi đất khách.

 

Ngoài hội họa, Khánh Trường còn tham gia tích cực trong lĩnh vực văn học. Ông là người sáng lập và chủ biên nhiều tạp chí văn học, nổi bật nhất là tạp chí Hợp Lưu, một trong những diễn đàn văn học nghệ thuật quan trọng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tạp chí này đã kết nối nhiều cây bút lớn từ khắp nơi trên thế giới, góp phần duy trì và phát triển tiếng Việt trong văn học.

 

Phong cách nghệ thuật

 

Phong cách hội họa của Khánh Trường chịu ảnh hưởng từ nhiều trường phái nghệ thuật quốc tế nhưng vẫn mang đậm bản sắc riêng. Ông thường sử dụng màu sắc mạnh mẽ, bố cục sáng tạo, và nét vẽ tự do để diễn đạt những chủ đề như khát vọng, nỗi đau, ký ức, và sự tìm kiếm bản ngã.

 

Đóng góp và tầm ảnh hưởng

 

Khánh Trường không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa mà còn là một người thầy, một người truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ trong cộng đồng người Việt. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực nghệ thuật và văn học đã góp phần bảo tồn và làm phong phú thêm di sản văn hóa Việt Nam tại hải ngoại.

 

Với tài năng và tâm huyết, Khánh Trường đã khẳng định vị trí của mình như một biểu tượng nghệ thuật, không chỉ trong cộng đồng người Việt mà còn trên trường quốc tế.

 

 



THÀNH KÍNH TRI ÂN & TƯỞNG NHỚ TỔNG THỐNG JIMMY CARTER (Trần Trung Đạo / Saigon Nhỏ News)

 



Thành kính biết ơn và tưởng nhớ Tổng Thống Jimmy Carter (1924 – 2024)

Trần Trung Đạo  –   Saigon Nhỏ News

31 tháng 12, 2024

https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/tan-man/thanh-kinh-biet-on-va-tuong-nho-tong-thong-jimmy-carter-1924-2024/

 

HÌNH : https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2024/12/471951331_1000242728807705_8280155581503158593_n-1024×700.jpg

(U.S. Embassy in Hanoi)

 

Năm 1978, tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ Jimmy Carter chỉ thị cho hải quân Hoa Kỳ đang tuần hành trên Thái Bình Dương cứu vớt thuyền nhân Việt Nam đang lênh đênh trên biển.

Tổng thống tuyên bố mỗi tháng Hoa Kỳ sẽ nhận gấp đôi số người tị nạn từ 7.000 người lên đến 14.000 người. Với chính sách đó, ông cũng nhằm thúc đẩy các quốc gia khác gia tăng con số người tị nạn được cho phép định cư.

 

Hành động của Tổng Thống Carter lúc đó không được dân chúng Mỹ đồng tình.

 

Theo thăm dò của Gallup, 57 % chống đối chính sách tị nạn mới của tổng thống Carter. Nhưng tổng thống vẫn hành động theo lương tri và lòng thương cảm. Ông phát biểu:

 

“Chúng ta sẵn sàng hành động với lòng trắc ẩn vốn là đặc điểm truyền thống của Hoa Kỳ khi đối mặt với những tình huống khủng hoảng con người như vậy.” (Catherine E. Shoichet, CNN, Sun June 4, 2023)

 

Phần đông người tị nạn Việt Nam trải qua nhiều ngày trên biển với tất cả khó khăn mà họ đã phải chịu đựng như giông bão, hải tặc, đói, khát, máy hư, bịnh tật, lạc hướng…

 

Đạo luật Tị Nạn (Refugee Act of 1980) được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1979 và Tổng Thống Jimmy Carter ký ban hành đầu 1980 đã nâng mức nhập cư người tị nạn từ 17,000 đến 50,000 người. Đây là một hành động của một vĩ nhân.

 

Tháng Sáu 1981, người viết và hơn 80 đồng hương trên chiếc ghe chỉ dài hơn 10 mét, không thực phẩm, thiếu nước uống, đã được chiến hạm USS White Plains (AFS-4) vớt trên Biển Đông.

 

Tổng Thống Jimmy Carter qua đời ngày 29 Tháng Mười Hai 2024, thọ 100 tuổi.

 

Chúng tôi biết ơn ông Jimmy Carter. Không có tổng thống, cá nhân tôi và hàng trăm ngàn người Việt có thể đã chết trên Thái Bình Dương mênh mông đầy sóng gió.

 

HÌNH : https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2024/12/471871225_2109992639448042_1435349960870743576_n-780×436.jpg

(Facebook)

.




SƯ MINH TUỆ và ĐOÀN BỘ HÀNH ĐÃ ĐẾN THÁI LAN (RFA)

 



Sư Minh Tuệ và đoàn bộ hành đã đến Thái Lan    

RFA

2024.12.30

https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/su-minh-tue-den-thai-lan-12302024234659.html

 

Cập nhật lúc 12:45 PM ngày 31/12/2024 giờ miền Đông Hoa Kỳ

 

Đoàn bộ hành của sư Minh Tuệ rời cửa khẩu Vang Tao của Lào và bước qua cửa khẩu Chong Mek của Thái Lan vào lúc khoảng 10 giờ 30 phút sáng ngày 31/12/2024 sau 19 ngày ở Lào. 

 

https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/su-minh-tue-den-thai-lan-12302024234659.html/@@images/3ad33832-ff2f-40ba-853f-9304c5fff509.jpeg

Sư Thích Minh Tuệ qua biên giới Lào và Thái Lan vào ngày 31/12/2024   (RFA)

 

Video trực tiếp từ ông Đoàn Văn Báu cho thấy, sư Minh Tuệ cùng các sư Minh Tạng, Minh Trí, Chơn Trí, An Lạc và Vô Sanh được tạo điều kiện xuất cảnh khỏi Lào và nhập cảnh Thái Lan một cách đơn giản, mọi thủ tục đều có những tình nguyện viên lo trước.

 

Tại cửa khẩu Chongmex, thuộc tỉnh Ubonratchathani (thường được gọi tắt là tỉnh Ubon) thuộc Thái Lan trên biên giới với Lào, khoảng 100 người, chủ yếu là tiểu thương và tài xế xe tuktuk người Thái Lan và Lào, mưu sinh tại khu vực sát biên giới, đã tập trung trước cửa khẩu để chào đón đoàn bộ hành. Khoảng 20 YouTuber Việt Nam cũng đã có mặt tại cửa khẩu từ sớm để đưa tin.

 

Những người dân mang theo hoa và nước, quỳ trước cổng ra vào cửa khẩu, rải hoa và vẩy nước dưới đường đi như một nghi thức đảnh lễ với các nhà sư.

 

Đi cùng tăng đoàn, ngoài hai YouTuber quen thuộc trong hành trình bộ hành qua đất Lào là ông Đoàn Văn Báu và Lê Khả Giáp, còn có bốn tình nguyện viên khác đảm nhận công việc hậu cần là người Thái và hai cảnh sát thuộc tỉnh Ubon được điều động để giữ trật tự.

 

Theo YouTuber Đoàn Văn Báu, đoàn sẽ đi bộ 1.300 km trong hai tháng trên đất Thái Lan trước khi vào Myanmar để tiếp tục hành trình đến đất Phật là Ấn Độ.

 

Đoàn của sư Minh Tuệ xuất phát từ cửa khẩu Bờ Y, Gia Lai của Việt Nam vào ngày 12/12 và đi qua các tỉnh Attapeu, Sekong, Champasak, thành phố Pakse (thuộc tỉnh Champasak)... rồi đến cửa khẩu đường bộ Vang Tao vào sáng 31/12 .

 

Theo lời ông Báu, người đi theo đoàn lo các thủ tục, đoàn của sư Minh Tuệ sẽ bộ hành đến tỉnh Mae Sot của Thái Lan để xuất cảnh qua Myanmar theo lộ trình hành hương đến Ấn Độ để đảnh lễ các thánh tích Phật giáo.

 

________

 

Cuộc du hành cưỡng bức với sư Minh Tuệ, và những điều nhìn thấy

 

Đoàn Văn Báu: Hộ pháp hay người áp giải Thầy Minh Tuệ?

 

Tại sao chính quyền nóng lòng muốn dứt điểm trường hợp sư Minh Tuệ?

________

 

Sư Minh Tuệ (tên thật là Lê Anh Tú), một nhà sư tu theo 13 hạnh Đầu Đà không thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

 

Ông được nhiều người biết đến khi bộ hành từ Nam ra Bắc và ngược lại, dẫn đến nhiều người xin theo ông xuống tóc, đắp y phấn tảo và mang theo nồi cơm điện thay bình bát để khất thực hồi tháng 5/2024.

 

Khi đến địa phận của Huế vào đầu tháng 6, đoàn khoảng hơn 70 người cùng với sư Minh Tuệ bị công an trấn áp và giải tán trong đêm, riêng sư Minh Tuệ bị đưa về Gia Lai lăn tay để làm căn cước công dân.

 

Khi đó Đài truyền hình Việt Nam VTV đã đưa các phóng sự cho rằng ông Lê Anh Tú đã "tự nguyện ẩn tu", nhưng sau đó ông lại xuất hiện và đi khất thực trở lại ở khu vực gần nhà, tuy nhiên, vì tình hình an ninh trật tự không đảm bảo nên ông dọn vào khuôn viên của công ty Thiên Định Tuệ do người nhà sư Minh Tuệ lập nên.

 

Tại đây, ông đưa ra các lá thư khác nhau về nhiều vụ việc và được đăng tải trên trang web của công ty gia đình. Trong lá thư đăng tải ngày 20/11, ông cho biết bản thân bị đưa đến Nha Trang và tập học 108 ngày ở đó, cơ quan chức năng bố trí lực lượng công an đông đảo, lập chốt canh gác, phong tỏa thôn xóm, các con đường... gây khó khăn cho sinh hoạt của người dân và các vị sư khác muốn đến đây tu học.

 

Một chủ doanh nghiệp ở Bình Dương sau đó đâm đơn ra cơ quan công an, thưa ông với tội danh "phản động" khi tiết lộ thông tin bị làm khó trong 108 ngày ở khu vực núi Sạn.

 

Đến ngày 25/11, sư Minh Tuệ viết thư tay bày tỏ mong muốn được bộ hành đến Ấn Độ và thăm các thánh tích Phật giáo, đồng thời nhờ tư vấn đường đi, thủ tục. 

 

VIDEO :

Đường đến Ấn Độ của sư Thích Minh Tuệ

https://www.youtube.com/watch?v=E61wmWv7rU8