Tại sao chưa có nước nào có thể
chấm dứt cuộc chiến tại Ukraine?
Stephen M. Walt - Foreign Policy
Viên Đăng Huy, biên dịch - Nghiên Cứu Quốc Tế
Đã hơn một năm kể từ lần cuối tôi viết một bài phân tích sâu về
cuộc chiến tại Ukraine, và tôi thực sự lấy làm tiếc về sự gián đoạn này. Than
ôi, những sự kiện khác đã thu hút sự chú ý của tôi, dù cuộc xung đột vẫn là một
bi kịch dai dẳng và tiếp tục phủ bóng nặng nề lên tình hình địa chính trị toàn
cầu. Bài tường thuật mới đây của người lãnh đạo dũng cảm của chúng ta, Ravi
Agrawal, về chuyến đi của anh đã khiến tôi chú ý trở lại đến cuộc chiến này,
thôi thúc tôi suy ngẫm về cục diện hiện nay và những gì có thể làm để khép lại
một cuộc chiến đã kéo dài gần năm năm.
Bất kỳ ai tiếp cận chủ đề này đều nên giữ thái độ khiêm tốn, bởi
chưa ai đưa ra được những nhận định hoàn toàn chính xác. Chẳng hạn, tôi từng
không tin Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ phát động chiến dịch quân sự vào năm
2022, vì cho rằng bước đi đó là một sai lầm chiến lược và sẽ khiến Nga phải
gánh chịu những hậu quả nặng nề trong dài hạn. Đến nay tôi vẫn tin đánh giá của
mình về hậu quả là đúng, nhưng rõ ràng tôi đã phán đoán sai tính toán của ông
Putin. Kể từ đó, hàng loạt nhà hoạch định chính sách và giới phân tích liên tục
dự đoán sai hướng đi của thời cuộc, chao đảo dữ dội giữa sự lạc quan phi thực
tế và thái độ bi quan tuyệt vọng. Những người nắm quyền cũng chẳng khá hơn: ông
Putin đã tính sai khi cho rằng cuộc chiến sẽ kết thúc chỉ trong vài ngày, chính
quyền Biden đánh giá quá cao hiệu quả của các lệnh trừng phạt, còn giới lãnh
đạo Ukraine mắc sai lầm khi phát động cuộc phản công thảm họa vào mùa hè năm
2023. Tổng thống Mỹ Donald Trump từng thẳng thừng nói với Tổng thống Ukraine
Volodymyr Zelensky rằng ông không có “quân bài chiến thắng” nào và gây sức ép
buộc ông phải chấp nhận một thỏa thuận bất lợi, để rồi chính ông Trump sau đó
lại bất ngờ khi sự kết hợp giữa viện trợ của châu Âu với tinh thần đổi mới và
sự anh dũng của Ukraine đã tạm thời đảo ngược thế cờ. Thế nhưng, như Ravi nhận
định, vận may trên chiến trường dường như lại đang nghiêng về phía Nga khi mùa
đông đến gần. Vì vậy, những độc giả tỉnh táo nên tiếp nhận mọi phân tích và lời
khuyên với một mức độ hoài nghi nhất định — kể cả của chính tôi.
Ukraine và Nga vẫn đang mắc kẹt trong một “thế bế tắc tiêu hao”,
nơi không bên nào đủ sức áp đặt ý chí lên đối phương và cả hai đều tiếp tục
gánh chịu những tổn thất nặng nề. Điều này đặc biệt khắc nghiệt đối với Ukraine
khi xét đến quy mô lãnh thổ, dân số và nền tảng công nghiệp – quốc phòng nhỏ
hơn, nhưng nguồn hỗ trợ từ bên ngoài cùng quyết tâm mạnh mẽ trong việc bảo vệ
quê hương đã giúp Kyiv trụ vững lâu hơn nhiều so với dự đoán của giới quan sát.
Cuộc xung đột này cũng minh chứng cho một xu hướng điển hình của những cuộc
chiến kéo dài: leo thang cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc. Mỗi bên đều phát
triển các loại vũ khí mới có sức tàn phá lớn hơn, mở rộng danh mục mục tiêu tấn
công và kéo các bên thứ ba vào cuộc chiến theo cả cách trực tiếp, như việc binh
sĩ Triều Tiên tham chiến cùng Nga, lẫn gián tiếp, như hỗ trợ tài chính và tình
báo mà Mỹ cùng EU dành cho Ukraine. Các hoạt động tấn công vùng xám của Nga
nhằm vào châu Âu, một nỗ lực công khai nhằm ép khu vực này chấm dứt viện trợ
cho Ukraine, là một hình thức leo thang khác.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, việc chấm dứt chiến tranh đã trở
thành lợi ích chung của phần lớn các bên. Chiến sự càng kéo dài, Ukraine càng
chịu tổn thất nghiêm trọng và triển vọng dài hạn của nước này, bao gồm cả hy
vọng giành lại những vùng lãnh thổ đã mất, sẽ càng trở nên mờ mịt. Nga cũng
đang bị bào mòn và sẽ bước ra khỏi cuộc chiến trong tình trạng suy yếu hơn,
đồng thời phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc. Chi phí viện trợ cho Ukraine đang
đè nặng lên các nền kinh tế châu Âu đúng vào lúc họ khó có thể gánh thêm, đồng
thời tiếp thêm cho các đảng cực hữu như Đảng Lựa chọn vì nước Đức (AfD) lý do
để công kích chính quyền đương nhiệm. Và như những yêu cầu của ông Trump nhằm
ép Ukraine ngừng tấn công năng lực lọc dầu của Nga cho thấy, cuộc chiến cũng
đang làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt nhiên liệu toàn cầu, gây ra những
tổn thất kinh tế và chính trị cho chính nước Mỹ. Những bên duy nhất mà tôi có
thể thấy đang hưởng lợi từ việc cuộc chiến kéo dài là Trung Quốc, vì chiến sự
khiến châu Âu và Mỹ bị phân tâm và tiếp tục đối đầu với Nga, cùng những nhà dân
túy cực hữu, những người sẽ mất đi một lý do để công kích nếu xung đột kết
thúc.
Thế nhưng cuộc chiến vẫn tiếp tục diễn ra khốc liệt, và chưa ai có
thể xây dựng được một tiến trình hiệu quả nhằm dung hòa những lợi ích xung đột
vốn dẫn đến chiến tranh, dàn xếp các điều khoản mà cả hai bên có thể chấp nhận,
hay kết hợp khéo léo giữa “củ cà rốt và cây gậy” để thúc đẩy họ đi đến một thỏa
thuận. Vì vậy, hai câu hỏi then chốt lúc này là: 1) Ai có đủ khả năng làm trung
gian hòa giải hiệu quả? và 2) Một giải pháp như thế nào là khả thi ở thời điểm
hiện tại?
Xét về lý thuyết, Mỹ là cường quốc sở hữu đòn bẩy và năng lực lớn
nhất để làm trung gian cho tiến trình này. Washington có thể đưa ra nhiều “củ
cà rốt” kinh tế khác nhau, chẳng hạn viện trợ tái thiết cho Ukraine và dỡ bỏ
trừng phạt đối với Nga, đồng thời có thể tăng hoặc giảm viện trợ quân sự cho
Ukraine tùy theo yêu cầu của một thỏa thuận. Đáng tiếc là Washington đã liên
tục thất bại trong việc tận dụng những lợi thế này. Thay vì hành xử như một bên
thứ ba có trách nhiệm nhằm thúc đẩy cả hai phía chấm dứt xung đột, Mỹ lúc thì
thiên vị bên này, khi lại ngả sang bên kia, và chưa bao giờ gây sức ép đồng
thời lên cả hai để đạt được thỏa thuận. Nói ngắn gọn, Mỹ chưa bao giờ hành xử
như một cường quốc nghiêm túc, hiểu rõ lợi ích cốt lõi của mình là gì — đó là chấm
dứt chiến tranh.
Giống như những người tiền nhiệm, cựu Tổng thống Joe Biden đã
không nhận ra rằng việc mở rộng NATO không giới hạn sớm muộn cũng sẽ dẫn tới
một cuộc đối đầu nguy hiểm với Nga. Ngay cả sau phong trào Maidan, việc Nga sáp
nhập Crimea và cuộc chiến kéo dài ở Donbas, ông vẫn tiếp tục chạm vào điều mà
cựu Đại sứ Mỹ tại Nga Bill Burns từng gọi là “lằn ranh đỏ nguy hiểm nhất đối
với giới tinh hoa Nga, chứ không chỉ riêng ông Putin”. Lằn ranh đỏ đó chính là
tư cách thành viên NATO của Ukraine. Bằng cách đẩy nhanh những nỗ lực đưa
Ukraine vào quỹ đạo an ninh của phương Tây, dù việc gia nhập NATO trên danh
nghĩa vẫn còn phải mất nhiều năm, ông Biden và Ngoại trưởng Antony Blinken đã
vô tình góp phần tạo ra những điều kiện dẫn tới quyết định phát động cuộc xâm
lược phi pháp của ông Putin. Người ta có thể lập luận rằng Nga không có quyền
phủ quyết quyết định của các quốc gia có chủ quyền và bất kỳ nước nào cũng có
quyền liên minh với bất cứ ai họ muốn, nhưng việc thực thi quyền tự do đó không
phải lúc nào cũng là một lựa chọn khôn ngoan.
Một khi Nga đã phát động cuộc chiến phòng ngừa, chính quyền Biden
đã đúng khi sử dụng sức mạnh của Mỹ — dưới hình thức các biện pháp trừng phạt
và viện trợ quân sự quy mô lớn — để giúp Ukraine tự vệ, đồng thời nỗ lực ngăn
nguy cơ leo thang ngoài tầm kiểm soát. Tuy nhiên, họ lại không ủng hộ các nỗ
lực hòa giải của bên thứ ba, không bao giờ loại bỏ viễn cảnh Ukraine gia nhập
NATO khỏi bàn đàm phán, và công khai hậu thuẫn các mục tiêu chiến tranh tối đa
của Ukraine, chẳng hạn giành lại toàn bộ lãnh thổ đã mất, bao gồm cả Crimea,
một nguyện vọng chính đáng của Kyiv nhưng gần như chắc chắn không thể đạt được.
Một lần nữa, vấn đề ở đây không phải là đúng hay sai — xét về lẽ phải, Ukraine
rõ ràng có chính nghĩa — mà là liệu những mục tiêu đó có thể đạt được với cái
giá và mức rủi ro chấp nhận được hay không.
Kể từ khi trở lại Nhà Trắng vào năm 2025, ông Trump lại mắc sai
lầm theo hướng ngược lại: gia tăng sức ép buộc Kyiv phải nhượng bộ trong khi
phần lớn nương tay với Nga. Sai lầm đó càng trở nên nghiêm trọng bởi sự yếu kém
về ngoại giao của những đặc phái viên thiếu kinh nghiệm như Steve Witkoff và
Jared Kushner, những người dường như nghĩ rằng chỉ cần đưa ra vài thương vụ
kinh doanh hấp dẫn trước mặt ông Putin là đủ để buộc ông chấm dứt chiến tranh.
Bằng cách tạo cho Nga mọi lý do để tin rằng lợi thế vượt trội về quy mô cuối
cùng sẽ mang lại chiến thắng, cách tiếp cận của ông Trump ngay từ đầu đã không
có cơ hội đáng kể nào để đem lại hòa bình, chứ chưa nói đến việc kết thúc chiến
tranh trong vòng “24 giờ” như ông từng hùng hồn tuyên bố trong chiến dịch tranh
cử năm 2024.
Liệu có một con đường thứ ba hay không? Có, ít nhất về lý thuyết.
Thay vì lúc thì đứng về phía này, khi lại chiều theo phía kia, Mỹ có thể hành
xử như một bên trung gian hòa giải thực sự, tận dụng vị thế và đòn bẩy của mình
để gây sức ép buộc cả hai bên đi đến thỏa thuận. Để tạo áp lực lên Nga,
Washington nên khôi phục viện trợ quân sự cho Ukraine và giúp nước này chống đỡ
những cuộc tấn công tên lửa ngày càng gây thiệt hại nặng nề của Nga. Nhưng Mỹ
cũng cần thúc đẩy Ukraine hạ thấp kỳ vọng, và điều đó có nghĩa là việc nối lại
viện trợ phải đi kèm điều kiện Kyiv giảm bớt các yêu sách của mình.
Về những điều khoản khái quát, tôi vẫn tin rằng Ukraine sẽ không
thể giành lại Crimea hay phần lớn Donbas, dù trên chiến trường hay bàn đàm
phán, và khả năng Ukraine gia nhập NATO trong tương lai phải được loại bỏ vĩnh
viễn khỏi chương trình nghị sự. Tư cách thành viên EU vẫn có thể được chấp
nhận, và Ukraine phải được phép duy trì một lực lượng quân sự đủ mạnh để răn đe
mọi nỗ lực của Nga nhằm thay đổi hiện trạng trong tương lai. Đường biên giới
mới cụ thể vẫn cần được thương lượng, và Nga sẽ phải chấp nhận quyền của
Ukraine được giao thương với các nước khác, thu hút đầu tư nước ngoài từ bất kỳ
nguồn nào và mua sắm vũ khí từ các cường quốc bên ngoài nếu muốn, miễn là những
biện pháp đó không biến Ukraine trên thực tế thành đồng minh của một quốc gia
hay liên minh quân sự khác.
Xin lưu ý rằng tôi hoàn toàn không vui vẻ gì với kịch bản này, và
cũng không quá lạc quan rằng nó có thể đạt được. Đoạn văn trên chỉ là một phác
thảo sơ bộ cho khuôn khổ của một thỏa thuận khả dĩ, và còn rất nhiều chi tiết
cần được dàn xếp để nó có thể thành công. Để tìm hiểu một phân tích sâu sắc và
giàu thông tin về cách tổ chức cũng như vận hành một nỗ lực như vậy, tôi đề
xuất bài viết gần đây trên tạp chí Foreign
Affairs của Matt Waldman và Samuel Charap.
Đáng tiếc là tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy có ai
trong chính quyền Trump đủ năng lực xử lý một cuộc đàm phán hòa bình nghiêm
túc, và các “thỏa thuận hòa bình” mang tính hình thức đạt được ở Gaza, với Iran
hay trong một số cuộc xung đột khác không tạo ra chút niềm tin nào. Đòn bẩy của
Mỹ đã suy giảm do cuộc chiến ở Iran, tình trạng thiếu hụt tên lửa đánh chặn
cùng các loại vũ khí then chốt khác, và thâm hụt ngân sách liên bang ngày càng
gia tăng. Ngay cả nếu ông Trump thực sự muốn làm trung gian hòa bình và giao
nhiệm vụ cho những người có năng lực, cũng không rõ liệu ông còn đủ “quân bài”
trong tay hay không.
Nếu đúng như vậy, kết luận đầy lo ngại của Ravi có lẽ là chính
xác. Cuộc chiến sẽ tiếp diễn, người dân Ukraine sẽ tiếp tục gánh chịu đau
thương, không ai đứng ra thúc đẩy một tiến trình hòa bình thực sự, và cuối cùng
cả hai quốc gia đều sẽ phải chịu một kết cục tồi tệ hơn trong dài hạn. Giống
như phần lớn các cuộc chiến khác, cả hai bên giờ đây sẽ ở trong tình trạng tốt
hơn rất nhiều nếu cuộc chiến này chưa từng xảy ra.
-----------------------------
Stephen M. Walt là cây bút bình luận của Foreign
Policy và Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Đại học Harvard.
Nguồn: Stephen M. Walt, “Why Nobody Can End the War in
Ukraine”, Foreign Policy, 29/09/2026
No comments:
Post a Comment